Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Nên gọi Quan Âm hay Quán Âm - Đỗ Chiêu Đức & Cảm tác của Mai XThanh

   Nên gọi
                   QUAN ÂM hay QUÁN ÂM

                                   Image result for quan thế âm bồ tát 


          Những năm gần đây, hầu như tất cả các chùa chiền, tăng ni, cư sĩ, Phật tử... kể cả trong nước lẫn ngoài nước, đều có thói quen gọi QUAN Thế Âm Bồ Tát thành QUÁN (có dấu SẮC) Thế Âm Bồ Tát?!

         Mới nghe một hai lần đầu, tôi cứ ngỡ là người ta đọc sai, đọc lộn âm, nhưng chẳng những tín đồ Phật tử, cư sĩ tăng ni mà ngay cả các Tỳ kheo Đại đức, Thượng tọa Cao tăng khi tụng kinh hay đăng đàn thuyết giảng, hễ có dịp nhắc đến QUAN Âm Bồ Tát thì đều đọc là QUÁN Âm Bồ Tát cả!

        Tôi vô cùng ngạc nhiên, ngạc nhiên hết sức... Không biết tại sao Phật hiệu Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT nghe hiền hòa là thế, từ bi là thế, êm tai là thế, bỗng dưng lại bị bỏ thêm cái Dấu Sắc vô duyên nghe chói tai muốn chết! Ấy thế, mà tại sao mọi người đều nghe theo và đọc theo cái Phật hiệu chói tai có dấu sắc kia?!  

        Theo "Chữ Nho... Dễ Học" thì chữ Quan 觀 là chữ thuộc dạng Hình Thanh theo diễn tiến của chữ viết như sau:  

             Chung Đỉnh Văn            Đại Triện        TiểuTriện                  
       Lệ Thư                      
Ta thấy :
         Từ Chung Đình Văn cho đến Đại Triện, Tiểu Triện diễn tiến cho đến Lệ Thư đều do chữ QUÁN 雚 (một loại Lát để dệt chiếu, đệm) dùng làm ÂM kết hợp với Bộ KIẾN 見 là Thấy, là Gặp để chỉ Ý đúng theo phép tạo chữ của HÀI THANH (còn gọi là HÌNH THANH) nên chữ 觀 được đọc là:

  * QUAN thì có nghĩa là Nhìn Ngắm, Xem Xét, như Tham quan 參觀, Quan sát 觀察... là Cách nhìn, như Quan Niệm 觀念, Quan Điểm 觀點...
     Nếu đọc là :
  * QUÁN thì có nghĩa là Cái chùa của các đạo sĩ ở và tu, như Bạch Vân Quán 白雲觀, Tử Dương Quán 紫陽觀...

        Nhưng để truy nguyên tìm hiểu nguyên nhân của cái "dấu sắc" vô duyên kia, tôicòn tìm lật các Tự điển, Từ điển... À, thì ra chữ QUAN 觀  là Xem Xét còn được đọc là QUÁN với nghĩa Xét Thấu theo các tài liệu sau đây (chỉ trích những phần có liên quan): 

 * Từ điển Hán Nôm:

    QUAN 觀 là...
       - xem, quan sát.
  1. (Động) Xem xét, thẩm thị, Ngắm nhìn, thưởng thức.
  2. (Danh) Cảnh tượng, quang cảnh, Cách nhìn, quan điểm, quan niệm.
  3. Một âm là “Quán”. (Động) Xét thấu, nghĩ thấu. ◇Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” 觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時, 照見五蘊皆空度一切苦厄 Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tiến sâu vào Tuệ Giác Siêu Việt, nhận chân ra năm hợp thể đều là (tự tánh) Không, liền độ thoát mọi khổ ách.

Từ điển Thiều Chửu:
       Giải thích âm QUÁN như sau:
       QUÁN: là Xét thấu, nghĩ kĩ thấu tới đạo chính gọi là quán. Như Chỉ Quán 止觀 yên định rồi xét thấu chân tâm, như Kinh Dịch 易經 nói Quán ngã sinh vô cữu 觀我生無咎 xét thấu cái nghĩa vụ của đời ta mới không mắc vào tội lỗi. Đạo Phật có phép tu dùng tai mà xem xét cõi lòng, trừ tiệt cái mầm ác trở nên bậc Vô thượng, nên gọi là phép quán 觀. Như Quan âm bồ tát 觀音菩薩, vì ngài tu bằng phép này, sáu căn dùng lẫn với nhau được, mắt có thể nghe được, nên gọi là Quán thế âm 觀世音.  
         À, thì ra QUAN 觀 là Xem Xét, là Nhìn Ngắm... Nếu đọc là QUÁN thì có nghĩa là Xét Thấu, Nghĩ Thấu... Nhưng suy cho cùng thì Xét Thấu Nghĩ Thấu đều là nghĩa phát sinh của Xem Xét Nhìn Ngắm ra mà thôi! Và QUÁN còn là một phép tu tập về lục căn như có thể dùng tai để nhìn và dùng mắt để nghe được... Như trong "Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經 "..vv.. và..vv...  Nhưng,
        Ở đây tôi không nói về phép tu tập (Vì tôi có biết gì đâu mà nói), tôi chỉ thắc mắc, ray rức không hiểu vì sao một Phật hiệu của một Bồ Tát khả kính đọc lên nghe êm ái nhẹ nhàng là QUAN THẾ ÂM Bồ Tát lại bị ai đó hô hào rồi thô bạo thêm dấu sắc vào thành QUÁN THẾ ÂM nghe thật trúc trắc chói tai. Nếu bảo là gọi cho đúng cái con đường tu tập của Bồ Tát thì càng sai hơn, vì Phật hiệu là cái tên gọi, còn con đường tu tập là cái việc làm. Hơn nữa cái Phật hiệu đại từ đại bi Cứu khổ Cứu nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát mà mọi người còn gọi một cách thân mật gần gũi với cuộc sống hơn là Mẹ Hiền Quan Âm đã có từ hơn một ngàn năm trăm năm nay, từ thời Bắc Chu của Nam Bắc Triều ( 420-589 ) đời vua Diệu Trang Vương với Quan Âm Diệu Thiện và trên hai trăm năm với truyện nôm Quan Âm Thị Kính của ta dưới triều nhà Nguyễn (1802---). Phật hiệu QUAN ÂM BỒ TÁT đã đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, đã ăn sâu vào tâm khảm của muôn vạn tín đồ Phật tử, thì tại sao lại phải vì một lý do nào đó mà thêm vào "Dấu Sắc" cho trúc trắc khó đọc và nghe không êm ái chút nào cả!



      


       Xin được lạm bàn về Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. Như các Từ điển nêu trên...

       QUAN 觀 là Quan sát, là Xem xét. THẾ 世 là Thế giới, là Cuộc đời nầy. ÂM 音 là Âm tín, Âm hao. Vậy thì...
       QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 là vị Bồ Tát quan sát xem xét hết những âm tín âm hao của cuộc đời nầy, của cả thế giới nầy, để cứu khổ cứu nạn với tấm lòng đại từ đại bi của mình cho tất cả chúng sinh. Vì thế mà ta thường nghe mọi người niệm câu "Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát" với một tấm lòng thuần thành và lắng lòng với Mẹ Hiền QUAN ÂM nhẹ nhàng êm ái. Nhưng nếu đọc là QUÁN ÂM thì vừa khó nghe, vừa chói tai lại vừa có vẻ Bá Đạo nữa, vì...


      Âm QUÁN dễ làm cho người ta liên tưởng và hiểu lầm thành...

    * QUÁN 冠 : là Bao trùm, Phủ trùm, như từ Quán Quân 冠軍 là Bao trùm cả Tam quân, là Hạng Nhất. Ngày xưa chỉ có những cuộc thi đua so tài trong quân đội, nên từ Quán Quân là Hạng Nhất được sử dụng thông dụng cho đến hiện nay. Nếu hiểu nhầm QUÁN THẾ ÂM là chữ QUÁN 冠 nầy, thì QUÁN THẾ 冠世 có nghĩa là Bao trùm cả thế giới, là Hạng Nhất ở trên đời nầy! Nên tôi nói có vẻ Bá Đạo là thế, không thích hợp với Mẹ Hiền Quan Âm chút nào cả! Còn như hiểu nghĩa... 

    * QUÁN 貫 là Quán Triệt 貫徹, Quán Xuyến 貫穿, là Xuyên suốt, thì QUÁN THẾ 貫世 là Xuyên suốt lo toan cho cả thế giới, nên có vẻ ôm đồm hết mọi việc của người đời. Mẹ Hiền Quan Âm chỉ Cứu khổ cứu nạn để giúp cho con người thoát khỏi bể khổ bến mê, chớ không phải ôm đồm làm hết mọi việc cho người đời. Còn nếu phát âm theo dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi không phân bịêt có "g" hay không "g" mà đọc là QUÁNG thành QUÁNG ÂM thì lại càng tội lỗi hơn! Cho nên...

      Thiết nghĩ, QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT là tên gọi của Phật Bà Quan Âm đã hơn ngàn năm nay, đã thành TẬP QUÁN NGÔN NGỮ là thói quen của tiếng nói, đã ăn sâu vào tâm thức của mọi người kể cả những người không phải là tín đồ Phật Giáo thuần túy như tôi, nhưng trong đời sống ở làng quê thôn xóm với ngôi chùa ở đầu thôn hay cuối làng, mọi người đã quen rồi với từ Quan Âm Bồ Tát, nay bỗng dưng lại đổi thành Quán Âm Bồ Tát; Mẹ Hiền Quan Âm thành Mẹ Hiền Quán Âm, nghe chua xót và ngỡ ngàng làm sao ấy! Đã là thói quen của TẬP QUÁN NGÔN NGỮ, sao ta không duy trì giữ nguyên mà lại thay đổi một cách không cần thiết như thế? Vì mọi người, mọi tín đồ bình dân đâu cần biết đến cái phép tu tập, cái lối tu tập hay cái con đường tu tập của các bậc cao tăng chính giác mà chi, họ chỉ biết Quan Âm Bồ Tát là Mẹ Hiền Quan Âm cứu khổ cứu nạn mà thôi!    
   Nhớ...
        Khoảng giữa năm 1994, dân Sài Gòn đọc được một bài đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng của Giáo Sư Lương Duy Thứ, Trưởng Khoa Trung của Đại Học Tổng Hợp vừa chuyển sang thành Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn (Vốn là Đại Học Văn Khoa Sài Gòn cũ), nội dung bài báo đề cập đến việc nên dùng từ "CHÚNG CƯ 眾居" thay thế cho từ "CHUNG CƯ " với lý do CHUNG CƯ là từ kép được thành lập theo văn phạm Hán Việt, vì Tính Từ đứng trước Danh Từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ CHUNG  Hán Việt không có nghĩa là Chung chạ mà có nghĩa là Cuối cùng, nên CHUNG CƯ 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở Cuối Cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ CHUNG CƯ 終居thành CHÚNG CƯ 衆居 thì mới ổn.  Vì CHÚNG  là Quần Chúng 群眾, nên CHÚNG CƯ 衆居 mới là nơi nhiều người cùng ở chung. Sau đó, các báo, đài đều hưởng ứng dùng từ CHÚNG CƯ thay thế cho CHUNG CƯ, nhưng  chỉ một thời gian sau và mãi cho đến hiện nay, đã hơn 20 năm qua, thì... đâu vẫn hoàn đấy! Tập thể Quần Chúng nói tiếng Việt vẫn thích dùng từ CHUNG CƯ hơn là CHÚNG CƯ! Tại sao? Vì CHUNG CƯ là từ viết tắt của nhóm từ 4 chữ "CÙNG CHUNG CƯ NGỤ", hơn nữa từ CHÚNG CƯ nghe nó chỏi cái lổ tai làm sao ấy!  Nên, trước mắt tất cả báo đài đều quảng cáo cho các CHUNG CƯ CAO CẤP, chớ không phải CHÚNG CƯ nữa, như CHUNG CƯ CAO CẤP Phú Mỹ Hưng chẳng hạn!  



    
     Trở lại với Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, thiết nghĩ giới Phật tử quần chúng bình dân đã quen miệng với các cách gọi thân thương là:
    - Quan Âm Bồt Tát,
    - Phật Bà Quan Âm,
    - Mẹ Hiền Quan Âm...
đã thành một Tập Quán Ngôn Ngữ rồi, nếu bây giờ phải gọi Bà Quan Âm là Bà QUÁN Âm thì nghe rất chướng tai và... không giống ai cả! Nên, theo thiển ý thì...
     Khi tu tập hay khi nghiên cứu về giáo lý cao siêu của Phật Giáo thông qua các phép, các cách hay các con đường tu tập thì qúy Tỳ Kheo Đại Đức Thượng Tọa hay Hòa Thượng... muốn gọi sao thì gọi, nhưng khi thuyết giảng giáo pháp trước quần chúng nhân dân thì nên giữ theo lối gọi truyền thống trước đây là QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, chứ đừng cho máy phóng thanh cứ oang oang là "QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT" như chọc vào tai của muôn vạn người nghe một cách bá đạo và khó chịu vô cùng!
       Trên đây chỉ là những suy nghĩ cá nhân của người viết thông qua những phản ánh của bạn bè thân hữu chung quanh, xin chân thành gởi đến các vị chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo và quảng đại thiện nam tín nữ trong và ngoài nước để cùng nhau trao đổi và góp ý về tên gọi của một vị Bồ Tát rất gần gũi thân thương với tất cả chúng sinh còn chìm đắm trong biển khổ!
         Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát Ma Ha Tát!
                                       
                                        Đỗ Chiêu Đức
Cảm tác:

Quan Thế Âm Bồ Tát nhớ ghi
Phổ Đà, Nam Hải đức Từ Bi
Nam mô cứu khổ, ai lâm nạn
Bệnh tật, tai ương, kẻ bị đì
Truyền thống dân ta gìn nghĩa khí
Bao đời văn hóa dẹp sân si
Khắp nơi tín hữu chùa kinh kệ
Thất tổ cữu huyền lễ bái đi...

Mai Xuân Thanh

Ngày 19 tháng 04 năm 2018





* Tế Thế An Bang - Mai Xuân Thanh


         Tế Thế An Bang

Tỷ muội đồng nhi đứng thẳng hàng
Đệ huynh khăn đóng đến nghiêm trang
Công ơn Hộ Pháp nơi thờ tự
Thiết kế sơ đồ Thượng Đế ban
Chức sắc Thiên phong hằng nhã nhẹn
Thánh Tòa địa lợi thật huy hoàng
Đồng môn tín hữu luôn cung kính
Tế thế an bang mối Đạo tràng

Mai Xuân Thanh
Ngày 12 tháng 04 năm 2018




Mái Chèo Khua Nhớ - Trầm Vân


  Mái Chèo Khua Nhớ
Dẫu bao nhiêu chuyện trở trăn
Lửa yêu nước vẫn cháy thầm trong tim
Ước mong non nước tiến lên
Giàu lên cường thịnh ba miền ấm no
Người ta ngại bão mịt mờ
Có ai ngăn cấm giấc mơ tốt lành
Quê hương một dải trời xanh
Líu lo chim hót dỗ dành tình quê
Xưa đau tiễn bước người đi
Lại mong đón bước người về xôn xao
Những lời hẹn ước trăng sao
Còn rung lá gió thì thào yêu thương...
Tóc khô bụi phấn còn vương
Thoảng trong tim bóng ngôi trường mến yêu
Những ngày đến lớp sáng chiều
Niềm vui ngát tiếng chim reo, bóng trò
Biết bao kỷ niệm lưu kho
Nụ cười ...ánh mắt thơm tho nghĩa tình
Xế chiều bóng ngả lênh đênh
Bước chân hoài niệm gập ghềnh buồn vui
Con đò ký ức ngược xuôi
Chèo khua thương nhớ quanh thời tóc xanh

     Trầm Vân




Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Đại Việt Sử Thi Q. XVI (Hồ Đắc Duy): Nhà Hậu Lê và Chúa Trịnh- Nguyễn

    Đại Việt Sử Thi Q. XVI (Hồ Đắc Duy)
             Nhà Hậu Lê Trung Hưng 
                                                                Và
                    Chúa Trịnh - Nguyễn

****

TRỊNH CƯƠNG (1709- 1729)
Năm Kỷ Sửu (1709) theo vâng lệnh chúa 
Lấy Trịnh Cương, chắt của Khang Vương 
Lên ngôi nối dõi tông đường 
Nắm quyền phủ chúa đảm đương việc triều 

Phép thuế theo Tô Dung Điện Học 
Luật thuế này Trung uốc đem sang 
Ngõ hầu hạn chế thuế quan 
Hiện không thích hợp mà đang được dùng 

Ở Đàng Trong chúa sai đo đạc (1711)  
Diện tích vùng bãi cát Trường Sa 
Đồng Hồ Bố Chính đặt ra 
Dùng đo viễn độ khoảng xa lộ trình 

Xuống lệnh truyền quan viên nội phủ (1711)  
Phải du hành đến đó mà xem 
Đắp đường tu sửa lẫm kinh 
Ngăn ngừa lụt lội dân sinh thế nào 

Ba năm sau, tháng hai Giáp Ngọ (1714)  
Vua Nặc Yên xứ nọ Đàng Trong 
Xin quân cứu viện vì không 
Đủ phương chống trả rất mong cứu nàn 

Thợ khắc làng Liễu Chàng dâng sách 
Dâng cho chúa kiệt tác bấy giờ 
Một của Tuệ Tỉnh thiền sư 
Viết về y lý dùng cho các thầy 

Ông là người Nghĩa Lưu Dạ Cẩm 
Được nhà sư ở Cẩm Sơn nuôi 
Thi Đình, Hoàng Giáp đổ ngay 
Về sau đi sứ bị người giữ luôn 
Chúa Trịnh Cương thu hồi ván sách (1718)  
Sợ kẻ thù reo rắc nội dung 
Chống người phủ chúa và cùng 
Tham quan ô lại bên trong chính quyền 

Chúa lại truyền chuyển ba phiên cố 
Rút hết quyền sáu bộ bên cung 
Để vua hư vị ngồi không 
Quyền thì phủ chúa gom chung hết rồi 

Đổi niên hiệu là đời Thái Bảo (1720)  
Đánh thuế đồng, thuế muối, bán buôn 
Công ty Đông Ấn tạm ngưng 
Triệu hồi toàn bộ khỏi vùng Nghệ An 

Chúa Trịnh Cương đề ra nguyên tắc 
Thì chi thu đảo ngược kịp thời 
Định ra lễ phục hẳn hoi 
Hủy ngay điều luật chặt tay bấy giờ (1721)  

Chiếu truyền cho kiểm tra dân số (1723)  
Những di dân các hộ ven sông 
Ba năm kiểm lại cho xong 
Quỹ riêng trường học ruộng công để dành 

Truyền nộp nhanh bản đồ thủy lợi (1725)  
Của mỗi vùng để đợi chỉnh tu 
Khơi thông, dẫn thủy, đào hồ 
Vét sông tắt nghẽn, đắp bờ lên cao 
Để chặn đứng cường hào ác bá 
Vạch trần ra bè lũ tham ô 
Vua cho yết bảng bây giờ 
Ơ nơi công cộng để cho dân bàn

***
LÊ DUY PHƯỜNG HOÀNG ĐẾ (1729- 1732)

Phủ chúa Trịnh muốn thay ngôi đế 
Bảo quần thần bàn ép Dụ Tông 
Nhường ngôi lui ở trong cung 
Duy Phường lên thế để cùng Trịnh Cương 

Ơ miền Nam Nguyễn Vương mở rộng (1697)  
Bình Thuận miền đất trống phía Tây 
Phan Rang, Phan Rí thu ngay 
Lại thêm Đông Phố lựa ngày phân ra 

Phủ Gia Định: Hòa Đa, An Phúc 
Xứ Đồng Nai đóng cột chia vùng 
Tân Bình lấy xứ Sài Gòn 
Dựng dinh Phiên Trấn coi chung vùng này 

Năm Ất Tỵ (1725) chẳng may tạ thế 
Nguyễn Phúc Chu được kể lắm con 
Cháu chắt nội ngoại đích tôn 
Con hơn trăm rưởi, vợ hơn chục bà

***

NGUYỄN PHÚC CHÚ (1725-1738)

Nguyễn phúc Chú con bà vợ cả 
Lên ngôi vương lúc đã ba mươi 
Đặt ra quan hệ nước ngoài 
Tổ chức thi cử nhân tài lựa ra 

Đặt ra khoa dành cho môn toán 
Ở Đàng Ngoài có khoảng trăm ba 
Lại cho thi tuyển chuyên khoa 
Chọn người giỏi võ lập ra môn này 

Cấm ngoại quốc đào khai kim loại 
Khu mỏ đồng khai thác của ta 
Báo cho vua nước Trung Hoa 
Phải đem trả lại muốn mà kết thân.


***
TRỊNH GIANG (1729- 1740)

Năm Kỷ Dậu (1729) Trịnh Cương tạ thế 
Lấy Trịnh Giang lên kế ngôi vương 
Một người tư cách tầm thường 
Khó lòng trị nước cầm cương giữ gìn.


***
LÊ THUẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ (1732- 1735)

Khi Trịnh Giang cầm quyền phủ chúa 
Đưa Duy Tường lên kế ngôi vua 
Thuần Tông đế hiệu bấy giờ 
Long Đức niên kỷ kể từ hôm nay 

Trịnh Giang người ưa điều quái dị 
Lại là người rất dễ gièm pha 
Tính tình nhiễm thói ba hoa 
Áo quần diêm dúa xa hoa vào mình 

Cũng viết câu, phê bình văn sách 
Cũng xây chùa, cung thất xa hoa 
Ăn chơi nhiều thói trăng hoa 
Cưởng dâm cung nữ của cha chẳng chừa.


***
LÊ Ý TÔNG HOÀNG ĐẾ (1753- 1740)

Thế ngai vua, đưa ngay Duy Thận 
Giữ ngôi cao cán đáng việc triều 
Ý Tông vâng lệnh nghe theo 
Là con cháu ngoại được yêu bấy giờ 

Thù, giết vua, làm điều quái đản 
Sét đánh cho, sau loạn tâm thần 
Triều đình quyết định năm Thân (1740)  
Trịnh Doanh được chọn thế chân cầm quyền 

Ở đàng ngoài nhiều miền thay đổi 
Tân Mĩ vùng Đông Phố đất ta 
Từ Châu Định Viễn lập ra (1732)  
Long Hồ Dinh trấn hiện là Cửu Long 

Ở Đàng Trong quốc vương Chân Lạp 
Cất quân vào đàn áp Hòa Đa 
Vĩnh Phúc chúa phái đem ra 
Quân binh đánh chúng, đuổi xa khỏi thành 

Ở Đàng Ngoài tiến hành soạn quyển 
Sách "Quốc triều hội điển" vừa xong (1731)  
Tức Uông tạo sĩ bách cung 
Làm pho binh pháp để dùng trong quân 

Sai nha quan tìm mua sách cũ (1731)  
Sửa lại kho Tích Cổ Tàng Thơ 
Ngũ Kinh in mới dâng vua 
Tứ Thư Chư Sử dạy cho học trò (1734)  
Lại y theo đồng hồ ngoại quốc (1733)  
Nguyễn Văn Tư bắt chước làm ra 
Tự cung trong nước để mà 
Đặt nơi dinh trấn dân ta coi giờ 

Chúa Nguyễn cho con trai Mạc Cửu (1736)  
Làm Đô Đốc trấn giữ Hà Tiên 
Một tay nổi tiếng chiêu hiền 
Lập Chiêu Anh Các giao duyên tao đàn 

Trịnh Giang bệnh: tâm thần phân liệt 
Làm dân lành bao xiết khổ đau 
Nhiều nơi lắm kẻ cầm đầu 
Dấy lên nổi loạn chia nhau cát quyền

(Còn tiếp)



Say - Mai Xuân Thanh



Say 
Rượu sẵn đây rồi hãy uống say
Xin mời cạn chén nhớ hôm nay
Nâng ly đối ẩm ngang tầm mắt 
Chạm cốc bên nhau đến trước mày
Lữ thứ buồn hiu dân tứ xứ
Ly hương thảm não kẻ chân mây
Lai rai thú vị như quên hết
Là chút niềm riêng thổn thức này...

Mai Xuân Thanh
Ngày 17 tháng 04 năm 2018




Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

Thiên Thai - Mailoc & Cảm tác của Mai XThanh

Thưa qúy thân hữu.
Hôm qua nằm nghe lại bản Thiên Thai của Văn Cao do ca sĩ Anh Ngọc trình bày với phần phụ họa của toàn ban nhạc "Tiếng Tơ Đồng", khiến lòng tôi lâng lâng cảm khái nhớ lại câu chuyện Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai  bên Tàu ngày trước.

Chúyện kể : Theo sách “Thần Tiên Truyện”, khoảng năm 58-76 TCN, đời Hán Minh đế, có hai chàng trai là Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) hái thuốc, gặp tiên, kết làm vợ chồng. Được ít lâu, hai chàng nhớ nhà đòi về. Về tới làng xưa thì người làng không còn ai nhận ra họ, chỉ có người nói có cụ tổ bảy đời vào núi hái thuốc không trở về. Hai người quay về động cũ thì không thấy vợ tiên đâu nữa…


      THIÊN  THAI
Lưu Nguyễn ngày xưa lạc động tiên,
Bồng bềnh trong gió thoảng hương duyên.
Nhạc trời réo rắt trong hoa lá,
Sỏi đá reo vui dưới mạn thuyền
Trong vắt âm ba lay khóm trúc,
Lờ mờ sương khói phủ đào nguyên.
Thiên Thai khách lạ quên trần thế,
Ngơ ngẩn hồn ai chốn ngọc tuyền.
Ngọc tuyền ngơ ngác Bướm trần gian
Chốn đấy Hoa Xuân cũng ngỡ ngàng.
Tiên-tục tình duyên say nhịp phách,
Ái ân ngày tháng đắm cung đàn.
Tiếng quyên bất chợt, lòng xao xuyến,
Làng cũ bồi hồi dạ xốn xang.
Từ giã, người về , quê lạ hoắc,
Động xưa tìm lại, cảnh hoang tàn.
        Mailoc
      4-14-18

     Cảm tác 
               Cõi Trần Ai

Nhớ xưa Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai (1)
Ngọc nữ sánh đôi giấc mộng dài
Tiên cảnh hỏi rằng đây có phải ?
Bồng lai đích thực quả không sai !
Nửa năm hạnh phúc non xanh biếc
Một khắc phù du núi thẳm phai
Cõi thế lưỡi tê mùi tục lụy
Da mồi già khú chốn trần ai !...

Mai Xuân Thanh
Ngày 15 tháng 04 năm 2018

                        ***
Họa:
   Lưu Thần Nguyễn Triệu

Lưu Thần, Nguyễn Triệu lạc non tiên
Phước báu cửu huyền mới bén duyên
Dìu dặt xiêm y mê tới bến
Ca xang áo mũ miết vô thuyền
Lên đồi ngắm cảnh chơi nguyệt điện
Cưỡi ngựa xem hoa dạo thảo nguyên
Tỉnh mộng nên mơ về cõi tục
Mới hay trở lại chốn cam tuyền

Cam tuyền hạ giới cảnh nhân gian
Cát bụi tang thương với gió ngàn
Hạ giới rộn ràng đây cõi tục
Non bồng thanh tịnh đó thiên đàng
Nửa năm chìm đắm quên cùng lãng
Một khắc say mê xốn với xang
Cứ tưởng ngày kia mình trở lại
Máy thời gian hỏng bị điêu tàn !...

Mai Xuân Thanh

Ngày 17 tháng 04 năm 2018




* Bâng Khuâng - Nguyễn Đắc Thắng & Bài họa của Mai XThanh


         Bâng Khuâng

Sao em rũ bỏ ngày xuân mộng !
Dẫu biết tình riêng chẳng nhuộm hồng
Đã trãi bao chiều say ngóng đợi
Đang còn nỗi nhớ gởi chờ trông
Hờn chi những mảnh màu phai sắc
Nỡ để hôn hoàng tuyết lạnh đông
Mở ngõ lòng ta chào gió lạ
Chờ nghe rộn rã trái tim nồng !

Nguyễn Đắc Thắng

Họa : 
    Tình Vẫn Như Xưa

Thuở nhỏ hồn nhiên trong tuổi mộng
Vào đời năng động sớm mai hồng
Thanh niên hăng hái luôn chờ đợi
Thiếu nữ nhiệt tình vẫn ngóng trông
Đôi bạn quen nhau từ tháng hạ
Cặp bồ hỏi cưới cuối mùa đông
Thoi đưa thoáng chốc đầu ta bạc
Tình vẫn như xưa sưởi ấm nồng

Mai Xuân Thanh
Ngày 11 tháng 04 năm 2018