Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

* Sa Chi Lệ - Thuyên Huy

 Sa Chi Lệ
Mượn một số địa danh thật, chuyện được viết bằng bối cảnh tự dựng và nhân vật tưởng tượng.

    Trận bão lớn bất thần cuồn cuộn kéo về từ hướng Kiến Phong, Cao Lãnh, xuôi xuống  miệt nam, mưa cuồng như thác đổ rồi giông gió giăng trời, càn qua mấy xã phía trong Định Yên, Hội An Đông, Long Hưng, biến cả đồng ruộng, nhà cửa, vườn tược chợ búa thành một vùng trời nước mênh mông, lụt ngập lên che khuất khỏi ngọn cây, không khác gì mùa lụt hàng năm. Gần hết nhà cửa của dân mấy xã này, mấy xã nghèo nhất trong quận, bị cuốn trôi, mái tranh đầu này, phên liếp đầu kia, lưa thưa, lác đác năm ba tấm vách đất đứng trơ mình giữa trời chịu nạn. Nơi ăn chốn ở từ bao nhiêu năm qua giờ đây người dân đành chịu cảnh màn trời chiếu đất. Vì chuyện của quận mình, lo quá, sáng nay chẳng màn cà phê cà pháo, Hiển đã xuống Bình Thạnh Trung từ sớm, quên cả chuyện chờ lính mở đường. Sau khi nhận vật liệu, lều vải từ trên tỉnh đem xuống, chàng lo đôn đốc nhân viên xã ấp, thầy cô giáo, đoàn cán bộ Xây dựng nông thôn cùng mấy tiểu đội nghĩa quân, ra sức dựng cái trại cho người dân tạm trú, thúc hối lập danh sách gấp cho họ nhận đồ cứu trợ, mùng mền, gạo mắm, áo quần sớm, chờ cho nước rút rồi có trợ cấp chính thức tái dựng lại nhà cửa. Thấy công việc đâu đó tạm êm xuôi, Hiển giao lại cho bác Lên, xã trưởng xã Bình Thạnh Trung lo tiếp, trở về lại văn phòng quận trên Bình Thạnh Đông.
    Lưng lửng giữa trưa, nắng không nắng mưa không mưa, trời cứ âm u như từ mấy ngày qua, mưa lâm râm từng đợt, lúc ngưng lúc tạnh. Khi xe về tới ngã ba, trên đường quẹo vào văn phòng, kéo nón trùm đầu của cái “bông – sô” che mưa xuống, từ xa nhìn vào, Hiển ngó qua người lính nghĩa quân lái xe ngồi bên cạnh lấy làm lạ “cha chuyện gì đây”, người lính trố mắt nhìn theo lắc đầu. Lúc thấy thiếu tá Trọng, quận trưởng, đang đứng nói qua nói lại gì đó với một nhóm chừng sáu bảy người, trong đó thấp thoáng có hai ba dì phước áo trắng của dòng “Good Shepherd Sisters” ở Nữ Chủng Viện Vĩnh Long ngoài hành lang, trước cửa vào. Xe dừng lại không xa bậc thềm xi măng lắm, Hiển cởi bỏ cái “bông – sô” để lại trên ghế, bước nhanh xuống thì thiếu tá Trọng cũng vừa đi ra, ông cười, cũng nụ cười thân thiện đàn anh hàng ngày, làm dấu lẹ lên, rồi chỉ ra xe ông, đám lính đang chờ, vừa nói vừa bước ra sân  khách chờ trong văn phòng, chuyện này ông lo, tôi đi qua chi khu một chút, có gì anh em mình bàn lại sau”. Hiển đưa tay quẹt mớ nước mưa đọng hờ trên tóc, gật đầu, đứng ngó theo, chờ ông lên xe chạy đi, mới đẩy cửa vào. Mưa bất chợt lất phất trở lại, hình như có chút nắng thập thò ở phía ngoài khu chợ quận, chợ vắng tanh không người.
   Hiển bước vào, cùng lúc mấy người khách cũng từ trong đi ra. Chú tư Tân, trưởng ban hành chánh quận nép qua một bên bàn viết phía trong lớn tiếng “dạ ông phó đây”. Mấy người khách lớn tuổi, có ông có bà trố mắt, mĩm cười gật đầu. Đứng phía sau, một lần nữa chị thư ký nhìn hai dì phước nói nhỏ “ông phó đó”, hai người bước tới nhỏ nhẹ “dạ chào ông phó”. Hiển chào đáp lễ, bỗng ngờ ngợ nhìn phớt người di phước trẻ, bất chợt hình ảnh của cô học trò tên Nhật An, lớp 11 trường tư thục Đồng Nai của hơn năm năm trước, thoáng chốc hiện về. Cái nốt ruồi duyên đen màu sương sớm trên mí mắt trái, cái nốt ruồi mà Hiển thương không biết bao nhiêu nhưng không dám nói ra, nhìn thấy rõ trên khuôn mặt được che bởi cái khăn choàng trắng phủ quanh đầu. Trong khi đó, người dì phước trẻ, Nhật An cũng bối rối, ngạc nhiên như Hiển, cũng hai tiếng “chẳng lẽ” thầy Hiển dạy đại số năm đó đây sao. Hiển khựng lại chốc lát, định thần rồi mời vào phòng làm việc của mình. Chị thư ký cầm sấp giấy ghi chép theo sau. Câu chuyện xoay quanh việc Nữ Chủng Viện Vĩnh Long muốn tổ chức việc cứu trợ cho người dân quận Lấp Vò bị cơn bão vừa qua, phụ với chính quyền tỉnh Sa Đéc một phần vì họ vừa nhận được vật dụng cũng như tiền tặng dữ từ một số mạnh thường quân quen của chủng viện từ trên Sài Gòn cũng như ở Vĩnh Long. Hộ nhờ quận sắp xếp giùm và theo như lời của ông quận trưởng thì người lo đó chính là Hiển, ông phó của ông. Suốt buổi người dì phước bề trên lớn tuổi, xem ra nói gần hết, dì Nhật An lặng thinh nghe, thỉnh thoảng gật đầu như chính mình đang nghe cả tiếng lòng run rẫy.
     Ra về, mưa dứt, trời có chút nắng muộn, Hiển đưa mọi người tới tận cổng văn phòng quận, nơi chiếc xe đò lỡ nhỏ đậu ở đó chờ. Là người sau cùng, trước khi lên xe dì Nhật An quay lại nhìn Hiển cười, bỗng dưng hai người cùng nói một lượt “không ngờ là có ngày mình gặp lại nhau”. Chiếc xe chầm chậm ra đường lộ, qua khung cửa sau, dì Nhật An vẫn còn quay đầu nhìn lại, nói gì đó với người dì phước bề trên lớn tuổi. Hiển đứng nhìn theo đến khi xe khuất đâu đó đàng sau khu nhà lồng chợ quận, mới trở vào. Anh lính nghĩa quân gát cổng, ngồi trong lô cốt canh, đứng dậy “chào ông phó”. Hiển vu vơ nhìn lên trời cao, cười với đám mây xám lãng đãng quyện hình đôi cánh thiên thần. Vào văn phòng, Hiển ngồi thừ ở bàn, mớ công văn chưa đọc chưa ký vẫn nằm nguyên, không màn đụng tới. Đêm đó, một đêm nữa không ngủ, Hiển cứ trằn trọc trở mình mong cho trời mau sáng ngày mai, ngày phát quà cứu trợ cho người dân mấy xã bị nạn bão lụt.
*
    Vào học đầu năm thứ ba, tình cờ gặp chị Thủy, chị của Hòa, thằng bạn cùng lớp Đệ Nhất trường tỉnh, con nhà khá giả nên đã đi du học đâu đó bên trời Tây. Chị Thủy đang dạy Pháp văn ở trường tư thục Bác Ái, đối diện bên này trường Sư phạm Sài Gòn. Chị biết rành gia cảnh nghèo của Hiển từ khi còn ở tỉnh nhà, cũng như Hiển vốn giỏi toán từ trung học và đã đi dạy kèm cho một số con nhà người quen của chị luyện thi ở Sài Gòn từ năm đầu đại học. Hôm lang thang tìm mua sách cũ ở chợ trời Hàm Nghi, trời chiều nóng, hai chị em kéo vào cái xe nước mía bên đường tránh nắng, hỏi thăm chuyện nhà chuyện học hành. Sau đó nhờ chị giới thiệu, Hiển đến nhận dạy môn đại số, một tuần hai ngày, một ngày hai giờ, kỳ đệ nhị lục cá nguyệt, lớp 11 của trường tư thục Đồng Nai, nằm không xa bồn binh đường Hậu Giang, ngã ra Phú Lâm, thay cho người thầy môn này bị động viên nhập ngủ, 
    Vốn tính có chút máu “văn nghệ văn gừng” trong người nên thường khi anh chàng cũng hơi “méo mó nghề nghiệp”, nhưng cũng vì đó mà Hiển đã được cả lớp, trai cũng như gái thích học và tỏ ra hâm mộ ông thầy đại số, ông thầy không hơn họ bao nhiêu tuổi. Hiệu trưởng, thầy cô không ai than phiền mà còn ủng hộ là khác. Cứ sau khi xong bài học, còn dư giờ trong khoảng thời gian hai giờ dạy, Hiển nói về thơ về nhạc cho vui, nào là “Áo lụa Hà Đông, Ngày xưa Hoàng Thị, Bài không tên cuối cùng” hay “Nếu biết rằng tôi đã có chồng, Người đi một nửa hồn tôi chết...” Cả lớp, nhất là đang ở “tuổi biết buồn” nghe không chịu ra về, dù chuông tan trường reo từng hồi hối thúc. Đám con gái thì lăng xăng, háo hức hỏi này hỏi nọ, trở lại tuần sau, chưa bắt đầu bài đã nhắc tiếp theo lần trước. Vì dạy giờ cuối trong ngày nên Hiển thường đón xe buýt về chung với ba bốn cô của lớp 11, trên đường Trần Quốc Toản ra hướng Sài Gòn, thân thiện gọi nhau “thầy thầy em em” rân trời. Trong mấy cô này, cô nào cô nấy nhanh tay lẹ chân không ai bằng, thường xuống ở vài trạm trước, còn lại Hiển và Nhật An đi tiếp. Hai thầy trò ngồi nhìn đường phố, hỏi qua nói lại chuyện không đầu không đuôi. Ngược lại với ba người kia, Nhật An, ít nói, chỉ cười nhẹ, bẽn lẽn hơn.  Em có cái nốt ruồi duyên màu sương sáng trên mí mắt mà Hiển đã để ý ngay từ giờ dạy đầu tiên. Nhật An xuống xe ở góc đường Lê Đại Hành, con đường nằm dọc theo trường đua ngựa Phú Thọ, ngồi một mình về Cao Thắng, Hiển cứ nhớ quanh nhớ quẩn cái nốt ruồi duyên và cũng từ ngày đó Hiển thấy hồn mình là lạ khó tả.
    Chiều thứ bảy, Hiển đến ăn cơm chiều như đã hứa ở nhà Nhật An, một căn nhà gạch nhỏ có cái gác cây lững phía trên, ở gần cuối đường Lê Đại Hành, xế ngang ngã ba đường qua cư xá Lữ Gia. Nhà có hai mẹ con, có cái sạp bán quần áo, giày dép bên chợ Thiếc. Theo lời bác, sau khi sinh Nhật An ra, chừng hơn một năm, chồng bác bỏ đi biền biệt không về từ ngày đó, cho đến giờ bác cũng không nghe tin tức gì về ông. Lúc đầu bà còn mong còn chờ nhưng ngày qua ngày, hơn mười mấy năm rồi, cũng đã đủ, càng xa càng biệt, xem như ông đã chết, mọi thứ nguội lạnh từ lâu, hai mẹ con vui với nhau mà sống. Quen dần, Hiển thỉnh thoảng đến thăm Nhật An, hai tiếng thầy bỗng dưng không còn gọi, anh Hiển, Nhật An vậy đó, được bác đồng ý, Hiển đôi ba lần, có khi cùng với mấy cô bạn cùng lớp cùng chuyến xe buýt, có khi chỉ có hai người, đưa nhau lên xuống phố phường, hết ngõ qua Duy Tân cây dài bóng mát về Lê Thánh Tôn đuổi lá me bay, cười ngã nghiêng với ly kem Mai Hương, mắt cay mắt xé với tô bún bò Tam Đa giữa giòng người của Sài Gòn chiều cuối tuần, nắng mưa bất chợt. Rồi từ đó, cũng giữa những lần bên nhau nắng mưa bất chợt cả hai, Hiển và Nhật An biết mình đã thương người rồi.
    Gần cuối giữa năm học, Hiển thôi không còn dạy nữa vì trường đã tìm được thầy khác. Trước tết vài hôm, Hiển ghé nhà Nhật An chào từ giã về tỉnh ăn tết, mẹ Nhật An gởi theo gói quà nhỏ cho gia đình anh, gọi là chút quà lấy thảo. Mùng một tết Mậu Thân, Bắc Việt tung quân tổng tấn công hầu hết các tỉnh và thành phố Miền Nam. Quân họ có mặt ngay cả bên trong Sài Gòn, chiếm được nơi này chỗ kia vài ngày, trừ Huế được gần cả tháng. Trận chiến kéo dài một thời gian, đường xá bị kẹt cứng, xe đò xe hàng không chạy được, nhất là mấy ngã từ các tỉnh về Sài Gòn, nhưng cuối cùng, quân Bắc Việt thua cuộc, bị đẩy lui. Hiển cũng kẹt lại dưới tỉnh, hơn mười mấy ngày mới trở xuống Sài Gòn, trường cũng vừa vào học lại. Từ ngã tư Bảy Hiền xuống, từ ngã tư Hàng Xanh qua, nhà cửa cái còn cái mất, cái loang lỡ cháy đen cái trơ vơ gạch nám.
    Sáng thứ bảy hôm sau ngày xuống Sài Gòn, Hiển đón xe xích lô đạp tới tìm Nhật An thì không còn ai đó nữa. Một dãy nhà trên đường Lê Đại Hành, khúc này đã bị sụp đổ gần hết vì đạn pháo của quân Bắc Việt, hỏi người quen chung quanh, mới hay là mẹ của Nhật An cùng gia đình bên cạnh đã chết vì nhà bị trúng đạn pháo ngay trái đầu trưa mùng một tết, bà con đem bà chôn ở nghĩa trang Phú Thọ Hòa, đám tang xong, không thấy Nhật An về đây nữa. Miếng đất phủ đầy than bụi, gạch ngói nằm nám đen miếng lành miếng bể, không thấy ai tới lui, mặt khác chợ Thiếc cũng bị cháy rụi từ đầu tới cuối, nên sạp áo quần của nhà Nhật An không còn gì hết. Hiển bàng hoàng thờ thẩn hết mấy ngày, ngồi trong giảng đường như người mất hồn, xót xa buồn, xót xa nhớ. Hiển trở lại trường Đồng Nai, nhà trường cũng như đám học trò cũ, bạn của Nhật An cho biết, chôn cất mẹ xong, Nhật An có trở lại trường rồi từ giã bạn bè, thầy cô, trường lớp ra đi, không nói là đi đâu và ở chỗ nào, cứ bảo là đi về quê bà con ở xa, hẹn khi nào thuận tiện sẽ viết thư cho biết địa chỉ, thế thôi. Sáu tháng, nửa năm chờ, nửa năm ngóng trông, vẫn không có tin gì về Nhật An, ngay cả mấy cô bạn thân cùng lớp cũng chẳng biết gì hơn, Hiển thôi cũng đành cố quên để mà nhớ. Cuối năm tốt nghiệp, Hiển ra làm tận Cung Sơn Phú Yên, rồi ngược xuống Lấp Vò Sa Đéc cho đến giờ.
    Hơn một tuần, công việc cứu trợ người dân nạn lụt quận Lấp Vò xong, mọi chuyện đều tốt đẹp. Suốt trong những ngày làm việc bên nhau, dì Nhật An xem ra nói cười nhiều hơn lúc đầu mới gặp. Hiển thì khỏi nói, chuyện của những ngày mới quen, mới thương thầm trộm nhớ sống lại không mời không gọi, nhưng cả hai, ở trong hoàn cảnh này, thì “nổi lòng biết tỏ cùng ai”. Dì Nhật An về tu viện, thỉnh thoảng đôi lần qua Vĩnh Long. Vai vế Hiển với một số dì phước ở đó không lạ gì sau chuyến cứu trợ. Hiển cũng ghé tạt ngang tu viện, ai nấy mừng rỡ đón. Hiển xin phép Mẹ bề trên, được gặp thẳm hỏi dì Nhật An đôi lời, gặp để rồi lên xe về Sa Đéc mà buồn man mác, buồn diệu vợi, buồn muốn khóc. Về Lấp Vò, không còn bao lâu nữa tới ngày Giáng Sinh, chuyện xã chuyện quận,  chuyện gì cũng gác lại. Ngày đó Hiển nhất định phải qua Vĩnh Long đi lễ chiều ở nhà thờ chánh tòa. Lễ đó có mặt đủ các dì bên nữ tu viện, dĩ nhiên là có dì Nhật An. Hiển đứng ngồi không yên, thở ra thở vào, nôn na nôn nóng đếm từng ngày một, mặc dù còn gần cả tháng nữa, nôn nóng gặp để cho thỏa nhớ, nhớ riêng mình, chứ biết có nói và dám nói được gì không.
*
    Ngày 23 tháng 12, chuyến xe đò lỡ từ Sài gòn về Vĩnh Long sớm, không may bị trúng mìn do quân du kích Việt công gài trong mấy cái mô đất, chắn ngang đường đêm qua, khỏi đoạn ngang xã Mỹ Đức Tây, về hướng Bắc Mỹ Thuận không mấy xa, nổ tung, bốn năm người bị thương, số còn lại chừng mươi người chết, trong đó không may có dì phước Nhật An. Dì trên đường trở xuống Vĩnh Long sau hôm về Sài Gòn thăm mộ mẹ, đi buổi sáng sớm để về kịp thánh lễ chiều Giáng Sinh như đã định. Xe cứu thương quân đội từ Cai Lậy xuống chở đến bên này bờ Bắc Mỹ Thuận rồi đưa xuống chiếc tàu hàng tư nhân, chở qua bên kia cho lẹ, vì nếu chờ phà thì quá lâu. Xác dì Nhật An, được mẹ bề trên và cha xứ đến nhận rồi mang về làm lễ tang tại nữ tu viện ngay khi xe đem về tới nhà xác bệnh viện tỉnh. Đọc lá thư xin tu xuất và vài trang chót cuốn nhật ký của dì Nhật An, với sự đồng ý của cha xứ, sáng sớm hôm sau, mẹ bề trên nhờ một người quen của một trong mấy bác họ đạo, chạy xe Honda đi Sa Đéc, xuống Lấp Vò.
    Hiển đứng chết lặng, rấm rứt khóc bên cái quan tài phủ khăn choàng và những cành Huệ trắng, đặt ở một phía sát tường trong phòng tiếp khách, ngó ra khoảng sân rộng lát gạch nâu hâm hấp nắng chiều. Cha xứ, mẹ bề trên, các dì phước và mấy bác trong nhóm cứu trợ nạn lụt Lấp Vò vừa qua đứng lặng im, xót xa nhìn từ góc phòng, có cây thông Giáng sinh xanh màu lá, lâm râm đoạn kinh lạy Chúa. Lá thư xin tu xuất gởi mẹ bề trên ghi ngày rời tu viện 25 tháng 12 và trang cuối cùng cuốn nhật ký dì Nhật An viết trước khi về Sài Gòn thăm mộ mẹ, còn nguyên màu mực mới: “giữa đêm 20/12, có lẽ định mạng muốn vậy, nên mình mới gặp lại nhau, từ ngày gặp anh ở văn phòng quận Lấp Vò, Nhật An cứ nghĩ mãi về chuyện cũ, Nhật An không làm sao quên được anh, đã yêu anh mất rồi. Con đã có lỗi với Chúa, người đã dắt con trên con đường quên đời mà sống vui vì đạo suốt bao nhiêu năm qua nhưng Chúa ơi, con không thể dối lòng, con không thể quên anh Hiển. Tình yêu bỗng bừng sống lại, con không làm sao chống chọi nỗi, xin Chúa tha thứ cho con. Anh Hiển ơi, sau thánh lễ chiều hôm Giáng sinh này, Nhật An sẽ gặp riêng anh, một Nhật An, đứa học trò lớp 11 chứ không là một dì phước Nhật An nữa. Mình sẽ kể nhau nghe chuyện buồn vui ngày đó và nói chuyện bây giờ nghe anh...” để trước di ảnh, trên đầu quan tài vẫn còn mở, hình như có chút nước mắt màu sương sớm nhạt nhòa đâu đó ở cuối trang giấy.
*
    Buổi thánh lễ Giáng Sinh chiều hôm đó xong lâu rồi, người đi lễ lần lượt ra về không còn một ai, bên trong vắng lặng, Hiển vẫn cứ đứng đó, trước cửa, nép vào một góc tường, cuối bậc thềm đi lên, cầm cuốn nhật ký trên tay chờ như lời hẹn, cho đến khi đèn nến tắt, chuông không còn đổ trên gác cao, nắng chiều chậm xuống trãi dài ngang cây cầu vào chợ, bà bác già quét dọn nhà thờ từ trong đi ra, sửa soạn đóng cửa chính nhìn thấy Hiển, bà nhẹ miệng cười hỏi có cần gì không. Hiển lắc đầu “dạ không, cháu chờ người quen nhưng không biết chừng nào mới tới”. Bà gật đầu đi vào lầm thầm “ai hẹn người ta sao mà không chịu tới .” Cửa khép lại, Hiển bật khóc.

Thuyên Huy
Ascot Vale đêm Giáng Sinh 2018 - Tặng đám bạn cùng ra trường có một thời như thế.







Ba Mùa Lỗi Hẹn - Vkp.Công Chúa Nhỏ


        BA MÙA LỖI HẸN 
Xuân nầy nữa, ba mùa anh lỗi hẹn
Hứa... không về để em phải chờ mong
Cuộc tình mình như gió thoảng qua sông
Hương yêu bay mất, cô đơn nối tiếp
*
Xa nửa địa cầu làm tim sai nhịp
Trách chi ai khi hoàn cảnh an bày
Phố nhỏ trường xưa giờ đã đổi thay
Còn đâu kỷ niệm một thời để nhớ
*
Thôi anh ạ! Mình có duyên không nợ
Tìm đến muộn màng chỉ khổ cho nhau
Thà sống hai nơi giữ mối tình đau
Mà đôi tim vẫn hòa chung nhịp đập
     Vkp.Công Chúa Nhỏ



Cali Nắng Ấm - Mai Xuân Thanh


      Cali Nắng Ấm
(Ở Cali tháng ba này mới “vào xuân thì phải!)
          Ở đây sương lạnh suốt ban trưa
      Đất khách vào xuân vạt nắng thưa
      Cây cối đâm chồi chim nhảy nhót
      Vườn hoa nảy lộc gió se lùa
      Trời thanh ấm áp người đi dạo
      Đất lạ êm đềm lá rách tưa
      Đưa rước học trò xe đón đợi 
      Mùa thi sắp đến gắng lo bừa...(!)
Mai Xuân Thanh
Ngày 22/03/2019



Thứ Hai, 25 tháng 3, 2019

Thương Nhà Nông (Mailoc)



   THƯƠNG  NHÀ  NÔNG
      (Thơ vần trắc)
Mặt đỏ ối, trời cao nắng đổ
Nông dân nhìn ruộng cạn than thở.
Mạ còi tác nước, gàu không ngưng
Rẫy héo bắt sâu, tay chẳng hở.
Vốn liếng tiêu tan chắc bán vườn
Nợ nần chồng chất ngán ghi sổ.
Một đời vất vả, hãy yêu thương
Bao kẻ âm thầm trong thống khổ ! 
         Mailoc





Bài thơ Đường 56 chữ. Với 56 chữ này có thể đọc thành 70 bài thơ đủ thể loại.


    Tôi mạo muội sáng tác được một bài Thơ Đường bình thường, nhưng lại dùng 56 chữ của bài thơ đó sắp xếp lại được thêm 70 bài thơ khác nữa theo gần đủ mọi thể loại thơ như Thuận Nghịch, Bát Cú, Tứ Tuyệt, Song Thất Lục Bát, Lục Bát và Thơ Tư Do. Tôi xin được phổ biến để đông đảo người xem, mà thưởng thức phần nào sự phong phú của tiếng Việt mình. Xin cám ơn quý độc giả.

Nguyễn Thanh Vân

               THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 
        Bạc mệnh Kiều mang oán hận trường,
        Đàn đau khúc thảm nỗi buồn thương!
        Tàn trinh lỡ tiết hờn thân phận,
        Rã nhuỵ chìm hoa tủi lược gương!
        Vàng đá dở dang đời khổ luỵ
        Duyên tình ngang trái mộng sầu vương!
        Trang đài Thuý rẽ… vùi son phấn,
        Lệ cảm khóc phiền rũ sắc hương!
                                              
          Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

            Bài thơ này làm theo thể Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật gồm 56 chữ. Rồi chỉ dùng võn vẹn có 56 chữ đó thay đổi vị trí các câu, các chữ, để trình bày đến quý bạn đọc thêm 70 bài thơ Thương Kiều Bạc Mệnh khác theo đủ mọi thể loại với:
-      20 bài thơ Thất Ngôn Bát Cú Thuận & Nghịch Độc.
-      10 bài thơ Thất Ngôn Bát Cú không Thuận Nghịch Độc.
-      10 bài thơ Tứ Tuyệt.
-      10 bài thơ Lục Bát.
-      10 bài thơ Song Thất Lục Bát.
-      10 bài thơ làm theo lối Tự Do.

Chúng ta cũng có thể làm hơn 10 bài trong các thể thơ nêu trên với 56 chữ duy nhất như đã nói qua, nhưng nếu làm nhiều bài quá thì dễ có sự trùng lặp, chẳng hạn như bài này giống bài kia từ các câu các chữ, hoặc khác nhau một hoặc hai chữ trong mỗi câu thành ra mất hay.
Ngoài ra, cũng xin chọn một trong số 20 bài Thất Ngôn Bát Cú Thuận Nghịch Độc, để trình bày thêm 32 cách đọc như: đọc xuôi, ngược, phải, trái, và đọc từ trên xuống hay từ dưới lên… v.v.
Mục đích là để sau này các bạn trẻ Việt Nam muốn nghiên cứu tìm hiểu về tiếng Việt, sẽ thấy sự phong phú của tiếng nước ta, mà càng thương mến và tự hào về cội nguồn dân tộc của mình nhiều hơn vậy.
Xin mời quý vị cùng thưởng thức: 
      A.- Dùng 56 chữ của bài Thương Kiều Bac Mệnh ở trên, làm 10 bài theo thể Thất NgônBát Cú Thuận Nghịch Độc, một bài thành hai bài như sau:
              
THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 01 
Đọc Xuôi:
Trang đài khóc thảm luỵ tình vương,       
Thuý rẽ… đàn đau khúc hận trường !   
Ngang trái nỗi sầu thân oán mộng,             
Dở dang đời khổ lược phiền gương !
Tàn trinh tiết lỡ vùi son phấn,
Rã nhuỵ hoa chìm rũ sắc hương !     
Vàng đá tủi duyên hờn cảm lệ,                    
Mang buồn phận bạc mệnh Kiều thương !     

Đọc Ngược:
Thương Kiều mệnh bạc phận buồn mang,
Lệ cảm hờn duyên tủi đá vàng !
Hương sắc rũ chìm hoa nhuỵ rã,
Phấn son vùi lỡ tiết trinh tàn !
Gương phiền lược khổ đời dang dở,   
Mộng oán thân sầu nỗi trái ngang !
Trường hận khúc đau đàn… rẽ Thuý,
Vương tình luỵ thảm khóc đài trang !

 (Bài này được phân ra 32 cách đọc ở những phần cuối trang)


THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 02
Đọc Xuôi:
Thương cảm lệ tình khóc dở dang,       
Khổ phiền thân Thuý rẽ đài trang !         
Hương buồn sắc rũ chìm hoa nhuỵ,
Mệnh bạc Kiều mang luỵ đá vàng !        
Gương tủi lược vùi trinh tiết lỡ,   
Phận sầu duyên rã phấn son tàn !      
Vương đời thảm khúc đàn đau oán,     
Trường hận nỗi hờn mộng trái ngang !  

Đọc Ngược:
Ngang trái mộng hờn nỗi hận trường,  
Oán đau đàn khúc thảm đời vương !
Tàn son phấn rã duyên sầu phận,
Lỡ tiết trinh vùi lược tủi gương !
Vàng đá luỵ mang Kiều bạc mệnh,
Nhuỵ hoa chìm rũ sắc buồn hương!      
Trang đài rẽ Thuý thân phiền khổ,
Dang dở khóc tình lệ cảm thương!

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 03                          
Đọc Xuôi:
Trang đài rẽ Thuý khổ sầu vương,       
Phận bạc đời đau nỗi hận trường!  
Dang dở mệnh vùi son rã phấn,
Trái ngang đàn oán khúc chìm hương!
Mang tình lệ cảm thân hờn sắc, 
Lỡ mộng duyên phiền lược rũ gương!
Vàng đá tủi hoa buồn thảm nhuỵ,     
Tàn trinh tiết khóc luỵ Kiều thương!

Đọc Ngược:
Thương Kiều luỵ khóc tiết trinh tàn,
Nhuỵ thảm buồn hoa tủi đá vàng !
Gương rũ lược phiền duyên mộng lỡ,
Sắc hờn thân cảm lệ tình mang ! 
Hương chìm khúc oán đàn ngang trái,
Phấn rã son vùi mệnh dở dang ! 
Trường hận nỗi đau đời bạc phận,  
Vương sầu khổ Thuý rẽ đài trang !

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 04
Đọc Xuôi:
Đàn khúc oán mang nỗi hận trường,        
Khóc hờn thân bạc phận Kiều thương!  
Tàn trinh tiết lỡ sầu đau Thuý,                    
Tủi phấn son buồn luỵ cảm hương!      
Ngang trái mệnh chìm đời rũ mộng,          
Dở dang tình khổ lược vùi gương!
Trang đài sắc rã hoa phiền nhuỵ,              
Vàng đá rẽ duyên thảmlệ vương!     

Đọc Ngược:
Vương lệ thảm duyên rẽ đá vàng,
Nhuỵ phiền hoa rã sắc đài trang!  
Gương vùi lược khổ tình dang dở,
Mộng rũ đời chìm mệnh trái ngang!
Hương cảm luỵ buồn son phấn tủi, 
Thuý đau sầu lỡ tiết trinh tàn! 
Thương Kiều phận bạc thân hờn khóc,
Trường hận nỗi mang oán khúc đàn!

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 05                           
Đọc Xuôi
Vàng đá luỵ mang lệ hận trường,    
Phấn phiền son rã khóc tình vương !
Tàn hoa nhuỵ rũ Kiều đau khổ,            
Rẽ Thuý duyên buồn nỗi cảm thương !
Ngang trái mệnh vùi trinh lỡ tiết,
Dở dang đời tủi lược hờn gương !  
Trang đài phận bạc thân chìm mộng,  
Đàn khúc oán sầu thảm sắc hương !

Đọc Ngược:
Hương sắc thảm sầu oán khúc đàn,
Mộng chìm thân bạc phận đài trang !
Gương hờn lược tủi đời dang dở,
Tiết lỡ trinh vùi mệnh trái ngang !
Thương cảm nỗi buồn duyên Thuý rẽ,
Khổ đau Kiều rũ nhuỵ hoa tàn !
Vương tình khóc rã son phiền phấn,
Trường hận lệ mang luỵ đá vàng !

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 06
Đọc Xuôi:
Đàn dang dở mộng luỵ Kiều vương,               
Khóc tủi đời đau khúc hận trường !
Tàn nhuỵ thảm duyên buồn rẽ Thuý,
Khổ son chìm phấn rã vùi hương !
Mang tình lỡ phận hờn trinh tiết, 
Rũ sắc phiền hoa oán lược gương !
Ngang trái nỗi thân sầu mệnh bạc,
Trang đài lệ cảm đá vàng thương ! 

Đọc Ngược
Thương vàng đá cảm lệ đài trang,        
Bạc mệnh sầu thân nỗi trái ngang !
Gương lược oán hoa phiền sắc rũ,
Tiết trinh hờn phận lỡ tình mang !
Hương vùi rã phấn chìm son khổ,
Thuý rẽ buồn duyên thảm nhuỵ tàn !
Trường hận khúc đau đời tủi khóc,
Vương Kiều… luỵ mộng dở dang đàn ! 

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 07
Đọc Xuôi:
Đàn đau nỗi cảm khóc tình vương,  
Bạc mệnh thân sầu khúc hận trường !
Vàng đá thảm mang đời rũ mộng,
Tiết trinh vùi oán lệ buồn hương !
Tàn hoa nhuỵ rã son hờn phấn,
Tủi phận duyên chìm lược khổ gương !
Dang dở trái ngang phiền Thuý rẽ,
Trang đài lỡ sắc luỵ Kiều thương !

Đọc Ngược:
Thương Kiều luỵ sắc lỡ đài trang,
Rẽ Thuý phiền ngang trái dở dang !
Gương khổ lược chìm duyên phận tủi,
Phấn hờn son rã nhuỵ hoa tàn !
Hương buồn lệ oán vùi trinh tiết,
Mộng rũ đời mang thảm đá vàng !
Trường hận khúc sầu thân mệnh bạc,
Vương tình khóc cảm nỗi đau đàn !        

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 08
Đọc Xuôi  : 
Tàn đời Thuý rẽ khóc buồn hương,       
Bạc phận thân đau oán hận trường !
Ngang trái mệnh chìm hoa khổ nhuỵ,
Dở dang Kiều thảm nỗi hờn gương !    
Mang phiền lược tủi tình duyên rã, 
Cảm luỵ son sầu phấn lệ vương !    
Vàng đá mộng vùi trinh tiết lỡ,
Trang đài sắc rũ khúc đàn thương !

Đọc Ngược
Thương đàn khúc rũ sắc đài trang,
Lỡ tiết trinh vùi mộng đá vàng !
Vương lệ phấn sầu son luỵ cảm,
Rã duyên tình tủi lược phiền mang !
Gương hờn nỗi thảm Kiều dang dở,
Nhuỵ khổ hoa chìm mệnh trái ngang !
Trường hận oán đau thân phận bạc,
Hương buồn khóc rẽ Thuý đời tàn !

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 09
Đọc Xuôi:
Vương đàn khúc thảm khóc đài trang,      
Thuý rẽ buồn duyên luỵ đá vàng !             
Thương tủi nỗi hờn son phấn rã,
Cảm sầu  thân lỡ tiết trinh tàn !             
Gương vùi lược oán tình dang dở,         
Sắc khổ hoa phiền mệnh trái ngang !        
Trường hận lệ đau Kiều bạc phận,
Hương chìm nhuỵ rũ mộng đời mang !   

Đọc Ngược:
Mang đời mộng rũ nhuỵ chìm hương,
Phận bạc Kiều đau lệ hận trường !
Ngang trái mệnh phiền hoa khổ sắc,
Dở dang tình oán lược vùi gương !
Tàn trinh tiết lỡ thân sầu cảm,
Rã phấn son hờn nỗi tủi thương !
Vàng đá luỵ duyên buồn rẽ Thuý,
Trang đài khóc thảm khúc đàn vương !    

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 10
Đọc Xuôi:
Hương chìm oán khúc tủi đau đàn,      
Mệnh bạc Kiều dang dở trái ngang !                                       
Gương khổ lược phiền trinh tiết luỵ,
Phận hờn duyên rũ sắc hoa tàn !
Vương tình thảm lỡ buồn son phấn,
Khóc lệ vùi mang cảm đá vàng !
Trường hận nỗi thân sầu rẽ Thuý,
Thương đời mộng rã nhuỵ đài trang !      

Đọc Ngược:
Trang đài nhuỵ rã mộng đời thương,         
Thuý rẽ sầu thân nỗi hận trường !          
Vàng đá cảm mang vùi lệ khóc,
Phấn son buồn lỡ thảm tình vương !
Tàn hoa sắc rũ duyên hờn phận,
Luỵ tiết trinh phiền lược khổ gương !
Ngang trái dở dang Kiều bạc mệnh,
Đàn đau tủi khúc oán chìm hương !

      B.- 10 Bài Bát Cú không Thuận Nghịch Độc cũng bằng 56 chữ của bài đầu tiênvới tựa là “Thương Kiều Bạc Mệnh” được ghi số từ 11 đến 20:

Thương Kiều Bạc Mệnh 11
Hận trường đau nỗi khổ Kiều mang,     
Lỡ tiết vùi trinh khóc đá vàng !
Nhuỵ rã sầu hoa tình luỵ thảm,     
Đàn vương cảm khúc lệ buồn thương !     
Trái ngang đời mộng hờn son phấn,
Dang dở đài trang tủi lược gương !
Sắc rũ oán phiền thân mệnh bạc,
Phận chìm duyên Thuý rẽ tàn hương !   

Thương Kiều Bạc Mệnh 12
Thân Kiều mệnh bạc lệ buồn thương,    
Phận tủi đàn đau khúc hận trường !
Lỡ tiết tàn trinh đời rẽ Thuý,
Rã son chìm phấn lược phiền gương !
Dở dang tình mộng vùi hoa nhuỵ,
Thảm khổ đài trang oán sắc hương !
Vàng đá luỵ mang duyên rũ khóc,          
Trái ngang hờn cảm nỗi sầu vương !

Thương Kiều Bạc Mệnh 13 
Bạc phận Kiều mang nỗi hận trường,   
Khúc đàn đau thảm khóc buồn thương !
Tàn duyên khổ mộng hờn dang dở,    
Oán lược chìm gương tủi trái ngang !         
Hoa nhuỵ phấn vùi trinh lỡ tiết,
Mệnh thân đời rũ sắc phiền hương !
Sầu vương lệ cảm tình son rã,    
Thuý rẽ đài trang luỵ đá vàng !

Thương Kiều Bạc Mệnh 14
Đài trang Thuý rẽ luỵ tình vương,      
Bạc phận đời mang lỡ đá vàng !           
Ngang trái mệnh sầu hương sắc rã,
Dở dang duyên khổ tiết trinh tàn !
Hoa chìm nhuỵ thảm vùi son phấn,
Kiều khóc thân phiền oán lược gương !
Khúc hận trường đau đàn cảm lệ,
Nỗi buồn rũ mộng tủi hờn thương !

Thương Kiều Bạc Mệnh 15
Duyên Kiều bạc phận rẽ đài trang,      
Khúc thảm đàn đau khóc đá vàng !
Tiết lỡ trinh vùi hương sắc rũ,    
Thân mang nhuỵ rã phấn son tàn !
Thuý buồn lược tủi gương phiền luỵ,        
Đời oán hoa chìm mệnh khổ thương !    
Cảm nỗi tình sầu dang dở mộng,
Hận trường ngang trái lệ hờn vương !

Thương Kiều Bạc Mệnh 16
Hận trường cảm khóc khúc đàn vương,   
Tình luỵ Kiều đau lỡ đá vàng !
Gương khổ lược hờn hương sắc thảm,
Hoa vùi nhuỵ rũ tiết trinh tàn !
Phấn buồn tủi rã đời son oán, 
Thuý rẽ sầu thương nỗi lệ mang !          
Ngang trái duyên phiền thân mệnh bạc,     
Mộng chìm dang dở phận đài trang !   

Thương Kiều Bạc Mệnh 17    
Thương Kiều bạc mệnh thảm đời mang,     
Trinh tiết hờn duyên lỡ đá vàng !
Đàn cảm khúc vùi hoa nhuỵ rã,
Phấn chìm son luỵ sắc hương tàn !
Dở dang lệ rũ tình đau khóc,  
Ngang trái phận sầu nỗi khổ vương !     
Trường hận mộng buồn gương lược oán,
Thuý phiền thân rẽ tủi đài trang  !

Thương Kiều Bạc Mệnh 18
Hận trường nỗi oán khúc đàn thương,     
Khóc phận Kiều mangmộng dở dang !
Gương rũ lược sầu đau lệ cảm,              
Sắc chìm hương rã khổ duyên tàn !
Hoa buồn lỡnhuỵ hờn trinh tiết,      
Mệnh bạc vùi thân luỵ đá vàng !
Phấn tủi đời son phiền Thuý rẽ,     
Trang đài ngang trái thảm tình vương ! 

Thương Kiều Bạc Mệnh 19
Đàn khóc rã duyên khúc hận trường,      
Kiều mang tình rũ mộng chìm hương ! 
Phấn phiền son luỵ hờn thân oán,
Tiết lỡ trinh vùi tủi mệnh thương!
Dang dở sắc buồn đau khổ lược,              
Trái ngang phận bạc cảm sầu gương !
Trang đài Thuý rẽ tàn hoa nhuỵ,
Vàng đá nỗi đời thảm lệ vương !

Thương Kiều Bạc Mệnh 20
Sắc chìm duyên thảm mộng tình mang,     
Mệnh bạc Kiều vương tủi đá vàng !
Lỡ khúc hận trường đau oán phận,
Khóc đời ngang trái khổ thương đàn !
Trang đài rã nhuỵ hoa sầu luỵ,
Son phấn phiền gương lược rũ tàn !
Dang dở tiết trinh buồn Thuý rẽ,
Lệ hờn thân cảm nỗi vùi hương ! 

C.- Tiếp theo là 10 bài thơ Tứ Tuyệt, 10 bài Lục Bát, 10 bài Song Thất Lục Bát, và 10 bài thơ Tự Do cũng với tựa “Thương Kiều Bạc Mệnh” và không thay đổi 56 chữ đó như sau:     

BÀI TỨ TUYỆT 1:
Thương Kiều bạc mệnh tủi đài trang,      
Khúc hận trường đau cảm luỵ đàn !
Son rã phấn vùi trinh tiết lỡ,
Phận hờn thân khóc nỗi tình vương !

                      000
Hương tàn sắc khổ đời ngang trái,
Gương rũ lược phiền mộng dở dang !    
Thuý rẽ buồn duyên sầu lệ oán,
Hoa chìm nhuỵ thảm đá vàng mang !

BÀI TỨ TUYỆT 2:
Trang đài oán Thuý rẽ vùi hương,               
Đàn cảm khóc mang khúc hận trường !  
Son phấn tủi hờn trinh tiết lỡ,
Thân chìm mệnh bạc lược buồn gương !

                     000
Hoa tàn nhuỵ rã đời ngang trái,
Sắc luỵ tình đau phận khổ vương !
Kiều thảm lệ phiền duyên mộng rũ,
Đá vàng dang dở nỗi sầu thương !

BÀI TỨ TUYỆT 3:
Nhuỵ rã tàn hoa lỡ đá vàng,  ,                     
Kiều thương mệnh bạc khóc đài trang !
Hận trường oán khúc đau tình mộng,    
Đàn cảm thân phiền tủi phận vương !
                     000
Thuý rẽ buồn duyên mang luỵ khổ,     
Phấn son vùi thảm sắc chìm hương !    
Tiết trinh sầu lệ đời ngang trái,           
Rũ lược gương hờn nỗi dở dang !

BÀI TỨ TUYỆT 4:
Gương lược tủi phiền thân mệnh bạc,      
Kiều đau duyên khóc phận đài trang !    
Tiết trinh hờn lỡ vùi hương sắc,
Nỗi phấn son chìm mộng rũ thương !

                      000
Tàn hoa rã nhuỵ sầu ngang trái,
Luỵ cảm đàn mang khúc đá vàng !
Thuý rẽ dở dang tình khổ oán,    
Thảm đời trường hận lệ buồn vương !

BÀI TỨ TUYỆT 5:
Đàn khúc hận trường thương mệnh bạc,    
Kiều mang lệ thảm khóc tình vương !
Tiết trinh sầu lỡ duyên vàng đá,
Thuý rẽ buồn đau mộng trái ngang !

                     000
Gương lược rũ phiền đời luỵ khổ,
Hoa tàn cảm nhuỵ tủi đài trang !
Phấn son vùi rã chìm hương sắc,
Nỗi oán hờn thân phận dở dang !

BÀI TỨ TUYỆT 6:
Oán nỗi tình vương Kiều bạc mệnh,      
Khúc hận trường đau khóc tủi đàn !
Thuý rẽ buồn son tàn phấn lỡ,
Tiết trinh hờn rũ đá vàng mang !

                     000
Lệ sầu nhuỵ rã đời ngang trái,
Hương sắc phiền duyên luỵ khổ thương !
Gương lược thảm vùi thân mộng cảm,
Hoa chìm dang dở phận đài trang !

BÀI TỨ TUYỆT 7:
Thuý rẽ đài trang đời bạc mệnh,            
Kiều hờn trinh tiết nỗi sầu thương !
Hoa tàn nhuỵ khóc duyên dang dở,
Đàn cảm khúc đau tủi hận trường ! 

                    000
Son phấn luỵ phiền mang phận lỡ,
Mộng vùi sắc rã oán chìm hương !
Gương lược rũ thân tình thảm khổ,
Đá vàng ngang trái lệ buồn vương !

BÀI TỨ TUYỆT 8:
Cảm khúc đàn mang oán hận trường,        
Lệ sầu thương mệnh bạc Kiều vương !
Tiết trinh hờn lỡ buồn thân phận,
Rã nhuỵ chìm hoa tủi sắc hương !

                   000
Khóc nỗi lược gương phiền Thuý rẽ,
Đời tàn dang dở khổ đài trang !   
Trái ngang mộng rũ vùi son phấn,
Duyên luỵ tình đau thảm đá vàng !

BÀI TỨ TUYỆT 9:
Mộng tình duyên rũ vùi gương lược,     
Thuý rẽ đài trang lỡ đá vàng !
Trinh tiết hờn mang hoa nhuỵ rã,
Lệ sầu thương nỗi phấn son tàn !

                     000
Oán phiền phận bạc đời dang dở,
Đàn cảm buồn đau khúc hận trường !  
Hương sắc luỵ chìm thân thảm khổ,
Trái ngang khóc tủi mệnh Kiều vương !

BÀI TỨ TUYỆT 10:
Trinh hờn tiết lỡ Kiều vương thảm,              
Đàn luỵ cảm thương khúc hận trường !
Hoa tủi nhuỵ phiền mang phận bạc,
Sắc buồn son phấn rã chìm hương !

                       000
Mệnh tàn dang dở đời ngang trái,
Đau nỗi tình duyên khổ đá vàng !
Thuý rẽ lược vùi gương mộng rũ, 
Lệ sầu thân oán khóc đài trang !

BÀI LỤC BÁT 01:
      Thương Kiều bạc mệnh đài trang,     
Hoa vùi nhuỵ rũ đá vàng tủi mang.
      Hận trường khóc thảm khúc đàn,
Tiết trinh lệ oán lỡ vương phận buồn.
      Nỗi đời rã phấn chìm son,
Duyên tàn luỵ khổ cảm hờn sắc hương. 
      Phiền đau dang dở lược gương,
Sầu thân Thuý rẽ trái ngang mộng tình !

BÀI LỤC BÁT 02:
      Mộng vùi dang dở tiết trinh,      
Khúc đàn đau luỵ duyên tình thảm vương. 
      Mệnh thân Kiều oán hận trường,
Đài trang hờn tủi sắc hương rã tàn.
      Nỗi đời phận bạc trái ngang,
Son sầu lệ cảm đá vàng khổ mang.
      Lược phiền Thuý rẽ buồn gương,   
Phấn hoa nhuỵ lỡ khóc thương rũ chìm !

BÀI LỤC BÁT 03:
      Kiều đau bạc mệnh cảm thương,
Tiết trinh sầu lỡ đá vàng trái ngang.
      Hoa chìm nhuỵ oán dở dang, 
Hương tình lệ rũ đài trang phận buồn,
      Nỗi đời tủi phấn tàn son,
Lược phiền gương thảm khóc hờn sắc vương.
      Mộng vùi thân luỵ khúc đàn,
Rã duyên Thuý rẽ hận trường khổ mang !

BÀI LỤC BÁT 04:
      Hận trường đau khổ khúc đàn,
Duyên Kiều phận bạc đài trang cảm buồn.
      Tiết trinh sầu phấn lỡ son,
Mộng chìm thân mệnh khóc hờn dở dang.
      Hoa vùi hương sắc nhuỵ mang,
Lệ tình thương thảm đá vàng luỵ vương.
      Tủi phiền Thuý rẽ trái ngang,
Nỗi đời lược oán rã gương rũ tàn !

BÀI LỤC BÁT 05:
      Mệnh phiền phận bạc trái ngang,
Cảm sầu thân khóc dở dang duyên hờn.
      Nỗi tình mang rã phấn son,
Tiết trinh tàn khổ Kiều buồn nhuỵ hương.
      Sắc vùi oán rũ lược gương,
Đàn đau khúc thảm hận trường đài trang.
      Tủi đời Thuý rẽ luỵ vương,                              
Chìm hoa mộng lỡ đá vàng lệ thương !

BÀI LỤC BÁT 06:
      Đời Kiều bạc mệnh thảm thương,
Đàn đau oán khúc hận trường phấn son.
      Trang đài lỡ phận duyên buồn,
Nhuỵ hoa chìm rã luỵ hờn dở dang.
      Tiết trinh tàn tủi lược gương,
Sầu mang thân rũ đá vàng lệ vương.
      Khổ tình Thuý rẽ trái ngang,     
Nỗi phiền cảm khóc sắc hương mộng vùi !

BÀI LỤC BÁT 07:
      Kiều đàn đau khúc hận trường,
Thảm đời Thuý rẽ sắc hương luỵ buồn.                                                Trang đài rã phấn chìm son,
Hoa sầu nhuỵ rũ tủi hờn trái ngang.
      Mệnh thân mang lỡ đá vàng,
Cảm duyên phận bạc nỗi tàn lược gương.
      Tiết trinh vùi khóc dở dang,
Lệ thương oán khổ phiền vương mộng tình !

BÀI LỤC BÁT 08:
      Đau sầu Thuý rẽ đài trang,
Khúc đàn bạc mệnh đá vàng luỵ vương.
      Hoa chìm nhuỵ rã sắc hương,
Tiết trinh lỡ phận dở dang duyên buồn.
      Lược gương vùi thảm lệ hờn,
Nỗi phiền khổ phấn khóc son rũ tàn.
      Mộng tình ngang trái hận trường,            
Cảm thương thân oán tủi mang đời Kiều !

BÀI LỤC BÁT 09:
      Duyên chìm lỡ phận trái ngang,
Kiều vương mệnh bạc khóc mang lệ buồn.
      Tiết trinh sầu phấn rã son,
Đàn đau cảm khúc tủi hờn lược gương.
      Mộng tình dang dở sắc hương,
Oán phiền Thuý rẽ hận trường đài trang.
      Nỗi đời hoa nhuỵ rũ tàn,
Thân vùi luỵ khổ đá vàng thảm thương !

BÀI LỤC BÁT 10:
      Kiều đàn oán khúc hận trường,
Cảm thân phận bạc đá vàng thảm vương.     
      Tiết trinh hờn lệ tủi mang,
Đời hoa Thuý rẽ nhuỵ tàn sắc hương.
      Duyên vùi khổ luỵ trái ngang,
Mệnh phiền đau rũ dở dang mộng buồn.
      Nỗi tình rã phấn lỡ son,                                  
Đài trang thương khóc chìm gương lược sầu !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 1:
     Khúc bạc mệnh, đàn đau oán phận, 
     Tiết trinh vùi, rã phấn đài trang. 
          Đời hoa chìm nhuỵ sắc hương,     
Mang tình thảm tủi… trái ngang mộng hờn.
                         000
     Kiều khổ luỵ… buồn son dang dở,
     Cảm sầu thương, thân lỡ lược gương,
          Duyên tàn rũ khóc hận trường,
Nỗi phiền Thuý rẽ, đá vàng lệ vương !
                                       
BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 2:   
     Kiều bạc mệnh, lệ tình dang dở,
     Khúc đàn vương, oán khổ đài trang.
          Nỗi đời tủi khóc trái ngang,
Tiết trinh sầu thảm… rã tàn phấn son.
                          000
     Duyên vàng đá, cảm buồn mộng lỡ,
     Phận đau vùi, thân rũ lược gương.
          Luỵ phiền Thuý rẽ hờn mang,
Thương hoa chìm nhuỵ… hận trường sắc hương !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 3:
     Thương đời Kiều… chìm hoa rã nhuỵ,
     Tiết trinh tàn, khóc luỵ sắc hương.
          Khúc đàn bạc mệnh lệ vương,
Trái ngang tình khổ, hận trường phấn son.
                          000
     Duyên phận lỡ, tủi hờn thân thảm,
     Mộng vùi đau, nỗi cảm buồn mang,           
          Dở dang phiền rũ đá vàng,
Đài trang Thuý rẽ… lược gương oán sầu !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 4:
     Trinh tiết oán… mang sầu Thuý rẽ,
     Khúc đàn vương, rũ lệ phiền thương.
          Nhuỵ hoa chìm lỡ sắc hương,
Khổ đời ngang trái, lược gương rã tàn.
                         000
     Kiều mệnh bạc, dở dang thân phận,
     Mộng tình đau, trường hận phấn son.
          Đá vàng luỵ khóc tủi hờn,    
Duyên vùi thảm nỗi… cảm buồn đài trang !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 5:
     Thuý rẽ đài trang… buồn lệ khóc,
     Mộng vùi duyên, rã khúc đàn thương.
          Oán hờn nỗi thảm tủi mang,
Kiều vương mệnh bạc, đá vàng chìm đau.
                         000
     Đời hương sắc, phận sầu thân khổ,
     Nhuỵ phiền hoa… dang dở lược gương.
          Phấn son cảm luỵ hận trường,             
Trái ngang tình lỡ, rũ tàn tiết trinh ! 

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 6:
     Trường hận oán… Kiều mang mệnh bạc,
     Tiết trinh tàn, hương sắc buồn thương.
          Mộng tình đau khổ lược gương,
Thân chìm phận lỡ, phiền vương lệ hờn.
                         000
     Hoa nhuỵ rã… phấn son luỵ cảm,
     Trái ngang đời, nỗi thảm đài trang.
          Khúc đàn tủi khóc dở dang,
Rũ sầu Thuý rẽ… đá vàng vùi duyên !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 7:
     Đàn dang dở, hận trường oán khúc,
     Nỗi đau thương, lệ khóc đài trang.
          Buồn duyên Thuý rẽ đá vàng,
Tiết trinh vùi lỡ… rũ tàn phấn son. 
                        000
     Kiều bạc mệnh, tủi hờn phận thảm,
     Sắc hương chìm, luỵ cảm thân mang.      
           Gương phiền lược khổ trái ngang,   
Đời hoa nhuỵ rã… sầu vương mộng tình !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 8:
     Đàn đau khúc oán… vương tình thảm,
     Kiều khóc thương, lệ cảm đài trang.
          Hương chìm sắc luỵ thân tàn,
Rũ hoa nhuỵ rã, phiền mang hận trường.
                        000
     Vùi trinh tiết… lược gương buồn khổ,
     Đời phấn son, mộng lỡ đá vàng.
          Nỗi hờn mệnh bạc trái ngang,
Tủi duyên Thuý rẽ, dở dang phận sầu !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 9:
     Hờn mệnh bạc… Kiều đàn khúc thảm,
     Tủi đài trang, khóc cảm phận tàn,
          Phiền vương mộng lỡ tình mang,
Oán sầu… Thuý rẽ trái ngang lệ buồn.
                        000
     Nhuỵ hoa chìm… phấn son luỵ khổ,
     Tiết trinh vùi, dang dở lược gương.        
          Hận trường thân rũ sắc hương,
Nỗi đời duyên rã, đau thương đá vàng !

BÀI SONG THẤT LỤC BÁT 10:
     Rã vàng đá… thương Kiều dang dở,
     Đàn khúc đau, vùi khổ trái ngang.
          Lệ phiền mộng rũ sầu mang,
Hoa chìm nhuỵ tủi, thân tàn sắc hương.
                       000
     Trinh tiết lỡ, lược gương luỵ cảm,
     Nỗi hận trường, phận thảm phấn son.
         Đài trang mệnh bạc khóc hờn,
Oán vương đời Thuý, rẽ buồn tình duyên !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 01:
Thương Kiều bạc mệnh,
Đời khổ phiền mang.
Đàn khúc…trái ngang,
Vương tình dang dở.
Tiết trinh hờn lỡ,
Phận rũ sắc hương.
Hận trường khóc thảm,
          000
Hoa sầu nhuỵ oán,
Thuý rẽ đài trang.
Chìm rã đá vàng,
Phấn son lệ tủi,
Cảm nỗi duyên vùi,
Gương lược buồn đau,
Mộng tàn thân luỵ !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 02:
Đàn trái ngang,
Tình vương lệ oán.
Kiều khổ đau,
Khúc thảm hận trường.
Đài trang… Thuý rẽ sầu thương,
Tiết trinh vùi lỡ…
Sắc hương luỵ tàn.
          000
Tủi phiền mang,
Đá vàng mộng rũ.
Đời lược gương,
Dang dở phấn son.
Hoa chìm… Nhuỵ rã… phận buồn,                   
Cảm thân mệnh bạc,
Nỗi hờn khóc duyên !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 03:
Nỗi đời… 
duyên lỡ khóc buồn…
Kiều đàn khúc oán,
Tủi hờn sắc hương.
Đài trang… dang dở lược gương,  
Khổ đau Thuý rẽ…
Thảm thương đá vàng.
          000
Tiết trinh…  son phấn… luỵ tàn,
Rã hoa chìm nhuỵ…
Phiền mang hận trường.
Cảm thân phận bạc… 
Tình vương,
Mệnh vùi mộng rũ…      
Trái ngang lệ sầu ! 

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 04:
Đời Kiều phận khổ,
Mệnh bạc thân sầu.
Đàn khúc thảm đau,
Hận trường Thuý rẽ…
Tình vương oán lệ,
Trinh tiết luỵ tàn.
Hoa nhuỵ phiền mang,
          000
Lược gương dang dở.
Đài trang duyên lỡ,
Vàng đá cảm buồn.
Vùi phấn rã son,
Sắc hương chìm tủi,
Trái ngang thương nỗi…
Mộng rũ khóc hờn !

BÀI THƠ TỰ DO ‘Thương Kiều Bạc Mệnh” 05:
Khúc bạc mệnh…
Đàn vương phận khổ.
Hận trường đau,
Dang dở phấn son.
Tiết trinh nhuỵ rã… hoa hờn,
Đời Kiều hương sắc, 
Tủi buồn đài trang.
          000
Thân luỵ cảm,
Lược vùi gương oán.
Thuý sầu mang…
Lệ thảm rẽ duyên…
Nỗi thương vàng đá… rũ chìm,
Mộng tàn khóc lỡ…     
Tình phiền trái ngang !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 06:
Đài trang Thuý rẽ… tủi sầu,
Đàn mang lệ oán…
Khúc đau hận trường.
Dở dang tình,
Lỡ sắc hương,
Kiều vương mệnh bạc,
Cảm thương đá vàng.
          000
Tiết trinh tàn…              
Khóc lược gương,
Hoa vùi nhuỵ rũ,
Trái ngang phận buồn.
Thân phiền luỵ khổ phấn son,
Đời chìm mộng thảm…
Nỗi hờn rã duyên !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 07:
Cảm sầu duyên lỡ,            
Đàn khúc hờn thương,
Trinh tiết hận trường…
Đài trang Thuý rẽ,
Mộng chìm thảm lệ,
Oán phấn phiền son,
          000
Mệnh bạc thân buồn,
Luỵ sắc vùi hương,            
Nhuỵ tàn hoa rũ,
Nỗi đời dang dở,
Khóc tủi lược gương,
Vàng đá phận vương,
Trái ngang tình rã…
Đau khổ Kiều mang !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 08:
Thảm đời tình lỡ…
Nỗi khổ sầu duyên,
Thân rũ mệnh phiền,
Kiều vương bạc phận,
Khúc đau trường hận,
Buồn mộng dở dang,
Hương sắc luỵ tàn,
Đàn mang lệ cảm.
          000
Hoa vùi nhuỵ oán,
Thuý rẽ đài trang,  
Khóc tủi lược gương,
Trái ngang vàng đá.
Phấn chìm son rã,
Trinh tiết hờn thương !

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 09:
Kiều mang lệ thảm…
Chìm mộng đài trang,
Dang dở khúc đàn,
Thân phiền bạc phận.
Trái ngang trường hận,
Trinh tiết rũ tàn,
Khóc tủi lược gương,
          000
Đau thương vàng đá.
Sắc vùi hương rã,
Nhuỵ oán hoa buồn,
Lỡ phấn hờn son,
Nỗi sầu rẽ Thuý.
Tình duyên cảm luỵ,
Mệnh khổ đời vương ! 

BÀI THƠ TỰ DO “Thương Kiều Bạc Mệnh” 10:
Đời Thuý rẽ…       
Hoa tàn nhuỵ rã…
Nỗi buồn thương,
Vàng đá lỡ duyên.
Khúc đàn bạc mệnh tủi phiền,
Dở dang sầu cảm…
Thân chìm sắc hương.
          000
Khóc trinh tiết…
Trái ngang đau khổ,
Phấn son hờn,
Lệ rũ đài trang.
Phận vùi luỵ thảm Kiều mang,
Lược gương oán mộng  
Hận trường tình vương !

D.-  32 cách đọc như: đọc trái phải, ngược xuôilên xuống đối với bài Thất Ngôn Bát Cú Thuận Nghịch Độc “Thương Kiều Bạc Mệnh 01” sau đây:

THƯƠNG KIỀU BẠC MỆNH 01 

CÁCH 1:  Đọc Xuôi:
Trang đài khóc thảm luỵ tình vương,         
Thuý rẽ… đàn đau khúc hận trường !
Ngang trái nỗi sầu thân oán mộng,          
Dở dang đời khổ lược phiền gương !
Tàn trinh tiết lỡ vùi son phấn,        
Rã nhuỵ hoa chìm rũ sắc hương !     
Vàng đá tủi duyên hờn cảm lệ,                       
Mang buồn phận bạc mệnh Kiều thương !   

CÁCH 2:  Đọc Ngược:
Thương Kiều mệnh bạc phận buồn mang,
Lệ cảm hờn duyên tủi đá vàng !
Hương sắc rũ chìm hoa nhuỵ rã,
Phấn son vùi lỡ tiết trinh tàn !
Gương phiền lược khổ đời dang dở,   
Mộng oán thân sầu nỗi trái ngang !
Trường hận khúc đau đàn… rẽ Thuý,
Vương tình luỵ thảm khóc đài trang !

CÁCH 3Bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Xuôi 
                   thành thơ Tự Do mỗi câu 4 chữ:

Trang đài khóc thảm…
Thuý rẽ đàn đau…
Ngang trái nỗi sầu…
Dở dang đời khổ…
Tàn trinh tiết lỡ…
Rã nhuỵ hoa chìm…
Vàng đá tủi duyên…
Mang buồn phận bạc…!

CÁCH 4:  Cũng bỏ 3 chữ cuối mỗi câu bài Xuôi thành
                  thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc từ câu dưới lên:

Mang buồn phận bạc…
Vàng đá tủi duyên…
Rã nhuỵ hoa chìm…
Tàn trinh tiết lỡ…
Dở dang đời khổ…
Ngang trái nỗi sầu…
Thuý rẽ đàn đau…
Trang đài khóc thảm…!

CÁCH 5:  Cũng bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Xuôi thành
                   Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc thành thơ 2 chữ:

Trang đài…
Khóc thảm…

Thuý rẽ…
Đàn đau…

Ngang trái…
Nỗi sầu…

Dở dang…
Đời khổ…

Tàn trinh…
Tiết lỡ…

Rã nhuỵ…
Hoa chìm…

Vàng đá…
Tủi duyên…

Mang buồn…
Phận bạc…

CÁCH 6:  Cũng bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Xuôi thành Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc thành Thơ 2 chữ và đọc từ dưới lên:

Mang buồn…
Phận bạc…

Vàng đá…
Tủi duyên…

Rã nhuỵ…
Hoa chìm…

Tàn trinh…
Tiết lỡ…

Dở dang…
Đời khổ…

Ngang trái…
Nỗi sầu…

Thuý rẽ…
Đàn đau…

Trang đài…
Khóc thảm…

CÁCH 7 Bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Ngược
                   thành thơ Tự Do mỗi câu 4 chữ:

Thương Kiều mệnh bạc…
Lệ cảm hờn duyên…
Hương sắc rũ chìm…
Phấn son vùi lỡ…
Gương phiền lược khổ…
Mộng oán thân sầu…
Trường hận khúc đau…
Vương tình luỵ thảm…!

CÁCH 8:  Cũng bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Ngược thành
                   thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc từ câu dưới lên:

Vương tình luỵ thảm…
Trường hận khúc đau…
Mộng oán thân sầu…
Gương phiền lược khổ…
Phấn son vùi lỡ…
Hương sắc rũ chìm…
Lệ cảm hờn duyên…
Thương Kiều mệnh bạc…!

CÁCH 9:  Cũng bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Ngược thành
                  Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc thành Thơ 2 chữ:

Thương Kiều…
Mệnh bạc…

Lệ cảm…
Hờn duyên…

Hương sắc…
Rũ chìm…

Phấn son…
Vùi lỡ…

Gương phiền…
Lược khổ…

Mộng oán…
Thân sầu…

Trường hận…
Khúc đau…

Vương tình…
Luỵ thảm…

CÁCH 10Cũng bỏ 3 chữ cuối mỗi câu Bài Ngược thành Thơ Tự Do 4 chữ,  nhưng đọc thành Thơ 2 chữ và đọc từ dưới lên:

Vương tình…
Luỵ thảm…

Trường hận…
Khúc đau…

Mộng oán…
Thân sầu…

Gương phiền…
Lược khổ…

Phấn son…
Vùi lỡ…

Hương sắc…
Rũ chìm…

Lệ cảm…
Hờn duyên…

Thương Kiều…
Mệnh bạc…                

CÁCH 11:  Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành thơ 5 chữ:

Khóc thảm luỵ tình vương,
Đàn đau khúc hận trường.
Nỗi sầu thân oán mộng,
Đời khổ lược phiền gương.
Tiết lỡ vùi son phấn,
Hoa chìm rũ sắc hương.
Tủi duyên hờn cảm lệ,
Phận bạc mệnh Kiều thương !

CÁCH 12 :  Cũng bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành Thơ
                     5 chữ, nhưng đọc như Thơ Tự Do từ câu dưới lên:

Phận bạc mệnh Kiều thương,
Tủi duyên hờn cảm lệ.
Hoa chìm rũ sắc hương,
Tiết lỡ vùi son phấn,
Đời khổ lược phiền gương.
Nỗi sầu thân oán mộng,
Đàn đau khúc hận trường,
Khóc thảm luỵ tình vương !

CÁCH 13Cũng bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành Thơ 5 chữnhưng đọc thành Thơ Tự Do mỗi câu 2 hoặc 3 chữ:

Khóc thảm…
Luỵ tình vương…

Đàn đau…
Khúc hận trường…

Nỗi sầu…
Thân oán mộng…

Đời khổ…
Lược phiền gương…

Tiết lỡ…
Vùi son phấn…

Hoa chìm…
Rũ sắc hương…

Tủi duyên…
Hờn cảm lệ…

Phận bạc…
Mệnh Kiều thương…

CÁCH 14Cũng bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành Thơ 5 chữ,  nhưng đọc thành Thơ Tự Do 2 hoặc 3 chữ, và đọc từ câu dưới lên:

Phận bạc…
Mệnh Kiều thương…

Tủi duyên…
Hờn cảm lệ…

Hoa chìm…
Rũ sắc hương…

Tiết lỡ…
Vùi son phấn…

Đời khổ…
Lược phiền gương…

Nỗi sầu…
Thân oán mộng…

Đàn đau…
Khúc hận trường…

Khóc thảm…
Luỵ tình vương…

CÁCH 15:  Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành thơ 5 chữ:

Mệnh bạc phận buồn mang,
Hờn duyên tủi đá vàng.
Rũ chìm hoa nhuỵ rã,
Vùi lỡ tiết trinh tàn.
Lược khổ đời dang dở,
Thân sầu nỗi trái ngang.
Khúc đau đàn… rẽ Thuý,
Luỵ thảm khóc đài trang !

CÁCH 16 :  Cũng bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành Thơ
                    5 chữ, nhưng đọc như Thơ Tự Do từ câu dưới lên:

Luỵ thảm khóc đài trang,
Khúc đau đàn rẽ Thuý.
Thân sầu nỗi trái ngang,
Lược khổ đời dang dở.
Vùi lỡ tiết trinh tàn,
Rũ chìm hoa nhuỵ rã.
Hờn duyên tủi đá vàng,
Mệnh bạc phận buồn mang !

CÁCH 17Cũng bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành
                     Thơ 5 chữ, nhưng đọc thành Thơ 2 hoặc 3 chữ:

Mệnh bạc…
Phận buồn mang…

Hờn duyên…
Tủi đá vàng…

Rũ chìm… 
Hoa nhuỵ rã…

Vùi lỡ…
Tiếc trinh tàn…

Lược khổ…
Đời dang dở…

Thân sầu…
Nỗi trái ngang…

Khúc đau…
Đàn rẽ Thuý…

Luỵ thảm…
Khóc đài trang…

CÁCH 18Cũng bỏ 2 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành Thơ 5 chữ, nhưng đọc thành Thơ Tự Do 2 hoặc 3 chữ, và đọc từ câu dưới lên:

Luỵ thảm…
Khóc đài trang…

Khúc đau…
Đàn rẽ Thuý…

Thân sầu…
Nỗi trái ngang…

Lược khổ…
Đời dang dở…

Vùi lỡ…
Tiếc trinh tàn…

Rũ chìm…
Hoa nhuỵ rã…

Hờn duyên…
Tủi đá vàng…

Mệnh bạc…
Phận buồn mang…

CÁCH 19:  Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi
                    thành thơ Tự Do mỗi câu 4 chữ:

Thảm luỵ tình vương,
Đau khúc hận trường.
Sầu thân oán mộng,
Khổ lược phiền gương.
Lỡ vùi son phấn,
Chìm rũ sắc hương.
Duyên hờn cảm lệ,
Bạc mệnh Kiều thương !

CÁCH 20:  Cũng bỏ 3 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành thơ
                    Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc từ câu dưới lên:

Bạc mệnh Kiều thương,
Duyên hờn cảm lệ.
Chìm rũ sắc hương,
Lỡ vùi son phấn.
Khổ lược phiền gương,
Sầu thân oán mộng.
Đau khúc hận trường,
Thảm luỵ tình vương !

CÁCH 21Cũng bỏ 3 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành Thơ
                     Tự Do mỗi câu 4 chữ, nhưng đọc mỗi câu 2 chữ:

Thảm luỵ…
Tình vương…

Đau khúc…
Hận trường…

Sầu thân…
Oán mộng…

Khổ lược…
Phiền gương…

Lỡ vùi…
Son phấn…

Chìm rũ…
Sắc hương…

Duyên hờn…
Cảm lệ…

Bạc mệnh…
Kiều thương…

CÁCH 22Cũng bỏ 3 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc mỗi câu 2 chữ và đọc từ câu dưới lên:

Bạc mệnh…
Kiều thương…

Duyên hờn…
Cảm lệ…

Chìm rũ…
Sắc hương…

Lỡ vùi…
Son phấn…

Khổ lược…
Phiền gương…

Sầu thân…
Oán mộng…

Đau khúc…
Hận trường…

Thảm luỵ…
Tình vương…

CÁCH 23:   Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành thơ Tự Do mỗi câu 4 chữ:

Bạc phận buồn mang,
Duyên tủi đá vàng.
Chìm hoa nhuỵ rã,
Lỡ tiết trinh tàn.
Khổ đời dang dở,
Sầu nỗi trái ngang.
Đau đàn rẽ Thuý,
Thảm khóc đài trang !

CÁCH 24:  Cũng bỏ 3 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành
                    Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc từ câu dưới lên:

Thảm khóc đài trang,
Đau đàn rẽ Thuý.
Sầu nỗi trái ngang,
Khổ đời dang dở.
Lỡ tiết trinh tàn,
Chìm hoa nhuỵ rã.
Duyên tủi đa vàng,
Bạc phận buồn mang !

CÁCH 25Cũng bỏ 3 chữ đầu Bài Ngược thành Thơ Tự
                     Do 4 chữ, nhưng đọc thành mỗi câu 2 chữ

Bạc phận…
Buồn mang…

Duyên tủi…
Đá vàng…

Chìm hoa…
Nhuỵ rã…

Lỡ tiết…
Trinh tàn…

Khổ đời…
Dang dở…

Sầu nỗi…
Trái ngang…

Đau đàn…
Rẽ Thuý…

Thảm khóc…
Đài trang…

CÁCH 26Cũng bỏ 3 chữ đầu Bài Ngược thành Thơ Tự Do 4 chữ, nhưng đọc thành mỗi câu 2 chữ, và đọc từ câu dưới lên

Thảm khóc…
Đài trang…

Đau đàn…
Rẽ Thuý…

Sầu nỗi…
Trái ngang…

Khổ đời…
Dang dở…

Lỡ tiết…
Trinh tàn…

Chìm hoa…
Nhuỵ rã…

Duyên tủi…
Đá vàng…

Bạc phận…
Buồn mang…

CÁCH 27Bỏ 4 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành thơ Tự Do mỗi câu 3 chữ:

Luỵ tình vương,
Khúc hận trường.
Thân oán mộng,
Lược phiền gương.
Vùi son phấn,
Rũ sắc hương.
Hờn cảm lệ,
Mệnh Kiều thương !

CÁCH 28:  Cũng bỏ 4 chữ đầu mỗi câu Bài Xuôi thành
                     Thơ Tự Do 3 chữ, nhưng đọc từ câu dưới lên:

Mệnh Kiều thương…
Hờn cảm lệ…
Rũ sắc hương…
Vùi son phấn…
Lược phiền gương…
Thân oán mộng…
Khúc hận trường…
Luỵ tình vương…!

CÁCH 29Bỏ 4 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành thơ Tự Do mỗi câu 3 chữ:

Phận buồn mang,
Tủi đá vàng.
Hoa nhuỵ rã,
Tiết trinh tàn.
Đời dang dở,
Nỗi trái ngang.
Đàn rẽ Thuý,
Khóc đài trang !

CÁCH 30:  Cũng bỏ 4 chữ đầu mỗi câu Bài Ngược thành
                     Thơ Tự Do 3 chữ, nhưng đọc từ câu dưới lên:

Khóc đài trang…
Đàn rẽ Thuý…
Nỗi trái ngang…
Đời dang dở…
Tiết trinh tàn…
Hoa nhuỵ rã…
Tủi đá vàng…
Phận buồn mang …!

CÁCH 31:  Đọc Bài Xuôi “Thương Kiều Bạc Mệnh 01”
                    như thơ Tự Do, mỗi câu 2 hoặc 3 chữ:

Trang đài…
   Khóc thảm…
      Luỵ tình vương…!

Thuý rẽ…
   Đàn đau…
      Khúc hận trường…!

Ngang trái…
   Nỗi sầu…
      Thân oán mộng…

Dở dang…
   Đời khổ…
      Lược phiền gương…!

Tàn trinh…
   Tiết lỡ…
      Vùi son phấn…

Rã nhuỵ…
   Hoa chìm…
      Rũ sắc hương…!

Vàng đá…
   Tủi duyên…
      Hờn cảm lệ…

Mang buồn…
   Phận bạc…
      Mệnh Kiều thương…!

CÁCH 32:  Đọc Bài Ngược “Thương Kiều Bạc Mệnh 01”
                     như thơ Tự Do, mỗi câu 2 hoặc 3 chữ:

Thương Kiều…
   Mệnh bạc…
      Phận buồn mang…!

Lệ cảm…
   Hờn duyên…
      Tủi đá vàng…!

Hương sắc…
   Rũ chìm…
      Hoa nhuỵ rã…

Phấn son…
   Vùi lỡ…
      Tiết trinh tàn…!

Gương phiền…
   Lược khổ…
      Đời dang dở…

Mộng oán…
   Thân sầu…
      Nỗi trái ngang…!

Trường hận…
   Khóc đau…
      Đàn rẽ Thuý…

Vương tình…
   Luỵ thảm…
      Khóc đài trang…!

           Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
           (Cám ơn đã đọc hết bài thơ này)