Rạch Gầm được giao nhiệm vụ tuần dương trong sáu ngày, từ cửa Tư Hiền đến cửa Việt. Các đơn vị hải quân hoạt động phối hợp gồm các khinh tốc đỉnh và chiến thuyền. Đơn vị bạn gồm các Chi Khu Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, Phú Vang.
Đại úy Graham bệnh, không dự chuyến công tác này.
Hồi mười giờ rưỡi, Rạch Gầm ngang qua đèo Hải Vân. Mây trắng phủ đỉnh đèo. Vịnh Chân Mây còn lãng đãng sương mù từ từ hiện ra. Mặt vịnh tĩnh lặng, thanh bình. Bãi cát trắng chạy vòng cung dài tám cây số, phân chia màu xanh của rừng, của biển, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, lãng mạn bất chấp không khí chiến tranh.
Hạm Trưởng Võ Bằng đang say sưa ngắm phong cảnh tuyệt vời thì tiếng của quan sát viên vang lên:
– Trình Hạm Trưởng, có một tàu đánh cá đang quay đầu chạy ra khơi hướng một giờ.
Võ Bằng nâng ống dòm quan sát mục tiêu, rồi ra lệnh:
– Hai máy tiến 4. Lái hướng Bắc.
Chiến hạm tăng tốc, mũi chếch dần về bên phải và giữ hướng 0 độ.
Chiếc ngư thuyền đổi hướng về tay trái. Chiến hạm đuổi theo. Võ Bằng đọc số trước mũi: TT và tám con số. Số đăng bộ của tỉnh Thừa Thiên. Anh dùng loa kêu gọi ngừng máy.
Chiếc ghe tuân lệnh. Trên boong có ba người đàn ông, tất cả mặc quần đùi, ở trần.
Võ Bằng ra lệnh hạ sĩ quan trực:
– Trung Sĩ Liêm, thủ khẩu 20 ly. Toán xét ghe sẵn sàng.
Anh nói qua loa phóng thanh:
– Yêu cầu ghe cập vào chiến hạm.
Toán khám xét lên chiếc ghe, dồn ba người ngồi gom lại ở mũi. Một thủy thủ canh chừng với khẩu M16.
Võ Bằng giao tàu cho Hạm Phó Tiến, xuống boong trước. Anh yêu cầu chủ ghe qua gặp.
Ông ta ở khoảng tuổi năm mươi. Khỏe mạnh, da cháy nắng.
Anh hỏi:
– Giấy tờ đâu?
Chủ ghe đưa bọc nhựa. Võ Bằng nhận nhưng không xem, hỏi tiếp:
– Sao thấy tàu lại bỏ chạy?
Ông gật đầu, đáp nhỏ, giọng Huế:
– Thưa, đâu có bỏ chạy, chúng tôi đi đánh cá.
– Đánh cá ở ngoài khơi?
– Dạ, trong bờ không có cá lớn.
– Các anh ra đây từ mấy giờ?
– Dạ, từ sáng sớm.
– Xuất phát từ đâu?
– Dạ, từ phá Tam Giang.
– Sao không đánh cá trong phá?
– Như tui nói, không có cá lớn.
Võ Bằng mở bọc nhựa.
Thẻ Căn Cước: Cảnh Sát Trưởng Quận 1, Huế, ký tên đóng dấu. Giấy hành nghề đánh cá: Quận Trưởng Quận 1, ký tên đóng dấu. Sổ ghe đăng bộ: Ty Ngư Nghiệp ký. Một tờ giấy giới thiệu, nội dung viết ngắn gọn: “Yêu cầu quý đơn vị dành mọi thuận lợi cho ngư thuyền hành nghề. Rất cám ơn.” Ký tên: Nguyễn An Cư, Trưởng Ty Ngư Nghiệp.
Võ Bằng đọc xong, ngẩng lên, chăm chú nhìn người chủ ghe:
– Anh quen biết ra sao với ông Trưởng Ty Ngư Nghiệp?
– Dạ, bà con. Ông ấy hùn hạp làm ăn chung.
Võ Bằng nhìn ông ta thật lâu. Chuyện các quan chức hùn hạp không lạ. Đồng lương quá thấp, phải kiếm thêm bằng hình thức hợp pháp là chuyện bình thường. Anh không hỏi thêm.
Đúng lúc anh định trả lại giấy tờ, cho ghe đi thì có tiếng Trung Úy Tuấn la to từ ngư thuyền:
– Thưa Hạm Trưởng, tìm thấy một máy truyền tin PRC10, giấu kỹ trong khoang.
Máy được chuyển tới Võ Bằng. Anh cho gọi nhân viên vô tuyến.
Võ Bằng giữ giọng bình thường, hỏi chủ ghe:
– Đánh cá… mà có máy vô tuyến?
Ông ta không trả lời. Võ Bằng gằn giọng:
– Ai đưa cho anh máy này? Ông Trưởng Ty?
Chủ ghe lặng thinh.
Võ Bằng cho lệnh mở máy PRC10. Vô tuyến viên vặn nút. Tiếng rè rè phát ra. Máy còn tốt. Chợt có giọng phụ nữ trong trẻo vang lên:
– Nghe đây.
Võ Bằng thấy mồ hôi trên trán chủ ghe. Tiếng nói lại phát ra:
– Nghe rõ. Nói đi.
Võ Bằng giật mình. Tiếng nói nghe quen quá. Như tiếng nói của Mai Chi. Anh đưa ống liên hợp cho chủ ghe:
– Anh trả lời.
Người chủ ghe bất ngờ lao tới hút mạnh vào vai Võ Bằng. Thân anh va vào dây an toàn, suýt bật ngửa văng xuống biển.
Anh hô to:
– Bắt nó!
Hai thủy thủ đứng gần phóng theo, nhưng đã muộn. Người chủ ghe thoát về phía mũi, nhảy ùm, mất dạng. Hai người bên ghe cũng bật dậy, nhảy theo. Anh lính gác chĩa súng bắn trọn băng đạn.
Mọi người nhốn nháo chưa biết làm gì thì Võ Bằng quát:
– Toán xét ghe về tàu ngay.
Anh ngửa mặt, la to:
– Đài chỉ huy. Cho lùi tàu.
Chiến hạm tách khỏi ghe, khoảng cách xa dần. Năm phút sau, không gian vẫn im lắng. Điều anh sợ không xảy ra: ghe không gài chất nổ. Anh nhìn mặt biển chờ ba ngư dân nổi lên. Chỉ thấy chủ ghe, hai người kia biệt tăm, biển nhuộm đỏ một khoảnh.
Võ Bằng cho vớt lên, trói chủ ghe vào trụ sắt ở mũi. Anh trình báo sự việc về Bộ Tư Lệnh Vùng. Chỉ thị nhận được nhanh chóng: bàn giao ghe, máy móc, tài liệu và người cho Duyên Đoàn 13. Điểm hẹn tại cửa Tư Hiền.
Một tiếng sau, việc bàn giao hoàn tất.
Trung Úy Tuấn nhận phiên hải hành, tiếp tục tiến về cửa Việt.
***
Bữa cơm trưa diễn ra trễ nửa tiếng, trong không khí nhộn nhịp bàn tán sự việc xảy ra. Chủ ghe tự sát, chứng tỏ đang đảm nhận công tác thật quan trọng. Điều rõ ràng nhất, kết luận chung, là ghe đó hoạt động cho Việt Cộng. Máy PRC10 dùng để báo cho các tàu xâm nhập khi cửa Tư Hiền và cửa Thuận An bỏ trống tuần phòng. Hoặc chuyển tin tình báo. Võ Bằng lan man nghĩ về giọng nữ từ máy truyền tin. Có phải của Mai Chi không? Nếu phải thì sao?
Thiếu Úy Quang hỏi nhỏ:
– Họ liên lạc với ai?
Hạm Phó nhún vai:
– Thì với người ở đầu máy bên kia.
Giọng Hạm Phó nghiêm trang nhưng ai cũng cười.
Võ Bằng thân mật:
– Kỳ họp hành quân tới, tôi sẽ hỏi cặn kẽ rồi cho anh em biết. Bây giờ, qua đề tài khác.
Như chờ dịp, Thiếu Úy Ngô Quang lên tiếng tức khắc:
– Thưa Hạm Trưởng, nếu tôi nhớ không lầm, cửa Tư Hiền, ngày xưa mang tên cửa Tư Dung, là nơi công chúa Huyền Trân từ giã nước Đại Việt về làm vợ vua Chiêm Thành Chế Mân?
Võ Bằng nhìn quanh:
– Ai biết thì trả lời.
Thiếu Úy Lũy:
– Rất đúng. Cửa Tư Hiền là một trong hai cửa biển của hệ thống đầm dọc theo bờ biển dài gần 70 cây số mà tàu chúng ta đang ngang qua. Đó là phá Tam Giang, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai. Cửa biển kia là Thuận An.
Thiếu Úy Quang nôn nóng:
– Người Huế có khác, quá rành rẽ. Nhưng vẫn ngoài chủ đề. Tôi muốn biết có phải cửa Tư Hiền, trước kia có tên là cửa Tư Dung?
Thiếu Úy Lũy nhởn nhơ kể tiếp:
– Khi vùng đất này còn thuộc Chiêm Thành, cửa Tư Hiền mang tên Ô Long. Đến năm 1306, vùng đất là quà cưới công chúa Huyền Trân của Chế Mân, cửa Ô Long đổi tên thành Tư Dung để ghi nhớ nơi công chúa xinh đẹp dừng chân nghỉ ngơi trên đường về Chiêm Thành. Nhưng nhiều năm sau, dưới triều vua Thiệu Trị, nhà vua đổi thành Tư Hiền mang nhiều ý nghĩa hơn: nhớ hiền tài.
Võ Bằng hỏi:
– Thiếu Úy Quang thỏa mãn?
Quang cười:
– Thưa Hạm Trưởng và quý huynh, nhắc đến phá Tam Giang, tôi nhớ hai câu ca dao: “Thương em, anh cũng muốn vô, Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Hai địa danh đó có ý nghĩa gì?
Giọng Huế của thiếu Úy Lũy xác nhận thẩm quyền của người trả lời:
– Ở Huế, ai cũng biết ý nghĩa của nó. Truông nhà Hồ là một lối đi trong rừng Vĩnh Linh, Quảng Trị, thường có bọn cướp chận đường. Còn phá Tam Giang là nơi giao nhau của ba dòng sông, thường có sóng lớn gây nguy hiểm cho thuyền bè. Tuy nhiên lại là nơi ngắm hoàng hôn đẹp nhất.
Thiếu Úy Quang hỏi:
– Anh Lũy chắc đã có dịp ngắm nhiều lần?
Lũy lắc đầu:
– Chưa. Chỉ mới ngắm qua hình.
Lại nhiều tiếng cười rộ. Rồi lặng im ăn uống.
Lúc tráng miệng, Võ Bằng nói:
– Nhân nhắc đến Huyền Trân công chúa, chúng ta thử bàn về sự kiện vua Việt gả con cho vua Chàm để đổi lấy châu Ô, châu Lý. Các anh em nghĩ thế nào?
Hạm Phó Tiến hăng hái lên tiếng:
– Thưa Hạm Trưởng, tôi thấy vua Trần Nhân Tông… tàn nhẫn với con quá. Dân tình đã có câu ta thán: “Tiếc thay cây quế giữa rừng. Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo!”
Trung Úy Tài:
– Tôi đồng ý với Hạm Phó. Xem ra thật… nhục quốc thể!
Võ Bằng mỉm cười:
– Cả hai anh đều đúng, xét về mặt đạo đức. Nhưng xét về mặt chính trị, một hy sinh cá nhân mà có được một dải đất mênh mông, thì là một việc rất nên làm. Thử tưởng tượng, nếu không có sự hy sinh của công chúa, ta đem quân đánh chiếm hai châu này, tức hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay, có phải tốn biết bao xương máu binh sĩ? Đây chính là lý do nhiều nơi dân chúng lập đền thờ công chúa Huyền Trân. Các anh có đồng ý không?
Không ai trả lời nhưng đều gật gù.
Võ Bằng uống cạn ly đá lạnh, lại lên tiếng:
– Còn chuyện tình Huyền Trân – Trần Khắc Chung, các anh em nghĩ sao?
Hạm Phó Tiến lại xông xáo:
– Tôi thấy chả có gì gọi là mối tình… Các nhà văn, nhà viết tuồng chỉ bịa chuyện cho lâm ly để câu độc giả, khán giả mà thôi!
Thiếu Úy Lũy:
– Xin Hạm Phó chứng minh.
Hạm Phó Tiến trầm ngâm như sắp xếp ý tưởng, rồi nói:
– Có nhiều minh chứng:
Thứ nhất, xét việc tướng tài Trần Khắc Chung đại diện nước Đại Việt đi Chiêm Thành. Trên danh nghĩa là chia buồn cái chết của vua Chế Mân nhưng mưu đồ là tìm cách đưa Huyền Trân về nước, tránh bị hỏa táng theo chồng. Rõ ràng là một sự kiện thậm vô lý. Việc hỏa táng hẳn phải diễn ra trong vòng mươi ngày sau khi Chế Mân chết. Trong khi đó thời gian Chiêm Thành cho người đi Thăng Long báo tin bằng ghe chèo cần ít nhất ba tháng. Cộng thêm ba tháng Trần Khắc Chung lên đường đi chia buồn. Đâu lý do gì Chiêm Thành chờ sáu tháng mới hỏa táng?
Hạm Phó ngưng uống nước. Thiếu Úy Lũy nóng nảy:
– Xin tiếp.
– Thứ hai, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tục lệ Chiêm Thành khi vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu. Sách ghi rõ chỉ chánh thất mới được vinh dự đó. Huyền Trân là vợ thứ ba. Cũng trong sách này có ghi chép: “Mùa thu năm 1308, công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành về nước. Thượng hoàng sai trại chủ Hỏa Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm trở về Đồ Bàn”. Câu đó chứng tỏ Huyền Trân không bị hỏa táng mà còn được Chiêm Thành cho ba trăm người tiễn đưa an toàn về đến tận Thăng Long.
Hạm Phó nhìn Thiếu Úy Lũy chờ ý kiến. Lũy cười:
– Xin tiếp tục.
– Thứ ba, Trần Khắc Chung năm đó đã là sáu mươi, Huyền Trân mới hai mươi, không thể có chuyện tư tình công khai giữa chốn ba quân. Hơn thế nữa, Huyền Trân đang chịu tang chồng, đang đau đớn xa đứa con hai tháng, vui thú gì nghĩ chuyện yêu đương!
Hạm Phó trao Thiếu Úy Lũy cái nhìn trêu chọc, rồi tiếp:
– Thứ tư, Huyền Trân là con của một vị vua anh minh, một thiền sư sáng lập môn phái, chắc chắn là rất khắt khe với luân thường, đạo lý. Nếu là một đứa con hư hỏng, công chúa đã không xin cha đi tu mang pháp danh Hương Tràng. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc chữa bệnh. Dân chúng đã hết sức tôn kính bà, lập đền thờ.
Thiếu Úy Lũy xoa tay:
– Bái phục Hạm Phó!
Võ Bằng gật đầu:
– Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của các anh em. Cũng như tôi rất ưa thích ca khúc Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi của Phạm Duy. Bản này được nhiều người hát, nhưng chỉ có hai giọng ca Thái Thanh và Duy Khánh trình bày tâm sự Huyền Trân thấm thía nhất.
Có tiếng nhao nhao:
– Hạm Trưởng hát cho nghe đi.
Võ Bằng cười:
– Tôi đã nói chỉ có Thái Thanh và Duy Khánh…
Đợi tiếng phản đối chấm dứt, Võ Bằng tiếp:
– Có một bài ca khác, cũng nói lên tâm sự của dân Chàm mà tôi tin các anh em đều đã có dịp thưởng thức. Hẳn ai cũng biết, sau Chế Mân, dân Chàm có một vị vua tài ba lừng lẫy, từng mấy lần đánh chiếm Thăng Long, làm vua tôi Đại Việt chạy tán loạn. Nhưng cuối cùng lại bị một tướng trẻ có tên gần giống Trần Khắc Chung là Trần Khát Chân, giết chết. Đế chế Chiêm Thành suy tàn, kinh đô Đồ Bàn hoang phế. Cuối cùng hậu duệ Chế Linh cam đành rên rỉ Hận Đồ Bàn.
Mọi người cười rần. Không thấy ai thêm ý kiến, Võ Bằng chậm rãi nói:
– Câu chuyện công chúa Huyền Trân lấy vua Chế Mân, gợi tôi nhớ một chuyên vương giả khác, cũng một công chúa lấy một vị vua. Kết cuộc cũng giống nhau: buồn não nuột…
Trung Úy Tài nôn nóng:
– Xin Hạm Trưởng kể cho nghe.
– Năm 1786, quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh, vua Lê Hiển Tông trở thành bù nhìn. Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”. Sau thành công mỹ mãn, Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân. Chàng đưa nàng về Phú Xuân, Huế. Sống hạnh phúc bên nhau chỉ được sáu năm, Nguyễn Huệ đột ngột qua đời.
Có tiếng xuýt xoa. Hạm Phó Tiến lên tiếng;
– Nếu so sánh hoàn cảnh của hai công chúa sau khi chồng chết thì công chúa Huyền Trân may mắn hơn nhiều. Bà đi tu, giúp đời. Còn Công chúa Ngọc Hân chết trẻ – mới 29 tuổi – mà cũng không được yên mồ yên mả. Mộ của Ngọc Hân bị Gia Long phá hủy, hài cốt ném xuống sông. Hai con của bà bị xử trảm, thây ném xuống biển.
Thiếu Úy Lũy chen lời:
– Trường hợp Trần Khát Chân cũng rất thảm thương. Năm 1398, Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho con trai mới 3 tuổi để dễ bề khuynh loát. Cái xót xa là tuy nhường ngôi rồi, vua Thuận Tông vẫn bị Hồ Quý Ly giết chết. Trần Khát Chân thấy vậy, họp các tướng, bàn cách mưu sát Hồ Quý Ly. Việc bại lộ, Hồ Quý Ly thẳng tay giết Trần Khát Chân và 370 người gọi là đồng lõa. Sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần.
Võ Bằng thở dài:
– Thôi, hôm nay đến đây là quá đủ. Còn gì thắc mắc, bàn tiếp vào bữa cơm tối.
Anh rời phòng ăn, về phòng riêng, đánh một giấc, sẵn sàng cho một đêm giới tuyến, có thể sẽ thức trắng…
Vũ Thất
(Còn tiếp)
* 30 độ so với trục tàu.
