Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn VHP.Hạ Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn VHP.Hạ Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Sáu Nhịp Trường Tiền - Vhp.Hạ Vũ

            Sáu Nhịp Trường Tiền

Trước ngày nhập học một tuần, ba cô Cẩm Vân, Ngọc, và Hồng hành trang lên đường  chung với nhau, còn Ngân Trang đi máy bay, Minh Tuyết nhập học sau.  Tại nhà Ga Sài Gòn, sau khi nước mắt ngắn nước mắt dài chảy ướt cả khăn tay, ba cô đành tiến đến xe lửa.  Đang quyến luyến với gia đình, chưa muốn bước lên cửa toa  thì một bà mẹ miền Nam tiến tới hỏi thăm:
-Chào các cháu.  Các cháu đi đâu vậy?
Chị Cẩm Vân, người lớn tuổi nhất trong năm đứa, được các cô "phong chức" Chị Hai, trả lời:
-Thưa bác, chúng cháu đi Huế học.
- Có phải các cháu học Viện Hán Học không?
- Thưa phải.
- Các cháu có ai quen ở Huế không?
Hồng mau mắn trả lời:
- Thưa bác, chị Hai Cẩm Vân của chúng cháu đây có người quen ở Huế.
- Vậy thì tốt quá!... Con trai bác cũng ra Huế học Viện Hán Học.  Cháu Cẩm Vân cho bác gởi gấm con trai bác cho cháu nghen.  Có gì cháu giúp đỡ nó. Nó tên  Công Đức, đứng đằng kia.
Chị Hai sau một lúc “ngậm hột thị,”  cũng trả lời, giọng yếu xìu:
- Dạ đựơc.
Ngọc thúc nhẹ vào hông Hồng, cười hí hí và nói nhỏ:
-  Chị Hai đùm bọc hai "em gái ngang hông," giờ có thêm một "em trai người dưng khác họ" để đùm bọc nữa.
Hồng hóm hỉnh thì thầm:
- Trông anh cũng lớn, cỡ tuổi chị Hai, chắc phải gọi là anh Hai.  Chị Hai "đùm bọc" anh Hai!  Gà mái thắng thế.  Biết đâu chẳng là duyên trời dun rủi!
Còi tàu rúc vang, ba cô lên xe lửa ngồi chung một băng ghế dài. Sau khi khóc đã đời vì lần đầu tiên xa nhà, Ngọc và Hồng bắt đầu rù rì chuyện bà má miền Nam chân chất, thật thà gởi gấm con trai cho một đứa con gái cũng lần đầu tiên xa nhà đến xứ lạ quê người như con bà, và cười hi hí với nhau.  Bà thương con quá mà quên mất nam nhi tính trong con người của anh Hai.  Quay lại không thấy chị Hai đâu, hai nàng đứng dậy dáo dác tìm.  Thì... ô kìa, ở cuối toa xe lửa chị đang nói chuyện với một anh khá bảnh trai, thỉnh thoảng chị cầm khăn tay chùi mắt.  
-Ê Ngọc, ai vậy mậy?
-Làm sao tao biết được.  Kiểu này có lẽ "kép chánh" rồi đây, trông có vẻ "xa chàng lòng dặc dặc buồn."
       Chợt Hồng thấy anh Hai đang thả hồn ra ngoài toa xe ở băng ghế đâu lưng với các cô có lẽ cũng đang “mơ về quê cũ xa mờ" liền khều Ngọc ra dấu.  Hai cô nín lặng ngồi xuống.
Tới ga Thủ Đức, chị Hai về lại chỗ ngồi, mắt đỏ hoe.  Nhìn lại, “chàng” biến đâu mất.  À thì ra anh đưa em một đoạn đường tình.  Hồng và Ngọc đưa mắt nhìn nhau, miệng mỉm cười "lơ lửng con cá vàng"...  Cẩm Vân nhìn thấy, xụ mặt.  Hai cô biết mình bậy bèn im lặng.  Một lúc sau Ngọc cười cầu tài và lấy điểm bằng cách mời Cẩm Vân và Hồng mỗi nguời một cái bánh ú đem theo ăn dọc đường, và... bỏ rơi anh Hai.
 Suốt đường dài, cả ba cô không nói chuyện với Đức mà Đức cũng không làm quen với các cô.  Tối hôm sau tới ga Huế, xuống xe lửa, chị Hai Cẩm Vân quên mất lời hứa miễn cưỡng chiều hôm trước.  Cả ba theo người quen về nhà, bỏ anh Hai “tự mưu sinh thoát hiểm.”
Sáng hôm sau được người quen chỉ đường, từ Đập Đá  ba cô lò mò đi dọc bờ Sông Hương, qua cầu Trường Tiền để vào Viện Hán Học đang đặt tạm tại Di Luân Đường (Thành Nội).  Sông Hương và cầu Trường Tiền là hai địa danh đi vào thi ca dân tộc.  Lần đầu tiên trong đời các cô  rất sung sướng được nhìn ngắm tận mắt dòng sông thơ mộng và đặt chân lên cây cầu lãng mạn này.
"Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Anh theo không kịp, tội lắm o ơi..,"

Câu ca dao nghe sao mà tình tứ vô cùng, bảo sao các cô không mê Huế và quyết tâm ra Huế học? 



Ngược hướng với các cô là các nàng nữ sinh Đồng Khánh, kẻ đi bộ, người đi xe đạp đến trường. Gió sông Hương mát lạnh thổi bay tà áo dài phất phơ trong gió như những cánh bướm trắng bay lượn ngợp Cầu Trường Tiền.  Các anh học sinh Quốc Học chìm lĩm trong rừng tà áo trắng.  Nữ sinh coi bộ thắng thế, hèn chi trong thơ văn chỉ ca ngợi các nàng với tà áo dài và mái tóc thề thả bay theo gió để cho mái tóc ngắn phải lò dò len lén chạy theo sau.  Hồng tò mò đếm nhịp và vài của cầu, nêu thắc mắc:
- Này chị Hai, cầu có sáu nhịp, mười hai vài.  Chị đếm lại đi, sao ca dao nói gì lạ vậy?
- Ừ nhỉ, sao lạ vậy?   Mười hai nhịp thì phải có 24 vài mới đúng chứ?
Ngọc xen vào:
- Có mấy câu ca dao này có lẽ đúng hơn:
Chợ Đông Ba đem ra góc thành,
Cầu Trường Tiền sáu nhịp bến đò Ghềnh bắc ngang.
Hay:
Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua,
Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đợi khúc âu ca thái bình.
- Ừ nhỉ, sao có sự khác biệt như vậy.  Có lẽ do vần điệu mà thay đổi cho thích hợp chăng?  Thôi,  gấp gáp làm chi.  Mai mốt hỏi thầy.
  Di Luân Đường là nơi thờ Đức Khổng Phu Tử được ngăn làm ba phòng làm thành ba lớp học bằng những tấm bình phong.  Một phòng cho khóa I lớp đàn anh, khóa II vì sĩ số gấp hai nên chia ra hai lớp.  Tất cả nữ sinh viên chọn sinh ngữ Pháp Văn hay Anh Văn cùng nam sinh viên chọn Pháp Văn vào lớp A; còn lớp B toàn nam sinh viên chọn sinh ngữ Anh Văn. Các cô chọn Anh Ngữ chỉ học vài giờ tiếng Anh một tuần chung với sinh viên lớp B mà thôi.  Có hơi bất tiện, nhưng các thầy sắp xếp lớp kiểu này mục đích hạn chế tình yêu phát sinh giữa nam nữ mà quên lo học hành(!)  Sinh viên lớp B than phiền nhà trường bất công, "lớp toàn lá không có một đóa hoa làm vốn khiến mấy chàng lớp A kênh kênh thấy ghét."   Một tấm trướng to tướng giăng ngang với bốn đại tự bằng chữ Hán: Vạn Thế Sư Biểu.  Các cột được treo câu đối sơn son thếp vàng.  Nhìn chung quanh không khí cổ bao trùm. Hồng than thầm: Than ôi, chúng ta từ Sài Gòn hoa lệ đi vào thế giới Lều Chõng của Ngô Tất Tố rồi!  Thầy của chúng ta là các cụ đồ nho vận  khăn đóng áo dài đen.  Ôi chao!  Cổ thế này ư?  Vậy thì  đâu cần ra tận Hà Nội mới thấy được:
"Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương."
(Thăng Long Thành Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

Ba nàng rụt rè ngơ ngác bước vào.  Một sư huynh khóa đàn anh nhân dịp tới trường có việc riêng thấy ba "con nai" Miền Nam đang ngơ ngác liền bước tới làm quen, xưng tên.  Lần đầu tiên nghe giọng Huế, chữ nào các nàng cũng nghe có dấu nặng và cứ ngớ ra tưởng như mình đang nghe tiếng ngoại quốc, Chàm có lẽ(!).  Đúng là "du học xứ Huế" mà!  Anh phải chậm rãi đánh vần các nàng mới biết tên anh là Lữ, không phải Lự.  Anh dẫn ba cô vào gặp thầy Phó Giám Đốc, người điều hành thật sự của trường.  Thoạt nhìn thầy bệ vệ oai nghiêm trong bộ Âu Phục trắng làm các cô càng lúng túng.  Nhưng khác với bề ngoài, thầy niềm nở vui vẻ hỏi nơi ăn chốn ở của các cô.  Sau khi biết các cô đang ở tạm nhà người quen và cần một chỗ trọ thì Thầy cho biết gần trường có một nhà dư phòng.  Chủ nhà vì nể nang Cha Nguyễn Văn Thích nên cho các cô gái xa nhà tạm trú ăn ở.  Các thầy chu đáo quá "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu" (lo trước cái lo của thiên hạ).  Các cô an tâm thu xếp tới nhà trọ. 
Ngày đầu tiên nhập môn, Hồng mới biết trình độ chữ Hán của sinh viên không đồng đều.  Cùng một lớp có nhiều người rất giỏi, có cả anh là người Việt gốc Hoa, còn đa số một chữ nhất cũng không biết.  Tuổi tác cũng không đồng đều, có người vợ con đùm đề, ngồi học chung với đám nhóc trung học mới lên.  Các sinh viên trong Nam ra, nằm trong đám i tờ chữ Hán đó, nhưng không mặc cảm thua sút và lấy câu nói của Nguyễn Bá Học làm châm ngôn khuyến khích nhau.  Những ngày đầu cầm bút lông tập viết vỡ lòng từng nét ngang, sổ, móc, mác..., Hồng thường ngắm quang cảnh các "cậu đồ, cô đồ" tân tiến ngồi trong ghế cá nhân của mình, chứ không phải khòm lưng trên chiếc chiếu mà viết "chi, hồ, dã, giả" để tự hào mình là một trong những người trẻ của thế hệ mới đang làm nhiệm vụ gìn giữ văn hóa dân tộc.  Về trang phục của các thầy, chỉ có một vài cụ cử nhân, tiến sĩ nho học mặc áo dài đen, còn đa số đều vận Âu phục.  Nơi đây, sinh viên được học đủ thứ môn thuộc về thơ, văn, lịch sử, địa lý, xã hội, triết học, sinh ngữ… từ Đông sang Tây, từ Cổ chí Kim.  Chương trình học hình như quá bao la, muốn đào tạo đám sinh viên còn ham chơi này thành các nhà bác học thông kim bác cổ, quán triệt Đông Tây.  

(Trích Truyện dài Tóc Mai, Chương I: Sáu Nhịp Trường Tiền
Tác giả Vhp.Hạ Vũ)  








                                              

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Tin Buồn Viện Hán Học Huế (Anh Nguyễn Văn Sĩ khóa 2)

 

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Tin Buồn Viện Hán Học

 

                          Phân Ưu

 


Cựu đồng Môn Viện Hán Học Huế vô cùng thương tiếc khi nhận được tin buồn này.


Tang lễ:

Tổ chức tại Peek Funeral Home - Chapel #5

Ngày Thứ Bảy 18/4/2026 Từ 9:00 AM - 10:00AM

Thăm viếng từ 10: AM đến 2:00 PM

Hỏa táng từ 2:00 PM đến 3:00PM 

Nguyện cầu hương linh chị Nguyễn Thị Cam sớm vãng sanh nơi miền cực lạc.


Đồng chịu chung nỗi buồn mất mát lớn lao này với quý quyến.

Cựu SV VHH Huế Hải ngoại và Quốc nội đồng bái biệt.

                                    *****

Khóc Chị


Chị Cam ơi!
Chị là "Chị Cả" bọn em
Nhìn chị đau đớn tim em nhói lòng.
Biết rằng số mệnh buộc ràng
Nhưng khi chị bỏ bụi trần ra đi
Bỏ gia đình, buông thị phi
Chị về với Phật, điều này chị mong
Nhưng sao em cứ đau lòng 
Đêm nằm nhớ mãi lòng vòng chuyện xưa:
Bốn mùa từ Đông tới Thu 

Chị em vui vẻ viếng Chùa, viếng Lăng,
Ngắm Vọng Cảnh, dòng Hương Giang,
Cùng tìm Đức Mẹ La Vang nguyện cầu
Xin cho trọn vẹn tình đầu...
Biết bao chuyện cũ với nhau ùa về...

Chị ơi! 
Tình chị em của chúng ta
Khác chi Tử Kỳ - Bá Nha
Giờ đây..
Tử Kỳ đã... gãy cánh.
Bá Nha đành... buông đàn...!
Ôi! Buồn - Đau - Thương - Nhớ... ngút ngàn!
 
  Bái biệt Chị Cả yêu quý
          Hồng Phi

                                     *****



Lời Tiễn Biệt bạn đồng môn Viện Hán Học Huế Nguyễn Thị Cam pháp danh Phẩm Ngọc (1941-2026) Khóa II - 1960-1965.

Kính thưa quý Thầy,
Kính thưa tang quyến Chị Nguyễn Thị Cam
Kính thưa anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học Huế tại Hải Ngoại và Qước Nội

Đặc biệt: Kính thưa anh linh chị Nguyễn Thị Cam

Trước hết, cá nhân chúng tôi, Nguyễn Lý-Tưởng, khóa I Viện Hán Học là người được anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học Huế hải ngoại đồng ý cho tôi được thay mặt anh chị em trong những dịp họp mặt đón tiếp Cụ Võ Như Nguyện là một trong những vị có công lao tổ chức điều hành Viện Hán Học từ những ngày đầu tiên khi Viện mới thành lập (1959) và cũng là Quyền Giám Đốc Viện Hán  Học thay thế Linh Mục Cao Văn Luận (nguyên Viện Trưởng Đại Học Huế kiêm Giám Đốc Viện Hán Học) sau khi ngài từ chức khoảng 1964...

 Tôi được biết  Chị Nguyễn Thị Cam, vào mùa Thu năm 1960, ngay khi Chị mới thi đậu vào Khóa thứ II Viện Hán Học (1960-1965)...
 Chị là cựu học sinh trường Nữ Trung học Gia long. Năm 1960, chi thi vào Khóa II Viện Hán Học Huế với chương trình học 05 năm, tốt nghiệp sẽ là Giáo sư Trung học. Chị được chị em Miền Nam ra Huế học, quý mến và thương yêu phong tặng chức "Chị Cả"  của nhóm. Chị Cam ăn nói chững chạc, hòa nhã, luôn tỏ ra có trách nhiệm với mọi người. Từ các vị giáo sư cho đến bạn học cùng lớp cùng trường, ai cũng thương mến chị, và xem chị như là đại diện Khóa II của Viện Hán học, vì ngoài việc chăm chỉ học hành, chị còn là người tham gia công việc chung của lớp, của trường suốt 05 năm cho đến khi tốt nghiệp (1965).
    Ra trường, chị được bổ dụng về dạy trường Thạnh Hòa (Kiên Giang). Nơi đây chị gặp anh Võ Văn Minh đồng nghiệp và kết duyên cầm sắt. Sau đó chị cùng chồng vê dạy trường Trịnh Hoài Đức (Bình Dương), tiếp theo chuyển đến trường Hoàng Đạo (Kontum). Nơi đây anh Minh được đảm nhiệm chức Trưởng Ty Giáo Dục Kontum.

  Vào Tháng Ba 1975 chị phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản ở Kontum chạy về Sài Gòn sống chung với cha mẹ trong ngôi nhà cấp bốn. Sau ngày 30/4/1975, chồng của chị bị "Đi tù Cải Tạo" vì thuộc Chính Quyền VNCH. Thời gian này chị vô cùng vất vả. Chị vừa phải nuôi chông "tù cải tạo" vừa phải nuôi hai người em cũng bị "tù cải tạo" và 6 người con còn nhỏ, đứa thì đang tuổi cắp sách đến trường, đứa còn nằm ngữa.
    Sau mấy năm tù, anh Võ văn Minh  được tha về... Chị đã thu vén và gom góp tiền bạc cho anh vượt biên. Cuộc vượt biển thành công, anh định cư tại Hoa Kỳ... Khoảng 1989, khi có chương trình "ODP" anh  Minh đã bảo lãnh cho vợ con qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Bây giờ các con của Anh Chị   đã học thành tài, có việc làm tốt và ổn định tại tiểu bang California.

Từ năm 1994, 1995, tôi (NLT) và gia đình được đinh cư tại Hoa Kỳ (Nam California) theo diện Cựu Tù Nhân Chính Trị... Tại Mỹ tôi hân hạnh gặp lại cụ Võ Như Nguyện từ Pháp qua thăm con cháu sau mấy mươi năm xa cách. Cụ cho tôi địa chỉ của Võ Hồng Phi. Từ đó, chúng tôi đã liên lạc được với Chị Nguyễn Thị Cam... Chị Nguyễn Thị Cam và Võ Hồng Phi là hai người tích cực liên lạc được nhiều anh chị em ngày xưa và chúng tôi đã tổ chức được nhiều lần gặp gỡ Cụ Nguyện , cũng như đón tiếp GS Nguyễn Văn Dương từ VN qua thăm... Chị Cam luôn luôn là cột trụ của anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học hải ngoại. Những dịp vui, buồn trong gia đình anh chị em, đều có mặt đông đủ... Tôi rất hân hạnh được trở thành người đại diện anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học hải ngoại.

Cách nay khoảng sáu tháng (tức vào tháng 9/2025) anh Võ văn Minh chồng của Chị Nguyễn Thị Cam qua đời... Thời gian đó, Tôi bị bệnh nặng, phải vào bệnh viện, giải phẫu... mới về nhà, tiếp tục chữa bệnh nên không tham dự đám tang anh Võ văn Minh  được... Thế rồi lại được tin Chị Cam đau nặng và qua đời  ngày 18/3/2026. Thật bàng hoàng và đau buồn vô cùng.

 Tôi (NLT) đang đau nằm một chỗ, không thể đến tiễn đưa chị nên tôi viết mấy lời tiễn bịệt Chị.

 Nguyện cầu anh linh của Chị được tiêu diêu cõi Phật... vợ chồng đoàn tụ... gặp lại cha me, ông bà, tổ tiên đã khuất...  Anh chị em chúng tôi vô cùng buồn thương vì mất đi một người bạn, người Chị đạo đức... Hình ảnh "Chị Cam" vui vẻ, năng nổ hiện hữu mãi trong lòng của chúng tôi.
Xin vĩnh biệt chị.


(Nguyễn Lý-Tưởng thay mặt cho anh chi em Cựu Sinh Viên Viện Hán Học Huế tại Hải Ngoại bái biệt chị)










Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

Nhớ Xưa- Ngày Tết Tết Thầy ( vhp.Hạ Vũ)

       Nhớ Xưa- Ngày Tết Tết Thầy 

                                   vhp.Hạ Vũ

      Nhớ xưa... nhưng không xưa lắm, mới hơn nửa thế kỷ thôi, mà tôi tưởng chừng như mới hôm nào.

      Ngày đó chúng tôi là một nhóm nam nữ gốc gác Miền Nam "tiên phong" ra Huế học Viện Hán Học trực thuộc Đại Học Huế được thành lập do mỹ ý của Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm.  Những năm đầu chúng tôi còn gắng dành dụm tiền để về ăn Tết với gia đình.  Những năm sau vì tình hình an ninh không được tốt: Xe đò, xe lửa bị "mấy ảnh" vì sống trong rừng với khỉ nhiều quá nên buồn chán, bèn ra ngoài để được gặp loài người, thường "ưu ái" tặng cho mấy "trái lựu"... (đạn) hoặc mìn nên chúng tôi sợ "ăn" vô bị mắc nghẹn... chết yểu hoặc "ngộ độc" phải cưa chân, cưa tay làm "giai nhân độc cước" hay "giai nhân độc thủ," đành không về Sài Gòn ăn Tết với gia đình mà ở lại Huế, tự tổ chức vui Tết với nhau.  Nói là "Vui Tết" chứ thật ra "Buồn Tết."  Nhưng chúng tôi có niềm an ủi lớn từ các thầy và gia đình các thầy đem lại.   

          (Linh mục Cao Văn Luận đọc diễn văn khai mạc Niên Khóa 1961-1962)

     Cái Tết đầu tiên mà chúng tôi xa nhà, nếu nhớ không lầm, là vào năm học thứ ba.  "Cư dân Xóm Trong" của tôi chỉ có ba người mà Ngân thì "bay" về Sài gòn với gia đình trước đó vài ngày rồi, chỉ còn lại Ngọc Minh và tôi.   "Xóm Ngoài" cũng chỉ còn vài ba người gồm luôn cánh chim đầu đàn là chị Hai Cam. Hai "xóm nhà lá" này cùng một số nam sinh viên gốc Miền Nam ngụ tại Đại Học Xá Nam Giao họp nhau tổ chức ăn Tết.  Đúng ra chỉ tổ chức được một buổi tối Giao Thừa "Tống Cựu Nghinh Tân" mà thôi, còn những ngày khác mỗi người "tự biên tự diễn."

  
    Huế những năm đó ăn Tết không tưng bừng pháo nổ, không "ngựa xe như nước áo quần như nêm," (Truyện Kiều của Nguyễn Du) không rộn rã, ồn ào, náo nhiệt như Sài Gòn.  Huế trầm lặng. Huế ấm cúng. Huế của gia đình. Ngày Mùng Một, bà chủ nhà dẫn hai con đi chúc Tết người thân thuộc.  Minh và tôi buồn muốn khóc, nhưng sợ xui bèn "ngậm cười" nơi...  Bến Ngự(!)  Sau một lúc hối hận vì đã không về Sài Gòn ăn Tết với gia đình, tôi đưa đề nghị:

- Người ta Mùng Ba Tết Thầy, mình cứ "Tết Thầy" cả ba Mùng luôn đi.

Ngọc Minh đáp:

- Mình biết tim đen của Phi rồi.  Muốn "ăn chực" thì cứ nói thẳng đi.  Mình có bánh mứt... làm quà cáp hay không mà ra điều... Tết Thầy... Học trò có tình có nghĩa dữ... a... a...!!!

Tôi cố chống chế:

-  Thì Chúc Thầy... Các thầy biết tụi mình học trò nghèo, Tết xa nhà buồn, mang quà đến còn bị rầy thêm. Tình nghĩa là quan trọng nhất.

Minh đưa thêm một thắc mắc:

Hôm nay Mùng Một, coi chừng "xông nhà" đầu năm... không hạp thì phiền lắm đó. 

- Thầy mình Tây Học mà, không tin dị đoan đâu. 

 Minh lý giải:

- Ờ... ờ... Tên Minh của tui có nghĩa Sáng Rực.  Mặt trời và Mặt Trăng ráp lại với nhau thì còn gì sáng bằng.(1)  Vậy nếu là người "xông nhà" thì tốt quanh năm à nghen.

(Chú thích 1: Theo chữ nho Minh  明 là do hai chữ Nhật 日 & Nguyệt  月 ghép lại).

Tôi chọc:

- Chứ không phải Ngọc Minh 玉 冥 là viên ngọc giả cho nên mờ mờ (2)

(Chú thích 2: minh 冥 còn có nghĩa là mờ mịt, tối tăm trong chữ u minh).

 Minh phản kích:

- Thôi, mình không đi chung với Phi đâu.  Hai đứa Phi Minh(3)  bước vô nhà Thầy thì "chẳng sáng sủa" cả năm.

(Chú thích 3: Phi 非 : có nghĩa chẳng phải ví dụ: phi  lý 非  理 .  Phi còn có nghĩa là trái, phản nghĩa với phải như trong chữ thị phi 是  非 .)

 Tôi cự nự:

- Bậy!  Phi  飛  của mình có nghĩa là bay. Cụ Bột dạy sử Trung Quốc cho nghĩa tên Hồng Phi  鸿  飛 của mình là "cánh hồng bay bổng tuyệt vời."  Cụ bảo: Chim hồng là loại chim bay cao và xa, ý chỉ người có chí lớn.

Minh cười ha ha ha... xong "phán": 

- Đúng rồi.  Cụ Bột già vậy mà thấy rõ chí trên đầu của bạn.  Thế thì nó phải lớn lắm rồi, ai chả biết!!!

Tôi đưa đề nghị:

- Thôi đi!  Đầu năm đầu tháng, nói bậy bạ không hà. Tính chuyện ba ngày Tết này đã.  Trong mấy ngày Tết, O bán Bún Bò dạo mỗi tối, "ân nhân cứu đói" của bọn mình, bận ở nhà vui Xuân với gia đình, không đi bán mô.  Bọn mình đói rả họng.  Chúng ta ra "xóm ngoài" xem có tổ chức ăn uống chi không để ăn ké.

- Mới ăn Tất Niên hôm qua rồi, tổ chức gì nữa.  Chị Hai Cam sợ gãy móng tay khi làm bếp, không nấu nướng từ lâu rồi. Bọn mình mặc áo đẹp vào, rũ nhóm ngoài cùng đi chúc Tết các thầy.

 Thế là chúng tôi lôi áo đẹp ra mặc.  Trong lúc tôi còn đang loay hoay thay xiêm đổi áo, thì nghe Minh reo:

- A! Chị Hai Cam "Xóm Ngoài" tới kìa.  Không biết cam này ngọt hay chua đành phải nuốt đây? (4)

(Chú giải 4: Cam 甘 có nghĩa là ngọt, cũng có nghĩa là đành chịu).

Chị Hai Cam bước vô hỏi:

- Hai đứa định đi đâu đó, cho tháp tùng với.  Mấy đứa ngoài đó đi chùa Thiên Mụ rồi. Chùa này mình đã đi nhiều lần nên chán.  Ở nhà buồn quá bèn tìm hai đứa để tán dóc cho vui.

Minh hí hửng đáp:

- Có chị tới thì tốt quá: Ngọt Ngào đi trước, Rực Rỡ tiếp theo, Chí Lớn vào cuối.

Chị Hai ngơ ngác hỏi:

- Minh nói gì dzậy?

Tôi giành nói:

- Đi xông nhà các thầy: Cam đi số 1, Minh số 2, Hồng Phi số 3 đem ấm cúng, vinh quang vào nhà các thầy.

- Có đem thiệt không đó hay ăn Tết chực?

Tôi nhỏ giọng:

- Thôi mà chị... Mình mang tư tưởng tốt và lời chúc đẹp vào nhà thầy là được rồi.

                     

   (Thầy Phan Văn Dật (thứ 2 từ trái) & Môn sinh VHH)

Cả ba lên xe đạp vào Thành Nội, đến chúc Tết Thầy Giám Học trước. Nói tới Thầy họ Phan này là phải nói tới sách, e rằng sách của Thư Viện Huế cũng không bằng.  Chỗ nào trong nhà cũng có sách, toàn là sách quý hiếm, phần lớn được viết bằng chữ Pháp và chữ Hán. Học trò hay bất cứ bạn bè nào cần là Thầy sẵn sàng cho mượn.  Sau 1975 Thầy bị đứa học trò thời học Quốc Học với Thầy, thuộc loại "nằm vùng" và là một trong ba tên đồ tể khét tiếng ác ôn năm Mậu Thân 68 ở Huế, lừa lấy gần hết, Nhờ đó bây giờ anh ta trở thành nhà Nghiên Cứu Huế.  Thật xót xa cho Thầy!

     Thấy chúng tôi tới chúc Tết, thầy vui vẻ thân ái bảo người nhà dọn ra đủ thứ bánh, kẹo, mứt, bánh chưng, dưa món... Ba đứa tuy bụng đói mà cứ giữ kẻ, ăn như "mèo liếm."  Khi ra về tiếc hùi hụi: "bánh chưng ngon quá, phải chi ăn thêm miếng nữa cho đỡ thèm!"

Chị Hai Cam an ủi:

- Nữ thực như miêu mà... không lẽ thực như hổ thì làm sao "yểu điệu thục nữ" để "quân tử hảo cầu!" cho được!  Thôi, đừng tiếc nữa, lo đi tiếp.


                      (Thầy Cô Võ N Nguyện và cựu môn sinh VHH -2000)

Chúng tôi tiếp tục lên đường, tiến về Bao Vinh, hướng nhà thầy Phó Giám Đốc họ Võ.  Vừa  bước vào cổng nhà cũng là lúc Thầy và Cô cùng đứa con nhỏ chuẩn bị "xuất hành đầu năm."  Ba đứa nhìn nhau ngầm ý: kiểu này là đói!  Chúng tôi vội vả chúc Tết.  Chưa nói hết câu thì cô hỏi:

- Các O nì, có muốn đi chùa lễ Phật và xin lộc đầu năm không? Muốn thì vô xe, còn ba chỗ trống đủ cho ba O.

Ba cái miệng đồng reo:

- Dạ, muốn... muốn... muốn...

Miệng nói, chân mau mắn theo Thầy Cô vào xe, chỉ sợ Thầy Cô đổi ý.  Ở Huế lúc đó cả tỉnh chỉ có một vài người có xe hơi nhà.  Thầy Phó Giám Đốc là một trong số đó. Chúng tôi được ngồi xe hơi nhà với gia đình thầy cảm nhận ấm cúng vây quanh và sung sướng vì thấy mình được coi như con cháu trong gia đình.

Thầy tự lái xe lên chùa Châu Lâm.  Theo Thầy Cô, ba đứa lễ Phật hết bàn này đến bàn khác.  Sau đó, trong khi Thầy Cô đàm đạo với sư Trụ Trì thì ba đưá chúng tôi dạo quanh chùa mà quên mất nỗi "buồn vào hồn..." có tên... "Nhớ Nhà."  Chùa này vào ngày Mồng Một Tết, khách thập phương đi lễ không đông lắm, và phần đông không ai ở lại ăn Cơm của Chùa, do đó chúng tôi ăn cơm chùa no bụng.  Cơm chay, không cao lương mỹ vị sao mà ngon chi lạ!  Lúc về nhà thầy, chúng tôi được Cô gói cho vài cái bánh chưng.  Thế là ngày Mồng Một Tết được lộc của Chùa và của Thầy.  Hên suốt năm.

               (Cha Thích và các môn sinh VHH)

          Trên đường về lại chỗ trọ, chúng tôi đến chúc Tết Cha Thích.  Đến nhà Cha không lúc nào là không có bánh kẹo.  Vườn sau nhà của Cha là Vườn Trẻ cha lập.  Cha thuê một cô mẫu giáo để trông coi và dạy dỗ một số trẻ em.  Do đó bánh kẹo không hề thiếu ở nhà Cha.  Vườn Trẻ có nhà Thủy Tạ với hoa và cây kiểng rất đẹp mắt, vừa để thư giản vừa làm chỗ chơi cho đám con nít.  Cha sáng tác các bài nhạc cho thiếu nhi. Lúc rảnh rổi cha chơi với trẻ và dạy cho các cháu và cả cô giáo hát.  Bài:

Cái nhà là nhà của ta

Công khó ông cha lập ra

Cháu con phải gìn giữ lấy

Muôn năm với nước non nhà

 mà chúng tôi vẫn thường hát trước đó, mãi đến khi ra Huế học mới biết tác giả là Cha Thích.  Bài này Cha đem cả vào Viện Hán Học để cho đám sinh viên chúng tôi tuy "già đầu" nhưng trái tim còn... con nít hát cho vui mà bớt nhớ nhà, bớt sự căng thẳng trong học đường.

   Cha có chiếc xe vận tải nhỏ, thuê tài xế đưa rước trẻ em cho Nhà Trẻ và chở Cha đi khi có việc cần.  Cha cho biết vào ngày Mùng Hai đi nhà thờ La Vang, nếu chúng tôi muốn đi thì sáng hôm sau đến sớm.  Thế là chúng tôi nhao nhao xin Cha cho theo.  Vài anh chị em cùng quê Miền Nam nghe tin cũng xin đi cùng, ngồi chật xe.  

      Nhóm chúng tôi không có ai theo đạo Công giáo nên không biết kinh kệ gì hết.  "Lạy Chúa con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao"  cho nên vào nhà thờ, thấy ai làm gì cũng làm theo một cách kính cẩn.  Đức Mẹ La Vang linh thiêng nổi tiếng nên chúng tôi không ai dại gì mà không xin Đức Mẹ đủ thứ chuyện, kể cả chuyện tình gió đã thổi bay.

        Tết năm đó chúng tôi: Mồng Một có cơm Chùa, Mồng Hai được cơm Chúa.  Chúng tôi được hồng ân của cả hai tôn giáo, vì đạo nào chúng tôi cũng thành tín cả.  Bởi vậy suốt 5 năm học chẳng những Chúa và Phật phù hộ cho ăn học tử tế, sức khỏe dồi dào, mà còn có cuộc sống an lành.    

         Hôm sau lại tiếp tục... "Mùng Ba Tết Thầy" rồi Mùng Bốn, Mùng Năm cũng Tết Thầy luôn, và tiếp tục... nhận "lộc" từ gia đình các thầy.

        Thầy - trò chúng tôi là như thế.  Có lẽ không có ngôi trường nào có được tình thầy-trò như vậy. Người Thầy vừa là Sư vừa là Phụ.  Cảm ơn ngôi trường độc nhất của Việt Nam Cộng Hòa được sinh ra do Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chết theo Tổng Thống họ Ngô này, chỉ "sống" được vỏn vẹn 6 năm:  Viện Hán Học Huế (1959 - 1965).

 

vhp.Hạ Vũ

Tết Ất Mùi 2015