Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Ngày Tang Thương 30-4-75 (II)

                                                                              


Ngày Tang Thương 30-4-75  (II)
(Sài Gòn Ơi… Vĩnh Biệt!!)

Thêm một ngày với bom rơi đạn hú
Đoàn người đi hoảng hốt… biết về đâu?
Bến Bạch Đằng lác đác mấy con tầu
Đang ì ạch khởi động cơ… nổ máy 
 
Người háo hức  nhìn con tầu… có chạy?
Cứ ùn leo... bởi sinh lộ là đây!
Đường ra biển… vượt thoát khỏi sa lầy
Nơi bắn giết, giam cấm… "phe thua cuộc?"
 
Giọng khỉ rừng khó nghe nhưng rất thuộc 
Những hàm hồ lải nhải suốt giờ qua…?
"Đánh ngụy nhào, Mỹ cút khỏi nước ta!"
Sao vẫn thích đồ Cờ Hoa... "đài, đổng?     (*)
 
Tầu khá đông hầu không còn chỗ trống
Người suy tư im ắng mối sầu riêng
Cha ôm con chồng bên vợ muộn phiền
Tương lai đến… ngày mai nào ai đoán?
 
Tầu âm thầm rời xa miền ân oán
Mặt mừng vui chen lẫn nét âu lo
Hoàng hôn xuống… khúc quanh sông dần nhỏ
Đạn trên bờ tru tréo vọng lên "boong"
 
Bỗng từ đâu trái phá rơi nổ… "đoòng"
Thây người ngã… thìa cơm đầy máu… hận!
Kẻ sống còn ôm vết thương... căm phẫn 
Tưởng yên lành chừ sao qúa thê lương!
 
Màn đêm buông… nghe dài cả canh trường!
Nỗi đau thấm… người người đều im lặng
Gió thổi mạnh như lùa âm khí lắng…
Con tầu gìa vẫn lầm lũi… ra khơi
Vu Sơn
 

(*)  đài = radio ,  đổng = đồng hồ.








Vượt Biên - Thơ Anh Khờ và Thơ họa


                               

    Vượt Biên

Thuở ấy lên thuyền quyết vượt biên
Mây đen gió bão mấy hôm liền
Trùng dương dữ tợn... đêm không ổn
Hải tặc hung tàn… sáng chẳng yên 
Vợ khát môi khô... nhìn thảm hại
Con đau bụng đói... ngất triền miên
Bao ngày sống chết trong gang tấc
Đến được bến bờ... khóc... mặc nhiên
  
Anh Khờ

Thơ họa:

GIÃ BIỆT

Hôm rày bỗng chợt nhớ rồi biên
Buộc túi hành trang giã phố liền
Cảm tạ trời khuyên đừng chán nản
Thì thầm biển gọi chúc bình yên
Phương nầy sáng tỏ niềm an lạc
Lão ấy mơ hồ giấc thụy miên
Một thoáng bâng khuâng nào nghĩ ngợi
Say làn gió nhẹ giữa thiên nhiên. 

Như Thu
04/27/2026












ĐỜI THỦY THỦ III - VŨ THẤT / CHƯƠNG 42: TRƯỜNG SA LỬA ĐẠN

                                      

ĐỜI THỦY THỦ III - VŨ THẤT

CHƯƠNG 42: TRƯỜNG SA LỬA ĐẠN

Trợ chiến hạm Rạch Gầm kiên trì vượt biển suốt đêm suốt sáng, không trục trặc và cũng không dừng xét ghe. Nhiệm vụ khẩn: ngăn chặn hai tàu lạ đang dò đường đổ quân lên các đảo Trường Sa.
Khoảng cách còn lại: bốn giờ hải hành.
Ở phía trước, Tuần Duyên Hạm Sinh Tồn đã tiếp cận, đang bám sát mục tiêu.

Khi Võ Bằng bước vào phòng ăn, đồng hồ chỉ đúng ngọ.
Cố vấn Mỹ và các sĩ quan đứng dậy chào. Anh gật đầu, ra hiệu ngồi. Không khí bữa cơm vẫn như thường lệ: thân mật, chút rộn ràng sau những giờ hải hành căng thẳng.
Cà phê được rót. Một khoảng lặng thinh. Rồi Trung Úy Tài lên tiếng:
–  Thưa Hạm Trưởng, đêm qua, Hạm Trưởng và Hạm Phó nói về Trường Sa… quá ít. Nhị vị hẳn đến đấy nhiều lần. Xin cho chúng tôi biết thêm…
Võ Bằng mỉm cười:
– Biết thêm những gì?
– Như địa dư, địa hình, tài nguyên, dân cư.
– Nghe như anh từng là thầy dạy sử địa.
– Dạ đúng.

Võ Bằng quay sang Hạm Phó:
– Hạm Phó có ý kiến?
Hạm Phó Tiến nhấp ngụm cà phê, đặt ly xuống, giọng trầm đều:
– Quần đảo Trường Sa nằm phía nam Hoàng Sa khoảng ba trăm năm mươi hải lý. Cách Vũng Tàu khoảng ba trăm. Chiều dài gần năm trăm hải lý. Diện tích… ba trăm sáu mươi ngàn cây số vuông. Hơn trăm đảo, bãi đá, bãi cạn, rạn san hô…
Trung Úy Tài tròn mắt:
– Rộng vậy sao?
– Không chỉ rộng mà còn nhiều điều thú vị. Như các bãi cạn nằm về phía Việt Nam đều được đặt tên theo lịch sử. Như các bãi Phúc Nguyên, Phúc Tần – tên hai vị vua nhà Nguyễn. Như bãi Huyền Trân – tên công chúa nhà Trần. Như bãi Quế Đường – tên hiệu của Lê Quý Đôn…

Thấy mọi người lắng nghe, Tiến tiếp:
– Nhưng cho dù mang tên đặc biệt gì đi nữa, cái đáng sợ không phải là rộng. Mà là… nguy hiểm.
Anh đưa tay vẽ một vòng vô hình trên bàn:
– Các bãi vừa kể, cũng như các bãi nổi khác, đều dễ thấy. Còn rạn san hô thì chìm dưới mặt nước mà nhiều vô số, khắp nơi quanh quần đảo. Thành ra khi tuần tiễu là cả một vấn đề. Dù tàu có fathometer mà vẫn luôn nơm nớp lo sợ.
Anh đổi nét nghiêm trang:
– Nói tổng quát, Hoàng Sa, Trường Sa từ xưa đến nay vẫn là vùng biển nguy hiểm. Đã có rất nhiều tàu thuyền bỏ xác tại vùng này. Mùa gió Tây Nam nếu đi phía trong thì bị đẩy tấp vào rạn san hô. Mùa gió Đông Bắc, đi phía ngoài thì cũng mắc cạn tương tự. Vì quá xa bờ, việc cứu cấp khó khăn, xác tàu mang theo cả xác người chết đói.

Không khí trong phòng lắng xuống. Thiếu Úy Quang hỏi:
– Vậy sao không đi ngược với mùa gió? Nghĩa là nếu gió Đông Bắc thì đi phía trong, mùa Tây Nam thì đi phía ngoài.
– Đi như vậy là đi vòng, mất thêm bốn năm tiếng. Lại tốn thêm nhiên liệu.
– Sao không xây hải đăng?
Tiến cười nhạt:
– Hoàng Sa có. Trường Sa… thì không. Hải Đăng Hoàng Sa có từ năm 1937, do Pháp xây dựng.
– Sao lạ vậy?
Hạm Phó cười:
– Để tôi hỏi chính phủ Pháp.
Mọi người phì cười. Thiếu Úy Quang hỏi tiếp:
– San hô có phải là đá đâu mà gây hư hại tàu?
– Nó là loài thủy-sinh-vật, nhưng có hai loại. Loại cứng thì như đá nhưng loại mềm thì uyển chuyển. Cả hai đều có màu sắc rực rỡ, tuyệt đẹp, có thể sống tới hàng nghìn năm. Chúng bám vào đá ngầm, sinh trưởng bằng mọc chồi. Vì là loại sống dưới nước, nên chồi mọc theo chiều cao đến gần mặt nước là ngưng.
– Rất thú vị. Xin tiếp.
– Xét địa hình, tuy quần đảo Trường Sa rộng hàng chục lần Hoàng Sa nhưng độ cao thì thua Hoàng Sa. Đảo Nam Yết cao nhất cũng chỉ được 5 mét từ mặt biển, trong khi ở Hoàng Sa, có đảo cao gấp ba lần. Cây cối cũng vậy. Trường Sa cằn cỗi. Hoàng Sa cây xanh um.

Trung Úy Tuấn lên tiếng:
–  Tôi đọc báo… nói có mỏ dầu ngoài thềm lục địa. Có phải vì vậy mà các nước cố chiếm các đảo, các bãi của ta?
–  Phải. Nhưng đó là chuyện sau này. Trước kia… là vì hải sản. Cá, tôm, cua, bào ngư, vi cá, hải sâm, thứ nào cũng tiền là tiền! Lại thêm ốc xà cừ lóng lánh sắc màu để cẩn bàn ghế, tủ thờ.
– Tại sao mình không xua đuổi?
Mọi người nhìn Võ Bằng. Anh lắc đầu:
– Muốn đuổi thì phải có chiến hạm. Nhiều chiến hạm bao vùng. Hiện thời… quyền lực trên biển của mình chưa đến đâu. Đuổi được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Điện thoại reo. Đài Chỉ Huy báo tin đã thấy đảo Trường Sa.
Võ Bằng đứng lên:
– Thôi, tạm ngưng. Trường Sa đây rồi.

Hai giờ trưa, biển vẫn yên. Gió Tây Nam thổi nhẹ, mang theo oi bức đầu hè.
Võ Bằng đứng bên cánh phải Đài Chỉ Huy, khuỷu tay tựa lên thành kim loại.
Mắt anh quét trên mặt biển. Mặt trời ngả về Tây giúp mắt thường nhìn rõ đáy. Màu nước, sắc long lanh của các rạn san hô thay đổi tùy độ sâu.
Trường Sa… Anh còn nhớ:
Song Tử Tây – cực Bắc.
An Bang – cực Nam.
Tiên Nữ – phía Đông.
Tứ Chính – phía Tây.
Và giữa đó… là một mê cung.

Giọng Hạm Phó vang lên từ Phòng Chiến Báo:
– Đài Chỉ Huy, còn cách đảo An Bang 15 hải lý.
Trung Úy Tài đáp ‘Rõ’ rồi trình Hạm Trưởng.
Võ Bằng gật đầu, nhấc PRC 46:
– Sinh Tồn. Vị trí?
– Gần bãi Thuyền Chài. Hai mục tiêu đang lảng vảng. Có thể chúng chờ tối.
– Giữ khoảng cách. Tôi đến.
Anh đặt máy. Nhìn lại hải đồ. Còn xa 35 hải lý. Nếu không trở ngại, tới đó còn ban ngày, nhiều lợi thế.

Anh nhớ kinh nghiệm tuần phòng thời còn trên Hộ Tống Hạm Đống Đa ba năm trước. Ở vùng này, chạy vận tốc sáu gút là khá liều mạng. Độ sâu rất bất thường. Nơi thì chỉ vài mét, rồi đột ngột xuống sâu hàng ngàn mét.
Còn đảo An Bang, thật là một hiện tượng thiên nhiên độc đáo.
Đảo có hình dạng như cây nấm khổng lồ giữa bãi cát. Các chiến sĩ canh phòng gọi đây là “bãi cát biết đi”. Do tác động của hải lưu và hai mùa gió, bãi cát này không cố định mà luân chuyển quanh đảo. Mùa gió Đông Bắc, bãi cát bồi về phía Tây Nam. Mùa gió Tây Nam, bãi cát lại chạy sang phía Đông Bắc.
Chiều dài đảo thay đổi tùy theo cường độ gió và sóng. Bãi cát có lúc bồi thêm đến hơn hai trăm mét, nhưng cũng có lúc bị bão đánh tan còn vài chục mét. Sóng ở An Bang nổi tiếng là dữ dội – sóng lừng – cộng với bãi cát di chuyển đã khiến nhiều tàu thuyền lâm nạn.
Nhưng dù có thế nào, Rạch Gầm cũng phải đến phối hợp với Sinh Tồn.

Võ Bằng nói qua về đặc điểm Trường Sa cho Cố Vấn. Anh chàng thích thú ghi chép lia lịa. Anh hỏi Cố Vấn có ý kiến ra sao về việc ngăn địch đổ bộ. Anh chàng cười gượng: “You know better than me, Captain!”
Tiếng vang từ Phòng Chiến Báo:
— Đài Chỉ Huy. Có ba echo. Hướng 030… khoảng cách 20 hải lý.
Võ Bằng nâng ống dòm. Vẫn chỉ là biển xanh mênh mông. Nhưng chắc chắn chúng đâu đó.

Một tiếng sau, hình dáng hiện ra. Ba chiếc.
Sinh Tồn — quen thuộc. Hai chiếc kia — lớn, đen, lạ. Nằm yên như đang thả lưới.
Năm phút sau, Phòng Chiến Báo trình:
– Hai mục tiêu di chuyển. Hướng 310.
Võ Bằng nâng ống dòm. Hai chiếc tàu lạ đang quay đầu ra khơi. Anh yêu cầu Sinh Tồn bám theo rồi bước tới bàn hải đồ. Hải trình không có bãi cạn. Anh ra lệnh:
— Lái hướng 040. Máy tiến ba.
Chiến hạm tăng máy, rẽ nước hướng về hai tàu lạ.
Anh nói vào PRC 46:
– Sinh Tồn, truy kích. Giữ khoảng cách.
– Nhận rõ.
Anh gác máy, nói với nhân viên lái:
— Lái hướng Bắc

Mũi tàu xoay dần. Tiếng vọng từ Phòng Chiến Báo:
– Khoảng cách 10 hải lý.
Võ Bằng lẩm nhẩm: “Hừm! Sao chúng lại bỏ chạy?”
– Khoảng cách 8 hải lý. Mục tiêu đổi hướng về bãi Ba Kè.
– Nó muốn… kéo mình đi đâu?
Anh bước nhanh tới bàn hải đồ. Đo đạc, làm phép tính.
Anh đập nhẹ xuống bàn:
— Nó dụ mình vào bãi cạn.
Võ Bằng tăng tốc, chạy chận đầu.
Tiếng Hạm Phó:
— Khoảng cách 6 hải lý.
Võ Bằng nói to:
– Nhiệm sở tác chiến.
– Khẩu 76 sẵn sàng.
– Các khẩu đại bác sẵn sàng.
– Phản pháo ngay khi bị bắn, không chờ lệnh.
– Rõ.

Phòng Chiến Báo:
— Đài Chỉ Huy, radar bị nhiễu xạ. Nhiều echo giả. Không xác định được khoảng cách mục tiêu.
Võ Bằng nghiến răng, nghĩ thầm: “Không lẽ nó có máy gây nhiễu?”
Anh giơ tay ra hiệu im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng sóng vỗ mạn tàu, tiếng động cơ rền đều, và hơi thở dồn dập của các quan sát viên.
Anh nâng ống dòm. Hai chiếc tàu lạ không giống tàu đánh cá. Dường như có các ổ súng. Tự dưng một cảm giác e ngại ùa về.
Rồi bỗng nhiên…
Một đốm lửa chớp lên từ con tàu địch.
Ầm!
Một cột nước trắng xóa dựng lên sát mạn phải Rạch Gầm, tạt lên boong.
Tiếng một người la hốt hoảng:
— Nó bắn đó!

Tiếng nổ phản pháo từ khẩu 76 ở mũi xé toạc không khí. Khói lửa phụt ra, viên đạn đầu tiên bay vút đi. Tiếng nổ dồn dập của các khẩu đại bác vang lên tiếp nối.
Một viên 76 khác lại vụt ra. Một đốm lửa bùng lên trên thân tàu địch. Tiếng ai đó hét lên.
— Trúng đích!
Nhưng ngay lúc đó, một loạt đạn trả đũa quét tới. Tiếng “keng” kêu ran trên vách đài chỉ huy.
Một quan sát viên ngã xuống. Tiếng la thất thanh:
—  Thủy thủ Tạo bị thương!
Đạn tiếp tục rít qua đầu. Nổ sau lái. Nổ sát hông. Không gian vỡ tan.
Võ Bằng nói vào máy nội bộ, giọng điềm tĩnh:
—  Y tá lên ngay đài chỉ huy.
Anh nhìn quanh, nói to:
— Giữ vững vị trí!

Bên trái, Tuần Duyên Hạm Sinh Tồn lao vào. Khẩu 40 ly mũi đang nhả đạn như mưa vào chiếc tàu địch thứ hai. Tàu địch bốc khói đen nghịt.
Nó quay đầu bỏ chạy. Lửa bùng cháy ở phần lái. Nó tăng tốc, lao về hướng Bắc. Sinh Tồn rượt theo.
Võ Bằng bật máy PRC-46:
– Sinh Tồn! Diệt luôn nó đi!
– Rõ, thẩm quyền.

***

Chiếc tàu địch còn lại vẫn đang nhả đạn.
Rạch Gầm tiến xéo. Khoảng cách rút ngắn.
– 76 ly. Trực xạ phòng lái.
Phát đạn nổ tung. Phòng lái tàu địch vỡ vụn. Khói đen cuộn lên. Tiếng reo hò từ khẩu 76.
Nhưng tàu địch như con thú bị thương. Tất cả hỏa lực dồn lại, nó điên cuồng phản kích.
Một ánh chớp từ mũi.
Một tiếng rít. Một quả đạn lao thẳng.
Đoàng!

Một vầng hào quang lóe lên. Một lực ép mạnh mẽ. Mảnh kim loại văng tứ tung. Hai người ngã sóng soài, lăn lộn trên sàn. Một người nấc lên, máu ộc ra miệng. Một người ôm vai, rên rỉ. Trung Úy Tài – bị mảnh đạn cứa vào bắp tay, máu chảy đầm đìa. Cố Vấn Mỹ bị rách đùi – vết thương nhẹ nhưng mặt biến sắc.
Hai chân Võ Bằng nhói buốt. Đầu anh như bị đóng búa. Anh lảo đảo, mắt nhòe đi, Nóc đài chỉ huy xoay tròn. Thoảng mùi khói súng, mùi máu. Mọi âm thanh như bị bóp nghẹt.
Tiếng kêu thất thanh như từ đáy nước vọng lên: “Hạm Trưởng bị thương!”
Đó là lời cuối cùng anh còn nghe thấy.
Cố Vấn Mỹ cố giữ bình tĩnh mở PRC-46 liên lạc với tần số khẩn cấp:
– Mayday, mayday! Tàu Rạch Gầm trúng đạn! Hạm Trưởng bị thương nặng! Yêu cầu tản thương! Tọa độ: 9°52′07″B 114°18′47″Đ.

Nghe tin báo khẩn, Hạm Phó lao vội lên đài chỉ huy. Thấy Hạm Trưởng nằm bất động, cảnh tượng đầy máu me, anh đâm hoảng, mặt tái đi, tuy nhiên vẫn cố giữ giọng đanh thép:
– 76 ly. Đánh chìm nó.
Những viên đại pháo liên tiếp nối nhau. Chiếc tàu xâm nhập vỡ tung. Vài thân người bắn lên, rơi xuống biển. Tàu phát hỏa, nghiêng rồi lật úp.
Hạm Phó ra lệnh đổi hướng về Phan Thiết, tốc độ tối đa. Khói đen từ hai bên hông hầm máy phụt ra mù mịt cuốn về đuôi tàu.

Y Tá băng bó xong cho các thương binh, lay nhẹ vai Võ Bằng:
– Tỉnh dậy, Hạm Trưởng. Tỉnh lại. Cứu thương đang tới.
Võ Bằng cố tập trung. Anh mơ hồ cảm giác mình bị nhấc lên, đặt vào cáng. Anh cũng chập chờn thấy Như Oanh nắm chặt tay anh. Rồi tất cả tối đen.
Hai mươi phút sau, trên bầu trời vọng tiếng cánh quạt vù vù của trực thăng. Một chiếc UH-1 từ Đệ Thất Hạm Đội xuất hiện. Hạm Phó cho lệnh ngưng máy Rạch Gầm.
Trực thăng lượn một vòng, giảm độ cao. Gió rít mạnh theo cánh quạt quay vùn vụt. Trên boong sau, các thủy thủ lấy tay che mặt, cố giữ thăng bằng.
Cửa hông trực thăng mở toang. Một chiếc cáng được thả xuống bằng dây cáp. Võ Bằng và ba thủy thủ bị thương, lần lượt được kéo lên. Trung Úy Tài và Cố Vấn từ chối tản thương.
Thủy thủ đoàn và Cố Vấn Mỹ vẫy tay. Trực thăng UH-1 nhấc mình, lao vút, xa dần rồi mất hút.

Bên trong trực thăng, không khí thoang thoảng mùi thuốc sát trùng. Y Sĩ Thiếu Tá Tony Kent đo mạch cho Võ Bằng, ưu tư nhìn đồng hồ, rồi nhanh chóng truyền nước biển và tiêm thuốc trụ sinh.
Hai mươi phút bay vượt biển, chiếc trực thăng hạ cánh xuống boong hàng không mẫu hạm USS Midway.
Đội y tế với bốn cáng cứu thương đã đợi sẵn. Họ nhanh chóng đưa các thương binh vào bệnh xá dưới hầm tàu.
Đèn huỳnh quang trắng lóa. Bác Sĩ tháo nón sắt trên đầu Võ Bằng, khám vết thương, rồi hối hả ra lệnh:
– Đưa ngay vào phòng mổ.
Ông ghi vội vào sổ trực bằng nét chữ nguệch ngoạc: Bị thương hai đùi. Một mảnh đạn xuyên nón sắt găm vào xương sọ. Cần mổ lấy ra ngay.

Vũ Thất

(Còn tiếp)










Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

TÔI VIẾT VẦN THƠ - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn/ và Thơ họa



Tôi Viết Vần Thơ - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn


TÔI VIẾT VẦN THƠ

Tôi viết vần thơ tả ước mơ

Gặp người trong mộng thỏa mong chờ

Mắt in đáy mắt, hồn xao xuyến

Cảm xúc dâng tràn muôn ý thơ.


Tôi viết vần thơ tả xóm quê

Cánh diều lộng gió những trưa hè

Dập dờn sóng lúa như triều lượn

Người dắt trâu về trên lối đê.


Tôi viết vần thơ tả sáng mưa

Xiên xiên sợi trắng, gió bay lùa

Cỏ cây tươi mát bung chồi biếc

Trù phú quê nhà một thuở xưa.


Tôi viết vần thơ tả gốc mai

Đón chào xuân đến, nhánh vươn dài

Hoa vàng lộng lẫy trong màu nắng

Phơi phới xuân thì bóng dáng ai.

Sông Thu


Thơ Họa:

     TÌNH THƠ Ý NHẠC

Tình Thơ lay láng trải niềm mơ

Hồn bổng phiêu du cõi đợi chờ

Ý đẹp bồng bềnh theo nhịp thở

Bồi hồi cảm xúc vạn lời thơ.

             xxx

Tình Thơ xuyên suốt đến làng quê

Gió đẩy mây bay dưới nắng hè

Xóm nhỏ quê nghèo chim én lượn

Chiều về gánh thóc dọc bờ đê.

             xxx

Tình Thơ mãi đẹp dẫu trời mưa

Hay nắng hanh hanh ngọn gió lùa

Uyển chuyển như gieo tình thắm thiết.

Quê nhà một thuở cảnh nhàn xưa...

             xxx

Tình Thơ Ong bướm dạo cành mai,

Vẫn đẹp với Xuân bước dặm dài...

Xuân mới Hoa Mai khơi nhịp sống,

Tình Thơ Ý Nhạc gợi Hình Ai...

Mỹ Nga,

17/04/2026 . ÂL 29/02/ Bính Ngọ

 

        TÔI ƯỚC

Tôi ước gặp người trong mộng mơ

Bên nhau âu yếm thỏa trông chờ

Nụ hôn môi ngọt ngào say đắm

Để giấc ngủ nồng tựa trẻ thơ.


Tôi ước một lần trở lại quê

Tung tăng dạo bước lúc sang hè

Bạn bè hội ngộ vui đùa giỡn

Câu cá, thả diều chạy lọt đê.


Tôi ước gặp nàng lúc mắc mưa

Bên em chẳng ngại gió thu lùa

Vòng tay nhè nhẹ ôm eo ếch

Và dắt nhau vào nơi quán xưa.


Tôi ước Xuân về rực rỡ Mai

Cùng em chơi Tết suốt đêm dài

Lang thang ngắm cảnh bên người ấy

Lấp lánh sao trời tựa mắt ai.

     LAN.

(17/04/2026) 


     TÌNH NHỚ

Gặp lại người yêu... chỉ ước mơ,

Qua bao năm tháng vẫn ngồi chờ.

Nhớ nhung cố gởi vài câu xướng,

Mê mẫn vận vần gieo ý thơ.


Ngày ấy tôi nàng sống dưới quê,

Làm sao quên được lúc về hè.

Em còn nhí nhảnh như chim én,

Thả tóc tung hoành nhảy phóng đê.


Ta nắm tay cùng tắm dưới mưa,

Em đu đưa chạy giỡn quanh lùa.

Anh thương theo gót ôm eo ếch,

Em phủi nhẹ nhìn liếc mắt xưa.


Xuân nhớ vô cùng mấy đóa mai,

Ngồi bên chăm sóc suốt canh dài.

Êm đềm kể chuyện không câu kết,

Mấy chục năm còn nhớ dáng ai.

                               *

Nhớ hoài nhớ mãi khó phôi phai!

HỒ NGUYỄN

 (18-4-3926)

 

VẦN THƠ TÔI VIẾT

Vần thơ tôi viết thỏa niềm mơ

Mà bấy đến nay vẫn đợi chờ

Ao ước bao dêm được mãn nguyện

Mặn mà mấy tứ gợi tình thơ


Vần thơ tôi viết đậm tình quê

Lúa trổ vàng bông dưới nắng hè

Bay bổng cánh diều đầy khát vọng

Vui cười con trẻ mé triền đê


Vần thơ tôi viết khởi mùa mưa

Đồng ngập mênh mang, ngọn gió lùa

Nước tưới hoa đơm, cành trĩu quả

Ấm no mơ ước một thời xưa


Vần thơ tôi viết tả cành mai

Ấp ủ qua bao ngày tháng dài

Để đến thềm xuân hoa rực rỡ

Tươi vàng thắm sắc hội trần ai.

CAO BỒI GIÀ

  18-4-2026

 

    NHỚ TUỔI THƠ

Tôi vẫn gặp Người trong giấc mơ,

Khi con về trễ mẹ đứng chờ.

Kỷ niệm ùa về tràn ký ức,

Dệt nên tấm thảm đẹp tuổi thơ.

***

Tôi không quên nồng ấm tình quê,

Với những tiếng hò vang “Dzô hè”!

Dân làng chống lụt mùa nước lũ,

Vác tre, cuốc xẻng ra đắp đê?

***

Tôi không quên những tháng mong mưa,

Đại hạn ước mong ngọn gió lùa,

“Trâu mừng ruộng nẻ, cày không được”

Nhớ thơ than thở của người xưa (*) 

***

Tôi nhớ mẹ dạy chớ mỉa mai,

Chê người thất bại mà thở dài.

Sông có khúc, người ta có lúc!

Bởi mình chửa chắc đã hơn ai!

Đỗ Quang Vinh

    18-4-2026

(*) Bài thơ Đại Hạn của Trần Tế Xương 


ĐÔI VẦN TRAO GỬI

Dào dạt thơ trào thỏa dạ mơ

Chứa chan mạch bút ngát hương chờ

Văn chương vướng nghiệp khôn sao nhãng

Mộng khát khơi niềm thắm sắc thơ.


Đã hòa trong máu tấm tình quê

Bừng sắc tươi hoa đỏ phượng hè

Bay bổng thoi cò lòa chớp trắng

Đượm mầu xanh lúa mượt chân đê.


Trắc ẩn động lòng trước bão mưa

Ngùi thân kẻ khó lạnh sương lùa!

Tháng ba ngày tám đời tần tảo

Xa xót thương hoài bóng Mẹ xưa!


Xuân về mỗi độ đắm đào mai

Chuốt ý thơ say đỗ mộng dài

Nắng ửng vàng ươm mầm lộc trổ

Chạnh lòng xao xuyến nhớ tình ai!

Nguyễn Huy Khôi

     19-4-2026

 

    MỘT GIẤC MƠ

Tôi đã nhớ hoài một giấc mơ

Có giàn thiên lý… có người chờ

Căn nhà vắng vẻ nghe chim hót

Kệ sách im lìm những cuốn thơ


      Tôi đã lâu rồi chẳng đáo quê

      Cà phê đỏ ối khắp mùa hè

      Đoàn người rộn rịp thi nhau hái

      Đa số dân làng người Ê đê


Tôi đã từng đi dưới trận mưa

Bất ngờ cơn gió thổi khăn lùa

Con đường đất đỏ bùn lầy lội

Hình ảnh bản làng thuở cổ xưa


       Tôi đã hẹn về một sớm mai

       Nhưng mà e ngại chặn đường dài

       Tuổi đời còn lại không kham nổi

       Ngàn dặm đăng trình biết cậy ai ?

THIÊN LÝ

 

        NHỚ

Trong tôi còn có những niềm mơ

Lòng vẫn thiết tha mãi đợi chờ

Mỗi lúc cõi lòng nghe trống vắng

Lên comp. ngồi viết những lời thơ.


Ghi lên kỷ niệm ở vùng quê

Tưởng nhớ theo xe dưới nắng hè

Bụi khói đưa vào trong phổi thở

Rồi nằm vật vã cạnh bờ đê.


Nhớ lắm mỗi chiều đi tắm mưa

Tấm thân sũng ướt gió đưa lùa

Niềm vui chia sẻ cùng bè bạn

Giờ chỉ còn là kỷ niệm xưa.


Khi rời hứa hẹn một ngày mai

Những phút giây vui sẽ nối dài

Ai biết đâu rằng đêm tiễn biệt

Hết còn nhìn được bóng hình ai.

2026-04-20

  Võ Ngô

 

      ƯỚC AO 

Ngày lại ngày qua khắc khoải mơ

Ước ao gần gủi đỡ trông chờ

Biệt ly cách trở đau lòng lắm

Gửi gấm tình yêu qua mảng thơ

*

Ngày lại ngày qua nhớ xóm quê

Cái thời trẻ dại thích đêm hè

Ngắm vầng nguyệt tỏ mà thơ thần

Khi ánh trăng vàng bao phủ đê

*

Ngày lại ngày qua khấn vái mưa

Ước mong ruộng lúa vẫy mây lùa

Khắp nơi yên ấm ,người vui vẻ

Hàng dậu chè tàu đẹp lối xưa

*

Ngày lại ngày qua cội cúc mai

Chuyển mình trong nắng ,trụ lâu dài

Và tình yêu đến lung linh sắc

Thôi hết năm canh ngóng đợi ai !!!

PHƯỢNG HỒNG 








CẢNH VẪN NHƯ XƯA - Thơ Kiều Mộng Hà và Thơ Họa

           


CẢNH VẪN NHƯ XƯA

       (Tưởng nhớ một người)

 Nắng ấm ai treo lưng lửng trời

Cho hồn thi sĩ đắm chơi vơi

 Cỏ non xanh tận triền thung lũng

 Bông lựu hồng lan dốc đỉnh đồi

 Mây lượn la đà sa suối biếc

 Bướm vờn len lỏi đậu hoa môi

 Xuân vừa quay lại bên vườn cũ

Cảnh vẫn như xưa… vắng một người

Kiều Mộng Hà

 April.20.2026


Thơ Họa:

   SÁNG TIỄN NGƯỜI ĐI

Chén rượu từ ly đợi sáng trời

Bùi ngùi thẩm thấu giọt đầy vơi

Sương mù tản mác giăng mờ lũng

Nắng sớm lưa thưa rải óng đồi

Bạn đọc vần thơ, ngời ánh mắt

Ta hòa khúc nhạc, lịm vành môi

Càng nhiều hạnh phúc thời xưa cũ

Càng bịn rịn thêm phút tiễn người

Lý Đức Quỳnh

   21/4/2026 


HÌNH ẢNH KHÓ QUÊN

Mây bay thả dáng phủ lưng trời,

Cố phủi u sầu… sao khó vơi.

Đám nhạn xa trèo leo tấp núi,

Đàn chim thơ thẩn dạt ôm đồi.

Hình xưa tựa gốc thông trơ mắt,

Nay thấy ai giờ đưa thắm môi.

Tiếng gió kéo lê la phất lá,

Cố quên vẫn nhớ mãi tình người!

                             *

Làm sao gặp lại được người ơi!

HỒ NGUYỄN

  (22-4-2026)

 

       HỒI ỨC

Hạ sang sáo sậu hót vang trời,

Hồi ức khởi niềm, dạ khó vơi?!

Phượng đỏ chiều nao... bừng lối ngõ,

Trăng xanh đêm ấy...ngợp lưng đồi!

Cau còn thắm đượm tươi đầu chái,

Trầu đã phai nhòa bợt khoé môi?...

Về lại vườn xưa... hình bóng cũ

Gợi bao nhung nhớ thuở yêu Người!

Nguyễn Huy Khôi

      22-4-2026

 

LỆ THI GỞI CÔ VÀ CÁC EM

      (Ngày đầu tỵ nạn T4-1975)

Tỵ nan, xa khơi mịt cuối trơi,

Nổi chìm sóng gió ngợp đầy vơi !

Hoa Kỳ lạ lẫm... nương lều trại,...

Cố Quốc mù tăm khuất núi đồi!...

Đã mất niềm tin?... lòe chót lưỡi,

Ngõi gì lời hứa?... bẻm đầu môi?!

Mỏi mòn lữ thứ thân phiêu dạt,

Ước sớm hồi hương thỏa dạ Người!

Nguyễn Huy Khôi

       22-4-2026 


  GIÁC NGỘ HỒI TÂM

Lập Đức Bồi công thuận ý Trời.

Linh hồn trong sạch khỏi chơi vơi...

Tu Tâm dưỡng Tánh Phân Chơn Giả,

Tích Đức vun bồi ỡ cõi Đời

Lánh Tục thanh nhàn nơi Tịnh thất.

Tránh xa Người khóc lẫn pha cười.

Vai tuồng Vinh Nhục do Mình chọn

Giác ngộ hồi tâm thoát kiếp Người..

Mỹ Nga

   22/04/2026 ÂL, 06/03/ Bính Ngọ

 

       NƠI ẤY

Nơi ấy giao thoa đất với trời

Tiếng hò câu hát chẳng khi vơi

Sen hồng dáng dẹp ngời thôn diện

Huệ trắng hương thơm hảo xóm đồi

Trai bản dập dìu lời mép lá

Gái làng e ấp ý đàn môi

Tiếng tăm đồn đại Thiên đình biết

Bắc Đẩu đem hoa xuống tặng người

Tran Nhu Tung 


  NHỚ NGƯỜI TRI KỶ

Chàng xa biền biệt tận phương trời

Thiếp nhớ quặn lòng chẳng lúc vơi

Từ thuở vai kề trong lớp học

Đến khi bước sánh giữa thung đồi

Một đời giữ trọn câu tình nghĩa

Trọn kiếp mặn nồng mộng mắt môi

Độc ẩm đêm nay nhìn bóng nguyệt

Nghe làn gió thoảng tưởng chân người.

   Sông Thu

( 24/04/2026 )

 

      NGỠ NGÀNG

Xanh thẩm nhìn lên thấu cõi trời

Bao la bát ngát ngỡ ngàng vơi

Ấm lòng tia nắng xua hơi lạnh

Thanh thản tâm hồn bay vút đồi

Từng áng mây trôi làn gió thoảng

Mưa rào bỗng đến ướt bờ môi

Bốn mùa khởi sắc đông xuân hạ

Tạo hoá trớ trêu... thay kiếp người !..

  Yên Hà

24/4/2026

 

ĐÊM TRĂNG NHỚ NGƯỜI

Vầng trăng lơ lửng giữa lưng trời

Trong vắt rạng ngời chiếu chẳng vơi

Cảnh vật mơ hồ trên dốc núi

Không gian huyền ảo dưới chân đồi

Hương bay khắp chốn tràn ven lũng

Sương toả mọi vùng khoả miệng môi

Ánh nguyệt về khuya càng sáng rực

Lòng ta ray rứt nhớ thương người

Songquang

 20260424 

    CHỐN CŨ 

Thơ thần đường xưa ngó đất trời

Đong đầy kỷ niệm khó lòng vơi

Lối mòn che chắn quanh triền suối 

Dốc đá trơ vơ cạnh góc đồi

Hình ảnh hôm nao khơi tiềm thức 

Dư hương ngày ấy thoảng bờ môi

Lơi tà gió nhẹ mơn man mát

Ngơ ngác nhìn trông chẳng bóng người

 

Hưng Quốc 

5-2-20