Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Thân Hữu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Thân Hữu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

Góc Đường Thi : Năm mươi bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1) (tiếp theo) - Đỗ Chiêu Đức biên soạn

  Góc Đường Thi : 

                 Năm mươi bài  NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1) 
                                 (tiếp theo)

4. THU DẠ KÝ KHƯU VIÊN NGOẠI 秋 夜 寄 邱 員 外 của Vi Ứng Vật 韋 應 物 :                                      
               懷 君 屬 秋 夜,  Hoài quân thuộc thu dạ,
               散 步 詠 涼 天。  Tản bộ vịnh lương thiên.
               空 山 松 子 落,  Không sơn tòng tử lạc,
               幽 人 應 未 眠。  U nhân ưng vị miên !?
             
                 
            
                             Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

* Chú thích :
    - VIÊN NGOẠI 員 外 : Còn được gọi là VIÊN NGOẠI LANG 員 外 郎, là chức quan phụ cho quan viên chính trong lục bộ có từ thời Tam Quốc và Ngụy Tấn trở về sau. Đến đời Minh Thanh thì đây chỉ là chức Hàm, chỉ có chức nhưng không có quyền; Thường thì những phú thương và địa chủ hay dùng tiền để mua chức Viên Ngoại nầy, để được vừa Phú vừa Qúy. Vì thế trong dân gian quen gọi những người giàu có là Viên Ngoại.
    - Hoài 懷 : là Hoài niệm, là nhớ đến ai đó. HOÀI QUÂN 懷 君 là Nhớ đến anh.
    - Vịnh 詠 : Ở trong câu nầy có nghĩa là Ngâm nga.
    - Không Sơn 空 山 : Chỉ núi non trống vắng.
    - U Nhân 幽 人 : chỉ những người ở nơi vắng vẻ nhàn nhã, những người ở ẩn.

* Nghĩa bào thơ :
                     ĐÊM THU GỞI VIÊN NGOẠI HỌ KHƯU
       Tôi nhớ đến anh vào những đêm thu như đêm nay,
       Tôi đi tản bộ và ngâm nga trong cảnh đêm mát mẻ nầy. Ngắm cảnh...
       Núi non trống vắng yên lặng đến nghe được từng tiếng trái thông rụng...
       Giờ nầy chắc con người thảnh thơi nhàn nhã như anh chưa ngủ đâu nhỉ !?     
                                   
* Diễn Nôm :
                 THU DẠ KÝ KHƯU VIÊN NGOẠI   
                
                                                    

                  Trong đêm thu nhớ bạn,
                  Trời mát vịnh vẩn vơ.
                  Núi vắng trái thông rụng,
                  Chắc chưa ngủ người thơ ?!
        Lục bát :
                  Nhớ người trong những đêm thu,
                  Ngâm nga tản bộ trời thu lạnh lùng.
                  Núi không rơi nhẹ trái tùng...
                  Chắc người u nhã đều cùng thức đây ?!
     
5. PHẦN THƯỢNG KINH THU 汾 上 驚 秋 của Tô Đĩnh 蘇 頲 :
      TÔ ĐĨNH 蘇 頲 (670—727)tự là Đình Thạc 廷 碩, người đất Kinh Triệu (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay), đậu Tiến Sĩ thời Võ Tắc Thiên, làm quan đến chức Hứa Quốc Công. Năm Khai nguyên thứ 13 đời Đường (723), ông bị biếm khỏi kinh thành, hai năm sau mới được triệu hồi về Trường An. Suốt hai năm đi đày là khoảng thời gian mà Tô Đĩnh bi quan và thất vọng nhất. Ta hãy đọc bài thơ sau đây của ông sẽ rõ...

                汾 上 驚 秋           PHẦN THƯỢNG KINH THU
               北 風 吹 白 雲,   Bắc phong xuy bạch vân,
               萬 里 渡 河 汾。   Vạn lý độ hà Phần.
               心 緒 逢 搖 落,   Tâm tự phùng diêu lạc,
               秋 聲 不 可 聞。   Thu thanh bất khả văn !

                

                               Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

* Chú thích :
    - PHẦN 汾 : là tên sông, bắt nguồn từ tỉnh Sơn Tây, chảy vô sông Hoàng Hà. KINH 驚 là sợ, là giật mình, kinh ngạc. PHẦN THƯỢNG KINH THU 汾 上 驚 秋 là "Giật mình khi thấy mùa Thu đã đến trong lúc thuyền đi ngang trên sông Phần". Cũng có nghĩa "Trên sông Phần kinh ngạc khi thấy mùa thu đã về".
    - Hà Phần 河 汾 : là cách gọi chung sông Hoàng Hà và sông Phần.
    - Tâm Tự 心 緒 : là Tâm lý của con người, ở đây chỏ "Cõi lòng, nỗi lòng".
    - Diêu Lạc 搖 落 : DIÊU là Dao động; LẠC là Rơi rụng. DIÊU LẠC hay DAO LẠC chỉ lá cây dao động và rơi rụng trong gió mùa Thu. Trong câu thơ PHÙNG DIÊU LẠC  逢 搖 落 là Gặp mùa lá rụng, đó là mùa Thu. 

* Nghĩa bài thơ :
                   Trên sông Phần kinh ngạc khi thấy Thu về.
       Những trận gió từ phương Bắc thổi về cuốn trôi những làn mây trắng.
       Từ muôn dặm trở về đây để đi ngang qua con sông Phần nầy.
       Nỗi lòng rối bời lại nhằm lúc cây lá dao động và rơi rụng vì gió Thu,  
       Tiếng Thu xào xạt xao xát não lòng khiến người ta không muốn nghe chút nào cả !
       Ông tự ví mình như làn mây trắng nổi trôi bị gió phương Bắc cuốn đi muôn vạn dặm đến con sông Phần xa xôi nầy, và trong tâm lý bi quan thất vọng của kẻ đi đày bỗng chợt bàng hoàng khi thấy lá vàng bay trong gió Thu hiu hắt... Chữ KINH trong tựa bài thơ có nghĩa như là chợt giật mình nhận ra là trời đã vào Thu rồi... và tiếng thu xạt xào tiêu sắt lạnh lùng khiến cho người lữ thứ không muốn nghe thấy chút nào cả ! Như cụ Nguyễn Du đã tả nỗi lòng của Thúy Kiều khi lần đầu tiên phải xa quê theo Mã Giám sinh về nơi xứ lạ :
                              Vi lô san sát hơi may,
                     Một trời thu để riêng ai một người !
                       
         


* Diễn Nôm :
                     PHẦN THƯỢNG KINH THU         
                     Gió bấc vờn mây trắng,
                     Muôn dặm ngang sông Phần.
                     Nỗi lòng như lá rụng,
                     Tiếng thu chẳng muốn nghe !
         Lục bát : 
                     Gió bấc về  mây trắng bay,
                     Sông Phần muôn dặm ai hoài sang ngang.
                     Nỗi lòng cây lá thu sang,
                     Tiếng thu não nuột bàng hoàng chẳng nghe !

        Đang sống trong cảnh vinh hoa phú quý, chợt phải đi đày xa ngoài vạn dặm, lại gặp cảnh trời Thu heo may lạnh lùng trên sông nước, những cánh nhạn xuôi Nam với muôn ngàn lá rụng trong gió Thu se sắt. Chả trách nỗi lòng của Tô Đĩnh trở nên bi quan thương cảm não nề như thế kia !
             


                                         Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

        Hẹn 5 bài dịch tới !
                                                              杜 紹 德
                                                           Đỗ Chiêu Đức