Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

KỲ TÂM - Thơ Kiều Mộng Hà và Thơ Họa


                                        

    KỲ TÂM (*)

 ƯNG hành việc thiện sống an yên

 VÔ ngã sẽ không vướng lụy phiền

 SỚ hữu càng nhiều càng dính mắc

 TRỤ ham lắm thứ lắm truân chuyên

 NHI vui thả xuống lòng phơi phới

SINH lạc , xả buông ý mãn viên

 KỲ diệu !!! từ bi sanh trí tuệ

TÂM ngưng vọng động khép nhân duyên

Kiều Mộng Hà

March.15.2026

(*) trong câu: ƯNG VÔ SỠ TRỤ, NHI SINH KỲ TÂM (kinh Kim Cương)

Theo cách hiểu: Hãy hướng tâm vào việc thiện… sống và hành động, nhưng đừng bám chấp vào bất cứ điều gì.

 

Thơ Họa:

      BA LA MẬT (*)

ƯNG là tu sĩ sống thanh yên

VÔ Sắc vô Không chẳng dính phiền

SỞ đắc cái thân từ tứ đại

TRỤ an thiền định giữ hằng chuyên

NHI thời trì niệm Ba La Mật

SINH ký tử quy nhất quán viên

KỲ vọng, mong cầu… đều huyễn ảo

TÂM  Như là Phật, tánh chơn duyên

T.T MINH

 15.3.2026

(*) viết gọn của tên kinh: BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH, còn gọi là TÂM KINH. Cốt lõi của thiền tông- chỉ 260 chữ

 

  THƯỜNG CHUYỂN

(Họa vần, không khoán thủ)

Dòng trôi hết động lại về yên

Khổ tận cam lai, lạc tiếp phiền

Bởi giọt an lành không vĩnh kết

Nên nguồn hạnh phúc chẳng hằng chuyên

Thời trai giục ngựa miền tang hải

Tuổi lão nuôi tằm chốn thảo viên

Sướng dạ cười vang, buồn lặng khóc

Thường tâm khế hợp, thuận tùy duyên

Lý Đức Quỳnh

   15/3/2026 


        TÂM LÀNH

ƯNG lòng chẳng gợn… phút bình yên

VÔ Thủy Vô Chung lắm muộn phiền!

SỞ ý đà xây đà thử diệt

TRỤ lời chả giận chả hề chuyên

NHI thầm gửi gắm làn mây bạc

SINH hỷ chan hòa ánh nguyệt viên

KỲ tích thường hằng xua ảo mộng

TÂM lành thiện mỹ kết nhơn duyên!

 Như Thu

03/15/2026

 

  TIỆM NGỘ

   (Khoán thủ thi)

ƯNG thuận điều lành giữ tịnh yên

VÔ sa chấp ngã tạnh ưu phiền

SỞ cầu tham lấn sinh đa lụy

TRỤ hám đa gồng thậm khổ chuyên

NHI nhẹ buông lơi thênh mãn lạc

SINH tàng tuệ khí thỏa chu viên

KỲ hoa hỷ sự năng từ thiện

TÂM sáng, nhân hòa hợp hữu duyên.

Nguyễn Huy Khôi

      16-3-2026

 

    TÂM NHƯ NGUYỆT

ƯNG buông… để được sống bình yên

VỒ nghĩ vô lo, khó vướng phiền

SỞ đắc cái “ không mong chứng đắc”

TRỤ nơi bất trụ chẳng cần chuyên

NHI an khỏi khởi lòng … phi mã

SINH lạc đâu khơi ý… phóng viên

KỲ lạ khi thiền: MINH SÁT TUỆ *

TÂM như Nguyệt tòa… lộ chân duyên

TN KIỀU MY

  3.16th.2026

* tiếng Pali: Vipassana

 

MINH TÂM KIẾN TÁNH 

ƯNG Hành Tỉnh tọa diệu huyền nhiên

VÔ Kỷ Vô tranh chẳng gợn phiền.

SỞ Đắc thênh thang Hồng sãi cánh, "1"

TRỤ Thần Trí vững Hạc hành chuyên.

NHI Đồ ứng hợp theo Chân lý

SINH Lạc huyền vi diệu pháp viên.

KỲ Ngộ Chơn Như Phật tánh khởi,

TÂM Minh Kiến Tánh đúng Nhân duyên.

Mỹ Nga

 16/03/2026  ÂL 29/01/Bính Ngọ.

"1"  Chim Hồng -Hạc.

 

        TUỲ DUYÊN

ƯNG tu Đại Đạo* mộng bình yên

VÔ ngộ, chấp mê, bất giác phiền

SỞ hữu tham sân nhiều tục lụy

TRỤ không hám dục quý nhơn chuyên

NHI an lạc thấy lòng thơ thẩn

SINH khí vui mà ý tứ viên

KỲ thú “Kinh Kim Cang”đuốc tuệ

TÂM hy vọng hết nợ tùy duyên…!

Mai Xuân Thanh

Silicone Valley March 16, 2026

* Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh

 

        NHƯ NHƯ

            Họa vần 

Ưng bước theo Thầy sống thật yên

Vô ưu ngưng vọng giảm lo phiền

Sở không cầm nắm dừng gieo nghiệp

Trụ chẳng mong cầu dứt tạo duyên

Nhi nữ gia đình, Xuân hạnh ngộ

Sinh phần phụ mẫu, Tết đoàn viên

Kỳ Viên Phật Tích chờ chiêm bái

Tâm giũa mài theo chánh đạo chuyên

ThanhSong ntkp

 CA. 16/03/2026 


TÂM TRUNG HỮU PHẬT (*)

ƯNG nhìn thế giới mãi bình yên

VÔ chấp vô tranh, xa lánh phiền

SỞ đắc từ tài năng luyện tập

TRỤ thành do kiến thức rèn chuyên

NHI hoà phong cách chân quân từ

SINH bất phùng thời lui ẩn viên

KỲ Thánh ngàn xưa luôn tích đức

TÂM trung hữu Phật vạn lành duyên

T.Đ TÁNH

03.17.2026

(*) Trong tâm có Phật

 

      NGHIỆP

Ưng đi ai... để nhận bình yên!

Vô nghĩ vô ưu chẳng muộn phiền

Sở thích được làm nên việc chính

Trụ hoàn có đón lấy nghề chuyên

Nhi thời khó tựa vào thân thế

Sinh kế khôn tìm ở lạc viên

Kỳ ngộ vẫn nằm trong huyễn mộng

Tâm lành hy vọng nghiệp trần duyên.

2026-03-18

   Võ Ngô


   LẼ ĐỜI VẪN VẬY 

Vô thường cõi tạm vốn bình yên

Giông tố thường gây những nỗi phiền

Bão giật mưa tràn luôn hiện hữu

Trăng ngời gió mát có đâu chuyên

Dù qua dữ dội nơi tiền đới

Cũng khó an bình chốn ngự viên

Bao kẻ dị tâm rình đắc lộc

Lẽ đời vẫn vậy: phận tùy duyên.

     03 – 2026

Trần Như Tùng  


       SỐNG ĐỜI

ƯNG ý thiện hành việc sẽ yên

VÔ tâm vấp ngã tạo ưu phiền

SỞ cầu hạnh phước luôn tu tập

TRỤ vững đức tin nhớ cố chuyên

NHI chẳng học hành chân lệch bước

SINH môn khí khái tất chu viên

KỲ hoà loại ác gia từ thiện

TÂM sáng thương cùng lẽ hợp duyên ..

 Yên Hà

17/3/2026

 

ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM 

Ưng hằng khấn nguyện đạt bình yên

Vô ngại dung hòa giải khổ phiền

Sở dục tối đa, nhân nghĩa đắc

Trụ tham tận diệt, học hành chuyên

Nhi an lạc túc, mạn sân đoạn

Sinh hữu thiện năng, tài đức viên (*)

Kỳ tánh từ bi toàn bát nhã

Tâm thân hoạt động hướng lương duyên.

(Phan Thượng Hải)

        3/18/26

(*) Viên = đầy đủ.






 







Ước - Anh Khờ

         Ước

Anh Khờ`nè…
Cây ổi chung trồng đã trổ bông 
Nhờ anh chăm sóc mới thơm nồng
Phải chi nhỏ biến thành... cây ổi!
Để được anh trông… khỏi lấy chồng….
… Thiệt hông? 

      Anh Khờ











Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Góc Việt Thi : Thơ TUY LÝ VƯƠNG (Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Việt Thi :  

                              Thơ TUY LÝ VƯƠNG

                               

               Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh

      Tuy Lý Vương 綏 理 王 (1820-1897) là tước hiệu của Nguyễn Phúc Miên Trinh 阮 福 綿 寊, sinh ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (3 tháng 2 năm 1820) tại viện sau Thanh Hòa điện. Tự là Khôn Chương 坤 章, Quý Trọng 季 仲, hiệu Tĩnh Phố 靜 圃, biệt hiệu Vĩ Dạ 葦 野. Minh Mạng đặt cho tên Thư, Tự Đức ban thêm tên Thuyết, thuỵ Đoan Trang. Ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng. Nguyễn Phúc Miên Trinh từng giữ các chức Đổng Sự Tôn Học Đường, Hữu Tôn Nhân, Phụ Chính Thân Thần, Phụ Nghị Cận Thần.
      Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, ông được cử làm Đệ Nhất Phụ Chính Thân Thần, kiêm nhiếp Tông Nhân Phủ Tả Tôn Chính, tấn thăng Tuy Lý Quận Vương như trước. Năm 1894, tháng 7, vì có công lao lớn, ông lại được tấn phong làm Tuy Lý Vương (綏 理 王).
      Năm 1897, vì tuổi già, ông xin về nghỉ, chẳng bao lâu thì bị bệnh mất ngày 24 tháng 10 năm Đinh Dậu (18 tháng 11 năm 1897), hưởng thọ 77 tuổi. Nghe tin ông mất, Thành Thái cấp một ngàn quan tiền lo việc tang và ban thụy là Đoan Cung (端 恭). Mộ Tuy Lý Vương nay thuộc phường Phường Đúc, sát bên đường Bùi Thị Xuân, thành phố Huế.

Tác phẩm:
- Vĩ Dạ Hợp Tập 葦 野 合 集 (thơ và văn bằng chữ Hán)
- Nữ Phạm Diễn Nghĩa Từ 女 範 演 義 詞 (thơ chữ Nôm viết bằng thể lục bát)

       Dưới đây là những bài thơ tiêu biểu của ông.

1. Bài thơ PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU 訪 阮 文 超 :

   偶 攀 桂 樹 懷 高 士,   Ngẫu phan quế thụ hoài cao sĩ,
  為 扣 柴 扉 訪 友 生。   Vị khấu sài phi phỏng hữu sinh.
  華 鬢 潘 郎 仍 宦 拙,   Hoa mấn Phan lang nhưng hoạn chuyết,
  青 年 阮 瑀 舊 詩 名。   Thanh niên Nguyễn Vũ cựu thi danh.

              
                 Ảnh nguyễn Văn Siêu trên mạng

  * Chú thích :
    - Phỏng 訪 : là Bái Phỏng, là đến thăm ai đó; đây là cách nói trịnh trọng và lịch sự. PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU là Đến thăm viếng nguyễn Văn Siêu. Nói thêm: Nguyễn Văn Siêu sanh năm 1799, còn Tuy Lý Vương sanh 1820, nhỏ hơn Nguyễn Văn Siêu 22 tuổi. Siêu lại bậc đại khoa làm quan đến chức Án Sát, nên Vương rất kính trọng và ngưỡng mộ Siêu.
    - Ngẫu 偶 : là Ngẫu nhiên; Chuyện đưa đến mà không có dự tính trước.  
    - Phan Quế 攀 桂 : là Trèo lên cây quế; chỉ Thi Đậu. Ở đây chỉ "Đi thăm người có khoa cử" như là đèo bồng mà trèo lên cây quế vậy. Hàm ý khiêm nhượng và tôn trọng của Tuy Lý Vương đối với Nguyễn Văn Siêu.
    - Cao Sĩ 高 士 : Kẻ sĩ cao nhã; chỉ Nguyễn Văn Siêu.
    - Sài Phi 柴 扉 : là Cánh cửa bằng gỗ, chỉ ở trong nhà tranh vách đất.
    - Hữu Sinh 友 生 : là Bạn bè cùng học tập hay cùng là giới văn bút với nhau. Có xuất xứ từ Kinh Thi, Chương Tiểu Nhã. bài Thường Đệ《诗·小 雅·常 棣》 có câu: "Tuy hữu huynh đệ, Bất như HỮU SINH 虽 有 兄 弟,不 如 友 生". có nghĩa: Mặc dù có anh em, nhưng vẫn không bằng được bạn cùng học tập".
    - Hoa Mấn Phan Lang 華 鬢 潘 郎 : Tóc mai hoa râm của chàng họ Phan, có xuất xứ từ câu từ của Sử Đạt Tổ đời Tống 宋。史 達 祖 : Thu phong tảo nhập Phan Lang mấn 秋 風 早 入 潘 郎 鬢. có nghĩa "Gío thu sớm đã thổi vào tóc mai của chàng Phan". Y chỉ "tóc mai" đã hoa râm, đã già qúa nửa đời người rồi.
    - Hoạn Chuyết 宦 拙 : là Quan trường vụng về; ý chỉ "Quan trường trắc trở".
    - Nguyễn Vũ 阮 瑀 : là cháu của Nguyễn Tịch 阮 籍. Hai chú cháu đều có tên trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn, nên THANH NIÊN NGUYỄN VŨ 青 年 阮 瑀 chỉ chung "những người tuổi trẻ mà tài cao". Đây là lời ca ngợi Nguyễn Văn Siêu của Tuy Lý Vương.

   * Nghĩa bài thơ :
                     ĐẾN THĂM NGUYỄN VĂN SIÊU
          Ngẫu nhiên mà ta có ý muốn trèo cao để đến với kẻ sĩ cao nhã; Vì thế mới gỏ cửa sài để thăm viếng người cùng trong giới văn chương học tập. Thương thay cái anh chàng Siêu nầy cũng giống như anh chàng Phan, tóc đã hoa râm rồi mà đường hoạn lộ vẫn còn nhiều trắc trở; trong khi lại có tài hoa như là chàng Nguyễn Vũ lúc còn thanh niên trai trẻ vậy.
       
                                      
                   Nguyễn Vũ và Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền

      Bài thơ chỉ cò 4 câu mà đầy rẫy những điển tích và điển tích. Đây cũng là điều chứng tỏ Tuy Lý Vương có sở học uyên bác hơn người, xuất khẩu thành chương đối với giới học thuật, chớ giới bình dân thì không bao giờ với tới nổi...

   * Diễn Nôm :
                      PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU

                   Đèo bồng đến với người cao nhã,
                   Nên gõ cửa sài viếng bạn văn.
                   Tóc bạc Phan lang còn lận đận,
                   Thanh niên Nguyễn Vũ qủa tài năng !
        Lục bát :
                   Đèo bồng với tới người cao,
                   Cửa sài đánh bạo gỏ ào viếng thăm.
                   Chàng Phan tóc đã hoa râm,
                   Thanh niên Nguyễn Vũ tài năng vang lừng !


2. Bài thơ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈 黎 凝 甫 :

    詞 賦 鄒 枚 舊 勝 流,   Từ phú Trâu Mai cựu thắng lưu,
    一 麾 出 守 幾 清 秋。   Nhất huy xuất thú kỷ thanh thu.
   三 千 風 月 留 吟 賞,   Tam thiên phong nguyệt lưu ngâm                                                      thưởng,
   羨 殺 輕 篷 印 渚 舟。   Tiện sát khinh bồng Ấn chử chu.

                         
                 Ảnh minh họa Trâu Dương &Mai Thừa

   * Chú thích :
     - TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈 黎 凝 甫 : Thơ làm tặng cho Lê Ngưng Phủ. Chưa rõ Lê Ngưng Phủ là ai, chỉ biết ông làm quan tại Quảng Ngãi, Tuy Lý Vương Miên Trinh có đề thơ tặng cho ông. Lời thơ thành thật, thẳng thắn, đề cao tài năng xuất chúng của họ Lê. 
     - Trâu Mai 鄒 枚 : Tức Trâu Dương 鄒 陽 (206-129 Trước Công nguyên) và Mai Thừa 枚 乘 (?-140 Trước Công nguyên), hai nhà Tản văn và nhà Từ phú thời Tây Hán. Trâu Dương là tác giả bài "Thướng Ngô Vương Thư 上 吳 王 書", "Vu Ngục Trung Thướng Thư Tự Minh 于 獄 中 上 書 自 明". Mai Thừa là tác giả bài phú "Thất Phát 七 發". Ở đây, Tuy Lý Vương Miên Trinh đề cao tài văn chương của Lê Ngưng Phủ hơn hẳn hai họ Trâu, Mai của thời Tây Hán, là thời cực thịnh của Tản Văn và Từ Phú.
    - Nhất Huy Xuất Thú  一 麾 出 守 : Mệnh quan triều đình được đặc phái ra làm quan ở bên ngoài, có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Nhan Diên Chi, nhà Tống ở Nam Triều 南 朝· 宋· 颜 延 之 là: Lũ tiến bất nhập quan, Nhất huy nãi xuất thú 屢 荐 不 入 官,一 麾 乃 出 守. có nghĩa: Mấy lần tiến cử chẳng nên quan, Chỉ phất cờ chỉ huy là làm ngay Thái Thú. 
    - Tam Thiên Phong Nguyệt 三 千 風 月 : Ba ngàn bài thơ ngâm vịnh gió trăng, có xuất xứ từ hai câu thơ nói về sự xung đột giữa Tễ Tướng Vương An Thạch và nhà từ phú Âu Dương Tu là: Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, Lại bộ văn chương nhị bách niên 翰 林 風 月 三 千 首,吏 部 文 章 二 百 年. có nghĩa: Hai trăm năm văn chương Lại Bộ, Ba ngàn bài trăng gió Hàn Lâm. Ý chỉ "Những áng văn chương tuyệt tác".
    - Tiện Sát Khinh Bồng Ấn Chử Chu 羨 殺 輕 篷 印 渚 舟 : là "Rất hâm mộ cho cánh buồm nhẹ để lại dấu ấn cho chiếc thuyền trên bến nước sông", có thể là tích của tướng quân Tạ Thượng 謝 尚 của đời Đông Tấn, là người đất Thái Khang tỉnh Hà Nam, là anh họ chú bác của danh tướng Tạ An 謝 安. Ông là người văn võ song toàn, giỏi cả cầm kỳ thi họa, được phong là Trấn Tây Tướng Quân trấn thủ vùng núi Ngưu Chử. Trong một đêm thu khi ông cùng các tuỳ tùng thả thuyền theo dòng Tây Giang để ngắm trăng, tình cờ nghe được trong một chiếc thuyền nan có một chàng thư sinh đang ngâm thơ vịnh sử; Ông bèn cho người đến mời lên thuyền của mình và hai người đã cùng đàm đạo với nhau suốt đêm rất là tương đắc. Người thư sinh đó chính là Viên Hoằng 袁 宏, nhà nghèo lại mồ côi sớm, đang làm nghề đưa đò để độ nhật. Sau hôm gặp gỡ và cùng đàm đạo suốt đêm với Tướng Tạ Thượng, tiếng tăm tài giỏi của Viên Hoằng được đồn đại khắp nơi, và sau nầy phát tích làm quan đến chức Thái Thú của Đông Dương.

   * Nghĩa bài thơ :
                       THƠ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ
         Từ và phú của hai họ Trâu và họ Mai là những bậc nổi tiếng từ xưa. Là mệnh quan triều đình được điều đi làm Thái Thú bên ngoài mấy mùa Thu rồi. Ba ngàn gió trăng phong nguyệt còn để lại để ngâm vịnh thưởng thức; Làm cho người ta hâm mộ muốn chết về chiếc buồm con để lại dấu ấn bên bến nước sông.

       Lại cũng chỉ là một bài Thất Ngôn Tứ Tuyệt nhưng lại tràn ngập những điển tích và điển tích! Thơ qúa bác học làm cho người đọc không sao theo kịp để nhận biết được cái hay ho thi vị của nó mà thưởng thức. Và... Ông đã ca ngợi đề cao Lê Ngưng Phủ một cách qúa đáng, xa rời thực tế đến không thể chấp nhận được. 

   * Diễn Nôm :
                      TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ
                       
                      

                 Từ phú Trâu Mai cũng chịu thua,
                 Cử làm Thái Thú mấy thu qua.
                 Ba ngàn phong nguyệt thơ ngâm vịnh,
                 Hâm mộ cánh buồm bến nước xưa.
       Lục bát :
                 Trâu Mai từ phú thua xa,
                 Cử làm Thái Thú thu qua mấy mùa, 
                 Ba ngàn trăng gió ngâm nga,
                 Bến xa Ngưu chữ thuyền qua in bờ.


3. Bài thơ TUẾ MỘ 歲 暮 :

   北 望 閭 簷 空 杼 柚,   Bắc vọng lư thiềm không trữ trục,
   南 來 壁 壘 尚 干 戈。   Nam lai bích luỹ thượng can qua.
   衮 衣 肉 食 終 無 補,   Cổn y nhục thực chung vô bổ,
   愧 爾 飧 英 帶 女 蘿。   Quý nhĩ san anh đới nữ la.
                     
                      

   * Chú thích :
     - TUẾ MỘ 歲 暮 : TUẾ là Tuổi, là Năm; MỘ có bộ Nhật ở dưới, chỉ mặt trời lặn, là đã về chiều, nên TUẾ MỘ là Năm đã về chiều, là CUỐI NĂM.
     - Bắc Vọng 北 望 : là Ngóng về phương bắc.
     - Lư Thiềm 閭 簷 : là Cổng và Mái nhà; chỉ chung cho "Nhà cửa".
     - Trữ Trục 杼 柚 : là Con thoi dùng để dệt vải. TRỮ để dệt sợi ngang, còn TRỤC thì dệt sợi dọc.
     - Nam Lai 南 來 : là Đi về hướng Nam.
     - Bích Luỹ 壁 壘 : là Những Bờ lũy và Tường chắn trong chiến tranh.
     - Can Qua 干 戈 : CAN là cái khiên để đở; QUA là cây mác để đâm chém, nên CAN QUA có nghĩa là Đánh nhau là Chiến tranh.
     - Cổn Y Nhục Thực 衮 衣 肉 食 : CỔN Y là Quần áo qúy giá của vua quan mặc; NHỤC THỰC là Ăn thịt thà sang trọng, nên CỔN Y NHỤC THỰC là Ăn ngon mặc đẹp. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Khu Sĩ Hành 區 仕 衡 đời Tống là: Hạt y tằng thế cổn y sầu, Nhục thực thùy tri hoắc thực ưu 褐 衣 曾 替 衮 衣 愁,肉 食 誰 知 藿 食 憂。có nghĩa: Người mặc áo vải thô thường sầu thế cho người mặc áo đẹp; còn người ăn thịt có ai biết được cái ưu tư của người ăn rau cải đâu !.
     - Qúy 愧 : là Thẹn thùa, là mắc cở.
     - San Anh Đới Nữ La 飧 英 帶 女 蘿 : Ăn bông hoa và đeo những dây leo chằng chịt; chỉ Ăn mặc cầu kỳ diêm dúa, có xuất xứ từ bài Sơn Qũy trong Cửu Ca của Khuất Nguyên 屈 原 的《九 歌· 山 鬼》đời Tiên Tần với hai câu mở đầu: Nhược hữu nhân hề sơn chi a, Bị bệ lệ hề đới nữ la 若 有 人 兮 山 之 阿,被 薜 荔 兮 带 女 萝。có nghĩa: Nếu như có người đi ở trên triền núi, khoác áo dâu tằm và đeo những dây leo có bông hoa sặc sỡ (Chỉ "Ăn mặc diêm dúa").

   * Nghĩa bài thơ :
                            CUỐI NĂM 
        Ngóng về phương Bắc thì nhà cửa không có nghe tiếng của khung cửi con thoi nào cả; còn đi về phương Nam thì đồn luỹ chập chùng đang trong cơn chiến loạn. Ăn ngon mặc đẹp trong ngày Tết đâm ra rất vô bổ, không làm sao cả. Thẹn cho người còn ăn mặc cầu kỳ diêm dúa như một con qũy núi.  
        Ý chỉ đơn giản có thế, nhưng ông Tuy Lý Vương của ta lại sử dụng chữ nghĩa cầu kỳ cao siêu và điển tích hiễm hóc làm cho người đọc hoang mang mơ hồ không biết là ông định nói lên điều gì...

   * Diễn Nôm :
                                   TUẾ MỘ 
                        
                

                      Trông lên Bắc nhà không dệt cửi,
                      Xuôi về Nam thành lũy can qua.
                      Ăn ngon mặc đẹp chừng vô ích,
                      Thẹn bạn cầu kỳ với áo hoa !

   Song thất Lục bát :
                      Về Bắc ngóng nhà không dệt cửi,
                      Xuôi Nam thì chiến lũy can qua.
                      Ăn ngon mặc đẹp chi mà...
                      Thẹn người diêm dúa áo hoa làm gì ?!

4. Bài thơ LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅 夜 得 故 人 書 :

              小 館 閉 柴 荊,   Tiểu quán bế sài kinh,
              寒 燈 暗 復 明。   Hàn đăng ám phục minh.
              忽 驚 書 問 訊,   Hốt kinh thư vấn tín,
              坐 覺 歲 崢 嶸。   Tọa giác tuế tranh vanh.
              曉 月 兼 霜 色,   Hiểu nguyệt kiêm sương sắc,
              秋 風 似 雨 聲。   Thu phong tự vũ thanh.
              酒 醒 相 憶 處,   Tửu tinh tương ức xứ,
              鐘 漏 隔 嚴 城。   Chung lậu cách nghiêm thành.

              

   * Chú thích :
     - LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅 夜 得 故 人 書 : là "Đêm ở đất khách, nhận được thư bạn cũ".
     - Sài Kinh 柴 荊 : SÀI là Củi, KINH là loại cây mọc thành bụi. Ở nhà quê hay dùng cây Kinh để đan phên, vì thế nên cánh cửa phên ở dưới quê gọi là “Sài Kinh”. 
     - Hốt Kinh 忽 驚 : KINH ở đây là Ngạc nhiên chớ không phải Sợ hãi, nên HỐT KINH là Bỗng cảm thấy ngạc nhiên.
     - Tranh Vanh 崢 嶸 : Chót vót, ở đây có nghĩa là Lơ Lửng chập chờn.
     - Hiểu Nguyệt 曉 月 : là Ánh trăng buổi sáng.
     - Chung Lậu 鐘 漏 : Tiếng chuông đồng hồ nhỏ giọt báo thời gian.
     - Nghiêm Thành 嚴 城 : Thành quách được giới nghiêm và phòng bị kỹ càng. 

   * Nghĩa bài thơ :
            ĐÊM Ở ĐẤT KHÁCH NHẬN ĐƯỢC THƯ BẠN CŨ
          Ta đóng lại cửa phên nơi quán trọ nhỏ nhoi nầy, trong ngọn đèn lạnh lẽo tranh tối tranh sáng. Bỗng ngạc nhiên làm sao khi nhận được thư hỏi thăm tin tức, ngồi đây mà cảm thấy như thời gian của năm tháng đang lơ lửng ở trên đầu. Trong cảnh trăng tàn buổi sáng hòa vào trong màu sương sớm, tiếng gió thu hiu hắt tựa như là những tiếng mưa rơi. Rượu đã tỉnh nhớ lại chỗ nhớ nhau là nơi thành quách đang giới nghiêm trong tiếng thời gian nhỏ giọt của khắc lậu canh tàn !

   * Diễn Nôm :
                    LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ
                   
                  

                    Cửa gài phên quán nhỏ,
                    Đèn lạnh khi mờ tỏ.
                    Bỗng nhận thư hỏi tin,
                    Thời gian như bỏ ngỏ.
                    Trăng sớm mờ sương đêm,
                    Mưa thu ngờ tiếng gió.
                    Rượu tỉnh nhớ nhau đây,
                    Khắc lậu thành nghiêm đó ! 
        Lục bát :
                    Cửa sài quán nhỏ phên kinh,
                    Chập chờn đèn lạnh chợt minh chợt mờ.
                    Bỗng dưng nhận được tin thơ,
                    Thời gian lơ lửng ngồi trơ canh dài.
                    Trăng hòa sương sớm ban mai,
                    Gió thu xào xạt ngỡ ngoài đổ mưa.
                    Rượu say tỉnh giấc nhớ xưa,
                    Giới nghiêm thành quách canh vừa điểm chuông.

5. Bài thơ ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬 夜 雜 詩 : 

              有 客 至 自 遠,   Hữu khách chí tự viễn,
              排 闥 升 堂 階。   Bài thát thăng đường giai.
              矍 然 執 手 笑,   Quắc nhiên chấp thủ tiếu,
              乃 心 久 所 懷。   Nãi tâm cửu sở hoài.
              淵 塞 固 景 仰,   Uyên tắc cố cảnh ngưỡng,
              矧 茲 富 藻 辭。   Thẩn tư phú tảo từ.
              瑤 琴 久 不 弄,   Dao cầm cửu bất lộng,
              為 君 理 朱 絲。   Vị quân lý chu ty.
              施 恐 風 雨 散,   Thi khủng phong vũ tán,
              仳 我 念 裨 離。   Tỷ ngã niệm bì ly.
                
                     

   * Chú thích :  
     - ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬 夜 雜 詩 : TẠP là Tạp nhạp, vặt vãnh; nên ĐÔNG DẠ TẠP THI là Bài thơ vặt vãnh được làm trong đêm đông.
     - Bài Thát 排 闥 : THÁT là cái cửa ngách, cửa nhỏ bên hông; nên BÀI THÁT là Đẩy cửa hông mà vào.  
     - Quắc nhiên 矍 然 : là Nhớn nhác; ở đây có nghĩa là Vội vàng.       
     - Uyên Tắc 淵 塞 : UYÊN là Vực sâu; TẮC là bế tắc, cách trở, nên UYÊN TẮC là Xa xôi cách trở.
     - Thẩn Tư 矧 茲 : là Huống hồ, Huống chi...
     - Tảo Từ 藻 辭 : là Nói những lời lẽ tốt đẹp.
     - Chu Ty 朱 絲 : là những sợi tơ dùng làm dây đàn.
     - Tỷ 仳 : TỶ là TỶ LY 仳 離 là Chia tay, Chia lìa.
     - Bì Ly 裨 離 : Một nước nhỏ xa xôi ở vùng Cam Túc xưa. Ở đây mượn chỉ Vùng xa xôi cách trở.

   * Nghĩa bài thơ :
                    BÀI THƠ VẶT LÀM TRONG ĐÊM ĐÔNG
          Có khách từ phương xa đến, đẩy cửa hông mà vào lên đến bậc thềm phòng khách. Ta vội vàng đến nắm tay mà cười đón, vì đây chính là người mà hằng lâu ta đã nhớ mong. Đường xá xa xôi cách trở nên luôn ngưỡng mộ nhau, huống hồ chi là những lời nói tốt đẹp dành cho nhau. Chiếc dao cầm lâu ngày đã không đụng đến; Bây giờ sẽ vì bạn mà sửa lại dây tơ (để đàn một khúc). Chỉnh e rồi mưa gió lại phải phân tán chia ly. Rời xa ta rồi thì chỉ còn có nước thương nhớ về nơi xa xôi!...

   * Diễn Nôm :
                        ĐÔNG DẠ TẠP THI
                     
                    

                      Có khách từ xa đến, 
                      Đẩy cửa hông bước vào.
                      Vội vàng cười đón tiếp,
                      Vì lòng những ước ao.
                      Xa xôi luôn ngưỡng mộ,
                      Lời khách sáo nhớ sao.
                      Dao cầm lâu chưa gãy,
                      Vì bạn thay dây nào.
                      Chỉnh e trời mưa gió,
                      Chia tay nhớ biết bao !
         Lục bát :
                      Từ xa có khách đến chơi,
                      Xô cửa thẳng bước tới nơi công đường.
                      Vội vàng tay bắt mặt mừng,
                      Bởi lòng luống những bâng khuâng nhớ người.
                      Xa xôi ngưỡng mộ lâu rồi,
                      Bao lời khách sáo nói cười cùng nhau.
                      Dao cầm ngày tháng tiêu hao,
                      Vì người vội vả thay mau dây đàn.
                      Chỉnh e mưa gió ly tan,
                      Chia tay lại nhớ ngút ngàn nơi xa !

       Xin được tạm ngưng bài dịch thơ của Tuy Lý Vương Miên Trinh ở đây. Sẽ dịch tiếp khi có cơ duyên mới !...

                                                       杜 紹 德
                                                     Đỗ Chiêu Đức