Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất
Chương 35: ĐÊM BIỂN BẮC
Rạch Gầm rời bến Sài Gòn lúc tám giờ sáng ngày mồng Bảy Tết năm Canh Tuất – ngày 12 tháng 2 năm 1970. Võ Bằng não lòng nhưng an ủi là trong những ngày Tết vừa qua, anh và Như Oanh được bên nhau trọn vẹn.
Đúng bốn mươi tám giờ sau khi khởi hành, con tàu cập cầu Căn cứ Hải quân Tiên Sa, Đà Nẵng, mang theo mối tình nồng nàn của người hạm trưởng vừa lên hai mươi tám tuổi. Như Oanh đã muốn tổ chức sinh nhật sớm nhưng anh không đồng ý. Nàng đành tặng vài chiếc hôn môi…
Võ Bằng trình diện Tư lệnh Hải quân Vùng 1 và nhận được quyết định: từ ngày mai, Rạch Gầm tạm thời biệt phái cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải.
Chỉ nghe tên gọi, anh đã thấy một nỗi e dè lạ lùng len lỏi tâm hồn. Cái cảm giác ấy đến từ bốn năm trước, năm 1966, khi tình cờ đọc được một văn thư của Sở này kêu gọi hải quân các cấp tình nguyện gia nhập hai lực lượng mới thành lập: Biệt Hải và Hải Tuần.
Với Lực lượng Biệt Hải, những dòng chữ trên trang giấy ngày ấy vẫn còn in đậm trong trí nhớ: thể chất cường tráng; tinh thần can đảm; phản ứng bén nhạy trong mọi tình huống. Rồi phải qua hai mươi bốn tuần huấn luyện như một điệp viên chiến tranh: nhảy dù, nhảy trực thăng; sử dụng mọi loại vũ khí, mọi loại chất nổ của ta và địch; chịu đựng những khắc nghiệt của độ nóng, độ lạnh, độ sâu, và độ cao. Võ Bằng đọc xong, thấy rõ là mình không hội đủ điều kiện gia nhập Biệt Hải.
Còn với Lực Lượng Hải Tuần, điều kiện thật dễ dàng, chỉ cần là quân nhân Hải Quân. Nhiều người đã hăng hái gia nhập lực lượng này. Anh đã định ghi danh nhưng khi dò hỏi về nhiệm vụ, anh đành rút lui.
Vậy mà giờ đây, số phận đưa đẩy anh đến thẳng với Sở Phòng Vệ. Công tác ra sao chưa rõ, nhưng xem ra lành ít dữ nhiều. Để chuẩn bị tinh thần, Võ Bằng dành trọn ngày ngủ bù cho suốt hai ngày đêm đã vất vả hải hành ngược sóng mùa gió chướng.
Đúng tám giờ sáng hôm sau, Võ Bằng có mặt ở phòng họp kín của Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Căn phòng nhỏ đầy người, rèm che kín cửa sổ, chỉ có ánh đèn neon trắng nhợt chiếu lên từng khuôn mặt đang chuyện trò râm ran. Võ Bằng chào kính các vị đàn anh. Hai người bạn cùng khóa mừng rỡ ôm lấy Võ Bằng.
Anh ngồi vào ghế, nhìn quanh. Tấm bản đồ tác chiến chiếm trọn một vách tường. Vĩ tuyến 17 được kẻ bằng một vạch đỏ đậm, chạy dọc theo dòng sông Bến Hải đến cửa Tùng, rồi tiếp tục cắt ngang vùng biển, chia lãnh hải đất nước thành hai miền. Nhìn vào vết cắt đỏ chói, Võ Bằng bỗng nghĩ đến một vết thương lâu ngày không lành trên thân thể quê hương.
Trên vách bên kia là sơ đồ tổ chức Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Bên dưới các khung ghi Phòng Nhân Viên, Tình Báo, Hành Quân, Tiếp Liệu là hai khung lớn: Lực Lượng Hải Tuần và Lực Lượng Biệt Hải.
Hải Quân Đại Tá Trịnh Văn Gia, Chánh Sở Phòng Vệ Duyên Hải, bước vào. Đôi mắt ông sáng quắc, nhanh chóng quét một vòng căn phòng. Không khí đặc quánh, nặng như chì, phảng phất mùi thuốc lá và mồ hôi lẫn vào nhau.
Ông chào mừng và giới thiệu một số nhân vật trách nhiệm:
– Người chỉ huy công tác hôm nay: Hải Quân Trung Tá Tôn Thất Đạt, Chỉ Huy Trưởng Hải Tuần.
Vị sĩ quan có cấp bậc cao thứ nhì đứng lên. Thân hình ông tráng kiện, khuôn mặt khắc khổ, nước da rám nắng gió biển khơi. Võ Bằng nghe tên khá quen qua những câu chuyện ở hạm đội, nhưng đây là lần đầu gặp mặt. Hơn anh năm khóa, ông xứng đáng nhận được sự kính nể.
Đại Tá Gia giới thiệu những người kế tiếp, gồm Hải Quân Thiếu Tá Đinh Quang Thân, Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải cùng hai Trung Úy trưởng toán. Các Hạm Trưởng HQ817, HQ818, và HQ266 mà rất tình cờ, cả ba đều là bạn cùng khóa.
Đại Tá Gia cao giọng:
– Như thường lệ, chúng ta tiếp tục… vượt biên. Cũng như thường lệ, nhiệm vụ của hai khinh tốc đỉnh là đổ bộ Biệt Hải và rải truyền đơn. Riêng ba chiến hạm, sau khi đổ bộ, tiếp tục di chuyển ba hải lý dọc theo bờ hướng về thành phố Vinh, cho đến giờ trở lại đón hai toán Biệt Hải.
Võ Bằng ngồi nghe, bất giác nhếch môi tỏ nụ cười chua chát. Số mệnh chăng? Lệnh công tác của Hạm Đội ghi rõ Rạch Gầm được biệt phái cho Vùng 1 để tuần tiễu bảo vệ an ninh hải phận Vùng 1. Nhưng Vùng 1 lại đẩy anh… vượt Vùng 1, để đâm đầu vào hai đơn vị anh cố tránh. Một vòng lắt léo của chiến tranh.
Đại Tá Gia nhìn thẳng vào Võ Bằng:
– Thành tích của Rạch Gầm ở vùng Phú Quốc qua tường thuật trên báo chí là lý do chiến hạm có mặt trong chuyến công tác đặc biệt này. Hy vọng nhờ khẩu 76,2 ly với tầm bắn hiệu quả 15 cây số, Rạch Gầm sẽ làm tắt tiếng các khẩu đại bác của địch và đánh chìm vài chiếc Kronstadt.
Ông uống vài ngụm cà phê, tiếp lời:
– Sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, tức là qua cửa Tùng sông Bến Hải, các chiến hạm đi cách xa Hòn Cọp để tránh bị phát giác, cho đến ngang thành phố Đồng Hới thì đâm vào bờ, đổ bộ hai toán Biệt Hải. Hai toán Biệt Hải đi hai hướng, triệt hạ các đài radar, phá hủy các ổ pháo phòng không-phòng duyên, phá hoại cầu đường và thu thập tin tức
Ông dừng lại cho mọi người nhận hiểu rồi tiếp:
– Sau đó ba chiến hạm hải hành cách bờ ba hải lý, cho đến thành phố Vinh. Trong lúc di chuyển, khi bị pháo kích từ bờ, Rạch Gầm toàn quyền phản pháo.
Ông lại nhìn từng người, giọng trầm xuống:
– Hãy dự phòng chạm súng với các tàu tuần của Bắc cộng. Các tàu này có hỏa lực tương đối mạnh, vận tốc nhanh. Lại còn phải trông chừng các phản lực cơ MIG 21. Trong trường hợp xảy ra hải chiến hay tai nạn, các chiến hạm phải tương trợ lẫn nhau. Nghĩa là bằng mọi giá, không được phép bỏ rơi đồng bạn. Các anh đều biết, bị cộng sản bắt thì coi như… từ chết tới bị thương. Nếu phải bỏ tàu, chiếc tàu phải được phá hủy đến không còn tàn tích.
Đại Úy Graham, cố vấn của Võ Bằng, hít một hơi sâu, cất tiếng hỏi bằng tiếng Mỹ:
– Thưa Trung Tá Jones, tôi có được phép đi cùng với chiến hạm?
Trung Tá Cố Vấn Trưởng ngồi bên tay trái Đại Tá Gia gật đầu, trả lời bằng giọng tiếng Anh trầm trầm:
– Phải đi. Anh ghi các tọa độ ổ súng của địch bắn ra tàu để Hàng Không Mẫu Hạm cho phi pháo tiêu diệt, dọn đường cho phản lực cơ vào sâu nội địa dội bom.
Võ Bằng nhíu mày:
– Nhưng Đại Tá vừa nói hải pháo 76,2 ly của Rạch Gầm có toàn quyền tác xạ các ổ súng duyên phòng, đâu cần thêm phi pháo?
Đại Tá Gia mỉm cười, nụ cười của người đã từng trải:
– Rạch Gầm sử dụng 76,2 ly hiệu quả, nhưng với tầm xa ba hải lý, rất có thể trượt mục tiêu hoặc chỉ gây hư hại. Phải có phi pháo để bảo đảm.
Võ Bằng nghe ớn lạnh sống lưng. Thả Biệt Hải, rải truyền đơn trên đất địch đã là một nhiệm vụ bất an, giờ lại thêm việc đem chiến hạm làm mồi nhử để khám phá các ổ súng của địch – thì khác nào giỡn với tử thần. Anh nhìn về phía tấm bản đồ, nhìn dọc từ Đồng Hới đến Vinh dài hàng trăm cây số mà mồ hôi tay rịn ướt thành ghế.
Ngay sau buổi họp, Rạch Gầm lặng lẽ rời bến. Chỉ còn tiếng ì ầm dưới hầm máy và tiếng sóng vỗ vào mạn tàu thay lời tiễn đưa. Hai khinh tốc đỉnh lầm lũi theo sau, mũi tàu chẻ sóng tạo thành những cánh bướm trắng xóa. Các nhân viên trực phiên căng mắt nhìn về vùng biển phía bắc, nơi những điều chưa biết đang chờ.
Trên đài chỉ huy của Rạch Gầm, Trung Tá Đạt đứng bên cạnh Võ Bằng, bình thản hỏi chuyện đời thường – về sinh hoạt ở Thủ Đô Sài Gòn, về những quán cà phê nhạc, về vũ trường Mỹ Phụng thơ mộng bến Bạch Đằng. Ông đã quá quen với những chuyến ra Bắc, với cảm giác chai lỳ trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trong khi đó, Võ Bằng trả lời với nét mặt đượm vẻ ưu tư vì công tác phía trước, và thỉnh thoảng, ánh mắt xa xăm hướng về Như Oanh.
Bảy giờ tối, ba chiến hạm ngang qua cửa Tùng của sông Bến Hải. Không khí trên tàu bỗng trở nên căng thẳng như dây đàn sắp đứt. Từ đây là vào vùng biển địch. Mỗi ngọn sóng trườn qua mạn tàu, mỗi đám mây trôi lờ lững trên bầu trời đều có thể là nơi ẩn nấp của hiểm nguy.
Võ Bằng cảm nhận rõ ràng sự thay đổi trong nhịp thở của những người chung quanh – họ nói ít hơn, động tác nhanh và dứt khoát hơn, ánh mắt hướng triền miên về biển bắc mờ sương. Trung Tá Đạt xuống phòng Chiến báo quan sát các mục tiêu nổi trên mặt radar.
Gió đông-bắc khô và lạnh, thổi từ biển vào đất liền, tập hợp sức mạnh dòng hải lưu cố gắng đẩy chiếc trợ chiến hạm lệch khỏi đường đi. Đôi lúc, gió trở mạnh và xoay chuyển thất thường, làm rối loạn mọi ước tính của Võ Bằng về độ trôi giạt. Anh yêu cầu Trung Tâm Chiến báo xác định vị trí. Giọng nói của anh vang lên trong ống nói, bình tĩnh nhưng đủ để mọi người nhận ra sự tập trung cao độ của người chỉ huy. Lịch sử hải chiến Thái Bình Dương cho biết, dọc ngoài khơi tỉnh Quảng Bình, có khá nhiều thương thuyền bị đánh đắm. Một khinh tốc đỉnh đã từng va vào và phải tự phá hủy.
Như để tăng thêm không khí thù địch, bầu trời càng tối hơn, sóng gió mạnh hơn. Bỗng nhiên, mũi Rạch Gầm đột ngột xoay chín mươi độ. Con tàu nghiêng hẳn về mạn trái. Chiếc ghế của anh thủy thủ ngồi quay bánh lái trượt tuột theo độ nghiêng. Anh bám chặt bánh lái, gượng đứng thẳng, mặt tái nhợt. Chiếc ghế đổ nhào, vang lên tiếng động khô khốc. Anh rên rỉ, nhăn nhó vì cú va đập. Hạ sĩ quan trực vội vàng chạy đến dựng lại chiếc ghế. Võ Bằng nhanh chóng ban các lệnh cần thiết để đưa con tàu trở về hải trình.
Võ Bằng nhấc điện thoại nội bộ gọi phòng máy, nói với Thiếu Úy Ngô Quang:
– Sóng to, gió lớn. Hãy theo dõi cẩn thận các đèn báo động để sửa chữa kịp thời. Chỉ thị nhân viên thi hành tức khắc và chính xác mọi lệnh của đài chỉ huy.
– Nhận rõ, thưa Hạm Trưởng.
Ngay lúc đó, sĩ quan trực và hai nhân viên bỗng nhiên tranh nhau ói mửa, không kịp bước đến cái xô để sẵn. Đài Chỉ Huy thoáng chốc tràn ngập mùi hôi khó chịu. Võ Bằng cố nén cảm giác buồn nôn đang dâng lên nơi cổ họng, hít thật sâu. Không được phép tỏ ra yếu đuối, anh tự nhủ. Không được phép. Cố Vấn Mỹ mặt nhăn nhó nghiêng người ra ngoài.
Phiên trực vẫn tiếp diễn trong yên lặng, chỉ thỉnh thoảng bị cắt ngang bởi tiếng báo cáo ngắn gọn từ các nhân viên quan sát. Biển đêm chỉ xạc xào tiếng sóng nhưng đủ để buộc người đi biển luôn luôn tỉnh táo.
Bỗng có tiếng báo cáo từ phòng CIC vọng lên:
– Đài Chỉ Huy, Radar phát hiện nhiều mục tiêu nhỏ cách bờ từ một đến hai hải lý. Tín hiệu yếu, có thể là tàu đánh cá.
Ba chiến hạm lặng lẽ đi qua. Tín hiệu của những chiếc tàu đánh cá mờ dần, rồi mất hẳn. Càng lên phía bắc, mật độ tàu thuyền càng thưa, như thể họ đang đi trên con đường dẫn vào một cạm bẫy khổng lồ, nơi kẻ thù đã dọn sạch tất cả để chờ đợi.
Nửa đêm, ba chiến hạm ngang qua Đồng Hới. Từ xa, ánh đèn thành phố sáng tỏa thành một vùng vàng nhạt trên nền trời đen thẫm.
Hai mươi phút sau, Trung Tá Đạt ban lệnh tiến vào bờ. Theo kế hoạch, khi còn cách năm trăm thước, trong thời gian Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải điều động việc đổ bộ bằng xuồng cao su, Rạch Gầm yểm trợ hải pháo khi cần.
Võ Bằng nâng kính hồng ngoại tuyến. Bờ biển hiện ra như một dải lụa vàng, một số nơi leo lét ánh đèn lẻ loi như những đốm lửa ma trơi trên một nghĩa địa khổng lồ.
Nửa tiếng sau, giọng Thiếu Tá Thân vang lên từ máy vô tuyến:
– Trình thẩm quyền, Biệt Hải hoàn tất đổ bộ.
Trung Tá Đạt đáp, giọng vẫn bình thản:
– Chúc may mắn. Gặp lại bạn như đã hẹn.
Ông ra lệnh HQ817, HQ818 thả truyền đơn. Hàng trăm bọc nylon chứa truyền đơn được thả xuống biển, nhờ sóng đưa vào bờ. Trên sân sau, các nhân viên nhanh chóng bơm khí heli vào những quả bong bóng mang bọc truyền đơn, kết thành chùm lần lượt bay lên.
Võ Bằng lại nâng ống nhòm quan sát. Những bọc truyền đơn trôi lềnh bềnh trên sóng, đong đưa như những chiếc chai đựng thư cầu cứu của những người đi biển tuyệt vọng. Còn trên không, chúng tựa những cụm mây lơ lửng, chầm chậm di chuyển vào vùng ánh sáng vàng vọt của thành phố Đồng Hới. Cảnh tượng thật đẹp, một vẻ đẹp lặng lẽ và thiêng liêng đến nao lòng. Mỗi quả bóng là một sứ giả, mang theo hy vọng mong manh về sự thống nhất, về một tiếng nói tự do và niềm hy vọng cho những người dân đang sống trong màn tăm tối.
Nhưng vẻ đẹp ấy không kéo dài được bao lâu. Từ bờ, những tiếng nổ trầm đục vang lên, xé tan màn đêm yên tĩnh. Không phải đại bác, mà là tiếng súng máy phòng không hạng nặng. Những loạt đạn 14,5 ly và 37 ly từ các đồn bót ven biển bắt đầu phóng lên dồn dập, vẽ nên những sợi chỉ lửa đỏ rực bầu trời, đuổi theo những quả bóng mỏng manh. Nhiều quả trúng đạn, vỡ tung, những tờ truyền đơn rơi xuống lả tả như những cánh bướm trắng bị vùi dập trong cơn mưa lửa.
Những chùm đạn cũng lao vút về phía biển khơi, nơi họ nghi ngờ có tàu xâm nhập.
Tiếng nói từ HQ817 và 818:
– Trình thẩm quyền, công tác hoàn tất.
Giọng Trung Tá Đạt bình tĩnh lạ thường:
– Chúng ta bắt đầu di chuyển dọc theo duyên hải từ đây đến thành phố Vinh. Nếu địch bắn, Rạch Gầm vừa phản pháo vừa tiếp tục di hành. Nơi nào có nhiều ánh đèn, hai khinh tốc đỉnh tiếp tục thả truyền đơn cả trên không lẫn dưới biển.
Gió không quá mạnh, chỉ dưới cấp 2 từ hướng đông-bắc. Nhưng những con sóng lớn vẫn cuộn trào, tuy không vỡ thành bọt trắng nhưng đủ nâng Rạch Gầm lên cao rồi hạ xuống, khiến vài người lại tiếp tục ói mửa. Võ Bằng cảm thấy bụng dạ cồn cào, nhưng anh cố nén, tập trung vào màn đêm trước mặt.
Khi đi ngang đảo Yến, phòng CIC báo cáo:
– Phát hiện hai mục tiêu nhỏ từ phía bắc đang tiến nhanh về phía ta. Khoảng cách 15 hải lý.
Trung Tá Đạt ra lệnh:
– Chuẩn bị tác chiến.
Tim Võ Bằng bỗng đập nhanh hơn. Anh nhìn về phía bắc, nơi bóng đêm vẫn bao trùm tất cả. Anh nói với sĩ quan đương phiên:
– Nhận còi nhiệm sở tác chiến.
Tiếng còi dồn dập vang lên. Tiếng rầm rập chạy đến các ụ súng. Mọi người khoác vào áo giáp, đội nón sắt.
Đúng lúc ấy, những ánh lửa nháng lên từ phía bờ. Bốn quả pháo rơi xuống gần các chiến hạm, tạo nên những cột nước trắng xóa cao vút. Trung Tá Đạt nhìn thấy sự an toàn của ba chiến hạm bị đe dọa nghiêm trọng. Kẻ thù vừa từ bờ, vừa trước mặt. Ông hạ lệnh:
– Tất cả tăng tốc, vượt ra khơi, tránh tầm pháo bờ biển.
Ba chiến hạm lập tức thi hành. Hai chiếc tàu địch phía bắc cũng tăng tốc đuổi theo. Khi đã ra đến vùng nước sâu, cách bờ đủ xa, ba chiến hạm giảm tốc, dàn thành hàng ngang chờ địch.
Những loạt đạn cối từ tàu địch bắt đầu rót xuống. Từng quả đạn gào rít trong không trung, xé toạc mặt biển yên tĩnh. Những cột nước tung cao những đóa hoa tử thần nở rộ, ngày một gần hơn, bủa vây các chiến hạm.
Khi CIC cho biết địch còn cách năm cây số, Võ Bằng ngạc nhiên không hiểu địch trang bị loại súng cối gì mà có tầm bắn xa như vậy. Súng cối 81 ly của Rạch Gầm chỉ hiệu quả ba cây số. Bất ngờ, cả hai tàu địch tăng tốc, lao thẳng vào HQ818 – một pha hành động liều lĩnh và nguy hiểm. Trung Tá Đạt nói to từ phòng CIC:
– 76,2 ly, tác xạ.
Võ Bằng ra lệnh bắn bốn quả. Tiếng đại bác chát chúa lần lượt nổ rền, chói tai. Bốn quả vẽ thành đường lửa trước khi tạo tường nước ngay trước mũi tàu đối phương. Cả hai chiếc tàu địch ngoặt gấp, đổi hướng về Rạch Gầm.
Hai quả cối địch rơi cách lái Rạch Gầm mươi mét. Nước và mảnh đạn tóe lên boong sau. Trong đau nhức của cặp mắt vì chói chang, Võ Bằng cầu mong tàu mình được may mắn.
Trung Tá Đạt vừa trở lên đài chỉ huy, đã hối thúc Võ Bằng:
– Cho 76,2 ly trực xạ!
Võ Bằng nâng ống nhòm quan sát. HQ817 đang nằm trên đường đạn đạo đến tàu địch, nếu bắn ngay sẽ trúng đồng đội. Anh hạ lệnh tăng máy, cho tàu hướng vào bờ để tìm góc bắn an toàn. Khi đạn đạo đã quang đãng, Rạch Gầm ngưng máy, lắc lư nhẹ trên sóng.
Một phút sau, từ phía mũi, một tiếng nổ siêu thanh khô khốc vang lên. Quả đạn đầu tiên xé toạc trời đêm. Một đường lửa đỏ rực phóng thẳng vào chiếc tàu địch. Quả đạn nổ tung trên mặt biển, cách mũi tàu đối phương không xa. Sức công phá của pháo 76,2 ly tạo nên một cột nước tung cao, sáng tỏ tàu địch. Chiếc tàu rung chuyển, lắc lư dữ dội!
Võ Bằng hạ lệnh:
– Bắn trực xạ hai quả.
Lần này một quả trúng ngay tàu địch. Những tiếng nổ chát chúa, lửa bừng lên cao rồi từ từ tắt ngấm giữa màn đêm. Hai phát tiếp theo nhắm vào chiếc tàu còn lại. Đạn rơi gần, tóe hai cột nước. Tàu địch ngoắt 180 độ, lao hết tốc lực trở ngược về hướng bắc, nhanh chóng biến mất vào đêm đen.
Một sự im lặng kỳ lạ lại bao trùm lên mặt biển. Chỉ còn tiếng sóng vỗ và tiếng máy tàu rầm rập. Trung Tá Đạt thở phào nhẹ nhõm, ra lệnh:
– HQ817, 818. Tìm và cứu vớt những người còn sống sót.
– Đáp nhận hành.
Rạch Gầm tiến gần nơi tàu chìm, rọi đèn pha xuống vùng biển nhấp nhô đầy mảnh gỗ. Trong ánh đèn pha rực sáng, những cánh tay vẫy vẫy rồi cố bơi đến Rạch Gầm. Năm người được kéo lên, bị thương nhẹ, được y tá tận tụy săn sóc. Họ cho biết bảy người khác đã chìm theo tàu, không kịp thoát ra.
Võ Bằng nhìn những tù binh với ánh mắt u buồn. Cũng như anh, họ còn trẻ, cũng mặc quân phục, cũng có gia đình ở đâu đó ngoài kia. Chừng nào họ mới được đoàn tụ? Nếu anh bị bắt, chừng nào anh mới gặp lại Như Oanh?
Ba chiến hạm tiếp tục rẽ sóng tiến về thành phố Vinh. Thỉnh thoảng bị pháo kích nhưng không bị chận đường.
Một tiếng sau, Trung Tá Đạt ra lệnh quay về đón hai toán Biệt Hải.
***
Năm giờ sáng, công tác hoàn tất, tất cả khởi hành xuôi Nam. Phía sau họ, bầu trời Đồng Hới vẫn còn lốm đốm chùm bong bóng bay và những tia lửa đạn vô vọng túa lên trời. Rồi một lúc nào đó, những lời kêu gọi tự do sẽ rơi vào tay người dân, thắp lên trong họ ít nhiều hy vọng đổi đời.
Mười giờ sáng, trên đường về gần đến cửa Tùng, Trung Tá Đạt bỗng trầm giọng:
– Phía trước có ba tàu địch.
Võ Bằng nhìn theo hướng tay ông chỉ. Xa xa, ba tàu sơn đen đang nằm chận ngang đường, dáng vẻ đầy uy hiếp. Theo hình dạng, các chiến hạm địch là loại Kronstadt do Trung Cộng chế tạo, có vận tốc cao và hỏa lực mạnh. Trong năm qua, đã nhiều lần toán của Trung Tá Đạt bị chận đánh như vậy. Có khi chúng bất ngờ xuất hiện từ Hòn Cọp, có khi từ Hòn Ngư, Hòn Én. Nhưng lần nào các khinh tốc đỉnh cũng bỏ chạy, tránh giao tranh. Cấu trúc của khinh tốc đỉnh không nhằm giao tranh mà chỉ tự vệ. Vũ khí trang bị ở sân sau chớ không sân mũi. Một lý do khác, trên đường về, bao giờ cũng bắt cóc một số ngư dân đưa về Cù Lao Chàm.
Nhưng lần này thì khác. Với ưu thế hỏa lực và tầm xa của khẩu 76,2 ly, Trung Tá Đạt tin có thể đương đầu, tạo thành tích bất ngờ. Ông ra lệnh cho hai khinh tốc đỉnh bung ra hai hướng để hai tàu kia đuổi theo, Rạch Gầm một đấu một, nắm chắc phần thắng. Hạ chiếc này xong, lần lượt đuổi theo hạ hai chiếc còn lại.
Tuy nhiên địch cũng cố giành thế thượng phong. Thay vì một đấu một, chúng phớt lờ hai khinh tốc đỉnh để chia ba hướng bao vây Rạch Gầm. Ba chiến hạm đồng loạt nổ súng. Một số tia lửa vụt ngang qua Rạch Gầm. Khẩu đại pháo 76,2 ly gầm lên dữ dội, hai khẩu 40 ly và bốn khẩu 20 ly, và bốn đại liên hai bên mạn thi nhau nhả đạn như mưa. Mặt biển trở thành bãi chiến trường rực lửa.
Một tàu địch trúng 76,2 ly phát nổ, khói lửa bốc lên ngút trời. Mười phút sau, con tàu chìm hẳn, để lại những vòng xoáy nước và những mảnh vỡ trôi lềnh bềnh. Võ Bằng điều khiển Rạch Gầm tiến gần chiếc tàu địch thứ hai. Chiếc này vừa chạy zigzag vừa bắn trả dữ dội. Nhưng rốt cuộc, nó cũng chịu chung số phận như chiếc trước, chìm dần giữa những tiếng nổ long trời.
Một phát đạn từ chiếc tàu địch còn lại, rốt cuộc cũng chạm đài chỉ huy Rạch Gầm. Tiếng nổ chát chúa và dữ dội. Miểng bay rào rào. Võ Bằng cảm thấy một luồng gió nóng rát xoẹt qua tai. Khi bụi khói tan, anh nhìn thấy một thủy thủ nằm bất động trên sàn – tử thương. Trung Tá Đạt ôm cánh tay tuôn máu, và hai nhân viên ôm đầu ôm mặt máu nhỏ giọt. Các y tá xuất hiện với túi cứu thương.
Trung tá Đạt nổi nóng, quát:
– Rạch Gầm! Bắn tối đa 76,2 ly! Tiêu diệt nó!
Võ Bằng chuyển lệnh vừa dứt, khẩu đại pháo đã rền những phát đạn liên tiếp. Nhưng mới đến trái thứ tư, Trung Tá Đạt lại quát, lần này to hơn:
– Ngưng! Ngưng bắn!
Mọi người nhìn ông rồi hướng về phía ông đang chăm chú. Trên đỉnh cột cờ của tàu địch một mảnh vải trắng được kéo vội lên đang phất phới.
Một sự im lặng kỳ lạ lại bao trùm.
Được lệnh vị chỉ huy, Võ Bằng cho Rạch Gầm cập sát mạn tàu đầu hàng. Mười người lính địch, trong đó có bốn người bị thương, được chuyển qua. Năm xác chết để lại, mặc cho tàu địch trôi lềnh bềnh vô chủ. Nhìn vào ánh mắt hoảng sợ của họ, Võ Bằng bỗng thấy xót xa. Anh nghĩ nếu bị bắt, mình cũng hoảng sợ. Vòng xoáy chiến tranh thật lạ lùng, bên nào cũng tự hào mang máu xương để bảo vệ đất nước. Nhưng đau đớn nhất lại là cùng một đất nước. Chánh nghĩa chỉ còn căn cứ vào cách xây dựng: bên nào giàu có, ấm no, tự do, dân chủ, bên đó có chánh nghĩa.
***
Cuộc hành trình vượt tuyến đang đến hồi kết thúc. Một chiến dịch thầm lặng, đầy nguy hiểm và hồi hộp, nhưng cuối cùng những người lính biển đã làm được điều họ cần làm: hoàn thành sứ mạng với thiệt hại tương đối nhẹ – một người chết, vài người bị thương.
Trên đường về, Võ Bằng thắc mắc nhìn Trung Tá Đạt với cánh tay băng bó, máu vẫn còn thấm qua lớp vải trắng:
– Thưa Trung Tá, sao phải chở binh lính địch về miền Nam làm chi cho thêm mệt? Cứ để mặc họ xoay sở trên vùng biển của họ, có phải đỡ thêm gánh nặng?
Trung Tá Đạt nhìn anh, khóe môi nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý:
– Một là để tra hỏi tổ chức địch. Hai là để huấn luyện họ trở thành nội tuyến. Sau ba tháng cho ăn uống thỏa thuê, phủ dụ chiêu hồi, chúng ta thả họ về quê quán.
Ông ngừng một chốc, nhìn ra biển khơi mênh mông, rồi bất chợt hỏi:
– Anh có nghe đài Gươm Thiêng Ái Quốc bao giờ chưa?
Võ Bằng hơi ngạc nhiên, gật nhẹ:
– Thưa, chỉ một hai lần.
– Thường thì sau công tác, trên đường về, lần nào Hải Tuần cũng chận xét ngư thuyền, bắt cóc một số ngư dân đem về giao cho Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc. Nhưng lần này bị kẹt chở tù binh và thương binh.
Trung Tá Đạt đưa mắt nhìn quanh, rồi nói bằng giọng thấp hơn, như chỉ đủ cho hai người nghe:
– Đài Gươm Thiêng Ái Quốc là tiếng nói của Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc, một tổ chức có căn cứ trên Cù Lao Chàm, gần căn cứ Hải Tuần. Cạnh căn cứ Gươm Thiêng, người ta xây dựng một ngôi làng theo đúng khuôn mẫu những làng chài dọc bờ biển Bắc Việt. Nhân viên trong làng nói giọng Bắc, sinh hoạt theo đúng tục lệ Bắc, nói chuyện về đời sống dưới chế độ cộng sản nghèo đói, rỉ tai về tổ chức Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc và hoạt động của nó nhằm đem lại đời sống ấm no không như chế độ cộng sản.
Ông dừng lại, như để những lời vừa nói thấm vào người nghe:
– Ngư dân Bắc Việt bị Hải Tuần bắt cóc, được đưa về sống trong ngôi làng ấy, phát cho họ quần áo mới, ăn uống đầy đủ, tặng một radio nghe đài Gươm Thiêng Ái Quốc. Khi họ tin đang có kháng chiến chuẩn bị lật đổ chế độ miền Bắc, họ sẽ thổ lộ những tin tức đặc biệt, những điều xấu xa của các nhân vật cộng sản mà họ biết. Tình báo miền Nam khai thác những tin đặc biệt ấy. Còn Đài Gươm Thiêng Ái Quốc – cơ quan tuyên truyền của Mặt Trận – phát thanh những tin xấu xa để gây chia rẽ trong giới lãnh đạo Bắc Việt.
Võ Bằng lặng người. Trước mắt anh, cuộc chiến không chỉ là những trận hải chiến bằng súng đạn, không chỉ là những chuyến vượt tuyến đầy hiểm nguy. Nó còn là những chiến dịch tâm lý tinh vi, những toan tính thầm lặng mà anh chưa từng hình dung hết.
Năm giờ chiều, ba chiến hạm cập cầu hậu cứ Mỹ Khê. Ngay sau khi bàn giao tù binh cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Rạch Gầm được trả về Bộ Tư Lệnh Hải quân Vùng 1. Hạm Trưởng Võ Bằng được Tư Lệnh Vùng 1 tiếp kiến. Ông hỏi han, ngợi khen, cấp phương tiện chở thi hài tử sĩ và hai nhân viên bị thương về Sài Gòn. Ông cho Rạch Gầm ba ngày dưỡng sức, tu bổ máy móc, bổ sung đạn dược. Sau đó sẽ nhận công tác mới.
Võ Bằng chào từ giã.
Bước ra khỏi phòng Tư Lệnh, anh ngước nhìn bầu trời Đà Nẵng chiều muộn, những áng mây hồng trôi nhẹ trên biển. Một câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu:
“Công tác gì đây? Lại vượt vĩ tuyến?”
Tự dưng anh rùng mình. Tại sợ hay tại cơn gió chiều trở lạnh?
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét