Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Đời Thủy Thủ 1 - Vũ Thất / Chương 16: Con Thằn Lằn

 

                          

Đời Thủy Thủ 1 - Vũ Thất
 Chương 16: CON THẰN LẰN

Tin đồn đảo chánh đã râm ran trên mặt báo từ những ngày đầu tháng Mười. Đến cuối tháng, khi tàu vừa cập bến, lệnh cấm trại 100% đã chờ sẵn. Sài Gòn ban ngày vẫn xe cộ, vẫn tiếng người, nhưng đâu đó trong từng góc phố đã phảng phất một không khí ngột ngạt, như trước cơn giông bão. Từ chín giờ tối đến bốn giờ sáng là giới nghiêm.
Tuy vậy, theo thông lệ, mỗi lần tàu công tác mới về, ông Hạm Trưởng vẫn du di cho một nửa nhân viên đi bờ luân phiên trong hai ngày. Ông bảo dù lệnh cấm trại áp dụng cho toàn quân, nhưng với lính lênh đênh rất đáng được… thông cảm. Cả hai ngày tôi đều không dính phiên trực, nhưng lại kẹt kết toán. Cuối tháng bao giờ cũng là lúc tôi bận rộn nhất: đôn đốc lập bảng lương cho thủy thủ đoàn, kiểm soát từng khoản chi tiêu ẩm thực, nợ nần của sĩ quan. Tôi đã cặm cụi suốt chuyến chở tù nhân ra Côn Sơn bốn ngày đi về, vậy mà vẫn phải lấn thêm một ngày nghỉ bến.
Mãi đến trưa ngày cuối tháng Mười, tôi mới hoàn tất phần việc. Ông Hạm Trưởng cười xòa ký “Giấy Phép Công Tác Đặc Biệt 24 tiếng” với lý do “Liên lạc Phòng Tài Chính Bộ Tư Lệnh”. Thực ra, việc liên lạc chỉ là ghé qua Bộ Tư Lệnh chừng năm phút nộp bảng lương, để hôm sau Hạm Trưởng đến nhận tiền phát cho thủy thủ đoàn.
Nếu không bị ràng buộc bởi lời hứa cưới Hồng, chắc chắn tôi đã dành hai mươi bốn tiếng “đặc biệt” ấy cho Hồ Ngọc Thúy, hoặc cho bà chủ "mật khu". Sau chuyến công tác, đó là những hình ảnh gợi nhớ nhất. Nhưng thèm thì thèm, tôi nhất định phải thực thi cho bằng được chính sách năm năm “thắt lưng buộc bụng”. Đã hết rồi cái thời tôi tỏ ra hào phóng với một người con gái bá vơ. Riêng với Hồ Ngọc Thúy, tôi thầm cầu mong nàng tiếp tục việc học, không còn phải đến cái chốn hiển nhiên không thuộc về nàng.

Toán gác trước cổng Bộ Tư Lệnh đông gấp đôi thường lệ, mặt người nào cũng lộ nét cảnh giác cao độ. Nộp xong bảng lương, tôi băng qua công trường Trần Hưng Đạo vào đường Tự Do. Quán Hollywood Snack Bar đang mở cửa, nhạc vọng ra rộn ràng. Nhưng “dĩ thực vi tiên” – tôi nhét bụng tô hủ tiếu Thanh Xuân rồi mới trở lại. Rất nên trở lại uống vài lon bia, giải trí lành mạnh với tiểu muội Linda cho qua thì giờ.
Không ngờ khi thấy tôi bước vào, Linda tỏ ra hết sức niềm nở. Không phải lối niềm nở khách sáo tiếp đón khách hàng. Tiểu muội hỏi tôi cả tháng qua đi hành hiệp nơi nào mà biệt dạng. Tôi đáp lững lờ là bận họp quần hùng ở Thành Tuy Hạ…

Tôi đang đắm đuối ngắm tiểu muội thì bỗng bị hai bàn tay mềm mại bịt kín mắt. Một giọng nói nhỏ nhẹ rót vào tai như truyền âm nhập mật:
— Biết ai không?
Âm trong trẻo, nhưng không thuần Sài Gòn, lại càng không phải miền Tây. Nó pha chút gì của giọng miền Trung.
Tôi câu giờ:
— Nói lại lần nữa.
— Ông anh biết ai không?

Vẫn cái âm trong trẻo ấy, nghe đâu quen lắm. Không phải giọng Mai Liên. Tôi nghĩ đến vài cô bạn thời trung học. Giọng quen quen lại vang lên, pha chút châm chọc:
— Ông anh nhận ra ai chưa? Thân thiết lắm nghe!
Đúng là giọng Tuyết.
Nhưng không lẽ. Quán này đâu phải chỗ dành cho một người con gái sinh trưởng từ đất Thần Kinh. Tôi lắc đầu:
— Chịu thua.
Giọng ấy lại đùa dai:
— Quân Vương tệ thật! Rời quân trường Nha Trang là quên luôn tiện nữ.
Hai bàn tay rời khỏi mắt tôi. Tôi quay phắt lại. Dù đã đoán ra, tôi vẫn giật thót:
— Tuyết!
Tuyết nở nụ cười tươi:
— Phải! “White Snow” của anh đây. Bất ngờ hỉ?

Tôi nhảy khỏi ghế, vòng tay ôm Tuyết sát vào người. Trong khoảnh khắc, tôi muốn biểu lộ cùng lúc nỗi vui mừng, thương yêu và sửng sốt. Tôi hôn lên má nàng, bất kể những cặp mắt đổ dồn về phía chúng tôi.
Một lúc sau, Tuyết nhích người ra. Tôi mở vòng tay. Nàng nghênh mặt, hờn dỗi:
— Hôm nọ em nhắn anh Tâm nói anh đến nhà, sao anh không đến?
— Bữa đó anh bận.
— Em đã rất mong anh đến để xin anh trả lời vài câu hỏi. Vậy mà đến lúc em đinh ninh anh đã dứt khoát xa lánh, thì lại bất ngờ gặp lại. Nhân tiện, xin anh giải đáp cho rõ ràng.
Nàng ngừng một chút, rồi đổi ý:
— Mà thôi. Chuyện dài dòng. Anh ngồi đợi một chút. Em sắp xếp rồi đi chơi với anh. Có thì giờ, tâm tình được cặn kẽ hơn.
Nàng quay sang Linda:
— Em đi có chút việc riêng. Xin phép chị cho em nghỉ hôm nay.
Linda xua tay:
— Cứ tự nhiên. Chúc nhiều hạnh phúc.

Tuyết khuất dạng sau tấm màn phía trong. Tôi ngồi lại xuống ghế. Linda nhìn tôi bằng ánh mắt tò mò. Tôi uống vài ngụm bia, cười đùa:
— Old flame. Gặp lại bất ngờ.
Linda gật đầu:
— Rõ ràng là vậy. Để chúc mừng, Hollywood mở happy hour. Đại huynh và em Tuyết thích uống gì cứ uống. Free.
Tôi ra vẻ xông xáo, nốc cạn lon bia. Linda vui vẻ:
— XO nghe?
Tôi lắc đầu:
— Bữa khác.
Cô cúi xuống lấy lon Budweiser mới. Tôi nhìn khuôn ngực căng tròn trong chiếc áo rộng cổ mà thèm thuồng. Tôi biết đó là cái bẫy để câu khách ngồi lâu, uống nhiều. Lẽ ra hôm nay tôi đã sập bẫy, nếu Tuyết không bất ngờ xuất hiện.
Khi Linda định khui lon bia, tôi đưa tay ngăn lại. Cô cười nhạo:
— Sợ say không làm ăn gì được à?
Tôi đáp lễ:
— Càng say càng dẻo càng dai, chỉ sợ hao bia Linda Sờ Nách.
Linda không cười. Tia mắt cô chiếu về phía sau lưng tôi. Tôi quay lại.

Tuyết đã đứng đó từ bao giờ.
Nàng nhướng mày, khóe môi nhếch lên nửa cười nửa trách:
— Quân Vương ăn nói kiểu đó, tiện nữ biết giấu mặt vô đâu?
Tôi nghe mặt mình nóng ran, không biết đáp sao.
Tôi nhìn nàng từ đầu đến chân. Nàng gọn gàng, tươi trẻ trong chiếc áo dài mà dù mắt đã quen bóng tối, tôi vẫn không chắc là xanh hay đen. Chỉ có chiếc quần trắng là rõ, lai quần chạm hờ trên những ngón chân thon ngà. Trông nàng như một thiếu nữ Việt Nam mẫu mực. Bảo sao bọn G.I. không mê mệt.
Tuyết nói với Linda:
— Mai gặp lại chị.
Linda không biết đùa hay thật:
— Chắc không đó?

Cả hai cười vang. Tôi đứng dậy, móc bóp rút tờ hai mươi đồng. Chưa kịp đặt xuống, Linda đã lên tiếng:
— Em nói free là free. Đừng lộn xộn.
Tôi đặt tờ bạc lên quầy, lấy lon bia dằn lên:
— Anh đâu có trả tiền bia. Chỉ là tip.
— Tip cũng không. Người nhà cả mà.
Tôi tỉnh bơ bước ra cửa, bụng thầm nghĩ: chính sách năm năm “thắt lưng buộc bụng” chưa ráo mực đã thủng một lỗ hai mươi đồng. Linda la theo:
— Bye-bye! Enjoy!

Tôi nhìn đồng hồ. Mới gần ba giờ.
Chúng tôi lặng lẽ cuốc bộ về phía tòa nhà Quốc Hội. Phố xá vẫn đông, nhưng thỉnh thoảng một chiếc Jeep quân cảnh chạy chậm dọc lề, người lính ngồi sau đảo mắt nhìn khách bộ hành. Gần Quốc Hội, mấy cuộn kẽm gai nằm sẵn bên lề như chỉ chờ được kéo ra. Được một quãng, Tuyết hỏi:
— Anh khinh em lắm hả?
— Sao nói vậy?
— Nhất định là anh khinh em. Gái bán bar.
— Không. Anh yêu em.
— Dóc tổ! Ai mà thương những người làm nghề này!

Tôi không rõ mình có khinh Tuyết hay không. Nhưng có một điều chắc chắn: tôi đang xét lòng mình còn yêu nàng hay không. Tuyết nói đều đều:
— Anh nghĩ về em thế nào cũng được. Em đã chấp nhận số phận. Em biết nghề của em bị coi là nghề không đàng hoàng.
Tôi siết lấy cánh tay nàng:
— Tuyết, cho anh xin. Ông bà mình có câu: không có nghề xấu, chỉ có người xấu. Nếu em sống đàng hoàng, mặc xác thiên hạ. Riêng anh, anh không nghĩ xấu về em. Ngược lại, anh đang hãnh diện được đi giữa phố đông người bên em.
Tuyết khẽ tựa vào vai tôi như thầm cảm ơn.

Tôi đưa nàng lên lầu quán kem Brodard. Chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn nhỏ kê sát khung kính. Tuyết gọi ly kem ba màu. Tôi chọn cà phê phin đen nóng. Gương mặt nàng đẹp rực rỡ mà buồn thảm. Nàng lặng lẽ nhìn về phía khách sạn Continental. Tôi cũng lặng thinh, nhìn tấm bảng Hollywood Snack Bar nhấp nháy xa bên dưới.
Một cô gái như Tuyết, con nhà trâm anh, học giỏi, trong sáng như bình minh ở biển, sao lại trôi giạt vào chốn quá xô bồ?
Giọng nàng trầm xuống:
— Em không tự phụ, nhưng chắc anh cũng công nhận em có thừa nhan sắc để câu một ông chồng giàu có. Em đã gặp nhiều người. Họ sẵn sàng tặng xe hơi, nhà lầu, nhưng em không muốn bị tạt acid. Họ cho em thấy sự si mê, nhưng không cho thấy tấm chân tình. Sống với một người không thật lòng yêu, thà sống một mình. Cám ơn anh đã nghĩ tốt về nghề của em.

Tôi hỏi, giọng chua xót:
— Vì sao em phải đi bán bar?
Tuyết không trả lời ngay. Nàng nhìn tôi, như đo lường ẩn ý trong câu hỏi. Tôi nhìn lại, không tránh né.
Một lúc sau, nàng cúi mặt, nâng muỗng múc kem. Nàng ăn chậm rãi. Khuôn mặt dần thanh thản hơn. Đến khi còn nửa ly, nàng buông muỗng, chống cằm:
— Vì sao em phải đi bán bar? Anh biết một phần rồi đó. Bỗng dưng em mồ côi. Em chạy trốn Nha Trang. Dù không có tin tức gì về anh, em vẫn vào Sài Gòn với một chút hy vọng. Trong lúc tuyệt vọng, em được một người giúp đỡ. Căn nhà anh từng đến chơi là do anh ấy giúp em mua, giúp em sắm sửa mọi thứ. Em sống hạnh phúc được hai tháng.
Nàng xoay xoay chiếc muỗng trong lòng ly, nhìn lớp kem chảy dần thành một vũng màu nhòe nhoẹt.
— Rồi một hôm, khi em và anh ấy đang ăn tối, có một bà gõ cửa, xồng xộc xông vào nhà, theo sau là một đám lâu la.

Tôi im lặng.
— Em phân trần với bà là em không biết anh ấy có vợ, và hứa sẽ không bao giờ gặp lại. Bà hùng hổ mắng nhiếc một lúc rồi bỏ đi. Em giữ lời. Từ hôm đó em không dám bước ra khỏi nhà. Thực phẩm thì nhờ bà hàng xóm mua giùm. Căn nhà đứng tên em thật, nhưng nhà đâu có nuôi được người. Số tiền em có cạn dần. Con gái bà hàng xóm giới thiệu em với chị Linda. Lương ít nhưng tiền tip nhiều.  Em tự nhủ chỉ làm tạm trong khi chờ tìm việc văn phòng…
Nàng ngừng một chút, hớp ngụm nước lạnh.
— Những ngày đó em sống một mình trong sợ hãi, cho đến khi gặp anh Tâm. Phải chi em khôn hơn một chút, đừng nôn nóng hỏi han về anh, không chừng anh Tâm đã hỏi cưới em. Nhưng dù biết em còn thương nhớ anh, anh ấy vẫn đến chơi, săn sóc, đùa giỡn, giúp em đỡ sợ, đỡ cô đơn. Vừa lúc em quyết định tự nguyện làm vợ anh ấy, vô điều kiện, thì anh xuất hiện.

Nàng nói một thôi dài, như sợ nếu ngưng lại thì sẽ không đủ can đảm nói tiếp. Rồi nàng cúi mặt, vươn bàn tay lạnh ngắt nắm lấy tay tôi.
— Tất nhiên em cũng có cái đầu biết suy nghĩ. Việc anh không muốn gặp lại em là một câu trả lời rõ ràng. Em cũng đã chấp nhận. Do đó, em nói với anh Tâm đừng đến nữa, vì em không muốn tiếp anh Tâm mà lòng lại trông ngóng anh. Nhưng hôm nay ông Trời run rủi cho em gặp lại anh, nên em không thể không hỏi câu em từng muốn hỏi. Để được nghe từ chính miệng của anh. Anh Bằng, có phải thật lòng anh không còn yêu em?
Nàng ngẩng mặt lên. Đôi mắt rực sáng nhìn thẳng vào tôi.

Đến lượt tôi cúi mặt. Phải chi nàng hỏi tôi có muốn cưới nàng làm vợ không, tôi đã có thể trả lời dễ dàng, với cùng lý do tôi từng nói với Hồng. Nhưng Tuyết hỏi tôi có còn yêu nàng không. Câu hỏi ấy khó hơn nhiều.
Nếu nói tôi chia tình yêu cho Hiền, Hồng, Tuyết thành từng phần thì hoàn toàn sai. Cũng không thể nói mỗi người chiếm một phần ít nhiều trong lòng tôi. Nói cho đúng, mỗi khi gần một người, tôi đều dành trọn vẹn yêu thương cho người ấy. Tuần trước, tôi hết lòng yêu Hồng. Bảy tháng trước, tôi hết lòng yêu Hiền. Giờ đây, ngồi trước Tuyết, tình tôi lại dành trọn cho Tuyết. Tôi không mảy may nhớ Hồng, cũng chẳng nhớ Hiền.

Tuyết nói khẽ:
— Sự im lặng của anh cũng là một cách trả lời. Nhưng em vẫn muốn nghe tận tai. Để từ nay hễ còn le lói chút hy vọng nào thì em nhớ lại mà dập tắt. Nói đi anh Bằng. Nói là anh không yêu em.
Tôi ngẩng lên, đón lấy ánh mắt nồng nàn ấy, rồi thở dài:
— Tuyết à, nếu em hỏi anh có ý định cưới em không, anh có thể trả lời ngay là không, là chưa phải lúc. Còn có yêu em không, anh phải nhận là có. Tình đầu mà!
Những ngón tay Tuyết siết lấy tay tôi. Nụ cười rạng rỡ bừng lên trên gương mặt nàng. Nhưng chỉ thoáng chốc, nụ cười ấy chùng xuống, như thể nàng chợt nghe lại vế đầu của câu trả lời.
— Mình ngồi cũng lâu rồi. Đi đi anh!

Tôi ra dấu tính tiền.
Chúng tôi lang thang chen vào dòng người trên đường Tự Do. Ở góc Lê Lợi, mấy người đàn ông chụm đầu, xì xào bàn tán. Tuyết khẽ hỏi:
— Người ta đồn sắp có chuyện lớn, phải không anh?
— Đồn hoài mà em.
Tôi đáp cho qua, nhưng trong đầu lại hiện lên hàng chữ cấm trại 100% trên bảng đen ở hạm kiều.
Chúng tôi vào xem tranh trong một phòng triển lãm, rồi tha thẩn bên lề Lê Lợi. Tôi liếc qua những sạp sách. Quyển Cõi Người Ta của Antoine de Saint-Éxupéry, Bùi Giáng dịch, đập vào mắt tôi.
Tôi đã quá ngán bài vở chuyên môn, sách kỹ thuật, hồ sơ, tài liệu khô khốc suốt hai năm qua. Xin từ giã Hải hành, Thiên văn, Khí tượng. Xin chia tay Điện kỹ nghệ, Động cơ nổ. Xin vĩnh biệt Sức bền vật liệu, Hải pháo, Truyền tin. Đã đến lúc tự nuông chiều sở thích văn chương.
Tôi kéo tay Tuyết dừng lại, nhấc quyển truyện đưa cô bán hàng. Tuyết liếc cái tựa, cười buồn:
— Cũng nên đọc để biết cõi người ta có như cõi người em đang sống!
Tôi xăng xái:
— Để anh tặng em một quyển.
— Đừng. Khi nào anh đọc xong, em mượn. Mình đang dạo phố mà.

Chúng tôi đi đến rạp Vĩnh Lợi rồi không biết tiếp tục về hướng nào. Tuyết gợi ý:
— Tìm nơi nào thanh tịnh để em có thể tâm sự qua đêm với anh.
Câu nói làm tôi chột dạ. Vậy mà tôi lại buột miệng, và ngay khi nói ra đã biết mình vừa hé một cánh cửa mà chính mình đang cố khép:
— Hay là về nhà Tuyết?
Nàng lắc đầu:
— Không. Về nhà em để rồi khi vắng anh, em nhớ anh chịu sao thấu.
Tôi nghĩ đến căn phòng khách sạn Quảng Đông gần ga xe lửa, nơi tôi từng qua đêm với Hồ Ngọc Thúy. Không. Không thể. Mở lời đề nghị nơi đó, khó tránh khỏi bị trách phiền.

Nhưng Tuyết lên tiếng, giọng bình thản quá mức:
— Hay là mình mướn một phòng ngủ? Em cần cả một đêm để nói hết với anh những điều em từng muốn nói.
Tôi thở dài. Tuyết lại tiếp:
— Anh biết không, có đêm em thì thầm với chiếc gối ôm, tưởng tượng đó là anh.
Nàng nói, ánh mắt nhìn tôi đắm đuối. Tôi hiểu. Trên đường từ Nha Trang về Sài Gòn, tôi cũng từng ôm gối, vừa hôn vừa thì thầm những lời thương nhớ Hồng.
Tôi đang ở cái tuổi thúc bách của một người đàn ông trẻ; còn Tuyết, vô tình hay cố ý, lại đặt mỡ trước miệng mèo. Trời gầm chưa chắc đã chịu nhả. Tôi biết rõ, một khi buông tay cho bản năng dẫn lối, sẽ chẳng còn gì níu tôi lại được. Vấn đề là ở chính tôi. Mong rằng tôi có đủ nghị lực chống đỡ, nếu quả thật Tuyết đang gài tôi vào thế… chuyện đã rồi.

Chọn lựa nào cũng bế tắc. Từ chối sẽ làm Tuyết tổn thương. Vừa xác nhận còn yêu nàng, tôi đâu thể hành động như một kẻ bạc tình. Nhưng nếu đồng ý, tôi sẽ hổ thẹn với Hồng. Chỉ mới xa nhau một tuần, tôi đã ngủ đêm với người con gái khác.
Tuyết nhìn tôi:
— Nếu anh không muốn thì thôi. Mình cứ lê la quán này sang quán khác cho tới giờ giới nghiêm rồi chia tay.
Đồng hồ rạp Vĩnh Lợi chỉ gần sáu giờ. Còn ba tiếng nữa là giới nghiêm. Một chiếc GMC chở đầy lính chạy ngang, bánh xe nghiến rào rạo trên mặt đường rồi khuất về phía chợ Bến Thành.
Tôi nói:
— Mình kiếm cái gì dằn bụng rồi tính.
Xéo bên kia đường là Thanh Thế, cạnh đó là Kim Sơn. Thanh Thế thì không mấy sang. Kim Sơn thì tôi chưa vào lần nào. Tuyết lại lên tiếng:
— Trở lại chỗ em làm. Gần đó có một nhà hàng Tây rất ngon và ấm cúng.
Tôi bước cạnh Tuyết như một người máy.

Vũ Thất

(Còn tiếp)