Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026
Tin Buồn Viện Hán Học Huế (Anh Nguyễn Văn Sĩ khóa 2)
Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026
Tin Buồn Viện Hán Học
Phân Ưu
Cựu đồng Môn Viện Hán Học Huế vô cùng thương tiếc khi nhận được tin buồn này.
Tang lễ:
Tổ chức tại Peek Funeral Home - Chapel #5
Ngày Thứ Bảy 18/4/2026 Từ 9:00 AM - 10:00AM
Thăm viếng từ 10: AM đến 2:00 PM
Hỏa táng từ 2:00 PM đến 3:00PM
Nguyện cầu hương linh chị Nguyễn Thị Cam sớm vãng sanh nơi miền cực lạc.
Đồng chịu chung nỗi buồn mất mát lớn lao này với quý quyến.
Cựu SV VHH Huế Hải ngoại và Quốc nội đồng bái biệt.
*****
Chị Cam ơi!
Chị là "Chị Cả" bọn em
Nhìn chị đau đớn tim em nhói lòng.
Biết rằng số mệnh buộc ràng
Nhưng khi chị bỏ bụi trần ra đi
Bỏ gia đình, buông thị phi
Chị về với Phật, điều này chị mong
Nhưng sao em cứ đau lòng
Đêm nằm nhớ mãi lòng vòng chuyện xưa:
Bốn mùa từ Đông tới Thu
*****
Lời Tiễn Biệt bạn đồng môn Viện Hán Học Huế Nguyễn Thị Cam pháp danh Phẩm Ngọc (1941-2026) Khóa II - 1960-1965.
Kính thưa quý Thầy,
Kính thưa tang quyến Chị Nguyễn Thị Cam
Kính thưa anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học Huế tại Hải Ngoại và Qước Nội
Đặc biệt: Kính thưa anh linh chị Nguyễn Thị Cam
Trước hết, cá nhân chúng tôi, Nguyễn Lý-Tưởng, khóa I Viện Hán Học là người được anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học Huế hải ngoại đồng ý cho tôi được thay mặt anh chị em trong những dịp họp mặt đón tiếp Cụ Võ Như Nguyện là một trong những vị có công lao tổ chức điều hành Viện Hán Học từ những ngày đầu tiên khi Viện mới thành lập (1959) và cũng là Quyền Giám Đốc Viện Hán Học thay thế Linh Mục Cao Văn Luận (nguyên Viện Trưởng Đại Học Huế kiêm Giám Đốc Viện Hán Học) sau khi ngài từ chức khoảng 1964...
Tôi được biết Chị Nguyễn Thị Cam, vào mùa Thu năm 1960, ngay khi Chị mới thi đậu vào Khóa thứ II Viện Hán Học (1960-1965)...
Chị là cựu học sinh trường Nữ Trung học Gia long. Năm 1960, chi thi vào Khóa II Viện Hán Học Huế với chương trình học 05 năm, tốt nghiệp sẽ là Giáo sư Trung học. Chị được chị em Miền Nam ra Huế học, quý mến và thương yêu phong tặng chức "Chị Cả" của nhóm. Chị Cam ăn nói chững chạc, hòa nhã, luôn tỏ ra có trách nhiệm với mọi người. Từ các vị giáo sư cho đến bạn học cùng lớp cùng trường, ai cũng thương mến chị, và xem chị như là đại diện Khóa II của Viện Hán học, vì ngoài việc chăm chỉ học hành, chị còn là người tham gia công việc chung của lớp, của trường suốt 05 năm cho đến khi tốt nghiệp (1965).
Ra trường, chị được bổ dụng về dạy trường Thạnh Hòa (Kiên Giang). Nơi đây chị gặp anh Võ Văn Minh đồng nghiệp và kết duyên cầm sắt. Sau đó chị cùng chồng vê dạy trường Trịnh Hoài Đức (Bình Dương), tiếp theo chuyển đến trường Hoàng Đạo (Kontum). Nơi đây anh Minh được đảm nhiệm chức Trưởng Ty Giáo Dục Kontum.
Vào Tháng Ba 1975 chị phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản ở Kontum chạy về Sài Gòn sống chung với cha mẹ trong ngôi nhà cấp bốn. Sau ngày 30/4/1975, chồng của chị bị "Đi tù Cải Tạo" vì thuộc Chính Quyền VNCH. Thời gian này chị vô cùng vất vả. Chị vừa phải nuôi chông "tù cải tạo" vừa phải nuôi hai người em cũng bị "tù cải tạo" và 6 người con còn nhỏ, đứa thì đang tuổi cắp sách đến trường, đứa còn nằm ngữa.
Sau mấy năm tù, anh Võ văn Minh được tha về... Chị đã thu vén và gom góp tiền bạc cho anh vượt biên. Cuộc vượt biển thành công, anh định cư tại Hoa Kỳ... Khoảng 1989, khi có chương trình "ODP" anh Minh đã bảo lãnh cho vợ con qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Bây giờ các con của Anh Chị đã học thành tài, có việc làm tốt và ổn định tại tiểu bang California.
Từ năm 1994, 1995, tôi (NLT) và gia đình được đinh cư tại Hoa Kỳ (Nam California) theo diện Cựu Tù Nhân Chính Trị... Tại Mỹ tôi hân hạnh gặp lại cụ Võ Như Nguyện từ Pháp qua thăm con cháu sau mấy mươi năm xa cách. Cụ cho tôi địa chỉ của Võ Hồng Phi. Từ đó, chúng tôi đã liên lạc được với Chị Nguyễn Thị Cam... Chị Nguyễn Thị Cam và Võ Hồng Phi là hai người tích cực liên lạc được nhiều anh chị em ngày xưa và chúng tôi đã tổ chức được nhiều lần gặp gỡ Cụ Nguyện , cũng như đón tiếp GS Nguyễn Văn Dương từ VN qua thăm... Chị Cam luôn luôn là cột trụ của anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học hải ngoại. Những dịp vui, buồn trong gia đình anh chị em, đều có mặt đông đủ... Tôi rất hân hạnh được trở thành người đại diện anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học hải ngoại.
Cách nay khoảng sáu tháng (tức vào tháng 9/2025) anh Võ văn Minh chồng của Chị Nguyễn Thị Cam qua đời... Thời gian đó, Tôi bị bệnh nặng, phải vào bệnh viện, giải phẫu... mới về nhà, tiếp tục chữa bệnh nên không tham dự đám tang anh Võ văn Minh được... Thế rồi lại được tin Chị Cam đau nặng và qua đời ngày 18/3/2026. Thật bàng hoàng và đau buồn vô cùng.
Tôi (NLT) đang đau nằm một chỗ, không thể đến tiễn đưa chị nên tôi viết mấy lời tiễn bịệt Chị.
Nguyện cầu anh linh của Chị được tiêu diêu cõi Phật... vợ chồng đoàn tụ... gặp lại cha me, ông bà, tổ tiên đã khuất... Anh chị em chúng tôi vô cùng buồn thương vì mất đi một người bạn, người Chị đạo đức... Hình ảnh "Chị Cam" vui vẻ, năng nổ hiện hữu mãi trong lòng của chúng tôi.
Xin vĩnh biệt chị.
Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026
Nhớ Xưa- Ngày Tết Tết Thầy ( vhp.Hạ Vũ)
Nhớ Xưa- Ngày Tết Tết Thầy
vhp.Hạ Vũ
Nhớ xưa... nhưng không xưa
lắm, mới hơn nửa thế kỷ thôi, mà tôi tưởng chừng như mới hôm nào.
Ngày đó
chúng tôi là một nhóm nam nữ gốc gác Miền
(Linh mục Cao Văn Luận đọc diễn
văn khai mạc Niên Khóa 1961-1962)
Cái Tết đầu tiên mà chúng tôi xa
nhà, nếu nhớ không lầm, là vào năm học thứ ba. "Cư dân Xóm
Trong" của tôi chỉ có ba người mà Ngân thì "bay" về
Sài gòn với gia đình trước đó vài ngày rồi, chỉ còn lại Ngọc Minh và tôi.
"Xóm Ngoài" cũng chỉ còn vài ba người gồm luôn cánh
chim đầu đàn là chị Hai Cam. Hai "xóm nhà lá" này cùng
một số nam sinh viên gốc Miền
Huế những năm đó ăn Tết không tưng bừng pháo nổ, không "ngựa
xe như nước áo quần như nêm," (Truyện Kiều của Nguyễn Du) không rộn
rã, ồn ào, náo nhiệt như Sài Gòn. Huế trầm lặng. Huế ấm
cúng. Huế của gia đình. Ngày Mùng Một, bà chủ nhà dẫn hai con đi chúc
Tết người thân thuộc. Minh và tôi buồn muốn khóc, nhưng sợ xui bèn
"ngậm cười" nơi... Bến Ngự(!) Sau một lúc hối hận vì đã
không về Sài Gòn ăn Tết với gia đình, tôi đưa đề nghị:
- Người ta Mùng Ba Tết Thầy, mình cứ "Tết Thầy" cả ba
Mùng luôn đi.
Ngọc Minh đáp:
- Mình biết tim đen của Phi rồi. Muốn
"ăn chực" thì cứ nói thẳng đi. Mình có bánh mứt... làm quà
cáp hay không mà ra điều... Tết Thầy... Học trò có tình có nghĩa dữ...
a... a...!!!
Tôi cố chống chế:
- Thì Chúc Thầy... Các thầy biết tụi mình học trò nghèo,
Tết xa nhà buồn, mang quà đến còn bị rầy thêm. Tình nghĩa là quan trọng nhất.
Minh đưa thêm một thắc mắc:
Hôm nay Mùng Một, coi chừng "xông nhà" đầu năm...
không hạp thì phiền lắm đó.
- Thầy mình Tây Học mà, không tin dị đoan đâu.
Minh lý giải:
- Ờ... ờ... Tên Minh của tui có
nghĩa Sáng Rực. Mặt trời và Mặt Trăng ráp lại với nhau thì còn
gì sáng bằng.(1) Vậy nếu là người "xông nhà" thì tốt quanh
năm à nghen.
(Chú thích 1: Theo chữ nho Minh 明 là
do hai chữ Nhật 日 & Nguyệt 月 ghép
lại).
Tôi chọc:
- Chứ không phải Ngọc Minh 玉 冥 là
viên ngọc giả cho nên mờ mờ (2)
(Chú thích 2: minh 冥 còn
có nghĩa là mờ mịt, tối tăm trong chữ u minh).
Minh phản kích:
- Thôi, mình không đi chung với Phi đâu. Hai đứa Phi
Minh(3) bước vô nhà Thầy thì "chẳng sáng sủa" cả
năm.
(Chú thích 3: Phi 非 : có
nghĩa chẳng phải ví dụ: phi lý 非 理 .
Phi còn có nghĩa là trái, phản nghĩa với phải như trong chữ thị
phi 是 非 .)
Tôi cự nự:
- Bậy! Phi 飛 của mình có nghĩa là
bay. Cụ Bột dạy sử Trung Quốc cho nghĩa tên Hồng Phi 鸿 飛 của
mình là "cánh hồng bay bổng tuyệt vời." Cụ
bảo: Chim hồng là loại chim bay cao và xa, ý chỉ người có chí lớn.
Minh cười ha ha ha... xong "phán":
- Đúng rồi. Cụ Bột già vậy mà thấy rõ chí trên đầu của
bạn. Thế thì nó phải lớn lắm rồi, ai chả biết!!!
Tôi đưa đề nghị:
- Thôi đi! Đầu năm đầu tháng, nói bậy bạ không hà. Tính
chuyện ba ngày Tết này đã. Trong mấy ngày Tết, O bán Bún Bò dạo
mỗi tối, "ân nhân cứu đói" của bọn mình, bận
ở nhà vui Xuân với gia đình, không đi bán mô. Bọn mình đói rả họng.
Chúng ta ra "xóm ngoài" xem có tổ chức ăn uống chi
không để ăn ké.
- Mới ăn Tất Niên hôm qua rồi, tổ chức gì nữa. Chị Hai Cam
sợ gãy móng tay khi làm bếp, không nấu nướng từ lâu rồi. Bọn mình mặc áo đẹp
vào, rũ nhóm ngoài cùng đi chúc Tết các thầy.
Thế là chúng tôi lôi áo đẹp ra mặc. Trong lúc tôi
còn đang loay hoay thay xiêm đổi áo, thì nghe Minh reo:
- A! Chị Hai
(Chú giải 4: Cam 甘 có nghĩa là ngọt, cũng có
nghĩa là đành chịu).
Chị Hai Cam bước vô hỏi:
- Hai đứa định đi đâu đó, cho tháp tùng với. Mấy đứa ngoài
đó đi chùa Thiên Mụ rồi. Chùa này mình đã đi nhiều lần nên chán. Ở nhà
buồn quá bèn tìm hai đứa để tán dóc cho vui.
Minh hí hửng đáp:
- Có chị tới thì tốt quá: Ngọt Ngào đi trước, Rực
Rỡ tiếp theo, Chí Lớn vào cuối.
Chị Hai ngơ ngác hỏi:
- Minh nói gì dzậy?
Tôi giành nói:
- Đi xông nhà các thầy:
- Có đem thiệt không đó hay ăn Tết chực?
Tôi nhỏ giọng:
- Thôi mà chị... Mình mang tư tưởng tốt
và lời chúc đẹp vào nhà thầy là được rồi.
(Thầy Phan Văn Dật (thứ 2 từ trái) & Môn sinh VHH)
Cả ba lên xe đạp vào Thành Nội, đến chúc Tết Thầy
Giám Học trước. Nói tới Thầy họ Phan này là phải nói tới
sách, e rằng sách của Thư Viện Huế cũng không bằng. Chỗ nào trong
nhà cũng có sách, toàn là sách quý hiếm, phần lớn được viết bằng
chữ Pháp và chữ Hán. Học trò hay bất cứ bạn bè nào cần là Thầy sẵn
sàng cho mượn. Sau 1975 Thầy bị đứa học trò thời học Quốc Học
với Thầy, thuộc loại "nằm vùng" và là một trong ba tên đồ
tể khét tiếng ác ôn năm Mậu Thân 68 ở Huế, lừa lấy gần hết, Nhờ đó bây giờ anh
ta trở thành nhà Nghiên Cứu Huế. Thật xót xa cho Thầy!
Thấy chúng tôi tới chúc Tết, thầy vui
vẻ thân ái bảo người nhà dọn ra đủ thứ bánh, kẹo, mứt, bánh
chưng, dưa món... Ba đứa tuy bụng đói mà cứ giữ kẻ, ăn như "mèo
liếm." Khi ra về tiếc hùi hụi: "bánh chưng ngon quá, phải chi
ăn thêm miếng nữa cho đỡ thèm!"
Chị Hai
- Nữ thực như miêu mà... không lẽ thực
như hổ thì làm sao "yểu điệu thục nữ" để "quân
tử hảo cầu!" cho được! Thôi, đừng tiếc nữa, lo đi
tiếp.
(Thầy Cô Võ N Nguyện và cựu môn sinh VHH -2000)
Chúng tôi tiếp tục lên đường, tiến về Bao
Vinh, hướng nhà thầy Phó Giám Đốc họ Võ. Vừa bước
vào cổng nhà cũng là lúc Thầy và Cô cùng đứa con nhỏ chuẩn bị
"xuất hành đầu năm." Ba đứa nhìn nhau ngầm ý: kiểu này là
đói! Chúng tôi vội vả chúc Tết. Chưa nói hết câu thì cô hỏi:
- Các O nì, có muốn đi chùa lễ Phật và xin lộc đầu năm
không? Muốn thì vô xe, còn ba chỗ trống đủ cho ba O.
Ba cái miệng đồng reo:
- Dạ, muốn... muốn... muốn...
Miệng nói, chân mau mắn theo Thầy Cô vào xe, chỉ sợ
Thầy Cô đổi ý. Ở Huế lúc đó cả tỉnh chỉ có một vài người
có xe hơi nhà. Thầy Phó Giám Đốc là một trong số đó. Chúng tôi được ngồi
xe hơi nhà với gia đình thầy cảm nhận ấm cúng vây quanh và sung sướng
vì thấy mình được coi như con cháu trong gia đình.
Thầy tự lái xe lên chùa Châu Lâm.
Theo Thầy Cô, ba đứa lễ Phật hết bàn này đến bàn khác. Sau đó, trong khi
Thầy Cô đàm đạo với sư Trụ Trì thì ba đưá chúng tôi dạo quanh chùa mà quên mất
nỗi "buồn vào hồn..." có tên... "Nhớ
Nhà." Chùa này vào ngày Mồng Một Tết, khách thập phương đi lễ
không đông lắm, và phần đông không ai ở lại ăn Cơm của Chùa, do đó chúng tôi
ăn cơm chùa no bụng. Cơm chay, không cao lương mỹ vị
sao mà ngon chi lạ! Lúc về nhà thầy, chúng tôi được Cô gói cho vài cái
bánh chưng. Thế là ngày Mồng Một Tết được lộc của Chùa và của
Thầy. Hên suốt năm.
(Cha Thích và các môn sinh VHH)
Trên
đường về lại chỗ trọ, chúng tôi đến chúc Tết Cha Thích. Đến nhà Cha không
lúc nào là không có bánh kẹo. Vườn sau nhà của Cha là Vườn Trẻ cha
lập. Cha thuê một cô mẫu giáo để trông coi và dạy
dỗ một số trẻ em. Do đó bánh kẹo không hề
thiếu ở nhà Cha. Vườn Trẻ có nhà Thủy Tạ với hoa và
cây kiểng rất đẹp mắt, vừa để thư giản vừa làm chỗ chơi cho đám con
nít. Cha sáng tác các bài nhạc cho thiếu nhi. Lúc rảnh rổi cha chơi với
trẻ và dạy cho các cháu và cả cô giáo hát. Bài:
Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
mà chúng tôi vẫn thường hát trước đó, mãi đến
khi ra Huế học mới biết tác giả là Cha Thích. Bài này Cha đem cả vào Viện
Hán Học để cho đám sinh viên chúng tôi tuy "già đầu"
nhưng trái tim còn... con nít hát cho vui mà bớt nhớ nhà, bớt sự căng
thẳng trong học đường.
Cha có chiếc xe vận tải nhỏ, thuê tài xế đưa
rước trẻ em cho Nhà Trẻ và chở Cha đi khi có việc cần. Cha
cho biết vào ngày Mùng Hai đi nhà thờ La Vang, nếu chúng tôi
muốn đi thì sáng hôm sau đến sớm. Thế là chúng tôi nhao
nhao xin Cha cho theo. Vài anh chị em cùng quê Miền Nam nghe tin
cũng xin đi cùng, ngồi chật xe.
Nhóm chúng tôi không có ai theo
đạo Công giáo nên không biết kinh kệ gì hết. "Lạy Chúa con
là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao" cho nên vào
nhà thờ, thấy ai làm gì cũng làm theo một cách kính cẩn. Đức Mẹ
La Vang linh thiêng nổi tiếng nên chúng tôi không ai dại gì mà không
xin Đức Mẹ đủ thứ chuyện, kể cả chuyện tình gió đã thổi bay.
Tết
năm đó chúng tôi: Mồng Một có cơm Chùa, Mồng Hai được cơm
Chúa. Chúng tôi được hồng ân của cả hai tôn giáo,
vì đạo nào chúng tôi cũng thành tín cả. Bởi vậy suốt 5 năm
học chẳng những Chúa và Phật phù hộ cho ăn học tử tế, sức khỏe dồi dào, mà
còn có cuộc sống an lành.
Hôm sau lại
tiếp tục... "Mùng Ba Tết Thầy" rồi Mùng Bốn, Mùng Năm cũng Tết Thầy
luôn, và tiếp tục... nhận "lộc" từ gia đình các thầy.
Thầy - trò chúng tôi
là như thế. Có lẽ không có ngôi trường nào có được tình thầy-trò như
vậy. Người Thầy vừa là Sư vừa là Phụ. Cảm ơn ngôi trường độc nhất
của Việt Nam Cộng Hòa được sinh ra do Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chết theo
Tổng Thống họ Ngô này, chỉ "sống" được vỏn vẹn 6 năm:
Viện Hán Học Huế (1959 - 1965).
vhp.Hạ Vũ
Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025
Món Quà Giáng Sinh Năm Xưa - Vhp.Hạ Vũ
Bà Hồng dẫn hai đứa cháu: một gái, một trai vào một trung tâm thương mại lớn ở Orange County để mua quà Giáng Sinh. Đứa cháu gái đang tới tuổi dậy thì, cho nên bắt đầu biết chưng diện, cứ năn nỉ bà dẫn đến những cửa hàng nữ trang. Đã đến cửa hàng thứ năm rồi mà cháu chưa chọn được món nào vừa ưng ý mà lại phải vừa túi tiền của bà. Chợt bà nghe cháu gái reo:
-Bà, cái "necklace" này "so pretty"! Cháu "like it".
Lối nói "nửa nạc nửa mỡ" này đã được bà nhắc nhở nhiều lần, mà cháu bà không thay đổi, có lẽ vì cháu tìm từ tiếng Việt để diễn đạt ý tưởng của mình khó khăn, nên dùng tiếng Mỹ cho nhanh. Bà giả vờ nói:
-Necklace là cái gì, bà không hiểu, cháu phải nói tiếng Việt Nam bà mới biết.
-Thì... là... cái sợi dây mình "mặc" ở cổ.
-Cháu phải nói cho đúng là: sợi dây chuyền đeo nơi cổ.
Con bé lập lại, rồi nắm tay bà dẫn tới quầy trưng bày, chỉ một sợi dây chuyền. Nhìn sợi dây này, tim bà chợt đập loạn nhịp. Sợi dây này sao giống sợi dây chuyền quà Giáng Sinh ngày xửa ngày xưa của bà, chỉ khác một chút là sợi dây này làm bằng vàng trắng, còn sợi của bà bằng vàng 14K. Sợi dây chuyền kỷ niệm đó đã đem đến niềm vui nỗi buồn cho bà. Bà đã gắn bó với nó một thời gian dài và đã chôn nó sau vườn vào một ngày pháo đỏ rộn sân nhà...
Một quá khứ vừa buồn vừa đẹp ngủ yên mấy chục năm, bừng sống dậy...
***
Năm đó, cô gái Sài Gòn là Hồng ra Huế học năm cuối Viện Hán Học có thêm mục chi tiêu mới: viết thư qua Mỹ cho Đông, một anh "người dưng khác họ" của nàng, đang thụ huấn nghiệp vụ lái máy bay. Thế nên nàng phải tiết kiệm tối đa, lại nhịn ăn sáng, quà vặt để có tiền mua tem mà gởi thư. Thư từ cho nhau phải mất thời gian dài mới đến. Nơi quê người, nhớ quê hương, Đông đành làm người thua cuộc trước cái đỏng đảnh của Hồng. Anh viết thư thường xuyên dù có hay không thư của nàng. Những lá thư tình chưa ngỏ đã cho nàng một cảm giác ngọt ngào chi lạ.
Đông kể chuyện đời sống khác lạ, văn minh, tươi đẹp nơi quê người. Anh vẽ tương lai đẹp đẽ với ngày về góp phần bảo vệ Tổ Quốc, chặn làn sóng đỏ, để cho người dân xây dựng đất nước và nàng an lành góp công sức đào tạo thế hệ trẻ cho Tổ Quốc. Nàng kể cho anh nghe nơi quê nhà đang như dầu sôi lửa bỏng. Sinh viên, đồng bào Phật tử Huế xuống đường chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm về vụ Phật Giáo.
Cha mẹ nàng đã thư từ khuyên lơn hầu như năn nỉ nàng đừng tham gia xuống đường với lý do gia đình ở quá xa, lỡ nàng có chuyện gì không may hay tù tội, ông bà làm sao lo cho được. Đông cũng khuyên nàng cẩn thận, coi chừng bị lợi dụng. Cả đám nam nữ sinh viên gốc Miền Nam không ai tham gia biểu tình hoan hô đả đảo cùng với sinh viên Huế, nàng nghĩ lý do này là một lý do quan trọng trong các lý do cá nhân khác.
***
Năm đó không có Lễ Khai Giảng vào mùa tựu trường. Nàng đang cùng với đám bạn đứng lóng nhóng ở sân trường, thì Cẩm Vân kéo nàng ra một góc vắng nhỏ giọng:
- Thầy Phó Giám Đốc của chúng ta bị bắt vào tù cùng với toàn thể Khoa Trưởng các Phân Khoa Đại Học Huế. Nghe đâu hồi tháng 8 - 1963 vừa qua các vị cùng với các giáo sư đại học ra tuyên cáo chống Chính Phủ vụ Phật Giáo và đồng loạt từ chức để phản đối. Còn Linh Mục Viện Trưởng Cao Văn Luận thì bị bãi chức. Tất cả các phân khoa của Đại Học Huế tạm thời đóng cửa và trường của chúng ta cũng vậy.
Cẩm Vân lớn nhất trong đám nữ sinh viên gốc Sài Gòn nên được "phong chức" chị Hai và "Cố Vấn Tối Cao" cho đám em khác họ này. Nàng liền xin ý kiến:
- Mình làm sao bây giờ, chị Hai? Về Sài Gòn hay ở lại đây chờ?
- Từ từ, chờ xem sao đã.
Nàng góp ý với chị:
- Đám sinh viên đang xuống đường phản đối vụ bắt giam này. Chắc lần này bọn mình phải tham gia, chứ không lẽ...
- Ừ, phải tham gia để ủng hộ các thầy của mình. Mặc kệ, tới đâu hay tới đó.
Thế là nhóm sinh viên nam nữ gốc Sài Gòn cùng đám sinh viên của Viện Hán Học nghỉ học, xuống đường rùm beng. Đại học Huế đang đứng chênh vênh trên miệng hố. Toàn thể sinh viên như rắn mất đầu, không biết tương lai đi về đâu.
Hai tháng trôi qua... Tiếp theo là cuộc Đảo Chánh xảy ra ngày 1-11-1963 lật đổ Chính Phủ Đệ Nhất Cộng Hòa. Hôm sau Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu bị thảm sát. Cuộc Đảo Chánh thành công. Các thầy được thả ra. Đại Học Huế mở cửa trở lại. Sinh viên lại tung hô vang trời. Riêng nàng lặng lẽ mặc áo dài trắng ba ngày, để tang cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cha đẻ của Viện Hán Học. Nàng không dám thố lộ cho ai biết, trước khí thế hăng say của người dân xứ Huế.
Trong mấy tháng xuống đường ủng hộ các thầy, không phải thức đêm học hành, nàng được rảnh rỗi mặc sức cho tình thư như bươm bướm bay. Khi Đại Học mở cửa trở lại, lễ Giáng Sinh cũng sắp đến. Không khí ngày lễ ở Huế năm ấy trầm lắng, không rộn ràng như mọi năm. Vừa xong một lớp ở Văn Khoa, nàng vội vàng phóng xe về nhà để xem có thư không. Niềm vui của những sinh viên xa nhà là đọc thư gia đình và thư người yêu. Khi nàng vừa bước vào nhà, Cẩm Vân đưa cho nàng tờ Giấy Báo Lãnh Quà:
- Có quà từ Mỹ nè! Sắp hết giờ làm việc rồi, chạy ra Bưu Điện gấp đi.
Chưa kịp nghỉ ngơi, Hồng lên xe đạp vọt lẹ. Bưu Điện vào những ngày gần lễ lớn lúc nào cũng đông, nhưng vì gần hết giờ làm việc nên nàng không phải chờ đợi lâu. Sau khi nhân viên kiểm tra gói quà xong, nàng gói lại cẩn thận, lòng phơi phới vì được quà của Đông.
Trên đường về nhà trọ, nàng nhớ lại kỳ nghỉ hè vừa rồi, nàng và Minh Tuyết đi xe đò về Sài gòn. Đất nước chiến tranh, giao thông đường bộ không an toàn và xe đò không chạy vào ban đêm nên hai đứa chúng tôi tạm ghé Nha Trang ở nhờ nhà một người bạn gốc Nha Trang ra Huế học Văn Khoa chung lớp với Minh Tuyết, và sẵn dịp ngắm cảnh thiên nhiên cùng những di tích nổi tiếng đẹp nơi này.
Sáng sớm hôm sau Chúa Nhật, chúng tôi thả bộ dọc bờ biển vừa hứng gió mát vừa đi đến quân trường Không Quân, nơi Quân, người anh họ thân thiết của Hồng, đang thụ huấn quân sự. Dọc đường các sinh viên sĩ quan trong quân phục thẳng nếp cùng với các tà áo dài muôn màu sắc bay phấp phới song hành trông tình tứ lãng mạn làm sao! Cổng quân trường đã có nhiều người hùng đang lượn qua đảo lại chờ giai nhân. Thấy anh mình từ xa, Hồng vừa cười, vừa líu lo kêu tên, vừa nhảy chân sáo tiến tới định nắm lấy tay anh, bỗng... nàng khựng lại. Bên cạnh anh, một anh chàng dong dỏng cao, đầu húi gần như trọc, da sạm nắng gió Nha Trang, đang nhìn nàng với ánh mắt cười cười một cách thú vị. Một cú giáng bất ngờ! Anh ta không chờ giới thiệu, lên tiếng trước:
- Chào cô bé, tôi tên Đông, hân hạnh được quen biết với Hồng. Tôi là bạn thân với anh cô, nên mạn phép gọi cô là em.
Một cú giáng thứ hai! Hồng tròn mắt nhìn anh ta, nàng vừa ngạc nhiên vì anh biết tên nàng, có lẽ anh Quân của nàng làm "mai dong" đây, vừa giận trong lòng vì không những anh dám gọi mình là cô bé, mà còn đòi gọi là em nữa chứ. Hồng xẵng giọng trả lời cộc lốc:
- Không dám!
Trả đủa được một, nhưng Hồng vẫn còn ấm ức vì anh ta vẫn dẫn đầu một bàn. Hồng quay sang anh Quân, hạ giọng ngọt ngào hơn ngày thường:
- Anh Quân nè, đây là Minh Tuyết người bạn ăn cùng mâm, ngủ cùng giường... ơ ... ơ, không phải... cùng bộ ván gỗ... thì đúng hơn, với em suốt mấy năm nay.
Anh chàng Đông vẫn với nụ cười mỉm trên môi, lịch sự xen vào chào trước.
- Chào cô Minh Tuyết, hân hạnh được làm quen với cô.
Thật là dễ giận, gọi Minh Tuyết là cô rất lịch sự, còn nàng là cô bé. Anh ta lại dẫn đầu hai bàn nữa rồi!
Được dịp, Hồng vớt lại một bàn:
- Không biết. Xin phép anh Quân của em í.
- Keep in touch (Giữ liên lạc), nghe em.
Chua choa ơi, lại xổ tiếng Anh. Tuy học Anh Văn là sinh ngữ hai, nhưng Hồng không đến nỗi tệ để không hiểu được nghĩa câu nói đó. Nàng "thừa thông minh" để hiểu được cả ẩn ý của anh chàng nữa. Nàng vớt thêm một bàn để thủ huề, liền ra vẻ ngu ngơ hỏi:
- Anh Đông nói gì, em không hiểu. Em học chữ Nho và sinh ngữ Pháp mà.
Có lẽ anh ta hiểu con gái nói có là không, nói không là có, nói vậy không phải vậy, nên anh lại cười cười đáp:
- Để anh Quân giải thích cho em.
*****
Lãnh quà xong, từ Bưu Diện về, vừa bước vào nhà, cả bọn xúm lại đòi xem. Chị Hai lên tiếng trước:
-Hồng này, mở ra mau, đừng sợ bọn mình xem rồi bị mất màu.
Ngọc hóm hỉnh xen vào:
- "Em" còn đang thưởng thức hương vị tình yêu đang quẩn quanh quấn quýt bên mình. Anh chàng này có cái tên nghe sao như có mùa Xuân với màu vàng rực rỡ của hoa mai lẫn màu vàng thơ mộng của lá mùa Thu đang len lén vào hồn... ai dzậy.
Một người chen vào nói:
-Xuân đâu mà Xuân, Đông mà. Đã tên Đông, gặp mùa đông bên Mỹ, chỉ còn có nước nằm co ro đắp mền, ngâm "bạch tuyết thi," làm gì có hoa mai mà ngắm.
Ngọc cãi lại:
- Đông là hướng Đông. Hướng Đông tượng trưng cho mùa Xuân.
Chị Hai xen vào:
- Đông Tây Nam Bắc, Xuân Hạ Thu Đông gì cũng được cả. Đừng cãi lung tung nữa, để nó mở ra xem.
Rồi cả đám hát ghẹo:
- "Mắc cỡ gì mà chẳng chịu lẹ giùm..."
Hồng đành mở hộp quà trước sự nôn nóng và tò mò của các bạn. Một sợi dây chuyền vàng nhỏ rức với mặt hình phụ nữ bán thân màu trắng ngà nổi bật trong hộp trang sức nền nhung đỏ thẩm. Hồng đang xúc động nói thầm: "Cám ơn anh, sao anh khéo chọn món quà thế" thì có tiếng cười rúc rích của Ngọc vang lên. Vẫn là Ngọc, người lúc nào cũng vui tính, có óc khôi hài, nói như reo:
- Sợi dây chuyền này nằm trên chiếc cổ nõn nà của... em thì... chao ôi... tuyệt...! Câu nói này làm cho Hồng thêm thích thú. Sợi dây chuyền vừa xinh đẹp, vừa lạ mắt, chưa chắc đám con gái trong lớp và ngay cả đám con gái trong xóm có được một sợi giống như vậy, vì nó được mua ở Mỹ mà dạo đó rất hiếm người được xuất ngoại. Đang sung sướng ngắm nghía món trang sức, Hà, khóa đàn em, tò mò hỏi:
- Anh chàng Không Quân này là người yêu của chị phải không? Bí mật dữ nghe! Em ở chung nhà với chị bao lâu rồi mà không biết.
Nàng e lệ đáp nhỏ:
-Không phải là người yêu đâu. Bạn thân của ông anh Không Quân của chị đấy. Anh ấy chỉ coi chị như em thôi mà.
Ngọc, lại là Ngọc, lém lỉnh cắt lời:
- Chao ôi! Anh mi cũng khéo kiếm người để... làm anh của mi dữ hí.
Chị Hai nói xen vào:
Tặng quà’ cho gái có đòi được không?"
Ngu sao mà trả. Đừng trả nghe, Hồng.
Hai người tiếp tục thư từ qua lại cho tới khi nàng ra trường nhận sự vụ lệnh bổ nhiệm dạy học tại Kontum, một tỉnh lỵ giáp ranh ba biên giới: Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên. Nàng vội thông báo địa chỉ mới của nàng, nhưng muộn rồi. Lá thư đó được hoàn trả, vì anh mãn khóa học đã về nước. Anh nhận nhiệm sở và ra đơn vị hành quân.
Anh không tìm nàng thì nàng tìm anh. Nàng đã nhờ anh Quân của nàng tìm địa chỉ KBC của chàng để gởi lá thư mà nàng đã bỏ nhiều tâm tư và thời gian viết đi viết lại nhiều lần mới xong. Người anh của nàng một phần vì bận việc quân, một phần vì bận việc tình cảm với "người dưng khác họ" nên nửa năm sau... nàng chết lặng khi nghe anh nàng báo tin chàng đã hi sinh trong một phi vụ tiếp tế, để lại cho nàng một bức thư viết còn dang dở. Tai nàng lùng bùng với lời anh Quân của nàng xin lỗi: "Anh... đã vô tâm, vô ý... đã hẹn lần hẹn lữa, không tích cực tìm hỏi địa chỉ KBC của nó cho em. Anh đã đánh mất thời gian quý báu ngắn ngủi của hai người. Anh chỉ biết có anh mà quên mất nó cũng như anh: tính mạng mong manh treo đầu ngọn súng. Anh thật tệ! Anh xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi..."
Nàng ân hận tự trách, rồi trách Trời trách Đất. Không biết bao nhiêu đêm nàng thì thầm với anh: "Xin lỗi anh, em đã không biết anh đến tìm gặp em ngày đó. Nếu biết, em đã bỏ mặc đám bạn bè rồi. Sao anh đi luôn? Sao anh gấp gáp bỏ em, bỏ tuổi thanh xuân, bỏ cuộc đời, để em không có được một cơ hội nói lên lời xin lỗi và cám ơn anh? Có phải anh để em mắc nợ anh, một món nợ ân tình không thể nào trả được ở kiếp này, vì anh muốn em phải trả cho anh ở kiếp sau?"
Khi anh ngủ yên trong lòng đất mẹ, nàng mới biết đơn vị của anh là vùng II Chiến Thuật, phi đoàn của anh đóng ở Pleiku. Kontum - Pleiku gần nhau gang tấc nhưng hai người lại xa cách muôn trùng! Nàng quay ra trách Ông Trời: Đã không duyên không nợ thì cho anh và nàng gặp gỡ làm chi, để mỗi lần nghe tiếng trực thăng bay trên bầu trời là nàng đưa mắt dõi theo, bất kể lúc đó nàng đang thao thao trước mấy chục học trò hay nàng đang nằm ru giấc ngủ. Nàng trách Ông bất công với những người trai nước Việt cùng thế hệ với nàng. Ông đã nhẫn tâm xuống tay, sớm cắt đi mạng sống của những thanh niên ưu tú nước Việt trong đó có anh, khiến nàng trải qua rất nhiều đêm rơi nước mắt cho mối tình đầu đời vừa chớm nở, đã vội vã ra đi.
Và... nàng đã nâng niu gìn giữ sợi dây chuyền đó, tất cả thư từ đã gởi và thư dang dở của Đông, cùng lá thư không kịp gởi của nàng cho đến ngày vu quy. Thư nàng đốt. Dây chuyền nàng chôn cùng với nước mắt ở cạnh gốc cây mai của gia đình. Bây giờ thì nàng đang tiếc nuối: Sao lại chôn?! Sao không giữ nó cho đến cuối cuộc đời?!
***
Đang thả hồn về quá khứ, cháu bé lay tay nàng nói:
-Bà! Con thích "cái" dây chuyền này.
-Được rồi. Yên chí, cháu sẽ có một sợi.
Bà bảo cô bán hàng gói hai sợi. Đứa bé ngạc nhiên hỏi:
-Sao lại hai sợi, bà mua cho "my Mom" nữa hả?
-Không. Bà mua cho bà, cháu à.
Vhp.Hạ vũ