Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

Bài 6; Lưu Biệt Thời An Quảng, An Hưng ngụ thứ, thơ chữ nôm Hồ Xuân Hương / Ngân Triều chú giải.

 

                              

Lưu Biệt thời An Quảng, An Hưng ngụ thứ, thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trích trong Lưu Hương ký; Ngân Triều chú giải.


Bài số 6:
Lưu Biệt Thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ
Hồ Xuân Hương

*
Người về người ở khéo buồn sao,
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Đá vàng lòng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,
Mở mắt chờ xem bóng nguyệt cao
Sớm biết lẽ giời tan có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.

*
Tiêu đề: Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.
Thư Viện Online
*
Văn bản chữ Nôm, Ngân Triều soạn:

留 别 時 在 安 廣 安 興 寓 次
𠊚 衛 𠊚 𣄒 呌 𢞂 牢
即 最 𨉟 咍 别 𨤧 芾
絲 𩯀 𠳒 箕 群 女 盡
𥒥 鐄 𢙱 奴 折 𪜀 包
浽 𩂀 𥢆 恨 𣈜 𡗶 𥐆
𨷑 眜 除 䀡 䏾 月 高
𣋽 别 𨤧 𡗶 離 𣎏 合
時 辻 𢆥 𠓀 𢏑 之 芾
*
Chú giải
tức (1) 即, đau nghẹn, khó thở, nghĩa rộng: giận, bực không thể nói ra được, làm cho khó chịu, như tức mình 即 𨉟; tức tối 即 最 .
tức (2) 即, bí, bực, chẹt như Áo may chật, mặc tức nách; Tức nước vỡ bờ.
tơ (1) 絲 , sợi tơ do con tằm nhả ra.
tơ 絲 (2) chuyển nghĩa, chỉ cây đàn:
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím nầy
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 741-742

tơ 司 (3), non trẻ:
Những từ sen ngó đào tơ,
Mười lăm năm , mới bây giờ là đây!
Sđd, câu 3137-3138.

Tơ duyên 絲 縁, sợi tơ buộc đôi trai gái với nhau như tơ đào:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Sđd, câu 751-752.
tơ hồng 絲 紅,sợi tơ màu hồng; loại dây leo nhỏ có sắc vàng mọc quanh bờ tre, bờ giậu. Lễ tơ hồng là lễ tế vị thần tơ hồng tức là Nguyêt Lão, vị thần xe duyên cho trai gái ở thế gian.
tơ liễu 絲 柳, cành liễu rũ xuống mượt như những sợi tơ.
tơ lòng 絲 𢙱, tấm lòng yêu nhau ví như những sợi tơ, quấn quít lấy nhau; nỗi nhớ thương trong lòng.
tơ mành 絲 𥯋,sợi tơ mỏng mảnh:
Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho ra.
Sđd, câu 243-244.

tơ tóc 絲 𩯀 = tơ liễu, 絲 柳,vật gì hoặc loại hình nhỏ và mượt.
đá vàng 𥒥 鐄,vàng và đá, ẩn dụ tình yêu bền chắc, mãi mãi không phai:
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân.
Sđd câu 421-422

(giải kết, 解 結, chia cắt mối tình đã giao ước, hẹn thề.)
Do hai câu thơ cổ:
Thương thiên nhược giải đồng tâm kết,
Kim thạch vi minh ngã dữ quân.

蒼 天 若 解 同 心 結
金 石 爲 𧖽 我 與 君
*
Tạm dịch:
Trời xanh dẫu xóa lời giao kết,
Vàng đá bền gan, thiếp với chàng.
hoặc:
Dẫu rằng Trời bỏ đồng tâm,
Đôi ta nguyền kết trăm năm hẹn thề

*****
Diễn ý bài thơ:
(1-2). Tâm trạng người ở lại.
(3-4-5-6), Tố chất của người ra đi và nỗi lòng khát khao bên nhau.
(7-8), Tiếc nuối thời gian gặp nhau muộn màng.
*
Ngân Triều dịch thơ:
Buồn lòng cho kẻ ở người đi.
Rất bực sao chưa rõ nỗi gì!
Còn hết lời kia nghe ngọt lịm,
Thủy chung lòng nọ vẹn tương tri.
Gặp nhau luống giận ngày trời ngắn,
Lúc hẹn hằng mong bóng nguyệt trì.
Nếu biết lẽ trời tan lại hợp,
Thì mười năm trước, bận lòng chi!

***
Ảnh minh họa bài 6:
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Đá vàng lòng nọ xiết là bao.

                                                               

Ảnh minh họa bài 6, Google.








Không có nhận xét nào: