Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Sáu Nhịp Trường Tiền - Vhp.Hạ Vũ

            Sáu Nhịp Trường Tiền

Trước ngày nhập học một tuần, ba cô Cẩm Vân, Ngọc, và Hồng hành trang lên đường  chung với nhau, còn Ngân Trang đi máy bay, Minh Tuyết nhập học sau.  Tại nhà Ga Sài Gòn, sau khi nước mắt ngắn nước mắt dài chảy ướt cả khăn tay, ba cô đành tiến đến xe lửa.  Đang quyến luyến với gia đình, chưa muốn bước lên cửa toa  thì một bà mẹ miền Nam tiến tới hỏi thăm:
-Chào các cháu.  Các cháu đi đâu vậy?
Chị Cẩm Vân, người lớn tuổi nhất trong năm đứa, được các cô "phong chức" Chị Hai, trả lời:
-Thưa bác, chúng cháu đi Huế học.
- Có phải các cháu học Viện Hán Học không?
- Thưa phải.
- Các cháu có ai quen ở Huế không?
Hồng mau mắn trả lời:
- Thưa bác, chị Hai Cẩm Vân của chúng cháu đây có người quen ở Huế.
- Vậy thì tốt quá!... Con trai bác cũng ra Huế học Viện Hán Học.  Cháu Cẩm Vân cho bác gởi gấm con trai bác cho cháu nghen.  Có gì cháu giúp đỡ nó. Nó tên  Công Đức, đứng đằng kia.
Chị Hai sau một lúc “ngậm hột thị,”  cũng trả lời, giọng yếu xìu:
- Dạ đựơc.
Ngọc thúc nhẹ vào hông Hồng, cười hí hí và nói nhỏ:
-  Chị Hai đùm bọc hai "em gái ngang hông," giờ có thêm một "em trai người dưng khác họ" để đùm bọc nữa.
Hồng hóm hỉnh thì thầm:
- Trông anh cũng lớn, cỡ tuổi chị Hai, chắc phải gọi là anh Hai.  Chị Hai "đùm bọc" anh Hai!  Gà mái thắng thế.  Biết đâu chẳng là duyên trời dun rủi!
Còi tàu rúc vang, ba cô lên xe lửa ngồi chung một băng ghế dài. Sau khi khóc đã đời vì lần đầu tiên xa nhà, Ngọc và Hồng bắt đầu rù rì chuyện bà má miền Nam chân chất, thật thà gởi gấm con trai cho một đứa con gái cũng lần đầu tiên xa nhà đến xứ lạ quê người như con bà, và cười hi hí với nhau.  Bà thương con quá mà quên mất nam nhi tính trong con người của anh Hai.  Quay lại không thấy chị Hai đâu, hai nàng đứng dậy dáo dác tìm.  Thì... ô kìa, ở cuối toa xe lửa chị đang nói chuyện với một anh khá bảnh trai, thỉnh thoảng chị cầm khăn tay chùi mắt.  
-Ê Ngọc, ai vậy mậy?
-Làm sao tao biết được.  Kiểu này có lẽ "kép chánh" rồi đây, trông có vẻ "xa chàng lòng dặc dặc buồn."
       Chợt Hồng thấy anh Hai đang thả hồn ra ngoài toa xe ở băng ghế đâu lưng với các cô có lẽ cũng đang “mơ về quê cũ xa mờ" liền khều Ngọc ra dấu.  Hai cô nín lặng ngồi xuống.
Tới ga Thủ Đức, chị Hai về lại chỗ ngồi, mắt đỏ hoe.  Nhìn lại, “chàng” biến đâu mất.  À thì ra anh đưa em một đoạn đường tình.  Hồng và Ngọc đưa mắt nhìn nhau, miệng mỉm cười "lơ lửng con cá vàng"...  Cẩm Vân nhìn thấy, xụ mặt.  Hai cô biết mình bậy bèn im lặng.  Một lúc sau Ngọc cười cầu tài và lấy điểm bằng cách mời Cẩm Vân và Hồng mỗi nguời một cái bánh ú đem theo ăn dọc đường, và... bỏ rơi anh Hai.
 Suốt đường dài, cả ba cô không nói chuyện với Đức mà Đức cũng không làm quen với các cô.  Tối hôm sau tới ga Huế, xuống xe lửa, chị Hai Cẩm Vân quên mất lời hứa miễn cưỡng chiều hôm trước.  Cả ba theo người quen về nhà, bỏ anh Hai “tự mưu sinh thoát hiểm.”
Sáng hôm sau được người quen chỉ đường, từ Đập Đá  ba cô lò mò đi dọc bờ Sông Hương, qua cầu Trường Tiền để vào Viện Hán Học đang đặt tạm tại Di Luân Đường (Thành Nội).  Sông Hương và cầu Trường Tiền là hai địa danh đi vào thi ca dân tộc.  Lần đầu tiên trong đời các cô  rất sung sướng được nhìn ngắm tận mắt dòng sông thơ mộng và đặt chân lên cây cầu lãng mạn này.
"Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Anh theo không kịp, tội lắm o ơi..,"

Câu ca dao nghe sao mà tình tứ vô cùng, bảo sao các cô không mê Huế và quyết tâm ra Huế học? 



Ngược hướng với các cô là các nàng nữ sinh Đồng Khánh, kẻ đi bộ, người đi xe đạp đến trường. Gió sông Hương mát lạnh thổi bay tà áo dài phất phơ trong gió như những cánh bướm trắng bay lượn ngợp Cầu Trường Tiền.  Các anh học sinh Quốc Học chìm lĩm trong rừng tà áo trắng.  Nữ sinh coi bộ thắng thế, hèn chi trong thơ văn chỉ ca ngợi các nàng với tà áo dài và mái tóc thề thả bay theo gió để cho mái tóc ngắn phải lò dò len lén chạy theo sau.  Hồng tò mò đếm nhịp và vài của cầu, nêu thắc mắc:
- Này chị Hai, cầu có sáu nhịp, mười hai vài.  Chị đếm lại đi, sao ca dao nói gì lạ vậy?
- Ừ nhỉ, sao lạ vậy?   Mười hai nhịp thì phải có 24 vài mới đúng chứ?
Ngọc xen vào:
- Có mấy câu ca dao này có lẽ đúng hơn:
Chợ Đông Ba đem ra góc thành,
Cầu Trường Tiền sáu nhịp bến đò Ghềnh bắc ngang.
Hay:
Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua,
Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đợi khúc âu ca thái bình.
- Ừ nhỉ, sao có sự khác biệt như vậy.  Có lẽ do vần điệu mà thay đổi cho thích hợp chăng?  Thôi,  gấp gáp làm chi.  Mai mốt hỏi thầy.
  Di Luân Đường là nơi thờ Đức Khổng Phu Tử được ngăn làm ba phòng làm thành ba lớp học bằng những tấm bình phong.  Một phòng cho khóa I lớp đàn anh, khóa II vì sĩ số gấp hai nên chia ra hai lớp.  Tất cả nữ sinh viên chọn sinh ngữ Pháp Văn hay Anh Văn cùng nam sinh viên chọn Pháp Văn vào lớp A; còn lớp B toàn nam sinh viên chọn sinh ngữ Anh Văn. Các cô chọn Anh Ngữ chỉ học vài giờ tiếng Anh một tuần chung với sinh viên lớp B mà thôi.  Có hơi bất tiện, nhưng các thầy sắp xếp lớp kiểu này mục đích hạn chế tình yêu phát sinh giữa nam nữ mà quên lo học hành(!)  Sinh viên lớp B than phiền nhà trường bất công, "lớp toàn lá không có một đóa hoa làm vốn khiến mấy chàng lớp A kênh kênh thấy ghét."   Một tấm trướng to tướng giăng ngang với bốn đại tự bằng chữ Hán: Vạn Thế Sư Biểu.  Các cột được treo câu đối sơn son thếp vàng.  Nhìn chung quanh không khí cổ bao trùm. Hồng than thầm: Than ôi, chúng ta từ Sài Gòn hoa lệ đi vào thế giới Lều Chõng của Ngô Tất Tố rồi!  Thầy của chúng ta là các cụ đồ nho vận  khăn đóng áo dài đen.  Ôi chao!  Cổ thế này ư?  Vậy thì  đâu cần ra tận Hà Nội mới thấy được:
"Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương."
(Thăng Long Thành Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

Ba nàng rụt rè ngơ ngác bước vào.  Một sư huynh khóa đàn anh nhân dịp tới trường có việc riêng thấy ba "con nai" Miền Nam đang ngơ ngác liền bước tới làm quen, xưng tên.  Lần đầu tiên nghe giọng Huế, chữ nào các nàng cũng nghe có dấu nặng và cứ ngớ ra tưởng như mình đang nghe tiếng ngoại quốc, Chàm có lẽ(!).  Đúng là "du học xứ Huế" mà!  Anh phải chậm rãi đánh vần các nàng mới biết tên anh là Lữ, không phải Lự.  Anh dẫn ba cô vào gặp thầy Phó Giám Đốc, người điều hành thật sự của trường.  Thoạt nhìn thầy bệ vệ oai nghiêm trong bộ Âu Phục trắng làm các cô càng lúng túng.  Nhưng khác với bề ngoài, thầy niềm nở vui vẻ hỏi nơi ăn chốn ở của các cô.  Sau khi biết các cô đang ở tạm nhà người quen và cần một chỗ trọ thì Thầy cho biết gần trường có một nhà dư phòng.  Chủ nhà vì nể nang Cha Nguyễn Văn Thích nên cho các cô gái xa nhà tạm trú ăn ở.  Các thầy chu đáo quá "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu" (lo trước cái lo của thiên hạ).  Các cô an tâm thu xếp tới nhà trọ. 
Ngày đầu tiên nhập môn, Hồng mới biết trình độ chữ Hán của sinh viên không đồng đều.  Cùng một lớp có nhiều người rất giỏi, có cả anh là người Việt gốc Hoa, còn đa số một chữ nhất cũng không biết.  Tuổi tác cũng không đồng đều, có người vợ con đùm đề, ngồi học chung với đám nhóc trung học mới lên.  Các sinh viên trong Nam ra, nằm trong đám i tờ chữ Hán đó, nhưng không mặc cảm thua sút và lấy câu nói của Nguyễn Bá Học làm châm ngôn khuyến khích nhau.  Những ngày đầu cầm bút lông tập viết vỡ lòng từng nét ngang, sổ, móc, mác..., Hồng thường ngắm quang cảnh các "cậu đồ, cô đồ" tân tiến ngồi trong ghế cá nhân của mình, chứ không phải khòm lưng trên chiếc chiếu mà viết "chi, hồ, dã, giả" để tự hào mình là một trong những người trẻ của thế hệ mới đang làm nhiệm vụ gìn giữ văn hóa dân tộc.  Về trang phục của các thầy, chỉ có một vài cụ cử nhân, tiến sĩ nho học mặc áo dài đen, còn đa số đều vận Âu phục.  Nơi đây, sinh viên được học đủ thứ môn thuộc về thơ, văn, lịch sử, địa lý, xã hội, triết học, sinh ngữ… từ Đông sang Tây, từ Cổ chí Kim.  Chương trình học hình như quá bao la, muốn đào tạo đám sinh viên còn ham chơi này thành các nhà bác học thông kim bác cổ, quán triệt Đông Tây.  

(Trích Truyện dài Tóc Mai, Chương I: Sáu Nhịp Trường Tiền
Tác giả Vhp.Hạ Vũ)  








                                              

HUẾ TỰA BỨC TRANH - Thơ Nguyễn Phước Ái Duyên và Thơ Họa

                       

HUẾ TỰA BỨC TRANH

Xứ Huế quê tôi tựa bức tranh

Ôn nhu lộng lẫy lại an lành

Sông Hương bóng rọi làn mây trắng

Núi Ngự tàng che đám lá xanh

Trầm mặc phơi mình đây lăng tẩm

Uy nghi khoe dáng nọ kinh thành

Say lòng lữ khách dừng chân ghé

Đẹp tự ngàn đời đó hỡi anh!

 21/9/2026

Nguyễn Phước Ái Duyên

* Ảnh: NAG Ngô Lễ -Một góc kinh thành Huế.


Thơ Họa:

   HUẾ ĐẸP NHƯ TRANH

Sông Hương núi Ngự đẹp như tranh

Vỹ Dạ thôn trang nắng gió lành

Nhịp bước Trường Tiền vui áo trắng

Đường vào Thượng Tứ mát cây xanh

Tịnh Tâm yên ả sen ngời nước

Đại Nội uy nghiêm dáng cổ thành

Nguyên khí quốc gia xưa hội tụ

Huế dù trầm mặc vẫn tinh anh

Lý Đức Quỳnh

    22/9/2026 


    HUẾ THƯƠNG

Thương Huế vô cùng lúc chiến tranh

Người dân tan tác hết yên lành

Mậu Thân, Tết ấy bom rơi đỏ

Bính Ngọ, Xuân này sắc thắm xanh

Phố cổ lung linh ngời dáng vẻ

Kinh đô thịnh vượng rạng danh thành

Du chơi ghé đến nơi thờ tự

Nến thắp, hoa bày viếng các anh!

     LAN

(23/09/2026)

 

       NHỚ HUẾ

Huế vẫn yêu kiều đẹp tựa tranh

Hương Giang êm ả sóng hiền lành.

Lờ mờ Bạch Hổ làn sương trắng

Rộn rã Trường Tiền núi Ngự xanh.

Gác phượng buồn tênh rêu phong cửa

Lầu rồng cao ngất bức tường thành.

Thả hồn quá khứ mơ màng khách

Cung nữ đâu rồi chạnh yến anh!

   Mailoc

09-23-2026

      ( Thu phân 2026 ) 


            HUẾ THƠ

Thành Cổ Huế Thơ - đẹp tựa tranh,

Sông Hương, Núi Ngự trải trong lành,

Phước Duyên - tháp đỉnh vờn mây trắng,

Vọng  Cảnh - đồi mơ  giỡn nắng xanh!

Đền Đài trầm mặc... lưu Danh Thắng,

Lăng Tẩm uy linh... ấm Cổ Thành!

Gởi Nàng phượt thủ say phiêu ngoạn,

Xứ ấy... níu về, nhớ nhắn Anh!

Nguyễn Huy Khôi

     23-9-2026

 

      TRỜI MƠ XỨ HUẾ

Dịu dàng, tha thướt đẹp như tranh

Non nước Thần Kinh… giữ mộng lành

Hàng trúc cong cong màu ngói lục

Khu vườn dịu dịu bóng cây xanh

Uy nghiêm Cửu Đỉnh trong sân miếu

Sừng sững Tam Quan trước cổng thành

Thắng cảnh hằn ghi bao dấu tích

Tiền nhân mở nước… Nhớ không anh?

Đông A

23/9/26

 

      CHỮ NHẪN

Dù trong biệt điện, túp lều tranh

Huế vẫn nên thơ toả nét lành

Vỹ Dạ hàng cau chào khói trắng

Kim Long đò nhỏ dưới mây xanh

Ngùi thương Tôn Nữ rời quê ngoại

Chợt nhớ vua yêu nước bỏ thành (*)

Lịch sử Cố Đô nhờ chữ Nhẫn

Gian truân phục quốc Hoàng Tôn Anh (**)

Kiều Mộng Hà

 Sept.23.2026

(*) vua HàmNghi

(**) Nguyễn Phước Ánh ( Hoàng Đế Gia Long)

 

        HUẾ MỘNG MƠ

Phong cảnh mơ màng đẹp tựa tranh

Huế đô trầm mặc khói xây thành

Sông Hương dòng đắm khung trời biếc

Thôn Vỹ gió vờn rẫy bắp xanh

Thiếu nữ đoan trang, lời nhỏ nhẹ

Thanh niên nho nhã, nét tinh anh

Hoàng Gia phong cách còn lưu giữ

Cuộc sống êm trôi mãi ổn lành.

  Sông Thu

( 23/09/2026 )

 

MIỀN TRUNG HUẾ ĐẸP

Miền Trung có Huế đẹp như tranh

Khung cảnh Thiên nhiên thật mát lành.

Núi Ngự̣ Sông Hương in bóng Nguyệt,

Màn đêm buông xuống ẩn cây xanh.

Kinh Đô đèn sáng trông huyền ảo...

Phía trước Tam Quan lộ cổng thành.

Thắng cảnh Thừa Thiên... Ôi Huế đẹp,

Tiền Nhân xây dựng... Đó nha Anh...

Mỹ Nga

 23/09/2026  ÂL, 13/08/ Bính Ngọ

 

      MỘT LẦN

Một lần thăm Huế cảnh như tranh

Lăng tẩm cổ xưa hiện mát lành

Núi Ngự đa tình che nắng gió

Sông Hương lơ lửng nước trong xanh

Ngồi đây tưởng nhớ hồn non nước

Phiêu bạt làn mây sà xuống thành

Một lúc mủi lòng thầm nhỏ lệ

Sử ghi vệ quốc Việt hùng anh !…

  Yên Hà

23/9/2026

 

         CỐ ĐÔ HUẾ

Cảnh quan xứ Huế đẹp như tranh

Dạo mát trời thu khí hậu lành

Thiên Mụ nghiêng đầu soi sóng bạc

Trường Tiền cúi mặt ngắm sông xanh

Hải Vân hùng vĩ lưu kinh điển

Đại Nội uy nghi nét cổ thành

Cảm thán vòng đời suy tới thịnh

Mơ màng ẩn hiện bóng minh anh

   Hưng Quốc

Texas 9-23-2026

 

HUẾ TRONG CHIẾN TRANH

                  (Họa hoán vận)

 

Thần Kinh lạc nghiệp những dân lành

Xâm chiếm, Trịnh Sâm khởi chiến tranh

Mưu mẹo Tây Sơn giành thắng lợi

Dễ dàng Nguyễn Ánh được công thành

Cần vương Ất Dậu cơn binh biến

Thảm họa Mậu Thân lúc tuổi xanh

Huế có địa linh dư lịch cảnh

Năm lần thất thủ, thiếu hùng anh. (*)

(Phan Thượng Hải)

        9/23/26

(*) Chú thích:

Là kinh thành của chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn; Huế (Phú Xuân) có chiến tranh 5 lần bị tấn công và đều thất thủ:

Năm 1775, chúa Trịnh Sâm sai tướng Hoàng Ngũ Phúc đánh chiếm Phú Xuân (Huế).

Năm 1786, dùng mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ của Tây Sơn hạ thành Phú Xuân của quân chúa Trịnh.

Năm 1802, quân của Nguyễn Vương (Nguyễn Ánh) chiếm lại Phú Xuân từ Tây Sơn.

Năm 1885 (Ất Dậu), quân Pháp vào Huế, vua Hàm Nghi của nhà Nguyễn chạy ra Tân Sở và từ đó có phong trào Cần Vương.

Năm 1968 (Mậu Thân), biến cố Tết Mậu Thân. 


HUẾ. THÁNG 2 NĂM  1968

             cmn / QĐI

Tới Kinh Đô Huế lúc giao tranh

Tưởng pháo Tân Xuân  68 lành

Bỗng thấy đạn bay tràn phố đỏ

Lại nghe bom thả ngập đồng xanh

Chuông vang Thiên Mụ ai xung trận

Trống giục Ngọ Môn cửa trấn thành

Một tháng Mậu Thân đầy hoảng loạn

Phú Vân Lâu tái chiếm, thương  anh…

Hawthorne   24 - 9 – 2026

      CAO MỴ NHÂN

 

 CHO MỘT KỶ NIỆM

Bao nhà thơ tả Huế như tranh

Linh kiệt hiện ra chốn đất lành

Trên đã cao nghềnh ngôi tháp cổ

Dưới thời lẳng lặng một dòng xanh

Êm đềm thư thái ngoài dân dã

Hoành tráng uy nghi ở cấm thành

Khách lữ tham quan thời chẳng thiếu

Có mình nữa nhỉ phải không anh?

Thái Huy

  9/23/26 


            HẸN

Thuỷ mặc xưa nay gắn bó tranh

Lung linh vẻ đẹp rót trong lành

Êm đềm phẳng lặng dòng Hương mượt

Ẩn hiện mơ màng núi Ngự xanh

Lăng tẩm bao đời luôn gìn nét

Ngai vàng năm tháng mãi viên thành

Quê Cha đất Mẹ thương chi lạ

Hẹn sẽ về thăm Huế với… anh !

PHƯỢNG HỒNG 


       HUẾ THƠ

Thành Cổ Huế Thơ - đẹp tựa tranh,
Sông Hương, Núi Ngự trải trong lành,
Phước Duyên - tháp đỉnh vờn mây trắng,
Vọng  Cảnh - đồi mơ  giỡn nắng xanh!
Đền Đài trầm mặc... lưu Danh Thắng,
Lăng Tẩm uy linh... ấm Cổ Thành!
Gởi Nàng phượt thủ say phiêu ngoạn,
Xứ ấy... níu về, nhớ nhắn Anh!
                 Nguyễn Huy Khôi
                      23-9-2026


HUẾ, DẤU ẤN PHÂN TRANH

Linh Giang dấu ấn thuở phân tranh,(1)

Cố đô, Thần Kinh đất phước lành.

Cổng Ngọ Môn vào xuân thắm sắc,

Đường Lê Lợi rợp bóng cây xanh.

Sông Hương lãng mạn hò tình tứ,

Núi Ngự linh thiêng khấn chí thành (2)

Dẫu quấn khăn sô quàng lịch sử,

Vẫn không xoá được nét tinh anh.

Đỗ Quang Vinh

   25-9-2026

CHÚ́ THÍCH:

1- Sông Gianh hay Linh Giang là con sông lịch sử:

Qua các địa danh và vị trí địa lý dẫn chứng trong các tư liệu có trước khi Đại Nam Nhất Thống Chí ra đời như Ô Châu Cận Lục, Phủ Biên Tạp Lục, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí thì Linh Giang là Sông Hương ở Thừa-Thiên- Huế (mà trước đây thuộc phủ Triệu Phong); còn sông Gianh trước thuộc phủ Tân Bình (nay là tỉnh Quảng Bình) có tên là Đại Linh, cả hai sông này xưa đều thuộc xứ Thuận Hóa.

Trong các công trình địa chí và địa danh học, Linh Giang được ghi nhận là sông Hương thuộc phủ Thừa Thiên, thành Huế, và đây là cách gọi đã có từ trước khi Đại Nam Nhất Thống Chí (hoàn thành năm 1882) ra đời (hannom.vass.gov.vn) :

• Ô Châu Cận Lục (thời Lê) và Phủ Biên Lạp Lục (thời Nguyễn) đều ghi chép về địa hình, sông ngòi và các địa danh của vùng Thừa Thiên – Huế, trong đó có tên “Linh Giang” gắn với sông Hương (hannom.vass.gov.vn)

• Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (thời Tự Đức) cũng ghi nhận Linh Giang là một trong những sông lớn của vùng, thuộc địa phận phủ Thừa Thiên, thành Huế

• Các nghiên cứu địa danh học của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm chỉ ra rằng, trong các sách địa phương chí và bản đồ cổ, “Linh Giang” là tên gọi địa danh thuần Việt, được dùng để chỉ sông Hương từ thời kỳ trước khi Đại Nam Nhất Thống Chí được biên chép

2- Núi Ngự Bình nổi tiếng không chỉ vì cảnh quan hoang sơ và hùng vĩ mà còn gắn liền với những huyền thoại đặc sắc. Theo truyền thuyết dân gian, núi Ngự Bình là một thánh địa linh thiêng, mang lại sự may mắn, an lành cho những ai đặt chân đến đây. Có lẽ bởi vậy mà gần đỉnh núi này có nhiều đền chùa thiêng liêng như chùa Huyền Không, đền Thánh Mẫu Cổ Tự, đền Thượng Thiên và chùa Trung Nghĩa.


KINH THÀNH HUẾ

Hẳn biết Kinh Thành ví thảm tranh

Đồng bao thắng cảnh đẹp yên lành

Lâu đài cổ kính phô màu sặc

Cổng chắn nguyên sơ phủ nét xanh

Chính diện trụ cờ cao lộng gió

Đằng xa Núi Ngự án phong thành

Sông Hương lượn uốn luôn mời gọi

Di tích xa gần Huế đợi… anh!

Mai Vân-VTT, 30/9/26.