Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 10) CHỈ QUẢN TRỊ XÃ HỘI THEO LUẬT PHÁP VÀ KHOA CỬ LÀM MẤT ƯU ĐIỂM YÊU HÒA BÌNH, TRỌNG GIÁO DỤC VÀ THỰC DỤNG CỦA ĐẠO KHỔNG

 

BIỆN ĐẠO (BÀI 10)

CHỈ QUẢN TRỊ XÃ HỘI THEO LUẬT PHÁP VÀ KHOA CỬ LÀM MẤT ƯU ĐIỂM YÊU HÒA BÌNH, TRỌNG GIÁO DỤC VÀ THỰC DỤNG CỦA ĐẠO KHỔNG 

Tác giả: Ogyuu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng 

*** 

BÀI 10 

Từ đời Tần chế độ phong kiến được đổi sang quản lý theo quận huyện và xem trọng luật pháp hơn

Đạo tiên vương là đạo an thiên hạ. Đời sau khi nói đến kinh tế (kinh thế tế dân: quản lý xã hội, cứu giúp dân chúng) (1) không ai không thuật y hệt như vậy. Tuy nhiên vào thời đại sau khi chế độ phong kiến (2), chế độ đã được bắt đầu đời nhà Chu, được thay đổi bằng chế độ quận huyện thì đạo tiên vương trở thành vật trang sức của xã hội. Do đó tên gọi tiên vương là “danh nghĩa để trang sức căn cứ theo kinh sách cho việc quản trị quốc gia của các quan lại” (3) (kinh thuật 経 術). Thông thường dưới chế độ phong kiến, đối với dân còn nghĩ đến tình nghĩa của quan hệ cha con hoặc thân tộc (4) nhưng khi đổi sang quận huyện thì việc quản lý quốc gia chỉ căn cứ vào luật pháp, nghĩa là rất công bình không có sự lẫn lộn của ơn huệ hoặc yêu thương.

Chế độ thi đậu ra làm quan đưa đến việc xem trọng chi tiết trên giấy mực hơn hiệu quả trong thực tế!

Thêm vào đó, từ đời Tùy chế độ khoa cử (thi đậu ra làm quan) được áp dụng và hưng thịnh đưa đến sự thay đổi lớn trong giới sĩ (giới trí thức). Người học chỉ biết chuyên tâm vào việc học tập và ghi chép những điều học được trong sách vở để viết ra cho rõ ràng dễ hiểu và tường tận đủ chi tiết trên giấy và xem đó là mục tiêu cao nhất để hướng tới. Đối với những người học được sinh ra vào thời đại này, các thói quen (hoặc khuynh hướng) của các pháp gia thấm nhập vào xương tủy họ. Do đó, khi họ nói đến đạo tiên vương hoặc giải thích nội dung các kinh sách, họ chịu ảnh hưởng tư duy hoặc quan niệm của các pháp gia. Trong tình huống như thế thì làm sao họ có thể hiểu thấu đáo được tác dụng thực tế của đạo tiên vương (đạo thuật) (ở cổ đại, từ thuật 術 có nghĩa tốt nhưng về sau bị hiểu theo nghĩa xấu!). (Bởi vì đạo tiên vương đặt nền tảng trên đạo nuôi dưỡng chứ không phải theo đúng quy định của luật pháp).

Thái độ xem trọng chi tiết trên giấy mực khó nắm bắt được hiệu quả thực tế của đạo Khổng.

Điều mà Tống Nho quý trọng là phải đưa ra tường tận hết những điểm lớn (cương) lẫn cả các hạng mục nhỏ chi tiết (mục), từ các các vấn đề trọng yếu to lớn đến các vấn đề nhỏ chi tiết. Với thái độ, chủ trương như thế thì làm sao có thể trình bày/thực hiện đầy đủ đạo tiên vương (a). 

Tóm tắt ý quan trọng

- Nếu chỉ quản lý xã hội theo luật pháp và khoa cử làm mất ưu điểm yêu chuộng hòa bình và quý trọng giáo dục để phát triển (đức nhân) của đạo Khổng.

- Tần Thủy Hoàng đã phế bỏ chế độ phong kiến, chế độ bắt đầu từ nhà Chu, phân chia quốc gia làm quận huyện và chính quyền trung ương phái cử người đến quản trị, không còn được cha truyền con nối.

- Từ đời Tùy chế độ khoa cử được bắt đầu, tức chọn người thi đậu để bổ nhiệm làm quan, không còn chế độ tiến cử như trước đó.

- Chế độ khoa cử làm cho người học có khuynh hướng xem trọng chi tiết trên giấy mực.

Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 7/8/2026

Xem lại và bổ sung ngày 9/9/2026


Nhận xét

(a) Trước hết người dịch không hiểu rõ chữ vi 為 trong bài Sorai cụ thể muốn nói gì: diễn tả trình bày hay thực hiện? Khả năng nói ý “diễn tả, trình bày” cao. Nhưng nếu như vậy thì ngoài cách nói cả cương (điều trọng yếu lớn) và mục (điều chi tiết nhỏ), còn có cách nào khác sao?

Trong bài kế tiếp, Biện Đạo (11) ông nói: Đối với đạo tiên vương khi thực hiện được điểm (hạng mục) quan trọng thì các chi tiết nhỏ tự nhiên sẽ có được. Và trong Biện Đạo (12), đối với việc tu tập đức, ông cũng nói: tập được nội dung căn bản quan trọng thì các nội dung chi tiết nhỏ khác tự nhiên sẽ có được.

Cả 2 nội dung trên cho thấy ý ông muốn nhấn mạnh nên chú trọng vào nội dung căn bản hơn là quan tâm đến cả chi tiết nhỏ nhặt. Tuy nhiên, nếu trình bày được cả hai, nội dung trọng yếu và chi tiết thì có gì không tốt đâu? Nếu vì các chi tiết nhỏ mà bỏ qua cơ sở căn bản quan trọng hoặc làm không đủ cơ sở căn bản quan trọng thì chắc chắn không nên. Phải chăng ý Sorai là muốn nói điều này?

Mới đầu người dịch không hiểu chữ vi 為 trong bài Sorai cụ thể muốn nói gì: diễn tả trình bày hay thực hiện? Tuy nhiên sau khi đọc kỹ Biện Đạo (11) kế tiếp, người dịch tin rằng vi 為 ở đây có nghĩa là thực hiện.


Nhận xét tổng thể

(1) Người dịch rất ngạc nhiên khi đọc “Kono kuni no katachi” (quyển 1) (Hình dạng của đất nước này) của Shiba Ryôtarô, trong bài đầu tiên tựa “Kono kuni no katachi”, ông viết Nhật Bản đã không dùng chế độ hoạn quan và khoa cử. Tuy nhiên, người dịch có đọc qua tài liệu cho biết vào thời Nara (710~794) Nhật Bản cũng đã có chế độ khoa cử. Không hiểu tại sao Shiba Ryôtarô khẳng định là không. Tuy nhiên, do ảnh hưởng mạnh của giới quý tộc, chế độ khoa cử Nhật Bản không thịnh hành và không được xem trọng. Người dịch khi tìm hiểu về Ôkuma Shigenobu có đọc tài liệu nói ông đã viết thư mời Shibusawa Eiichi ra phụ trách việc công. Do đó việc kêu gọi hoặc mời người tài ra làm quan là có ở Nhật Bản. Đặc biệt có lẽ phương cách này thịnh hành vào thời Minh Trị Duy Tân, và đây là một yếu tố quan trọng đưa đến sự thành công của cuộc duy tân này. Tuy nhiên đây chỉ là suy đoán của người dịch, cần xem xét nghiên cứu kỹ hơn.

Ghi chú

(1) Cao đệ của Ogyuu Sorai là Dazai Shundai có viết tác phẩm Kinh Tế Lục gồm có 10 quyền. Mục lục như sau: Kinh Tế Tổng Luận (quyển 1), Lễ Nhạc (quyển 2), Quan Chức (quyển 3), Thiên Văn- Địa Lý- Luật Lịch (quyển 4), Thực Hóa 食貨(thực phẩm và tiền tệ = kinh tế) (quyển 5), Tế Tự - Học Chính- Chương Phục 章服 (quyển 6), Nghi Trượng 儀仗(các vũ khí và dụng cụ dùng trong nghi lễ) - Lỗ Bạ 鹵簿 (quy định cho quân cảnh vệ dùng cho hoàng tộc từ hoàng hậu trở xuống khi tuần hành ở ngoài hoàng cung) - Võ Bị (quyển 7), Pháp Lệnh - Hình Phạt (quyển 8), Chế Độ (quyển 9), Vô Vi - Dịch Đạo 易道 (quyển 10). Hiện nay còn lưu lại phiên bản in năm 1729 (chữ viết tay) và phiên bản 1894 (Minh Trị thứ 27) (chữ in). (Theo Thiều Chửu, lỗ bạ là “nghi vệ của thiên tử”). Nội dung của Kinh Tế Tổng Luận: người quản trị xã hội cần phải có khả năng thực hành và biết 4 yếu tố: đúng lúc (thời 時), hợp lý (lý 理), đúng chỗ (thế 勢), hợp tình (tình 情). Phần sau viết về các chính sách cần cải thiện của Mạc phủ căn cứ trên tình hình thực tế của xã hội đương thời bằng cách sử dụng chế độ quan chức chuyên môn, có năng lực, và cấp võ sĩ phải sản xuất để tự sinh kế giảm nhẹ gánh nặng cho Mạc Phủ.

(2) Phong kiến là chế độ của nhà Chu: thiên tử ban lãnh địa (đất đai cai quản để có thu nhập qua thu thuế) và được cha truyền con nối. Tần Thủy Hoàng bải bỏ chế độ này chia Trung Quốc ra làm 36 quận. Quận lại chia ra làm nhiều huyện. Chính quyền trung ương cử phái Quận Thú (còn gọi Thái Thú), Huyện Lệnh để quản trị, và không còn được cha truyền con nối. Thời kỳ đầu của thời Tiền Hán chỉ có phần quản trị trực tiếp của thiên tử thì theo chế độ quận huyện, ngoải ra trở lại chế độ phong kiến. Nhưng sau khi dẹp được loạn 7 nước Ngô- Việt thì hoàn toàn theo chế độ quận huyện (vào khoảng thời Hán Vũ đế).

 (3) Kinh thuật 経 術: lợi dụng học thuyết của sách vở làm đồ trang sức cho công việc quản lý hành chính của quan chức.

Trong Công Tôn Quảng Truyện của sách Sử Ký viết: “Duyến sức dĩ Nho thuật” 緣 飾 以 儒 術 (Dùng học thuyết của Nho giáo làm vật trang sức).

Trong Tuần Lại Truyện 循 吏 伝 của Hán Thư viết: “Dĩ kinh thuật nhuận sức lại sự” 以 経 術 潤 吏 事 (Dùng kinh thuật làm trơn tru việc làm của quan chức)

 (4) Gia nhân phụ tử 家人父子: cha con của người dân thường. Trong Cao Tổ Kỷ sách Sử Ký viết “Cao tổ ngũ nhật nhất triều Thái công, như gia nhân phụ tử lễ ” 高 祖 五日一 朝 太 公、如 家 人 父 子 礼 (Cao tổ cứ mỗi 5 ngày vào thăm cha ông như theo lễ con đối với cha của người dân thường).

Nguyên văn

先王之道。安天下之道也。後世言経済者。莫不祖述焉。然後世更封建而郡県。而先王之道。為世贅旒。故世之称先王者。逎(遒)所謂以経術縁飾吏治是已。大氐封建之道。其於民猶且有家人父子意。至於郡県。則唯法是仗。截然太公。無復恩愛。加之隋唐後。科挙法興。士習大変。所務紙列。詳備明鬯。是其至者已。士生於其世。法家之習。淪於骨髄。故其談道解経。亦従其中来。是烏知所謂道術者乎。宋儒所貴。綱目悉挙。巨細曲尽。豈足以為先王之道也。

Âm Hán Việt của nguyên văn

Tiên vương chi đạo. An thiên hạ chi đạo dã. Hậu thế ngôn kinh tế giả. Mạc bất tổ thuật yên. Nhiên hậu thế canh phong kiến nhi quận huyện. Nhi tiên vương chi đạo. Vi thế chuế lưu. Cố thế chi xứng tiên vương giả. Tù sở vị dĩ kinh thuật duyên sức lại trị thị dĩ. Đại để phong kiến chi đạo. Kỳ ư dân do thả hữu gia nhân phụ tử ý. Chí ư quận huyện. Tắc duy pháp thị trượng. Tiệt nhiên thái công. Vô phục ân ái. Nhi chi Tùy Đường hậu. Khoa cử pháp hưng. Sĩ tập đại biến. Sở vụ chỉ liệt. Tường bị minh sưởng. Thị kỳ chi giả dĩ. Si sinh ư kỳ thế. Pháp gia chi tục. Luân ư cốt tủy. Cố kỳ đoàn đạo giải kinh. Diệc tùng kỳ trung lai. Thị ô tri sở vị đạo thuật giả hồ. Tống Nho sở quý. Cương mục ô cử. Cự tế khúc tận. Khởi túc dĩ vi tiên vương chi đạo dã.

Tài liệu tham khảo

(1) Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyuu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

(2)  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyuu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.






 

 

Đổi Thay - Thơ Vu Sơn và Thơ Họa

                             

    Đổi Thay

Bậu bỏ đi rồi… gió cũng bay…
Mình ta đứng lại ở phương này
Hoa rơi khỏi cuống còn lưu luyến...
Lá rụng lìa cành vẫn quắt quay?
Tóc thả mây bồng nhìn thỏa chí
Môi cười nắng tỏa ngắm mê say
Bây chừ cách biệt bao là nhớ
Một thuở yêu người khó đổi thay

      Vu Sơn

Thơ họa:

VẪN CHƯA NGUÔI
Bậu đi cho tím gió theo bay
Sao nỡ… Trời ơi! Bỏ chốn này
Ngày đó… nuôi mầm xanh chớm nở
Bây giờ… ôm mộng cũ cuồng quay
Hay chăng tháng rộng môi cười khóc
Rồi để đêm dài giấc tỉnh say?
Mãi nhớ hương xưa làn tóc chải
Quặn lòng… Ai áo đỏ… Vừa thay…

          Đông A
         26/9/26

     Ngôn Thầm

"yêu nhau cởi áo cho nhau

về nhà dối mẹ qua cầu gió bay"

                                 (ca dao)

 

Ngày ấy... qua cầu... ngại gió bay,

Trao nhau..."áo cởi"... mủi tâm này"?"

Bến chằm nhân ngãi... vèo... bờ lở,

Đò níu tơ tình... thoắt... mái quay"?"

Đã ớn vàng son thời mộng mị,

Chi rầu tuyết nguyệt thuở nồng say"?"

Nguyện thề còn chút gì vương lại...

Neo chặt đáy lòng!... Chẳng dễ thay?!

Nguyễn Huy Khôi

      27-9-2026

 

TÓC GIÓ THÔI BAY

         (Họa vui)

Bây giờ tóc gió đã thôi bay

Chuông mõ sớm hôm một lão này

Từ thuở xuống bờ đau vẫn xoắn

Tới hồi lên ruộng khổ còn quay

Phải nhờ sư sãi thường lay tỉnh

Nên tránh rượu chè mãi uống say

Thấy dạ yên lành, xin thí phát*

Cõi lòng vui đến, cuộc đời thay

Lý Đức Quỳnh

   28/9/2026

*xin thí phát: xuống tóc xin quy y. 



   CHIM SỔ LỒNG

Lồng mở... chim trời thoắt vụt bay

Chủ thờ thẫn đứng, óc cuồng quay

Ngỡ ăn thực phẩm ngon đầy đủ

Và ở lồng son đẹp đắm say

Chim sẽ an tâm mà tận hưởng

Đời đà thỏa mộng chẳng cần thay

Thế nhưng... cánh vẫn tung trời rộng

Tận hưởng tự do quý giá này !

  Sông Thu

( 28/09/2026 )

 

         ƯỚC

Ước là chim xoãi cánh tung bay

Chao lượn tự do thỏa chí này

Thoải mái, tinh thần không nghĩ ngợi

Ung dung, tâm trí chẳng cuồng quay

Ngày chơi đêm xuống về nơi trú

Sáng dậy mồi tìm đánh chén say

Cuộc sống như mơ ôi! tuyệt diệu

Còn gì hơn nữa đắm mê thay!

     LAN

(28/09/2026)

 

        Lẻ Bạn

(Đáp họa VẪN CHƯA NGUÔI)

Một sớm Thu về... áo đỏ thay…

Nàng ngoan giữa bữa rượu chè say

Thuyền hoa hớn hở giơ tay vẫy

Kiệu cưới vui vầy dợm gót quay

Chẳng thấy người đau thầm góc ấy

Không nhìn kẻ xót lặng bên này

Tan rồi mộng ước... "chim trời sánh"

Lẻ bạn… không chừng mỏi cánh bay?

Vu Sơn

 

        THÔI BAY

     (Đáo họa LẺ BẠN)

Áo đỏ khi người đã vội thay

Tiệc mừng rượu rót hả hê say

Ngoài sân pháo nổ… lời nhanh chúc

Trong góc giông rền… mắt vội quay

Vừa hết mơ màng sau buổi ấy

Đành thôi tơ tưởng tự hôm này

Trăm năm… Ừ nhỉ! Đời tan hợp

Chim mỏi lưng trời… khép cánh bay.

Đông A

29/9/26

 

           Cớ Gì

(Đáo họa NGÔN THẦM)

 

Thề xưa tựa gío thoảng mây bay

Để lỡ tình duyên trọn kiếp này!

Trách móc? không màng... rời rạc gặp

Vờ quên?  chỉ tiếc... vội vàng quay…

Đường tình "hỗn tạp"... mùi cay đắng

Cuộc sống "xô bồ"... chén tỉnh say

Phú quý sang giàu "cơn mộng ảo"

Tơ hồng đã chặt... cớ gì thay!

Vu Sơn

 

         Biện Bạch

       (Đáp hoạ CỚ GÌ)

 

Tên vút khỏi cung khó níu bay,

Cầm tay sao nổi tháng năm này"?"

Hay đâu lỗi phận mà khôn giữ,

Chót lỡ chệch đường phải gượng quay"?"

Uống đã... càng thêm sầu bởi đã,

Cả say... mới thấm khổ vì say???

Vẫn hay "mộng ảo" là mây thoảng,

Trời buộc lỏng que - cực mối thay!!! (*)

Nguyễn Huy Khôi

      29-9-2026

(*)  Thành ngữ:  "Duyên trời se, que trời buộc"

 

     Vạc Đã Về Nam

Đã chớm Thu rồi… cánh vạc bay…

Kêu nhau thảng thốt… nhớ nơi này.

Từ ly Bắc Mỹ, kềm lòng tiếc,

Giã biệt ngày Hè, nén dạ quay…

Đỉnh núi mây vờn… khơi dáng tóc,

Bên hồ liễu rủ… gợi tình say…

Mong gì nắng Hạ thôi tàn úa?

Để mắt em trong mãi… chẳng thay!

ThanhHoà

 28/09/2026

 

    THỐI TANH THAY

Nàng chiều nghiêng bóng rủ chim bay

Hiu quạnh tha hương đến xứ này

Đất Bắc đói lòng cây cỏ sống

Phương Nam trù phú kiếm đường quay

Cả bầy vượn đói đeo đu đủ

Một lũ thèm cơm nóc rượu say

Đời đổi cách này ấu trĩ quá

Chê cười lộ mặt thối tanh thay …

 Yên Hà

28/9/2026

 

           Chọn

(Đáp họa Thanh Hòa & Yên Hà)

Bên trời cánh hạc… đã tung bay

Bụi gío còn vương khắp chốn này

Bỏ Bắc chừng hay… mờ nẻo nhớ…

Về Nam hẳn biết… tỏ chiều quay?

Nơi Thu đắm đuối nhiều mê hoặc…

Chốn Hạ mơ màng những tỉnh say...

"Tự tại" không gì bằng… hãy quý  

Dù rằng... sở thích dễ dàng thay!

Vu Sơn

 

   KHÔNG HỀ THAY

Thu về gió thổi... Áng mây bay...

Hồn mộng ngây ngơ... Ở chốn nầy...

Nắng Hạ còn vương sầu tản mác...

Lá vàng từng chiếc lác ̣lư quay.

Đong đầy tiếc nuối... thời xuân trẻ,

Tóc bạc thân gầy đang tỉnh- say...

Tơ tưởng sầu Ai... Thu mấy độ̣ ?...

Yêu Người mãi mãi... Không hề thay...

Mỹ Nga

  28/09/2026  ÂL, 18/08/ Bính Ngọ.

 

    DẤU ẤN VÀNG SON

Buồn vương tưởng nhớ thuở uyên bay,

Tiếc nuối tình xưa khổ thế này!

Gió bấc không màng bung mái lá,

Mệnh trời đã sẵn búng con quay.

Ngày xưa duyên thắm từng mê mẩn,

Thuở ấy tình nồng vốn đắm say.

Dấu ấn vàng son không mờ nhạt,

Bóng thời gian còn đó khôn thay!

Đỗ Quang Vinh

     8-9-2026

 

       HỒ THU

Trên trời oang oác hạc hồng bay

Bỏ lại đồng hoang lạnh lẽo này.

Hồ nước lăn tăn vàng lả tả

Gió chiều hiu hắt úa quay quay

Xạc xào lá đổ nai ngơ ngác

Lướt thướt sương vờn khách đắm say.

Rờn rợn tiếng rừng ngày sắp tắt

Trên cành chiêm chiếp cảm thương thay !

     Mailoc

 09-28-2026

 

     CUỘC TÌNH SAY

Mới nhìn mái tóc của em bay

Mà khiến ta si đến nổi này

Ngây ngất cõi lòng đầy quyến luyến

Bàng hoàng tấc dạ ngập cuồng quay

Tháng ngày suy tưởng luôn mơ mộng

Sớm tối mong chờ mãi đắm say

Đêm xuống một mình khôn ngủ được

Mối tình khắc đậm chẳng hề thay

Songquang

 20260928

 

   TRỘM HỎI NI CÔ

               (4 vận)

Trộm hỏi Ni Cô - đất Phủ Dầy,

Giờ sao xuống tóc trụ chùa này?

Há vì nhân ngãi lầy dang dở,

Hay bởi cuộc tình lỡ tỉnh say!?

Quán dạ tịnh thiền linh mõ tụng,

Thơi lòng rũ bụi thoảng mây bay.

Chuông lay thức niệm trau tâm pháp,

Thế tục khôn màng chuyện đảo thay?!

Nguyễn Huy Khôi

       29-9-2026 


       THEO VỀ

Lối cũ xa dần, chim bỏ bay

Buồn vương khẽ chạm trái tim này ,

Thời gian gắn bó nào lo lắng

Sóng gió vần xoay chẳng ngại quay…

Cái thuở non tơ lòng dạ đắm

Xuân thì búp nụ tháng ngày say

Còn thương sáu khắc năm canh nhớ

Mộng mị theo về đến ngật ngầy !!!

PHƯỢNG HỒNG 


  ĐÔI BẠN THẾ KỶ

Đôi mình thủa bé tóc tơ bay

Chạy hết thôn kìa, nhảy xóm này

Chị thấy đầu xù, cho cái lược

Anh cười tay yếu, thử con quay

Thế là thích thú, chơi mê mải

Chẳng chịu hơn thua, cứ đắm say

Bạn lão, giờ đây cười hớn hở

Tình dài, nghĩa rộng, có đâu thay …

     Hawthorne   29 - 9 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

     LỜI CỐ NHÂN

Đời giờ "tóc gió đã thôi bay" (*)

Chợt nhớ ngày xưa... xốn dạ này!

Lễ hội vui hòa tung tẩy múa,

Đèn cù mải ngắm quẩn mù quay...

Làn môi khêu gợi... nao mơ sảng,

Ánh mắt hồn nhiên... níu mộng say "?"

Viễn xứ quê người... Ai thấu cảm

Lòng già... mê... tỉnh... dễ gì thay?!

Nguyễn Huy Khôi

       30-9-2026 


         Ký Ức

(Kính về 2 tỷ Phượng Hồng và Cao Mỵ Nhân)

Nhắc chuyện hồi xưa… tóc bím bay

Thôn kia xóm nọ… khế trèo này…

Cùng chia trái phượng... sang mò ốc

Hết lội ao bèo... tới đánh quay

Đám cưới... cô dâu làm bộ khóc

Tân hôn... chú rể gỉa vờ say…

Bao năm tất bật đời cơm áo

Ký ức vẫn đầy… chẳng chút thay!

Anh Khờ