Tiếng còi rền vang giật ngược tôi khỏi giấc ngủ trưa. Tích tích, tích tích – còi nhiệm sở tác chiến, nhịp đôi. Tiếng chân chạy rầm rập trên boong. Những bóng người lướt qua khung cửa. Tôi bật khỏi giường, mặc vội quân phục rồi chạy về nhiệm sở.
Nhiệm sở của tôi là khẩu 20 ly bên hữu hạm sân lái. Tôi đeo điện thoại nội bộ. Xạ thủ đã vào vị trí. Tiếp viên đã ôm sẵn băng đạn. Từ phía trung tâm Thủ Đô, tiếng súng vọng về từng đợt. Đồng hồ chỉ gần hai giờ chiều.
Lệnh từ đài chỉ huy truyền xuống: triệt hạ hai phi cơ đang quần trên không phận Dinh Gia Long, nơi cư ngụ của Tổng Thống và gia đình người em Cố Vấn của ông. Tôi truyền lệnh cho nhân viên thi hành. Khẩu 20 ly của chúng tôi hòa với khẩu 40 ly đôi trước mũi, nổ giòn giã không dứt, thi đua cùng các chiến hạm cập cầu gần bên. Những đầu đạn không trúng mục tiêu tự hủy, nở thành từng chùm khói nhỏ quanh hai phi cơ. Chúng phớt lờ, luân phiên vọt lên cao rồi chúc xuống nhả đạn.
Các tiếp viên hối hả chuyển đạn từ hầm đạn lên ụ súng. Mùi khói súng, tiếng la lệnh, tiếng kim khí va nhau gợi lại giờ phút gian nguy trên sông Bồ Đề. Chừng hai mươi phút sau, lệnh ngưng tác xạ được truyền xuống. Tiếng súng thưa dần, chỉ còn từng loạt vọng về từ phía thành Cộng Hòa và đâu đó trong thành phố.
Hạm Trưởng cho lệnh giải tán nhưng súng vẫn trong tình trạng sẵn sàng. Ông chỉ thị Phòng Truyền tin mở radio cho toàn thủy thủ đoàn theo dõi diễn tiến. Đài Phát Thanh Sài Gòn loan báo một nhóm tướng lãnh đã đứng lên lật đổ chế độ…
Tôi xuống phòng họp sĩ quan pha ly cà phê rồi ngồi ngẩn ngơ. Hóa ra tin đồn đảo chánh đã thành sự thật. Đảo chánh là phe ta bắn phe mình. Hai chiếc phi cơ kia mang cùng màu cờ với chiến hạm. Tại sao phải bắn hạ? Sáu tháng trước, trong lễ ra trường, tôi đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc. Tổ Quốc là chung cho mọi quân chủng, cùng chống mọi kẻ thù. Tại sao hôm nay lại bắn nhau? Bên nào mới thực sự bảo vệ Tổ Quốc?
Tôi nhấp ngụm cà phê. Cà phê trôi xuống dạ dày nhưng câu hỏi vẫn còn nguyên vị đắng trong cổ họng.
Bữa cơm chiều trên chiến hạm vốn ồn ào những câu chọc ghẹo, hôm nay chìm trong một thứ im lặng nặng nề như khi tàu đi qua vùng tử địa Năm Căn. Chỉ còn nghe tiếng đũa chạm chén. Người mở lời đầu tiên là Hạm Trưởng, giọng trầm buồn:
— Các anh nghe tin gì chưa? Tư Lệnh Hải Quân đã bị sát hại.
Không ai đáp. Chỉ có những khuôn mặt ngơ ngác, kinh ngạc. Một lúc lâu, Hạm Phó Quá mới ngập ngừng:
— Thưa… thật sao Hạm Trưởng?
— Tôi mong là không thật. Bộ Tư Lệnh Hải Quân mới cho tin sơ khởi: ông bị giết khoảng mười giờ sáng nay, trước cả khi tiếng súng nổ. Người ra tay là hai sĩ quan ông tin cậy nhất.
Trung Úy Tùng buông đũa:
— Sao có thể? Tin cậy nhất… tức là coi họ như anh em.
Hạm Trưởng đặt đôi đũa xuống mâm.
— Nghe đâu vì ông trung thành với Tổng Thống. Ông đã hai lần cứu ông Diệm. Năm 60, ông đem quân về tăng cường bảo vệ Dinh Độc Lập. Năm 62, ông ban lệnh khai hỏa vào hai chiếc phi cơ giội bom dinh. Lần này, phe đảo chánh ra tay trừ khử ông trước.
Tùng lẩm bẩm:
— Vậy là Hải Quân như rắn mất đầu. Rồi tương lai Hải Quân sẽ ra sao?
Thiếu Úy Được nhíu mày:
— Từ ngày nhậm chức, Tư Lệnh lo cho Hải Quân hết lòng. Ông mới lập hai đơn vị chống Cộng đặc biệt là Lực Lượng Hải Thuyền và Người Nhái.
Anh ngừng lại, hạ giọng:
— Tôi nghe Người Nhái đã thề trả thù cho Tư Lệnh. Không khéo ông Tư Lệnh mới giải tán luôn lực lượng này.
Trung Úy Hải lắc đầu, bật cười chua chát:
— Thật là… điên cái đầu. Năm kia mình bắn phi cơ giội bom dinh để cứu ông Diệm thì được khen thưởng. Chiều nay cũng bắn phi cơ giội bom dinh, mà phe thắng lại là phe của mấy chiếc phi cơ đó. Cùng một khẩu súng, cùng một viên đạn, khi thì trung thành, lúc thì phản nghịch. Ranh giới mong manh tới vậy sao?
Miếng cơm nghẹn trong cổ họng tôi. Tôi vẫn lặng thinh, tay mân mê đôi đũa.
Hạm Trưởng gật gù:
— Bi kịch của người lính là vậy. Không được quyền chọn, mà tự chọn thì kiểu nào cũng dễ mắc tội.
Thiếu Úy Được nói nhỏ nhưng rành rọt:
— Tôi thề là thề trung thành với Tổ Quốc, chớ đâu phải với người lãnh đạo. Tổng Thống có thể sai lầm, có thể để gia đình lộng quyền. Khi một chánh quyền mất lòng dân tới mức cả quân đội quay lưng, thì việc thay nó đi, dù bằng súng đạn, có khi lại là cách giữ trọn lời thề.
Mọi người quay nhìn Được. Có người gật, có người cau mày. Hạm Trưởng vẫn im lặng. Ý nghĩ của tôi mông lung…
Trung Úy Tùng bật cười khan:
— Nghe hay lắm. Nhưng cái “mất lòng dân” đó, ai đong đếm? Mấy ông tướng làm đảo chánh có hỏi dân câu nào đâu.
— Thì cả nước đều thấy…
Tùng cắt ngang:
— Đừng vội khoác cho bạo lực cái áo chánh nghĩa. Hôm nay họ bảo Tổng Thống mất lòng dân nên phải đi. Mai mốt phe khác bảo mấy ông tướng này cũng mất lòng dân, rồi lại đảo chánh, lại nổ súng. Cái vòng đó bao giờ mới dứt?
Hạm Phó Quá đưa tay xoa trán, giọng như nói với chính mình hơn là với mọi người:
— Tôi cũng sợ đúng điều đó. Một khi quân đội lật được một chánh quyền, nó sẽ còn lật nữa. Rồi thành tiền lệ. Mong sao chúng ta nghĩ sai.
Cả phòng lặng đi một lúc. Rồi bất ngờ Trung Úy Hải quay sang tôi:
— Còn Thiếu Úy Bằng nghĩ sao? Nãy giờ ngồi im như tượng.
Tôi đắn đo, nói chậm rãi:
— Điều tôi sợ là hai chữ quân lệnh. Chiều nay, tôi được lệnh nổ súng rồi lại được lệnh ngưng, mà không biết lệnh nào đúng, lệnh nào sai. Hôm nay là nhắm vào phi cơ. Nếu mai kia có lệnh chĩa súng vào đồng bào, thì sao?
Không ai lên tiếng. Hạm Trưởng nhìn tôi một thoáng, ánh mắt vừa như thương hại vừa như đồng cảm. Ông nói:
— Tuân lệnh là truyền thống ngàn đời của quân đội. Nhưng lệnh ban ra có hợp lý hay không thì tùy con mắt người nhận lệnh. Đã có những cấp chỉ huy thà vào tù chớ không thi hành một mệnh lệnh mà họ cho là bất hợp lý. Có người còn chấp nhận hy sinh mạng sống, như Tư Lệnh của chúng ta, vì không chịu theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng lật đổ Tổng Thống.
Ông ngừng lại, hớp vài ngụm nước rồi nhìn từng người:
— Điều tôi lo bây giờ là Hải Quân như rắn mất đầu. Ai sẽ lên thay, nhân cách người đó thế nào, viễn kiến ra sao? Chắc chắn sẽ có thay đổi lớn, và phần thiệt sẽ về những người lâu nay tỏ ra ủng hộ Tổng Thống.
Cuộc trao đổi kéo dài thêm một lúc lâu, chia thành hai phe. Một bên mừng vì đất nước sang trang mới, không còn chế độ gia đình trị. Một bên ưu tư cho những ngày bất ổn phía trước: với một Hội Đồng Quân Nhân, e rằng ông tướng nào cũng thấy mình mới là người xứng đáng lãnh đạo.
Đêm đó, tiếng súng lớn nhỏ vọng về từ phía Dinh Gia Long không dứt. Tôi nằm trên giường, tự nhủ mình chẳng vui chẳng buồn, sĩ quan cắc ké như tôi thì ai làm Tư Lệnh cũng vậy thôi. Nhưng tôi biết mình đang dối lòng. Vốn còn mỏi mệt qua đêm với Tuyết, cộng thêm mỏi mệt sau một ngày dài căng thẳng kéo tôi vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Sáng hôm sau, tôi bước vào phòng ăn thì mọi người đang xôn xao. Lực Lượng Phòng Vệ phủ Tổng Thống đã đầu hàng lúc rạng sáng, nhưng Tổng Thống và bào đệ đã trốn thoát từ đêm, mất dạng. Radio đọc danh sách Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Hạm Trưởng cho biết Hải Quân Đại tá Chung Tấn Cang được chỉ định làm tân Tư Lệnh Hải Quân. Lại có tin đồn binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sẽ tách khỏi quân chủng Hải Quân. Tôi nghe, không góp ý.
Đến bữa cơm chiều, Hạm Trưởng đưa thêm tin mới: Tổng Thống Diệm và bào đệ đã ra đầu hàng, rồi “tự tử” trên xe thiết giáp trong lúc được đưa về Bộ Tổng Tham Mưu. Bình thường, sĩ quan trên tàu không được phép bàn chánh trị. Nhưng biến cố xảy ra cho đất nước quá bất ngờ, quá lớn lao và quá lạ lùng, nên Hạm Trưởng không can ngăn. Không những thế, ông lại là người nêu ý kiến trước tiên:
— Tôi nghe tin mà lặng người. Rồi suy nghĩ, thấy lạnh người. Nếu muốn tự tử thì hai vị đó đã tự tử ngay tại dinh, việc gì phải đầu hàng rồi chui vào xe thiết giáp mới tự tử. Chắc chắn họ đã bị sát hại.
Căn phòng chỉ còn tiếng máy điện rì rầm và tiếng hơi lạnh rít qua khe máy lạnh. Một lúc sau, Hạm Phó Quá mở lời:
— Tôi thật không hiểu. Kẻ địch đã đầu hàng thì không còn là kẻ địch nữa. Họ là hàng binh. Không ai hèn hạ đi giết hàng binh.
Hạm Trưởng thở dài:
— Tôi đồng ý với anh. Kẻ giết người đã đầu hàng là hạng người gì? Tệ nhất cũng là thiếu tinh thần mã thượng. Mã thượng là thắng mà không cần giết kẻ đã buông súng. Mã thượng là có thể giết, nhưng chọn không giết.
Thiếu Úy Được nhỏ giọng:
— Nhóm đảo chánh xưng là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Lệnh giết Tổng Thống hẳn nhân danh hội đồng này. Không biết trong số họ có ai phản đối không? Chẳng lẽ cả nhóm không một ai có tinh thần mã thượng?
Hạm Trưởng đáp:
— Tới giờ thì chưa nghe ai lên tiếng can ngăn.
Trung Úy Tùng chua xót:
— Họ giết vì họ sợ. Tổng Thống có thể sai lầm trong vụ Phật Giáo, nhưng thành tích chín năm lãnh đạo của ông quá hiển nhiên. Để ông sống, Hội Đồng Quân Nhân sẽ khó yên. Biết đâu có ngày ông quay lại nắm chánh quyền.
Trung Úy Hải gật đầu:
— Đúng. Họ giết vì sợ.
Thiếu Úy Được vẫn chưa thôi thắc mắc:
— Bên Hải Quân, hai người lạnh lùng ra tay giết vị Tư Lệnh của mình. Bên Quân Đội, một nhóm người giết vị Tổng Tư Lệnh không chút nương tay. Sao họ có thể trở thành những kẻ hành quyết vô lương tâm như vậy?
Không ai trả lời. Sau một lúc im lặng, Hạm Trưởng thở dài:
— Hy vọng rồi mọi người sẽ biết sự thật, và sự thật không bị chôn vùi cùng người chết. Thôi, chấm dứt ở đây. Mai có tin mới, bàn tiếp.
Sau bữa ăn, tôi về phòng riêng viết thư cho Hồng. Tôi định viết những lời yêu thương, nhưng ngòi bút cứ trượt về biến cố đang xảy ra.
Hồng thương,
Anh viết cho em lúc gần nửa đêm. Tàu đang cập cầu C, cuối đường Cường Để. Suốt hai ngày qua, từ nơi này anh nghe và nhìn thấy phần nào diễn tiến cuộc đảo chánh. Anh không biết bắt đầu từ đâu, nên anh sẽ bắt đầu từ sự thật: từ hôm qua, đất nước mình đã đổi thay.
Chắc em đã nghe tin Tổng Thống và ông Cố Vấn chết trong xe thiết giáp. Tư Lệnh Hải Quân cũng bị giết, bỏ xác trong rừng cao su Thủ Đức. Anh nghe những tin đó qua đài BBC, VOA, qua những bữa cơm mà các sĩ quan trên tàu bàn tán tới khuya.
Anh chỉ góp ý có một lần: nếu một ngày có lệnh chĩa súng vào đồng bào, người lính phải làm sao? Không ai trả lời anh. Câu hỏi đó cứ theo anh tới giờ này.
Phải chi anh còn ở Nha Trang để được nghe ba em bình luận tình hình. Chắc ông buồn lắm khi hay tin vị Tổng Thống ông ngưỡng mộ đã bị giết.
Anh không biết những người vừa lật đổ Tổng Thống có tốt hơn không. Anh không biết họ có đủ bản lãnh lãnh đạo Quốc Gia như họ tuyên bố, hay rồi cũng sẽ hãm hại nhau để giành quyền. Anh không biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng anh biết một điều: anh đang… nhớ em.
Anh nhớ những cuối tuần ngồi nhìn em đối diện qua chiếc bàn dài. Anh nhớ nụ cười cảm thông của em khi anh kể những nhọc nhằn ở quân trường, nhớ giọng nói ngập ngừng của em khi anh hỏi em có nhớ anh không.
Anh nhớ nhất buổi dạ tiệc mới hôm rồi. Em đẹp biết bao, dễ thương biết bao. Dù đang xa xôi cách trở, anh vẫn chắc chắn một điều: anh muốn em mãi bên anh, muốn cùng em xây dựng một cuộc sống. Thời thế có ra sao, anh vẫn tin một tương lai hạnh phúc đang chờ chúng mình phía trước.
Mong đêm nay anh ngủ ngon để mai thức dậy thấy một ngày tươi sáng hơn. Đất nước có đổi thay, anh vẫn là anh, vẫn là người yêu em, vẫn là người lính biển mà em đã hứa sẽ ở bên trọn đời.
Ngày mai anh sẽ viết tiếp…
Hôn em,
Bằng
Vũ Thất
