Đời Thủy Thủ III
Chương 30: Biết Đến Bao Giờ
Tiếng chuông báo giờ giải lao vang lên. Trong khoảnh khắc, sân trường rộn ràng các tà áo trắng, bốn hướng rôm rả tiếng gọi tiếng cười.
Huỳnh Như Oanh bước chậm vào phòng giáo sư, rót ly nước lạnh, ngồi vào ghế trống giữa bàn dài. Nàng nghĩ, nếu không có mươi phút xả hơi này, có lẽ nàng đã ngất đi ngay trên bục giảng”. Đêm qua, tự dưng nàng mất ngủ, có thể do soạn bài quá khuya rồi quá giấc. Và từ lúc đó, nàng cứ nghĩ ngợi miên man. Muốn xin dạy trường khác mà trường nào? Lấy lý do gì? Võ Bằng đã nhận được thư của nàng chưa? Chừng nào anh về? Khi về có đến nàng không? Cũng may hôm nay chỉ dạy nửa buổi, nàng chỉ cần cố gắng thêm hai tiếng nữa thôi…
Như Oanh khép mắt, thở đều, cố gạt ra ngoài tai những câu chuyện rì rầm quanh bàn: chuyện người yêu, chuyện chồng con, chuyện gia đình. Nhưng đoạn đối thoại của hai cô giáo ngồi đối diện khiến nàng mở mắt.
– Báo hôm nay có bài phóng sự về chuyến công tác của một chiến hạm ở vùng đảo Thổ Châu, Phú Quốc. Tác giả ký tên Lan Như. Lan Như thì hẳn là đàn bà. Đàn bà đi trên tàu chiến! Khó tin quá. Dám ông nào lấy bút danh đàn bà cho thêm phần hấp dẫn!
Như Oanh nhìn sang. Cô bạn đồng nghiệp còn đang đọc. Nàng nôn nóng chờ đợi. Bài viết về chiến hạm hoạt động vùng Phú Quốc, biết đâu… biết đâu có nhắc đến chiến hạm của Võ Bằng. Nhưng mãi đến khi chuông báo hết giờ giải lao, cô bạn mới bỏ tờ báo xuống.
Như Oanh nấn ná chờ cô bạn ra khỏi cửa, vội vàng cầm tờ báo lên. Dòng tựa hiện ra rõ ràng đến nhói tim: “Chiến hạm Rạch Gầm: Pháo đài di động giữa trùng khơi Thổ Châu”.
Mắt nàng dán chặt vào bức ảnh nhỏ chiếm một góc trên trang nhất, chụp Võ Bằng đang nghiêng người chỉ tay về hòn đảo hiện giữa biển mênh mông.
Nàng định đọc tiếp nhưng bài khá dài, vội uống ly nước rồi đi nhanh về lớp. Một cảm giác lẫn lộn tràn ngập: vui mừng, nhung nhớ, lo âu… Nàng ra đề cho học sinh làm bài, rồi ngồi thừ người…
Đúng mười hai giờ trưa nàng rời trường. Trên đường về, nàng ghé sạp báo mua tờ Ngôn Luận.
***
Vào phòng riêng, nàng mở tờ báo đọc không sót một chữ:
“Phóng sự chiến trường đặc biệt của Lan Như.
Ngày 3 tháng 12 năm 1969, tôi đến An Thới sau nửa ngày xe đò từ Sài Gòn và bốn tiếng trên một chiến đỉnh từ Rạch Giá. Tôi được Căn cứ Hải Quân An Thới cấp cho một phòng tạm trú và sáng hôm sau được Đại tá Lương Đình Thám Tư lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên hải tiếp kiến.
Ông nói qua về lực lượng và vùng trách nhiệm của ông. Với mười lăm ngày công tác của tôi, ông chỉ định tôi tháp tùng Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm HQ 266 trong tám ngày đầu. Sau đó tôi sẽ chuyển sang một chiến hạm khác…
Người tôi gặp ở bãi biển một ngày trước đó cho tôi cái cảm tưởng là một tên phất phơ, hóa ra là Hạm Trưởng chiếc Rạch Gầm. Ông tiếp tôi bằng thái độ dè dặt nhưng tử tế. Tôi được ăn ở trong khu vực sĩ quan, được tự do tiếp xúc thủy thủ đoàn và tìm hiểu chiến hạm.
Chín giờ sáng ngày 5 tháng 12, Rạch Gầm rời quân cảng An Thới. Khi con tàu ra khỏi cửa vịnh, đất liền biến mất rất nhanh. Quanh tàu, mặt nước phẳng lặng, mênh mông, trải dài đến tận đường chân trời. Thỉnh thoảng, một đàn hải âu vụt ngang mũi tàu, lượn vài vòng rồi mất hút.
Gió nhẹ từ hướng đông bắc, biển êm, thuận lợi cho hải trình dài bốn tiếng đến quần đảo Thổ Châu – một vị trí tiền tiêu quan trọng ở cực Tây Nam lãnh hải.
Rạch Gầm là loại trợ chiến hạm thiết kế gọn nhưng trang bị súng lớn nhỏ đủ loại, thích ứng chiến đấu mọi tình huống và hoạt động dài ngày không cần tiếp tế.
Màu nước biển thay đổi rõ rệt. Càng xa đất liền màu càng đậm hơn. Từ xanh nhạt chuyển dần sang xanh thẫm, báo hiệu tàu đã đi vào vùng nước sâu hơn. Sóng và gió tương ứng với độ di chuyển mặt trời. Càng trưa và về chiều, gió mạnh dần, sóng thêm cao.
Từ đài chỉ huy, mệnh lệnh được ban ra ngắn gọn, chính xác. Các ca trực nối tiếp nhau. Tiếng máy tàu gây nên âm nhịp, đều đều kiên trì như hơi thở của chiến hạm.
Các sĩ quan thường xuyên theo dõi vị trí, điều chỉnh hướng đi phù hợp với dòng chảy, độ giạt.
Tôi bắt đầu cảm phục sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ, đòi hỏi mức chính xác và kỷ luật cao. Với người lính biển, đó là công việc thường ngày. Nhưng với tôi, đó là hình ảnh hoàn toàn khác biệt với đời sống trên đất liền: xô bồ, bon chen, ồn ào, hời hợt.
Sau hành trình hơn ba tiếng, hình dáng vài đảo nhấp nhô hiện ra. Rồi một đảo lớn với tháp hải đăng vút lên nền trời: Đảo Thổ Châu.
Khi chiến hạm chạy vòng quanh đảo, tôi có cảm tưởng như đang đi quanh một viên ngọc khổng lồ. Chín đảo nhỏ vây quanh như chín đóa hoa khoe sắc giữa biển khơi…
– Ngày mai: Trận hải chiến kinh hồn ở Hòn Chuối”.
Như Oanh đọc mà quên cả thở. Dù không một lần nhắc đến tên Võ Bằng, mỗi chữ gợi bao nỗi nhớ, bâng khuâng. Đã bao lâu rồi, kể từ lần cuối cùng đứng bên anh nơi bãi biển? Chỉ chưa đầy một tháng mà như lâu lắm rồi.
Nàng đứng dậy, nôn nao, bần thần.
Trận hải chiến kinh hồn?
Ác liệt, khủng khiếp đến mức nào?
Võ Bằng có mệnh hệ gì không?
Nàng ngồi thẫn thờ, ý nghĩ chồng chéo. Cuối cùng, Như Oanh quyết định: nàng phải gặp phóng viên Lan Như. Chỉ qua Lan Như, nàng mới có thể biết rõ thêm về hiện trạng của Võ Bằng, mới hy vọng gặp lại. Nhưng nếu Lan Như là đàn ông và tòa soạn không muốn cho gặp…
***
Chiếc xích lô dừng trước Tòa soạn báo Ngôn Luận trên đường Phạm Ngũ Lão. Như Oanh bước vào, hơi ngập ngừng trước không khí bận rộn của tòa soạn. Khi nàng trình bày lý do, cô thư ký chỉ vào chiếc bàn phía trong.
Một thiếu nữ trẻ đang chăm chú đánh máy. Ánh đèn bàn tỏa sáng khuôn mặt trái xoan thanh tú, mái tóc cắt ngắn ôm bờ vai.
Như Oanh nhỏ nhẹ:
– Xin lỗi, chị là phóng viên Lan Như?
Thiếu nữ ngẩng lên. Đôi mắt sáng, thẳng thắn, hơi ngạc nhiên:
– Tôi đây. Có việc gì, hả chị?
Như Oanh hít sâu, rồi thở ra mọi lo lắng, hồi hộp:
– Tôi là Huỳnh Như Oanh. Tôi vừa đọc bài phóng sự của chị. Tôi… tôi muốn hỏi thăm… một người trên chiến hạm Rạch Gầm.
Lan Như ngưng đánh máy. Ánh mắt như xuyên thấu từ từ dịu lại. Linh cảm cho biết người đối diện là ai, nàng nhẹ giọng:
– Chị muốn hỏi thăm về Hạm Trưởng Võ Bằng, đúng không?
Như Oanh sững sờ:
– Sao… Sao chị biết?”
Lan Như đứng dậy, giọng êm ái:
– Ở đây ồn ào. Chúng ta đến nơi khác nói chuyện, tiện hơn.
Quán cà phê gần tòa soạn, vắng khách. Nhạc tiền chiến nhẹ vang, êm và ấm.
Hai người ngồi đối diện, lặng lẽ quan sát nhau. Lan Như ngắm kỹ hơn người con gái được Võ Bằng để mắt đến. Gương mặt hiền hậu, đôi mày cong trên đôi mắt to đen. Tóc phủ bờ vai. Vẻ âu lo không che giấu. Một người con gái đủ dịu dàng để Võ Bằng thương yêu.
Như Oanh cũng ngắm Lan Như: mảnh mai, năng nổ, ánh nhìn thẳng thắn, đôi môi gợi cảm. Nếu Võ Bằng có rung động trước người con gái này cũng không có gì là lạ. Đã đến lúc rút lui như đã rút lui với Vinh chăng?
Khuấy đường cho ly cà phê, Như Oanh lên tiếng:
– Sao chị biết tôi muốn hỏi về Hạm Trưởng Võ Bằng?
Lan Như mỉm cười:
– Có lần anh ấy nhắc đến chị.
Như Oanh nghe rung động. Lan Như mỉm cười tiếp:
– Không chỉ nhắc mà còn thú nhận là… yêu chị.
Như Oanh giật mình:
– Xin đừng nói chơi…
Lan Như khẽ lắc đầu:
– Tôi nói thiệt.
Như Oanh đi thẳng vào mục đích:
– Chị có biết anh ấy chừng nào về Sài Gòn?
Lan Như lại mỉm cười:
– Về rồi!
Như Oanh cúi đầu, cổ như nghẹn lại:
– Xin chị đừng đùa cợt nữa. Tôi rất cần biết tin tức về anh ấy.
– Tôi nói đứng đắn mà. Anh ấy đã về và đã thú nhận với tôi anh ấy yêu chị.
Như Oanh mắt mở lớn, lắc đầu:
– Chúng tôi chỉ mới quen biết.
Lan Như thẳng thừng nói:
– Anh ấy thú nhận vì muốn ngăn tôi yêu anh ấy!
Như Oanh ngạc nhiên trước một thổ lộ quá mức chân thành đến khó tin. Nàng cúi đầu không biết nói gì thêm.
Giọng Lan Như êm đềm:
– Tôi nghĩ anh ấy chọn… đúng người.
Như Oanh trầm giọng:
– Cám ơn chị dành cho lời tốt đẹp. Nhưng thực tế có thể không được như vậy. Chúng tôi chỉ gặp gỡ gần như là thoáng qua. Còn chị, chị sống bên anh bao nhiêu ngày đêm, nơi mà tôi chưa từng được hân hạnh đặt chân lên.
Một nụ cười nhẹ, mơ hồ trên môi Lan Như:
– Đó cũng chính là niềm chua xót cho tôi. Tôi đã từ chối mọi chàng trai ve vãn cho đến khi gặp Võ Bằng. Mỗi ngày một ít, tôi hiểu anh hơn. Và rồi có cảm tình lúc nào không biết.
Như Oanh lặng nghe, lòng xôn xao. Những điều Lan Như kể, nàng đều có thể hình dung. Xét ra, nàng còn tệ hơn, chỉ sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi. Sự việc xem ra rối rắm, mơ hồ. Nàng vẫn thấy trong giọng Lan Như một điều gì chưa thể buông dù đã nghe Võ Bằng thú nhận yêu nàng. Còn với Võ Bằng, biết đâu anh chẳng nghĩ nàng đã có hôn phu mà ngả qua Lan Như. Dù thế nào cũng nên gặp Võ Bằng cho rõ trắng đen. Rồi chia tay không thắc mắc.
Như Oanh hỏi dò:
– Về đây, chắc chị đã có dịp gặp lại anh ấy?
– Chưa. Chưa được gặp.
Nàng hấp tấp hỏi:
– Chưa gặp? Sao chưa gặp? Có phải anh ấy bị thương?
Lan Như xua tay:
– Không. Anh ấy bình an. Tôi nói chưa gặp vì tôi đã tìm nhưng… không thể gặp.
– Sao vậy chị?
– Sáng hôm nay, sau khi báo phát hành, tôi mang xuống tàu tặng anh ấy nhưng họ không cho phép. Họ viện cớ tàu đang được giám định sửa chữa và sau đó vào Hải Quân Công Xưởng. Khu vực cấm dân chính.
Như Oanh vẫn ngờ vực:
– Xin chị kể cho nghe trận hải chiến.
– Tôi đang viết, và cần viết gấp. Muốn biết rõ, chị đón đọc báo ngày mai. Cả báo ngày mốt, kể về trận cuồng phong cũng kinh hồn.
Họ nói chuyện thêm một lúc. Lan Như kể vài chuyện vui trên tàu, về tính cách của những thủy thủ trẻ, về những bữa cơm đạm bạc nhưng đầm ấm như trong gia đình. Như Oanh lắng nghe, như được sống trong không khí ấy, như được gần Võ Bằng hơn.
Nàng nói:
– Chị may mắn hơn tôi, có được những kỷ niệm sâu đậm với Võ Bằng. Còn tôi, rất hời hợt, chưa biết gì nhiều về anh ấy.
Lan Như thấy chút an ủi. Quả là nàng hơn Như Oanh về mặt gần gụi Võ Bằng. Chỉ có nàng là được thấy những gì anh thực hiện, được nghe những lệnh anh ban ra khiến cả một khối sắt cũng biết nghe lời.
Lúc hai thiếu nữ ra khỏi quán, chuẩn bị chia tay, Lan Như nghiêm giọng:
– Hãy tin tôi. Đời Võ Bằng thuộc về biển, nhưng trái tim thuộc về chị. Hãy vui lên. Nay mai chị sẽ gặp mà!
Như Oanh gật đầu, mắt sáng lên. Hai người vòng tay ôm nhau. Bàn tay của phóng viên hơi chai sạn, của cô giáo mềm mại, nhưng cùng truyền cho nhau cảm giác ấm áp lạ thường.
Lan Như hướng về tòa soạn. Như Oanh bước trên lề phố đông người. Lần đầu tiên, từ sau ngày đi dạy, nàng không còn thấy mình đơn độc trong nỗi mong chờ dù chưa biết đến bao giờ…
Vũ Thất
(Còn tiếp)
