Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Té Đêm - Anh Khờ

      Té Đêm 

Hí hửng nàng thơ hiện bỗng... "ầm"!
Bầu trời đảo lộn tối mù câm
Quơ quào chẳng rõ... bám vào hóc?
Tỉnh thức thì ra... ngã xuống gầm!
Bật dậy lần xem bao chỗ xước
Ngồi lên nắn thử mẩy nơi thâm
May sao "sự việc" không nghiêm trọng
Chuyện lỡ đang đêm nghĩ cũng… "châm"!(*)

Anh Khờ 

(*)  châm = ngán sợ (Tiếng lóng trước năm 75)  












Góc Cổ Thi : TỐNG CỰU NGHINH TÂN (2) (Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Cổ Thi :  

                       TỐNG CỰU NGHINH TÂN  (2)

 
                
      Nhắc đến "Tống Cựu Nghinh Tân 送 舊 迎 新" trong đêm Giao thừa, thì không thể không nhắc đến câu ngạn ngữ cổ xưa đã truyền tụng trong dân gian là:

                  一 夜 連 雙 歲,   Nhất dạ liên song tuế,
                  五 更 分 二 年.   Ngũ canh phân nhị niên.
        Có nghĩa :
                  Một đêm nối liền hai tuổi,
                  Năm canh chia đều hai năm.
        Qủa là :
                    Một đêm hai tuổi liền nhau,
               Năm canh sau trước chia đều hai năm.

      Không phải chỉ trong dân gian mà cả trong cung của vua Đường; nhà vua tài hoa văn võ song toàn Đường Thái Tôn Lý Thế Dân 唐 太 宗 李 世 民 cũng có bài thơ "Thủ Tuế" trong đó có các câu rất hay như sau:

                 寒 辭 去 冬 雪,   Hàn từ khứ đông tuyết,
                 暖 帶 入 春 風。   Noãn đới nhập xuân phong.
        Có nghĩa :
             - Cái lạnh giả từ ra đi mang theo cả tuyết của mùa đông, và...
             - Cái ấm về lại mang cả gió xuân ấm áp theo về.

                     Lạnh đi mang cả tuyết đông,
                 Ấm về mang cả xuân phong theo về !
       Và...

                              

                 共 歡 新 故 歲,   Cộng hoan tân cố tuế,
                 迎 送 一 宵 中。   Nghinh tống nhất tiêu trung !
       Có nghĩa :
            - Cùng vui vẻ với tuổi cũ và tuổi mới, vì...
            - Đón năm mới và đưa năm cũ chỉ trong một đêm mà thôi!

                              Cùng vui tuổi mới cũ vong,
                     Nghinh tân tống cựu trong vòng một đêm !     

       Rõ nét nhất, cụ thể nhất và cũng thi vị nhất là bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú《Trừ Dạ 除 夜》là "Đêm Trừ tịch" của Tào Tung 曹 鬆 đời Đường:  

                殘 臘 即 又 盡,     Tàn lạp tức hựu tận,
                東 風 應 漸 聞.     Đông phong ưng tiệm văn.
                一 宵 猶 幾 許,     Nhất tiêu do kỷ hử,
                兩 歲 欲 平 分.     Lưỡng tuế dục bình phân ?
       Có nghĩa :
            - Tháng Chạp sẽ tàn lụi ngay trước mắt đây thôi (Tức hựu tận).
            - Đã dần dần nghe có tiếng gió xuân (Đông phong) thổi đến rồi.
            - Một đêm là thời gian còn có bao lâu (kỷ hử) đâu, mà...
            - Hai tuổi, hai năm lại muốn chia đều (bình phân) với nhau ?!...
  
                 
            

       Qủa là :
                   Tháng Chạp đã sắp tàn rồi,
                   Đã nghe tiếng gió xuân bồi hồi sang.
                   Một đêm ngắn chẳng đầy gang,
                   Chia đều hai tuổi chia làm sao đây ?!

       "Tống cựu nghinh tân" cũng có nhiều điều rất thi vị và lý thú, nên thơ  đến... ngẩn ngơ !

       Trong đêm trừ tịch, khi nghe tiếng pháo tre đì đà đì đẹt nổ để đón giao thừa, thì tất cả mọi người trong gia đình đều cùng nhau nâng ly rượu "Đồ Tô" trừ tà, trừ dịch bệnh lên để cùng nhau "Chúc Mừng Năm Mới". Tiêu biểu nhất là bài thơ "Nguyên Nhật 元 日" là "Ngày đầu một năm" của một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" là Tể Tướng Vương An Thạch 王 安 石 đời Tống như sau:

   爆 竹 聲 中 一 歲 除,     Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ,
   春 風 送 暖 入 屠 蘇.     Xuân phong tống noãn nhập Đồ tô.
   千 門 萬 戶 曈 曈 日,     Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
   總 把 新 桃 換 舊 符.     Tổng bả tân đào hoán cựu phù.

                                

      Có nghĩa :
           - Trong tiếng pháo tre nổ thì một tuổi (một năm) đã được trừ đi,
           - Gió xuân đưa làn hơi ấm áp vào trong ly rượu Đồ tô.
           - Muôn nhà ngàn hộ đang đón ánh nắng ban mai theo mặt trời mọc...
           - Đều cùng "Gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".
      * Đào Phù 桃 符 : là "Lá bùa được viết để dán lên cành đào". Ta gọi là "Lá bùa nêu" thường được viết trên giấy đỏ và đều là những lời viết tốt đẹp. Sau phát triển thành những câu "Liễn Tết" mà ta gọi là "Câu Đối Đỏ". Nên "Tổng bả tân đào hoán cựu phù 總 把 新 桃 換 舊 符 là "Đều cùng gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".

                   Một tuổi qua đi trong tiếng pháo,
                   Gió xuân đưa ấm rượu Đồ tô.
                   Muôn nhà chờ nắng ngày xuân mới,
                   Thay liễn đều cùng đón ước mơ !

       Trên đây là những gia đình được đoàn tụ, sum họp trong đêm Ba Mươi Tết để cùng đón giao thừa, cùng vui hưởng cái thiên luân của một gia đình đoàn viên hạnh phúc; còn những người tha phương cầu thực, gởi thân nơi đất khách, phiêu bạc nơi xứ lạ quê người thì đón Giao thừa trong đêm Trừ tịch như thế nào đây? Ta hãy cùng đọc bài thơ 《TRỪ DẠ 除 夜》của thi nhân TỪ BÍ 徐 賁 đời Nguyên như sau đây:

                                         

   客 舍 無 人 更 寂 寥,  Khách xá vô nhân cánh tịch liêu,
   聲 傳 爆 竹 隔 林 遙。  Thanh truyền bộc trúc cách lâm diêu.
   幾 多 時 節 何 堪 恨,  Kỷ đa thời tiết hà kham hận,
   送 卻 流 年 是 此 宵。  Tống khước lưu niên thị thử tiêu !
      Có nghĩa :
           - Nhà khách không người nên càng (cánh) cảm thấy cô đơn vắng vẻ,
           - Tiếng pháo tre văng vẳng đưa lại từ mé rừng xa xa...
           - Biết bao lễ tiết đi qua làm sao nói cho hết được cái hận ở trong lòng ?
           - Lại phải đưa quách đi cái lễ tiết cuối cùng của năm nay trong đêm nay!

       Đưa tiễn năm cũ qua đi một cách dỗi hờn trong đêm trừ tịch. Quả là một cách đưa tiễn hờn mát của một kẻ xa nhà khi năm tàn Tết đến mà chẳng được cùng gia đình đoàn tụ .

                                                    
                    Nhà khách không người càng vắng lặng,
                    Pháo tre đì đẹt cách rừng xa...
                    Bao nhiêu lễ Tết còn chi hận...
                    Đưa quách năm tàn đêm đã qua !

      Sau đây là tâm sự buồn thương day dứt của Thi Bá Bạch Cư Dị 詩 霸  白 居 易 phải đón giao thừa nơi đất khách khi công chưa thành danh chưa toại qua bài thơ  KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ 客 中 守 歲 (Đón Giao thừa nơi đất khách) của ông:   

              守 歲 樽 無 酒,   Thủ tuế tôn vô tửu,
              思 鄉 淚 滿 巾。   Tư hương lệ mãn cân.
              始 知 爲 客 苦,   Thủy tri vi khách khổ,
              不 及 在 家 貧。   Bất cập tại gia bần.
              畏 老 偏 驚 節,   Úy lão thiên kinh tiết,
              防 愁 預 惡 春。   Phòng sầu dự ố xuân.
              故 園 今 夜 裏,   Cố viên kim dạ lý,
              應 念 未 歸 人。   Ưng niệm vị quy nhân.
                        白 居 易                    Bạch Cư Dị
              
                        

* CHÚ THÍCH :
    - Khách Trung 客 中 : là Trong lòng đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.
    - Thủy Tri 始 知 : Mới biết được rằng ...
    - Bất Cập 不 及 : Không bằng được ....
    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚 畏 là Sợ Hãi.
    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可 惡 : là Đáng ghét.
    - Cố Viên 故 園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa, Quê hương.
    - Ưng Niệm 應 念 : là Chắc là đang nhớ đến, nhắc đến...                    

* NGHĨA BÀI THƠ :
              ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH

                                  

       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi.
       Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn tay. 
       Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, 
       Không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì...
       Sợ gìa nên cũng sợ luôn cả các lễ Tết...
       Dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. 
       Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng...
       Đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn bao giờ hết, như lời thơ của nhà thơ Chế Lan Viên thời Tiền Chiến:

                     Tôi có chờ đâu có đợi đâu,
                   Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

* DIỄN NÔM :           
                 KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ
              
                        


                Giao thừa chai hết rượu,
                Nhớ quê lệ ướt khăn.
                Mới hay tha hương khổ,
                Không bằng nghèo yên thân.
                Ngại gìa lại e Tết,
                Sợ buồn cũng ghét xuân.
                Quê nhà đêm nay chắc...
                Nhớ người đi bâng khuâng.
   Lục bát :
                Giao thừa chai rượu lại không,
                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.
                Mới hay lưu lạc khổ thay,
                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.
                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,
                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.
                Đêm nay chắc cả thôn làng,
                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !
                                       
       Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa nơi quê nhà: Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón giao thừa và  ăn Tết ra sao?!    

       Hẹn bài dịch tới !

                                                                杜 紹 德
                                                             Đỗ Chiêu Đức
















Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Tiêu Sử- Lộng Ngọc - Vu Sơn

                                 

Tiêu Sử- Lộng Ngọc

Tiêu Sử chàng ơi... trổi tiếng tiêu!
Đêm nay trăng sáng ngập Lam Kiều
Ngồi bên trướng gấm chờ giai điệu
Đứng tựa rèm châu đợi khúc thiều
Khắc khoải tơ trời day dứt liễu
Du dương giọt nước ngọt ngào điêu
Tà mây giấu thẹn… hoa hàm tiếu
Lộng Ngọc lung linh tưạ... nắng chiều

       Vu Sơn








ĐOẢN KHÚC TÌNH XƯA - Thơ Songquang và Thơ Họa

         

ĐOẢN KHÚC TÌNH XƯA

Thoáng bóng chiều rơi nắng nhạt rồi

Tình xưa ngày tháng cứ dần trôi

Người đi chốn ấy miền xa xứ

Ta ở phương nầy bóng lẻ đôi

Cứ ngỡ thời gian dần lịm tắt

Nào ngờ kỷ niệm khó phai phôi

Một lần ước được vui tao ngộ

Không gặp... đành thôi! đã muộn rồi

Songquang

 20260129


Thơ Họa:

       VÌ CHƯNG

Tình xưa?...lòa năm tháng lâu rồi

Chạy ngược?... câu vèo... vẫn cứ trôi?

Lối hẹn sầu tênh!... thôi bướm cặp

Ngõ chờ ngao ngán!... bặt chim đôi?

Tóc xanh nay cũng đành phai sắc

Tim đỏ giờ đây đã nhạt phôi?

Kết cỏ ngậm vành vương ảo mộng

Vì chưng duyên phận lỡ làng rồi?!

Nguyễn Huy Khôi

     29-01-2026

 

     MUỘN MÀNG

Quá khứ dường e trở lại rồi!

Đâu ngờ mộng cũ chớ hề trôi

Hàn huyên nghĩa dệt chờ chung lối

Thỏ thẻ vai choàng ước hợp đôi

Thất hẹn ba tuần mong thứ lỗi

Sum vầy một tổ há chia phôi?

Thuyền ai rẽ bến xem chừng vội

Trách phận làm chi bởi muộn rồi!

  Như Thu

01/29/2026

 

BÀNG BẠC MẦU XUÂN 

Tình xưa bàng bạc đã lâu rồi

Xuân cũng phai dần ngày tháng trôi

Năm hết, cành đào vươn bóng lẻ

Tết về, chậu cúc xếp hàng đôi

Nhang vòng thả khói vương tàn lá

Trầm thẻ tan hương đọng nụ phôi

Pháo nổ lưa thưa ngoài xóm lạnh

Nhớ thương ánh lửa ấm xa rồi …

Rancho Palos Verdes   29 - 1 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

ĐƯỜNG ĐỜI ĐÔI NGÃ

Luyến tiếc làm chi chuyện đã rồi

Lòng người như nước chảy, mây trôi

Mới vừa sum họp đường chung một

Nay đã xa lìa bóng tách đôi

Chốn ấy, người say tình khắn khít

Nơi này, ta gặm nỗi chia phôi

Số phần đã chẳng cho cùng lối

Trách móc, than van... cũng muộn rồi !

   Sông Thu

( 30/01/2026 )

 

     TỪ ẤY XA RỒI

Cố nhân, từ ấy đã xa rồi

Năm tháng lạc loài sóng nước trôi

Cổ độ vời trông đò bóng lẻ

Hoang chiều chợt thấy yến oanh đôi

Tình xưa vỗ cánh rời tâm tưởng

Nhớ cũ dâng triều thoát mộng phôi

Một thoáng huyền mơ vào thực tại

Trên sông nguyệt lạnh khuất mây rồi…

Lý Đức Quỳnh

   30/1/2026 


BÂNG KHUÂNG THÁNG CHẠP

Man mác thời gian tháng chạp rồi

Buồn tênh hiên quạnh lắng ngày trôi .

Bên tường cúc trắng ra vài nụ

Trong nắng bướm vàng lượn mấy đôi.

Tuổi hạc tình quê càng thắm thiết

Xóm giềng ký ức chẳng pha phôi.

 Mây Tần lãng đãng ôm lòng nhớ

Chúm chím đào mai sắp Tết rồi !

   Mailoc

01-29-2026

( ngày 11/ tháng chạp/ năm Ất Tỵ 2025)

 

NỖI NHỚ VÂY QUANH

Gió bấc hiu hiu trở lạnh rồi

Chiều tà nhạt nắng áng mây trôi

Bơ vơ xót phận hờn đơn độc

Héo hắt bi tình trách lẽ đôi

Vẫn muốn quên đi đừng quyến luyến

Mà sao nỗi nhớ chẳng tàn phôi

Đọc dòng thơ cũ dư âm hiện

Nhưng bóng người xưa biệt nẻo rồi

   Hưng Quốc

Texas 1-29-2026

 

     BÓNG THỜI GIAN

Chiều buông nắng xế nhạt phai rồi

Mà bóng thời gian lặng lẽ trôi…

Nghĩa cũ mong chờ ai lẻ bạn

Tình xưa ngóng đợi bạn chung đôi

Người đi bỏ xứ đêm tăm tối

Kẻ ở xa quê sớm nhạt phôi

Mộng ước bên nhau mình hội ngộ

Mơ màng mọi sự bỏ buông rồi

MAI XUÂN THANH

Silicone Valley January 29, 2026 



   KÝ ỨC NGÀY XƯA

Đếm thầm ngày tháng đã qua rồi

Chép miệng ngỡ ngàng quá lẹ trôi

Hồi ấy ngọt bùi lời như một

Mới đây vui vẻ bước chung đôi

Nay người chốn cũ sầu thương chất

Giờ kẻ phương xa , viễn thật rồi

Kỷ niệm còn đong đầy ký ức…

Thời gian lặng lẽ ngấm chia phôi.

CAO BỒI GIÀ

   29-1-2026

 

THƯƠNG THƯƠNG NHỚ NHỚ

Chuyện xưa cứ nghĩ đã xuôi rồi

Ấy thế mà sao vẫn chửa trôi?

Luôn ám ảnh đây như hiện hữu

Lại càng quấn quít thể song đôi

Môi kề ấm áp hoa đơm trái

Tay nắm vo vòng kén kết phôi

Bật giấc, Ôi trời chi khéo mộng!

Chuyện xưa cứ nghĩ đã xuôi rời.

Thái Huy

Jan/30/26

 

    VẪN MỘNG MƠ

Chiều sang nắng héo sắc phai rồi,

Mây thả góc đồi kéo dáng trôi.

Thân độc kiếp trần xa viễn xứ,

Đơn côi duyên phận rẻ chia đôi.

Ra đi một nửa hồn tôi mất,

Người ở chia tình dạ nhạt phôi.

Thu bỏ lúc xưa mong tái họp,

Đông nay lạnh nhắc nhớ … thôi rồi!

                           *

Ngày họp tương phùng chỉ có tôi!

HỒ NGUYỄN

 (30-01-2026)

  

KỶ NIỆM NGÀY XƯA 

Kỷ niệm ngày xưa tưởng đã rồi

Không ngờ khơi lại ngược dòng trôi...

Cách xa ngàn dặm đà quên mất

Bất chợt găp nhau bước sóng đôi

Kể lể chuyện đời bao gió bảo...

Đắng cay mặn lạt lúc chia phôi.

Giờ già hai đứa tóc đều bạc

Đã thấy nhau rồi vui vẽ thôi...

Mỹ Nga

     02/02/2026 ÂL,15/12/ ẤT TỴ 


      ĐOÀN VIÊN 

Đến lúc chùm tia chuyển sắc rồi

Ngày đi đêm tới lặng lờ trôi

Xa nhau khắc khoải buồn thân phận

Ly biệt bùi ngùi xót lứa đôi

Cứ ngỡ ngày mai đây gặp lại

Ngờ dâu vạn dặm dài chia phôi

Nhủ lòng phải cố lên đi nhé

Mong phút đoàn viên đủ khổ rồi !

PHƯỢNG HỒNG

 

       NHỚ XƯA

Những tấm hình xưa đã mất rồi

Thời gian tuần tự cũng êm trôi

Người đi mãi mãi miền miên viễn

Kẻ ở âm thầm… lẻ lứa đôi

Cứ tưởng trăm năm tình khắn khít

Đâu ngờ ân đoạn nghiã chia phôi

Thôi thì duyên nợ không tròn kiếp

Hình ảnh ngày xưa đã mất rồi !

THIÊN LÝ 


HOÀI THƯƠNG MÃI NHỚ

Nhẫm tính đời ôi!… xế chạn rồi
Sao mà khắc khoải mãi nào trôi
Như lời hẹn ước thành duyên lứa
Lẫn đỗi mong chờ gánh nợ đôi
Thế lại tình yêu đảnh rẻ biệt
Ôm ngần nỗi khổ bởi chia phôi
Giờ đây một chiếc thương hoài bóng
Xao xót mình… tuy chuyện xửa rồi !..
Mai Vân-VTT, 04/02/26.






 



 











Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Học Tắc (Bài 2) (Diển Đàn Khai Phóng ) - Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

 

Học Tắc (Bài 2) (Diển Đàn Khai Phóng )

 


BÀI 2

CÁC CỔ ĐIỂN THỜI KHỔNG TỬ GIÚP ÍCH HIỂU ĐẠO KHỔNG

Bề rộng của không gian giống như chiều dài của thời gian. Chiều dài 

của không gian cũng giống như bề rộng của không gian. Do đó, nếu

 lấy ngôn ngữ ngày nay để xem ngôn ngữ ngày xưa, hoặc lấy ngôn 

ngữ ngày xưa để xem ngôn ngữ ngày nay, thì trường hợp nào cũng

 không thể hiểu được, mà chỉ giống như nghe tiếng chim hót của 

dân tộc khác. Ở điểm này, (đối với người Nhật Bản chúng ta) thì văn 

tự cổ đại của Trung quốc và văn tự cổ đại của Ấn Độ đều giống như

 nhau (ý tác giả muốn nói đến cả hai trường hợp:học đạo Khổng và 

đạo Phật).

Ngôn ngữ thay đổi dần theo thời đại. Do đó, ngôn ngữ diễn tả đạo 

cũng thay đổi dần theo thời đại. Nguyên nhân chủ yếu đưa đến việc ý

 nghĩa chân thật của đạo trở nên không rõ ràng là bởi lý do này.

Việc 100 đời sau truyền đạt truyện cổ đại giống như lời nói của họ 

Việt Thường thông qua phiên dịch 9 lần mới chuyển sang được ra 

tiếng Trung quốc (1). Trường hợp của nước họ Việt Thường thì chỉ 

cách xa Trung quốc vạn dặm nhưng còn trong cùng thời đại. Trường

 hợp này không thể so sánh với trường hợp của tăng Tam Tạng sang 

đến Ấn Độ thỉnh các kinh điển cổ đại. (Bởi vì trường hợp này có sự 

cách biệt to lớn của cả không gian và thời gian).

Các giải thích được đời sau thêm vào các giải thích cũ của đời trước,

 cháu tiếp nối con, chắt lại tiếp nối cháu… cứ tiếp tục mãi đến lúc 

nào đó không còn biết tổ tiên của mình trước đó là ai! Trải qua dòng

 thời gian dài ngàn năm, phong tục cũng thay đổi, các sự vật cụ thể 

của ngày xưa cũng không còn. Không thể chỉ tin vào các giải thích 

(của người khác mà chính bản thân người muốn học phải tìm hiểu ở

 nguyên văn). Thêm vào đó, cũng không thể đặt bản thân mình vào 

thời đại của Khổng tử, cũng không thể thân mật với các học trò của 

ông như Tử Du, Tử Hạ v.v… để cùng nghe giảng dạy.

Ngoài ra, sự xa cách của không gian và sự cách biệt của thời gian

 thật ra có những điểm khác biệt, không hoàn toàn giống nhau.

Tuy nhiên, cái mà còn mãi (bất hủ) là văn (chữ viết) (nguyên văn: bất

 hủ giả văn); nội dung được ghi lại của văn vẫn còn nguyên vẹn trong

 kinh sách. Trong khoảng thời gian mà ngôn ngữ chưa thay đổi, các 

sách khác như Quản Tử, Yến Tử Xuân Thu, Lão Tử, Liệt Tử v.v… có

 cùng loại ngôn từ với sách của thánh nhân vẫn còn lưu lại đến hiện

 tại. Mặc dù đạo của các tác giả này giảng giải, chủ trương không 

giống như đạo của Nho gia nhưng không có lý do gì phải chán ghét 

đến mức độ không thèm ngó đến. Nếu không phải để nghiên cứu nội

 dung mà chỉ nghiên cứu về ngôn từ được dùng để giải thích nội dung

 thì tinh thần trí óc chúng ta vẫn trong sáng (bất muội) không bị mê 

hoặc (nguyên văn: bất muội giả tâm) (2).

Việc không thể hiểu như nghe tiếng chim hót không những do sự 

khác biệt của lời (ngôn言) mà còn do thứ tự của các lời trong câu nói

 (từ 辞) (ý nói còn có vấn đề văn phạm hoặc cách diễn tả, ngoài sự 

khác biệt của tiếng nói, của ngữ vựng).

Bản thân tôi đã theo lời khuyên của ông Vu Lân(3) nghiên cứu cổ văn

 từ để hiểu cổ đại, hết lòng học cổ văn từ cho thuần thục, và đã dành

 nhiều thời gian để “đồng hóa” bản thân với cổ văn từ, từ cách diễn tả

 đến tinh thần (của tôi) đều giống như người cổ đại. Sau khi đã đạt 

được như vậy, thì ngày đêm đều có thể trò chuyện với người của

 ngàn năm về trước. Điều này gọi là đặt bản thân mình vào thời đại

 của Khổng tử, cùng thân mật với Tử Du, Tử Hạ v.v… cùng nghe lời 

giảng dạy của phu tử. Điều này cũng gọi là gia nhập vào giới bạn bè 

của cổ nhân, không cần phải mượn sức của Hòa huấn, cách phiên

 đọc Hán văn bằng tiếng Nhật

Tóm tắt ý quan trọng

– Tổng hợp ý nghĩa của ngôn từ và cách diễn tả của các tác giả cùng

 thời đại là cách thực dụng để có thể hiểu đúng học ngôn ngữ cổ đại.

 Cụ thể, để hiểu lời của Khổng tử trong Luận Ngữ, lục kinh nên đọc

 Lão Tử, Quản Tử, Yến Tử Xuân Thu, Liệt tử.

– Để có thể hiểu chính xác ngôn ngữ nước ngoài ngoài việc thông 

thạo từ vựng, văn phạm còn phải biết dùng để diễn tả ý tưởng, tâm 

tình như người bản xứ.

Nhận xét

(1) Theo thể nghiệm bản thân của người dịch, đọc nguyên văn bằng

 Hán văn của Sorai người dịch nhận thấy nắm được chính xác nội 

dung tác giả muốn truyền đạt hơn nhiều, và nhờ đó có thể phiên dịch

 chính xác hơn khi chỉ đọc qua nội dung dịch bằng tiếng Nhật hiện 

đại. Đặc biệt đối với những từ ngữ Hán mà tác giả trích dẫn hoặc mô 

phỏng các sách cổ điển khác, tuy rất ngắn gọn nhưng hàm chứa 

nhiều ý nghĩa trong đó. Cần phải tra cứu thêm mới có thể hiểu đúng.


Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 5/12/2025, Xem lại và bổ sung ngày 20/1/ 2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Ghi chú

(1)Họ Việt Thường: Theo giải thích của Tài liệu tham khảo, vào đời 

Chu, là dân tộc ở phía Nam của nước ta vào thời đó. “Theo Thượng 

Thư Đại Truyện và Hậu Hán Thư thì vào năm 6 kể từ khi Chu Công 

nhiếp chính, người nước Việt Thường đi bằng ba con voi đến dâng 

chim trĩ trắng cho Chu Thành Vương. Hai bên đều không có ai biết

 tiếng của nhau nên phải dùng cách phiên dịch gián tiếp qua nhiều 

ngôn ngữ khác để nói chuyện.” (Theo Wikipedia tiếng Việt). Trong 

sách Luận Hành của Vương Sung (27~97) ghi “Thiên hạ đời Chu thái 

bình, Việt Thường hiến trĩ trắng”.

(2) Trong thơ của Lý Phàn Long viết cho Vương Thế Trinh có câu: 

“不 朽 者 文、不 昧 者 心” (Bất hủ giả văn, bất muội giả tâm: cái mà 

không mất là văn, cái không tối tăm là tâm)

(3)Vu Lân于 鱗 (tự của Lý Phàn Long 李 攀 竜, 1514 ~ 1570) là thi nhân

 và văn nhân của Trung quốc đời Minh. Nhân vật chủ yếu của phái

 cổ văn từ đời Minh gồm có 7 văn nhân được gọi là “tiền thất tử”: 李

夢 陽, 何 景 明, 徐 禎 卿, 康 海, 王 九 思, 辺 貢, 王 廷 相. Phái này được Lý 

Phàn Long, Vương Thế Trinh 王 世 貞và các người khác kế tục.

Tài liệu tham khảo

  •  Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh 
  • Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng 
  • Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.