Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Nhỏ Giận - Anh Khờ

     

                                     

     Nhỏ Giận 

Nhỏ giận anh rồi... có biết "hong"?
Hư thân… cái tật thích đèo bòng!
Đôi khi đứng cạnh... như xa mặt...
Lắm bận đi bên... tựa cách lòng?
Đã "dzậy" quên liền cho... khỏi đợi…
Thôi thì dẹp quách để... đừng mong
Câu rằng: "tình cho đi không tính"     (*)
Xét kỹ… yêu người cũng... đếm đong
           Anh Khờ 

(*)    l'amour c'est pour rien. 










Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất / CHƯƠNG 41: ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG SA

                                  

Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất 

CHƯƠNG 41: ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG SA

Vào buổi sáng mùa hè đẹp trời.
Một công điện thượng khẩn từ Bộ Tư Lệnh Hạm Đội gửi cho Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm như tiếng sét giáng thẳng vào đầu Võ Bằng. Anh đọc đi đọc lại ba lần. Tờ giấy mỏng mà nặng như chì. Lưng rịn mồ hôi.
“Quý chiến hạm được biệt phái khẩn cho Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Duyên Hải. Yêu cầu trang bị tối đa dầu, nước, đạn dược, thực phẩm và khởi hành trong vòng 24 tiếng. Báo cáo nhận hành.”
Anh buông tờ công điện, đứng dậy, rồi lại ngồi xuống. Tay anh bất giác kéo hộc bàn. Anh mở chiếc hộp nhung đỏ. Chiếc nhẫn đính hôn, đôi bông tai hột xoàn óng ánh như trêu ngươi. Anh mở bóp. Nụ cười của Như Oanh trong ảnh rạng rỡ. Anh đập mạnh tay xuống mặt bàn. Chỉ còn bảy ngày. Bảy ngày nữa là lễ hỏi. Mọi việc đã chuẩn bị xong…

Anh hối hả cỡi Vespa vào Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, gặp Chỉ Huy Trưởng Hải Đội. Lời xin hoãn công tác nói ra nhanh, gọn nhưng chạm bức tường bê tông cốt sắt. Trung Tá đáp lời nhanh gọn không kém:
– Thông cảm nhưng rất tiếc! Chiến trường đang cần.
Trở về tàu, Võ Bằng cho họp sĩ quan. Buổi họp phân công và thời gian về báo gia đình kết thúc trong sự im lặng nặng nề, như sóng ngầm dưới lòng biển sâu. Từng người đứng dậy, chào, bước ra. Không có tiếng đùa. Không một câu hỏi.
Ai cũng mang nặng công việc phải làm cho kịp giờ khởi hành.

Buổi chiều, anh phóng xe ra Bưu Điện gửi điện tín về quê báo tin cho ba má. Xong, anh đến trường đón Như Oanh.
Nàng bước ra cổng, thấy anh, nụ cười vừa chớm thì dừng lại. Có cái gì đó trên gương mặt anh khiến nàng bất an.
Nàng băng vội qua đường, hỏi dồn:
– Chuyện gì vậy anh?
– Tàu phải đi công tác bất thường. Ngày mai.
Nàng cúi đầu. Những ngón tay siết chặt cặp sách.
Một lúc rất lâu. Khi ngẩng lên, mắt nàng đỏ hoe, giọng nghẹn ngào:
– Không chỉ hoãn lễ hỏi… mà suốt mùa hè này… em cũng không có anh.
Võ Bằng gượng cười. Một nụ cười cam chịu:
– Đời hải hồ mà… Ráng tập quen đi em.
Câu giả lả chỉ làm đôi mắt nàng thêm long lanh.
Khi ba mẹ Như Oanh về, nghe tin, ông bà buồn xo. Giọng ông đều đều:
– Quân lệnh trên hết. Chỉ chậm vài tháng thôi.

Buổi sáng khởi hành, Cố vấn Mỹ tháp tùng chuyến đi.
Đến Vũng Tàu, cả hai vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 3 Duyên Hải dự buổi họp hành quân. Bản đồ trên tường đầy những chấm đen kèm tên của các đảo Trường Sa.
Thiếu Tá Trưởng Phòng di chuyển đầu que vào vùng phía nam:
– Đây là khu vực có nhiều tàu lạ xuất hiện. Ảnh không tuần cho thấy hai tàu không cờ, không số, chở đông người… có thể đổ bộ chiếm đảo.
Không ai lên tiếng. Không khí đặc lại.
– Hiện chiếc tuần duyên hạm Sinh Tồn, HQ 631 đang tuần phòng vùng này. Nhiệm vụ của Rạch Gầm là tăng cường, phối hợp ngăn chận.
Thiếu Tá thu hồi que nhôm, cao giọng:
– Nếu vi phạm lãnh hải: Cảnh cáo bằng loa rồi bằng súng. Không tuân lệnh: được phép triệt hạ.
Không ai hỏi thêm. Cố Vấn Mỹ ghi chép.

***

Mười giờ, Rạch Gầm rời cầu Cát Lỡ trực chỉ Trường Sa.
Gió mùa tây-nam: sóng xuôi, gió xuôi.
Ra khỏi mũi Nghinh Phong, Võ Bằng giao phiên cho Thiếu Úy Đức, xuống buồng.
Buổi trưa, sau bữa ăn, anh đi một vòng kiểm tra tàu. Tình trạng an toàn tốt. Mọi thứ gọn gàng. Sẵn sàng.
Trở về buồng, anh ngồi viết thư cho Như Oanh. Rồi gửi ngay khi ghé bến.
Chắc nàng đang chờ. Như anh đang chờ.
Anh ngủ một giấc dài.

Chiều xuống. Chuông điện thoại reo. Anh nhấc máy:
– Thưa Hạm Trưởng, phía trước có nhiều tàu đánh cá.
– Tôi lên ngay.
Võ Bằng bước nhanh lên đài chỉ huy. Vừa đi vừa nghĩ: “Tàu tập trung ở Trường Sa? Không thể! Sớm nhất trưa mai mới tới.”
Anh nâng ống dòm. Một dải đất mờ ở hướng 11 giờ.
Anh hỏi sĩ quan đương phiên:
– Có phải Poulo Cecir de Mer không?
– Thưa phải.
– Anh biết tên Việt của đảo?
– Thưa… không rõ.
Võ Bằng khẽ cười:
– Đảo Phú Quý. Cũng gọi là Cù Lao Thu.
Trung Úy Tuấn quay lại:
– Thưa Hạm Trưởng, sao lại hai tên?
– Poulo… từ tiếng pulau của Mã Lai – nghĩa là đảo. Dân mình lúc dịch là “đảo”, lúc giữ âm thành “cù lao”.

Anh dừng một chút:
– Cù Lao Thu là tên cũ. Do có nhiều cá thu quanh đảo. Năm 1844, vua Thiệu Trị đặt tên Phú Quý… vì thấy nơi này sẽ sang giàu.
Trung Úy Tuấn gật gù. Cố Vấn Mỹ đứng cạnh, lắng nghe, hơi bối rối.
Võ Bằng quay sang:
– You follow?
Bill cười:
– Chút chút… but interesting.
Trung Úy Tuấn lại hỏi:
– Thưa Hạm Trưởng, còn ‘hòn’ và ‘cồn’, khác nhau thế nào?
Võ Bằng nói thật chậm, hy vọng cố vấn hiểu:
– Hòn là đảo nhỏ ngoài biển. Chỉ riêng quanh đảo Phú Quý, ta có các Hòn Tranh, Hòn Đen, Hòn Đỏ, Hòn Giữa…
Anh dừng lại, nhíu mày, rồi tiếp:
– Và một hòn, tên gọi Hòn Tro, có ‘hành động’ kỳ lạ là vào năm 1923 đột nhiên nhô cao ba mươi mét rồi ba tháng sau lại chìm mất. Sau đó có lời cảnh giác của nhà làm hải đồ: “Vì nhiều địa chấn trong vùng, cần thận trọng khi hải hành. Lời cảnh giác này cũng áp dụng cho vùng Trường Sa, Hoàng Sa.”
Thiếu Úy Lũy thè lưỡi:
– Nghe mà ớn! Võ Bằng giải thích tiếp:
– Còn cồn là bãi đất nổi giữa sông do phù sa hay cát tích tụ. Như miền tây có ‘tứ linh cồn’: Cồn Long – Lân – Quy – Phụng cùng nằm ven sông Tiền. Trong đó Cồn Phụng nổi tiếng nhất.
– Thưa, sao được nổi tiếng?
– Vì là Thánh địa của ông Đạo Dừa. Nhưng nổi tiếng rồi… mất tiếng. Từ khi là thánh địa, Cồn Phụng mang tên mới: Cù lao Đạo Dừa.
Trung Sĩ Huân than thở:
– Lung tung, khó nhớ quá!
Võ Bằng cười:
– Hòn và cồn cũng bị dùng lẫn lộn. Như lần ra bắc vừa rồi, qua vĩ tuyến mười bảy, chúng ta gặp một đảo nhỏ có tên Cồn Cỏ.
– Thưa Hạm Trưởng, đảo Phú Quý có sản phẩm gì có thể thành phú quý?
– Trên đảo, người đông nhưng không có sản phẩm gì đắt giá. Nổi bật là ba kiến trúc tâm linh cổ kính, uy nghi. Một là Bảo Tháp Chùa Linh Quang chín tầng, trên ba trăm năm. Hai là đền thờ Công chúa Bàn Tranh bị vua Chàm đày biệt xứ khi dám từ chối làm vợ người do vua chọn. Thuyền của bà giạt vào đảo này. Bà lập nghiệp và giúp dân. Sau khi bà mất, dân trên đảo lập miếu thờ, tôn xưng Bà Chúa Đảo.

Võ Bằng dừng lại, theo dõi Trung Úy Tuấn ra lệnh luồn lách tránh ghe. Khi chiến hạm trên hải trình an toàn, anh tiếp:
– Kiến trúc thứ ba từ thế kỷ mười tám là Lăng Vạn An Thạnh, nơi thờ Ông Nam Hải, vị Thần biển Nam hộ mệnh ngư dân. Mỗi khi thấy xác cá ông tấp vào là dân đảo cử hành trọng thể nghi lễ an táng. Đến nay lăng lưu giữ hơn một trăm bộ xương, bộ dài nhất là hai mươi mét.
Bất chợt, mặt biển phía trước nổ tung. Một cột nước trắng xóa bung lên. Một thân cá voi vọt khỏi mặt biển. Ánh nắng chiều vỡ thành các hạt nước tung tóe lấp lánh như kim cương. Thân cá uốn éo như chào mừng chiến hạm. Hay như ngăn cản chiến hạm tiến tới?
Mọi người đứng lặng. Tiếng máy tàu nhỏ đi như tránh khuynh động giây phút lạ thường.
Võ Bằng thầm van vái:
– Xin Ngài Nam Hải phù hộ chúng con bình an.

***

Mặt trời lặn rất nhanh. Vùng trời đỏ, rồi tím, rồi xám, rồi đen tối.
Trăng lên, không tròn nhưng đủ cho biển lấp lánh. Những gợn sóng mang viền bạc mỏng.
Trung Úy Tài nhấp một ngụm cà phê nguội rồi lẩm bẩm:
– Biển đêm… lúc nào cũng khác.
Trung Sĩ Huân hỏi:
– Khác thế nào, Trung Úy?
– Khó nói!
Một quan sát viên quay lại, cười cười:
– Chắc khác với biển gần bờ?
Trung Úy Tài lắc đầu:
– Không. Nó… mênh mông hơn và… hoang vu!
Hạm Phó Tiến hiện diện từ bao giờ, lên tiếng:
– Đang có trăng mà.
Trung Úy Tài nhìn xa xa:
– Chính ánh sáng lờ mờ đó… làm cho nó hoang vu.
Võ Bằng gật đầu:
– Tôi đồng ý.
Nói xong anh ngồi tựa đầu vào lưng ghế. Đài chỉ huy như hoang vu một lúc lâu.

Trung Úy Tài ngập ngừng lên tiếng.
– Thưa Hạm Trưởng, trên hải đồ ghi là Spratly Islands, mình gọi là Trường Sa. Xem ra chả có dây mơ rễ má gì với nhau! Vì đâu nên nỗi?
Võ Bằng định chịu bí thì Hạm Phó Tiến cứu bồ:
– Tôi được nghe ông cựu Hạm Trưởng giải thích như sau. Người Việt khai phá vùng hàng trăm đảo và bãi cát này từ thế kỷ 17, nên đặt tên Trường Sa. Đến thế kỷ 19, thuyền trưởng tàu săn cá voi Richard Spratley đến vùng này, đặt tên theo họ của mình.
Trung Úy Tài reo lên:
– Cám ơn Hạm Phó.
Võ Bằng vui vẻ tiếp lời:
– Từ thời Minh Mạng, đã có dựng bia chủ quyền: Vạn Lý Trường Sa. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa, ta tiếp tục khẳng định chủ quyền, dựng bia mới và xây trạm khí tượng trên một đảo tương đối lớn, gọi Trường Sa Lớn.
Trung Sĩ Huân bật cười:
– Trường Sa Lớn mà lại tương đối lớn?
Võ Bằng trầm giọng:
– Vì đảo lớn nhất, đảo Ba Bình bị Đài Loan chiếm khi Việt Nam ở vào thời buổi chia cắt đất nước. Đảo Thị Tứ lớn thứ nhì thì bị Phi Luật Tân chiếm.
Hạm Phó Tiến nhăn mặt:
– Sao mình không đánh lấy lại những đảo đã mất?
– Nhiều tế nhị về mặt chính trị.
– Nếu sợ như vậy, họ chiếm thêm thì sao?
Võ Bằng mỉm cười:
– Các đảo quan trọng đã có quân phòng thủ. Các đảo nhỏ và các bãi còn lại do Hải Quân bảo vệ. Đó là lý do hôm nay chúng ta… ra đi khi trời vừa sáng.

***

Trăng lên cao hơn. Mặt biển sáng hơn. Những gợn sóng lấp lánh.
Chiến hạm chạy đều. Mũi tàu rẽ nước êm. Thân tàu rung nhẹ theo nhịp máy, quen đến mức không ai còn để ý.
Phiên trực im lặng. Mỗi người đứng đúng vị trí của mình. Nhưng tâm trí có lẽ đang về với người thân, người yêu. Như Võ Bằng đang nhớ từng lọn tóc mai, từng nụ cười, nốt ruồi son trên má Như Oanh…
Anh ngẩng lên. Trời đầy sao. Không gian yên tĩnh đến mức… như không có thật.
Anh chợt thấy đời mình lạ lùng. Từ một học sinh quê mùa trở thành Hạm Trưởng.
Những người quanh anh, đủ hạng. Thầy giáo. Nông dân. Thợ điện. Sinh viên.
Tất cả đứng đây – giữa biển. Biển im lìm tiếp nhận. Cái im lặng không phải bình yên mà là ẩn giấu.

Một ký ức chợt hiện. Bên hồ sen Đồng Quê Quán. Như Oanh ngồi đó. Cười và nói. Và bước vào đời anh bằng niềm tin vững chắc. Niềm tin vào một tương lai… không chắc chắn.
Anh đặt bàn tay lên túi áo. Mẩu giấy nhỏ nàng viết khi chia tay, anh đã thuộc làu: “Anh đi bình an. Em không khóc, chỉ sợ… Đừng bỏ em một mình.”
Tiếng Thiếu Úy Lũy đột ngột vang lên:
– Thưa Hạm Trưởng, có ánh đèn phía mũi, mạn phải!
Võ Bằng nâng ống nhòm. Biển đêm trải dài. Một đốm sáng. Rồi tắt. Rồi một chấm sáng khác lóe lên. Biển lại tối. Im lặng. Biến cố lớn có khi từ một điểm sáng nhỏ.
Võ Bằng bảo Thiếu Úy Lũy:
– Hỏi phòng CIC có thấy đối vật hướng một giờ?
Tiếng lặp lại vào loa. Rồi có tiếng đáp:
– Radar không thấy echo.
Rạch Gầm vẫn tiến đều trên biển nước mênh mông.
Mỗi hải lý như đi sâu hơn vào cái bẫy vô hình của định mệnh…

Vũ Thất

(Còn tiếp)








Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

VẦNG TRĂNG CÔ ĐỘC - Nguyễn Thị Châu

 

                                                                        

VẦNG TRĂNG CÔ ĐỘC

Tôi vẫn mãi vầng trăng khuya cô độc

Ánh trăng tàn thao thức đợi chờ ai?

Nhìn trăng khuya ta khắc khoải ai hoài

Đêm sương lạnh gió lay ngoài khung cửa


Từ dạo đó lá rơi rơi ngoài ngõ

Kỷ niệm xưa như thức dậy trong lòng

Nhớ một người đã trả nợ núi sông

Đêm ray rức trái tim đang rỉ máu


Tôi đơn lẻ, bóng trăng vàng cô độc

Hai cuộc đời hai lối rẻ khác nhau

Nhưng ủi an khi bóng tối đi vào

Tôi vẫn thế, vầng trăng kia vẫn thế


Trăng vui trăng hát tôi nghe trong gió

Tôi buồn tôi ngắm trăng sầu thở thang

Nhìn lại cuộc đời bao nỗi trái ngang

Trăng thao thức buồn cho thân cô độc…!!!


15-4-2026

Nguyễn thị Châu









XUÂN VỚI TÔI - Thơ Lê Văn Lộc và Thơ Họa

                

          XUÂN VỚI TÔI

Trước gương nhìn lại cũng chưa già,

Mậu Tý năm nay mới bảy ba.

Phong kiến độc tài thương phận mẹ,

Cửa quyền bao cấp tủi thân cha.

Được xem vận nước bao thay đổi,

Đã thấy cơ trời những trải qua.

Đón tết mừng xuân cầu quốc thái,

Ấm no, hạnh phúc đến muôn nhà.

Xuân Mậu Tý – 2008

       Lê Văn Lộc


Thơ Họa:

   XUÂN VỀ TÔI CHỈ…

Ai biết tuổi xuân hỏi trẻ già,

Gót chân nhẹ lướt vọng âm ba.

Tưởng chừng đâu đó thời con trẻ,

Sực tỉnh đang là phận mẹ cha.

Quặn thắt tình đời chia cốt nhục,

Xót xa nhân thế chịu can qua.

Kẻ chờ, người hẹn chừ ta chỉ,

Nhấc chén mừng Xuân với mọi nhà.

Tâm Duyên

  Thị trấn Gia Ray, Xuân Lộc, Đồng Nai

 

CHÂN TRẦN MỘT BƯỚC

Tình xuân soi tỏ ý thu

Chân trần một bước nhàn du cõi miền

Trời xanh mây trắng vô biên

Thuyền không lướt sóng hạ huyền trăng đi

***

Nước nước non non, tuổi vội già

An bình viễn xứ lánh phong ba

Tơ sương, gấm dệt yên lòng mẹ

Hạt nắng, hoa trồng thiện ý cha

Vỗ sóng tai nghe chừng đã tới

Quay đầu mắt ngó vẫn chưa qua

Ngàn trùng rọi bóng trăng cô lẻ

Cánh hạc vời trông giục nhớ nhà

Lý Đức Quỳnh

   Xuân 2008

 

     NGÀN DÂU LỘC HÁI

Chứa chan nguyệt khuyết với trăng già

Vỗ cánh chim trời lộng ánh ba

Dấu lặng vô tình bầm ngực mẹ

Âm vang vô vọng nát lòng cha

Chiều lay hồn nước ghì mơ lại

Sáng quét bụi đời tiễn mộng qua

Nụ thắm ngàn dâu đi hái lộc

Xuân mừng tuổi mới, ấm yên nhà

Lý Đức Quỳnh

   Xuân 2008

     (Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai) 


      XUÂN QUÊ TA

Nhìn kính da nhăn tóc bạc… già,

Giựt mình tay đếm… bảy mươi ba.

Góc nhà ẩn hiện hình bên mẹ,

Sân trước lòm khòm nhớ ảnh cha.

Thôn xóm tình luôn ghi nhận rõ,

Đồng quê kỷ niệm khó quên qua.

Xuân đi ghi lại niềm lưu luyến,

Tim vẫn sâu in ấm mái nhà!

                            *

Bao niềm ân ái nhắc lòng ta!

HỒ NGUYỄN

 (16-4-2026)

 

  XUÂN ƯỚC NGUYỆN

Vừa đấy hoa niên... thoắt đã già,

Gót mòn bươn trải ngợp phong ba!

Trần ai vấp ngã... nương lời Mẹ.

Bể khổ luân trầm... thấm lẽ Cha!

Binh nghiệp vững vàng thân nghĩa đảm,

Sa trường dầy dạn bước can qua!

Ngày về bừng thức mùa hoan lạc

Phước hạnh cầu mong ấm mọi nhà!

Nguyễn Huy Khôi

     16-4-2026

 

  TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ

Tuổi lớn, tâm vui mãi chửa già

Bữa ăn ngon miệng mỗi ngày ba

Việc nhà chăm chỉ theo gương mẹ

Thể dục năng rèn giống tính cha

Thân thiện hòa đồng cùng lối xóm

Yêu thương gắn bó với người nhà

Tinh thần thoải mái, thân bền bỉ

Nét trẻ còn hoài, chẳng vút qua.

  Sông Thu

( 16/04/2026 )

 

MỘNG MƠ TUỔI MƯỜI BA

Ước sống cùng nhau một mái nhà

Ngây thơ mơ mộng tuổi mười ba

Chăm đàn con khỏe, em tròn mẹ

Lo chén cơm đầy, anh vẹn cha

Hai đứa tâm đầu đương thử thách

Một lòng ý hợp vượt can qua

Tơ se duyên kết vầy ân ái

Mai,Trúc tựa nương đến lúc già.

     LAN

(16/04/2026)

 

     XUÂN TRỞ VỀ

Cứ tưởng an vui với tuổi già,

Vòng đời xoay chuyển chịu phong ba.

Mây đen bao phủ Cơ Trời định,

Thãm cảnh mưa giông khổ Mẹ Cha.

Cách Mạng đổi Đời Cha Cải Tạo,

Mẹ sầu buồn tủi trận can qua...

Đàn con ly tán tìm phương sống,

Xuân trở về Quê thăm cảnh nhà.

               xxx

Đìu hiu vắng bóng Mẹ và Cha...

Mỹ Nga

16/04/2026  ÂL, 28/02/  Bính Ngọ

 

   XUÂN VỚI TÔI

Đón Tết chào Xuân lúc tuổi già

Tự cung hỷ chúc hết bôn ba

Cảm thông thế sự chung tình nước

Ẩn dật gia trang thủ phận cha

Nhớ pháo Giao Thừa mừng phước thọ

Nhờ ngày Nguyên Đán thức thời qua  

Ngoài vòng danh lợi và nhân nghĩa 

Liệt lão buồn vui ở tại nhà.

(Phan Thượng Hải)

        4/16/26 


MỞ THỜI TƯƠI SÁNG

Bảy lăm chẳng thấy có chi già

Đôi mắt nhìn đời sáng bậc ba

Sinh hoạt cá tôm tươi khắp chợ

Học hành con trẻ vượt qua cha

Xóm làng dổi mới sai bày rõ

Đây nước canh c sớhừngm vượt qua

Xuân thắm dập dờn nơi sự sống

Mở thời tươi sáng ấm quê nhà

Tran Nhu Tung

 

    XUÂN VỚI TÔI

Xuân với tôi còn trẻ chẳng già

Giáp Thân tuổi lão tám mươi ba…

Bông hồng cài áo thương tình mẹ…

Tuổi hạc mang tơi nhớ nghĩa cha…

Lập lại hoà bình còn sửa đổi

Dựng xây cầu cống xuân hy vọng

Sự nghiệp cơ ngơi ấm áp nhà…

Mai Xuân Thanh

Silicone Valley April 16, 2026

 

         LÒNG XUÂN

Đã xuân - đâu có chuyện "xuân già"?

Tuổi hạc chập chờn ngại "lẻ ba"?

Con cháu dưỡng nuôi  vừa ý Mẹ,

Cội nguồn phụng kính thuận lòng Cha.

Oán đừng cố chấp, thù tha bổng

Ân đặng đáp đền, hận bỏ qua...

Tương báo... cùn đời thêm khổ nạn

Tâm khoan... phước hạnh đến đầy nhà!

Nguyễn Huy Khôi

     17-4-2026


      Thêm (bonus)

Mấy ai trẻ mãi lại không già

Khi bốn phần đời đã hết ba

Thuở đó ra đi rời đất mẹ

Giớ đây trở lại với quê cha

Bệnh tình mỗi lúc tuy không nặng

Sức khỏe dường nhu tưởng khó qua

Bác sĩ đoán rằng ba sáu tháng... 

Tử thần sẽ đến viếng thăm nhà.*

2026-04-17

Võ Ngô

* Thời chiến tranh , niềm vui là được sống qua bốn mươi tuổi . Nay đã vượt khỏi thất thập cổ lai.

Lúc vướng bệnh, đã vào ba nhà thương ở Canada, bác sĩ phán đoản ba, trường sáu tháng, nay đã gần ba năm. 2023–2026.


TRỐN VIỆC QUAN ĐI Ở CHÙA

Cắm cổ đi cày để khỏi già

Mấy em trong sở gọi bằng Ba

Con than việc vặt đau lưng Mẹ

Bố trách tiền nhà nặng óc Cha

Vợ hét vườn um tùm chẳng dọn

Chồng rên job bận rộn chưa qua

Ngồi yên gõ máy trong thinh lặng

Ráng nhịn cho bằng an cửa nhà

Nông gia hai lúa

       NJ USA

Để nhớ lại những ngày kinh hoàng vác PC về nhà Work from home thời đại dịch Covid 19

 

     TẾT VỀ THĂM BẠN

Cùng tuổi bạn tôi thấy quá già

May hồn mất xác trận Lù Ba

Dây thừng trói cứng hàng trăm đứa

Sống sót mình anh phước đức cha

Ở lại không đi bò thiếu cỏ?

Hay là nơm nớp chuyện xưa qua

Tết về gặp nó vui mừng lắm

Dò dẫm hỏi thăm mới tới nhà !…

 Yên Hà

27/4/2026

 

      NHỚ XUÂN XƯA

Soi gương mỗi sáng thấy mình già

Ngẫm lại cuộc đời đã trải qua

Thuở nhỏ được nâng chìu tựa trứng

Trưởng thành mới biết gặp phong ba

Cuộc đời trôi nổi bao dâu bể

Vận nước đổi dời cách mẹ cha

Viễn xứ gian lao xây sự nghiệp

Đón xuân ôn lại phúc quê nhà !

THIÊN LÝ 














Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Rước Nhỏ "Dzìa Dzinh" - Anh Khờ

 Rước Nhỏ "Dzìa Dzinh"

Nhỏ ơi… nói thiệt tình
Yêu thầm dáng nữ sinh
Aó trắng dài lính quýnh
Qua đò cuối con kinh… 

Lần hò hẹn sân đình
Tặng đoá hồng nguyên trinh
Như ngầm lời… ước đính
Tượng đất cười... chứng minh      

Má đỏ nhỏ… lặng thinh
Bàn xem chuyện đôi mình
Má biểu: "để... má tính"
"Lễ cưới nhất định xinh"

Trăng mười sáu lung linh
Chiếu sáng đám lục bình
Duyên tình chừ yên định 
Chờ rước nhỏ "dzià dzinh" 

Anh Khờ












NHỚ -Thơ Lý Đắc Đạo và Thơ Họa

                            

     NHỚ

Bên thềm tỏa bóng những hàng cau

Một cánh đồng xanh rực sắc màu

Thấp thoáng trên cành dăm trái ổi

Im lìm dưới ruộng mấy vồng rau

Ngày xưa trốn học tìm hang dế

Chốn cũ đùa chơi lội nước bàu

Nhớ mãi quê nhà cơm Mẹ nấu

Bây giờ vắng vẻ cõi lòng đau.

Lý Đắc Đạo

 12042026


Thơ Họa: 

              MẸ

Mưa dầm nắng dãi, vẫn xanh cau

Tóc Mẹ pha sương đã bạc màu

Chẳng thể đồng xa mùa cấy lúa

Nên đành rẫy cạn đất trồng rau

Thân già rứa đó thôi an phận

Sức trẻ còn mô để lội bàu

Chỉ xót quê nghèo con bỏ xứ

Đêm ngày nỗi nhớ mãi vầy đau…

Lý Đức Quỳnh

    14/4/206 


      TRỞ VỀ

Chị về đứng lặng trước cây cau

Em ngó trời xanh mây trắng màu

Hỏi xứ họ qua bao phố thị

Đáp quê người thiếu bấy vườn rau

Nhớ xưa nơi tiễn tươi giàn bí

Thương trước hôm đi đẹp rặng bầu

Ngày tháng hư hao buồn não nuột

Mẹ già cười gượng xót xa đau …

    Los Angeles  14 - 4 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

HÌNH BÓNG QUÊ NHÀ

Ngã bóng bên thềm dáng đám cau,

Bung xa lơ lửng sáng tươi màu.

No tròn dăm trái nhu mì ổi,

Ỏng ẹo tung bồng mấy bụi rau.

Chí chít thê tha vang tiếng dế,

Tung tăng đám ếch lội mương bàu.

Quê nhà năm tháng xưa còn hiện,

Hình mẹ cha giờ nhớ nhói đau.

                          *

Ôm lòng bi thiết biết làm sao!

HỒ NGUYỄN

  (15-4-2026)

 

          NHẮN NHE

 

Lỡ rồi?... chớ nhắc chuyện trầu cau

Tự độ xuân xanh thắm sắc mầu...

Khắc cốt vườn  xưa nơi khởi nụ

Neo hồn quê cũ chốn chôn rau!

Đoạn đành chia ngả tình đôi lứa

Dan díu đa đoan nghĩa bạn bàu!

Ngó ý dẫu lìa duyên chẳng đặng

Tơ còn vương vấn?!... dỗ niềm đau!

Nguyễn Huy Khôi

      15-4-2026

 

         THÚ

Sân nhà trăng trắng những bông cau

Và trái xum xuê chín đỏ màu

Cần thả ao câu vài chú cá

Đất vun phân bón mấy nàng rau

Ngoại ngồi xích võng ru thằng cháu

Mẹ đến kêu cha tát nước bàu

Hoa cỏ mượt mà hương phảng phất

Nhẹ nhàng ve vuốt sợ làm đau.

     LAN

(15/04/2026)

 

     MỆNH TRỜI

Gầy còm tinh nghịch giỏi trèo cau

Hái mướn lung linh kiếm chút màu

Đến lớp thầy thương mà tặng cốc

Vào mâm món chính chỉ là rau

Trên đồng đuổi khỉ chân bao giẻ

Vào núi tìm trâu nước đựng bàu

Chớp mắt, thôi rồi đâu tất cả

Mệnh trời đã định chớ buồn đau

      04 - 2026

Tran Nhu Tung

 

           NHỚ

Những ngày xưa đó kéo mo cau

Nỗi nhớ trong tâm chẳng úa màu

Lúc hái cúc đồng ăn cháo cá*

Khi tìm đắng biển nấu canh rau**

Giăng câu đặt bẫy trên đồng ruộng

Bủa lưới làm đăng dưới rạch bàu

Một thuở sống vui thời nhỏ dại

Nay còn đọng lại những niềm đau.

2026-04-15

  Võ Ngô

* Cúc đồng là rau cóc, có bông màu vàng mọc hoang trên các bờ ruộng.

** Rau đắng có hai loại , loại đắng đồng & đắng biển, đắng biển ngon hơn.

 

       BUỒN

Vun trồng công sức mấy cây cau

Quanh giếng cao xanh tươi mướt màu

Xới đất Cha lo chăm tưới nước

Bắt sâu Mẹ tỉa lá vườn rau

Mấy anh quậy phá leo trèo giỡn

Các chị siêng năng tắm dưới bàu

Ký ức năm xưa nhà hạnh phúc

Sau này... heo hắt cảnh buồn đau !…

 Yên Hà

15/4/2026

 

THƯƠNG NHỚ QUÊ NGHÈO

Ánh Trăng nghiêng bóng dưới hàng Cau

Ẩn hiện Hoa Cau trắng muốt màu.

Quê Ngoại khu vườn đầy cây trái,

Gió đùa lay động cả vườn rau...

Cau xanh trổ quả đong đưa nhánh,

Thân thẳng Trầu leo chiếu xuống Bàu. "1"

Thương nhớ Quê nghèo tình thắm đượm,

Như Trầu yêu mến ôm thân Cau...

Mỹ Nga

 15/04/2026  ÂL, 27/02/ Bính Ngọ

 

"1" Bàu : Là cái hố sâu do Bom B52 của Mỹ

 dội xuống Làng quê còn tồn tại di tích thành

cái Bàu lớn giống như cái Ao Làng.

 

BUỔI SÁNG NGÀY MÙA

Gió lùa vòm biếc thoảng hương cau

Ánh nắng ban mai chớm ửng màu

Đàn bướm rộn ràng trên nhánh bưởi

Bầy gà nhộn nhịp giữa hàng rau

Long lanh sương sớm tươi chồi lá

Lộp độp ếch con quậy vũng bàu

Lúa chín vàng đồng, người hớn hở

Tâm hồn chẳng gợn chút buồn đau.

  Sông Thu

( 16/04/2026 )

 

   KỶ NIỆM NÀO QUÊN

Thỏa thích ưa nhìn mướt mượt cau

Buồng khoe lắm quả thật xinh màu!

Chim chuyền ríu rít bên nhành bưởi

Nắng trải êm đềm cạnh luống rau

Lặng lẽ mây sà qua đỉnh núi

Xôn xao lũ bướm lượn quanh bàu

Hoài yêu kỷ niệm thời xưa ấy

Để lại riêng mình dạ nhói đau!

 Như Thu

04/15/2026

 

      NGÀY XƯA 

Trăng rằm lấp lánh lá tàu cau

Trái đỏ xinh xinh lộng lẫy màu

Có cả vài cây cam quít bưởi

Thêm vào mấy vạt muống lang rau

Nay thì khởi sắc bao làng xóm

Trước cũng mờ căm những vũng bàu

Nhớ mãi ngày xưa còn bé bỏng

Ham chơi bị đánh… vội kêu đau !

PHƯỢNG HỒNG 


     QUÊN

Hết bón vun bồi mấy gốc cau,

Lại quay ra vỡ đất trồng màu.

Khi thì ngắm nghía coi giàn mướp,

Lúc lại chăm nom tưới luống rau.

Thích uống chè tươi trèo hái lá,

Thèm ăn cá sống ra thăm bàu.

Tình đời bạc bẽo giờ quên hết,

Quẳng gánh đi rồi ta hết đau.

Đỗ Quang Vinh

    16-4-2026

 

     NHỚ CÂY ĐU ĐỦ

Hồi đó định cư chưa có cau

Ruộng vườn còn mới thiếu phân màu

Ổi rừng, sim tím nhiều vô số

Bụi ớt, hành xanh mấy luống rau

Đu đủ da hườm tôi bẻ trái

Nước ao vịt lội mẹ kêu bàu

Giờ đây nơi đó vườn rau muống

Nhưng họ chiếm rồi dạ xót đau !

THIÊN LÝ 


          NHỚ

         (Họa 4 vần)

Nhớ xưa ẩm thực tự trầu cau

Đủ món ăn chơi đủ mọi màu

Bánh ướt, xôi vò, sen trộn gỏi

Bánh xèo, ba khía, mắm và rau

La ve, rượu đế, con khô nướng

Sương sáo, chè thưng, nước đá bào

Cháo huyết, cháo lòng , giò cháo quẩy…

Vừa lòng đã bụng chẳng hề đau?

(Phan Thượng Hải)

4/17/26

 

           NHỚ

Nhà Ngoại Mân Quang rợp bóng cau

Ngay hàng thẳng tắp đẹp xanh màu

Sau vườn xá lị bao nhiêu ổi

Bên giậu mồng tơi mấy luống rau

Trốn học lên mười đi bắt dế

Chơi đùa lúc nhỏ lội bơi bàu

Quê hương làng mạc cơm thường nấu

Nhớ mãi trong lòng chạnh nỗi đau

Mai Xuân Thanh

Silicone Valley April 16, 2026 


            NHỚ

Gió lộng chiều về lả lả cau

Dòng sông loang loáng ráng tô màu.

Bến đò êm ả vài hàng quán

Gò rẫy xanh rì mấy liếp rau.

Thấp thoáng mái đình vương khóm trúc

Xa xa ruộng nước ngập sen bàu .

Đơn sơ cảnh vật lòng xao xuyến

Quê cũ dặm ngàn khắc dạ đau !

   Mailoc

04-17-2026


NHỚ VƯỜN CAU NHÀ NGOẠI

Nhà ngoại bên thềm rợp bóng cau

Đường đi tỏa mát nắng tươi màu

Vầng dương sáng sớm lan  bờ giậu

Ánh Nguyệt đêm về rọi luống rau

Mỗi Hạ bãi trường tìm cá ốc

Thường Xuân nghỉ học tắm sen bàu

Giờ đây lạc bước miền xa xứ

Nhớ lại càng thêm thấy dạ đau

Songquang

 20260418