Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 1): NGUYÊN NHÂN ĐẠO KHỔNG TRỞ NÊN NHỎ HẸP VÀ BỊ HIỂU SAI/ Tác giả: Ogyu Sorai / Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


 


NGUYÊN NHÂN ĐẠO KHỔNG TRỞ NÊN NHỎ HẸP VÀ

BỊ HIỂU SAI

Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

***

Lời mở đầu

Tác phẩm chính yếu của Ogyu Sorai về đạo tiên vương tức đạo thánh nhân 

hay đạo Khổng gồm có 1) Học Tắc, 2) Biện Đạo, 3) Biện Danh, 4) Luận Ngữ

 Trưng.

Học Tắc có thể hiểu là các nguyên tắc hoặc quy tắccăn bản để học đạo tiên

 vương. Gồm có 7 bài.

Biện Đạo có thể hiểu là cần phải phân biệt cho rõ thế nào mới là đúng đạo 

tiên vương dùng để an dân, nghĩa là làm thế nào để quản trị xã hội con người

 sống được hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng.

Tại sao vậy? Bởi vì các Nho gia đời sau ngay cả Tử Tư Mạnh tử vì tranh 

cãi với các học phái khác như Đạo giáo của Lão tử, học thuyết kiêm ái của

Mặc tử…nên đã làm cho người học đời sau hiểu sai hoặc không hiểu đầy 

đủ trọn vẹn nội dung của đạo tiên vương. Thêm vào đó, Tống Nhovì không 

hiểu ngôn ngữ cổ đại ý nghĩa khác nhiều với ngôn ngữ đương thời nên họ 

dùng ngôn ngữ đương thời mà giải thích đạo tiên vương theo ý riêng của 

họ. Ngoài ra, đương thời Đạo giáoPhật giáo được xã hội yêu chuộng hơn,

 nên Tống Nho cũng có khuynh hướng giải thích đạo Khổng theo lý luận 

của 2 phái này. Biện Đạo gồm có 25 bài.

Do ý nghĩa ngôn từ của cổ đại khác với đời sau nên cần phải hiểu ý nghĩa 

chính xác các tên gọi, ngôn từ trong các kinh sách cổ điển được truyền lại

 như đạo, đức, nhân, trí, thánhlễ, nghĩa, hiếu đễ, trung tín, thành, cung kính,

dũng, tính tình, vật, quân tử tiểu nhân…mới có thể đúng nội dung của đạo 

tiên vương (đạo Khổng). Biện danh là tác phẩm Sorai giải thích ý nghĩa cổ 

đại của các từ vựng trọng yếu nói trên.

Như chúng ta đã biết sách Luận Ngữ là sách ghi lại các lời của Khổng tử về

 đạo tiên vương. Bởi vì ông ngưỡng mộ đạo tiên vương và không muốn thất

 truyền nên ông truyền lại cho các đệ tử của ông để họ áp dụng giúp ích xã 

hội và truyền đạt cho đời sau. Chính ông cũng đã nói ông chỉ truyền y lại 

nội dung của các tiên vương để lại chứ không phải ông tự đặt ra(1).

Trưng 徴có nghĩa chứng cớ. Sorai soạn Luận Ngữ Trưng để giải thích ý nghĩa

 của Khổng tử muốn truyền đạt trong sách Luận Ngữ bằng các dẫn chứng 

các ý nghĩa đã được truyền giảng trong lục kinh (kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ

kinh Nhạc, kinh Dịch, kinh Xuân Thu) mà Khổng tử đã thu thập biên soạn.

Người dịch đã giới thiệu tác phẩm Học Tắc gồm có 7 bài. Kế tiếp sẽ cố dịch 

tác phẩm Biện Đạo và Luận Ngữ Trưng. Biện Danh có rất nhiều từ vựng nên 

sẽ chọn những từ quan trọng biên dịch trước để giới thiệu.

Bài 1 này là 1 trong những bài trọng yếu của 25 bài của Biện Đạo cho chúng 

ta biết nguyên nhân đã gây ra sự suy yếu của đạo Khổng do chính người 

trong môn phái tạo ra, không kể đến nguyên nhân bên ngoài là sự phát triển

 mạnh mẽ của các môn phái khác như đạo Lão và đạo Phật.

Các cụ như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thông cũng như nhiều nhà trí thức 

Việt Nam khác thường chỉ trích Tống Nho là không thực dụng, từ chương v.v… nhưng hình như chưa ai đưa ra khuyết điểm cụ thể và phân tích nội dung cụ

 thể như Sorai. Người dịch mong rằng loạt bài Biện Đạo này giúp cho quý

 độc giả có thấy nội dung cụ thể của phương diện này. Biết để sửa sai những

 điều mà chúng ta đã học được, và đã thành thói quen với mục đích để tiến 

bộ và phát triển hơn là niềm mong ước của người biên dịch.

BÀI 1

Đạo khó hiểu, lại khó giải thích cho người khác hiểu bởi vì đạo rất rộng lớn 

mênh mông. Nội dung hiểu biết (sở kiến) đạo của các Nho gia đời sau đều 

chỉ là một phần của đạo mà thôi.

Sai lầm của Tử Tư

Đạo nói ở đây là đạo của các tiên vương (các thánh vương cổ đại). Thời đại 

trôi qua cho đến đời của Tử Tư (2) Mạnh tử(3) phái Nho học được hình 

thành và bắt đầu cạnh tranh xung đột với các học phái khác (bách gia). Việc

 làm này có thể nói là tự mình làm bản thân mình và đạo của mình theo trở

 nên nhỏ hẹp lại.

Thí dụ Tử Tư viết ra sách Trung Dung là để đề kháng lại với Lão tử (nguyên

 văn Lão thị). Bởi vì Lão tử cho rằng đạo thánh nhân (tức đạo Khổng) là

  ngụy 偽 tạo (giả tạo không có thật, là do con người tự đặt ra, không phải có 

một cách tự nhiên). Do đó, trong sách Trung Dung 中 庸, Tử Tư viết đạo

 Khổng (đạo thánh nhân) là tuân theo bản tính bẩm sinh của con người để

 cho thấy rõ đạo của ông tức đạo Khổng (đạo Nho) không phải là ngụy tạo

 (phi ngụy). Cách giải thích này đưa đến điểm cuối của đạo là thành 誠 (thành

 thật, không giả dối). Tuy nhiên, trung dungtên gọi của đức hạnh (德 行 

之 名). Do đó, trong sách Trung Dung cũng viết “chọn (trạch 擇) trung dung(4).

Tử Tư đã mượn trung dung để làm rõ đạo Khổng và chê học thuyết của Lão 

tử không trung dung. Từ việc làm này của Tử Tư làm cho đời sau hiểu sai và

lấy trung dung làm đạo (thật ra như Sorai đã nói, trung dung chỉ là đức hạnh

chứ không phải là đạo. Lấy trung dung làm đạo làm cho đạo trở nên rất hạn 

hẹp, nhỏ lại. Hiểu đúng thế nào là đạo, thế nào là đức rất quan trọng! Do dó ý

 nghĩa của từ vựng đặc biệt tên gọi rất quan trọng, sai 1 ly đi xa 1 dặm là như

 vậy.)

Ở cổ đại (thời xa xưa) người ta gọi tác giả 作 者 (người làm ra vật mới mà

 trước đó chưa có) là thánh 聖, và Khổng tử không phải là thánh. Do đó, Tử 

Tư mới lấy chí thành 至 誠 làm đức của thánh nhân, và lại đặt ra thuyết tam 

trọng 三 重 (3 điều trọng yếu)(5). Việc này rõ ràng cho thấy chủ ý của Tử Tư 

là để biện minh cho việc các học phái khác cười nhạo cho rằng Khổng tử 

không phải là thánh nhân, là không đúng. Tuy nhiên, thành chỉ là 1 trong

 nhiều thứ đức của thánh nhân để diễn tả hết tất cả nội dung đạo của thánh

 nhân thì làm sao có thể đầy đủ trọn vẹn được!

Sai lầm của Mạnh tử

Đến học thuyết của Mạnh tử chủ trương bản tính con người vốn thiện lại là 

cùng 1 phái của Tử Tư. Việc Cáo tử lấy cây kỷ liễu làm ví dụ để diễn tả bản

 tính con người là 1 ví dụ hoàn toàn đúng. Mạnh tử biện luận phá bỏ chủ 

trương của Cáo tử là việc sai lầm.

Tôi nghĩ rằng bản ý của Tử Tư muốn nói là thánh nhâncăn cứ theo bản tính 

của con người mà đặt ra đạo. Điều này không có nghĩa là, nếu mỗi người

 hành động theo bản tính của mình thì tự nhiên là phù hợp với đạo.

Tương tự như vậy, bởi vì các loại cây khác không có đặc tính bị uốn cong mà

 không gãy nên cây kỷ liễu có đặc tính thích hợp dùng để uốn cong làm đồ

 vật để chứa đựng nhưng không thể vì vậy mà cho rằng uốn cong làm đồ vật

 chứa đựng là hình dạng tự nhiên phải nên có của cây kỷ liễu.

Lý do mà Mạnh tử lấy lòng trắc ẩn (lòng không nỡ bỏ người lâm nạn mà

 không cứu giúp) vàl òng biết xấu hổ làm trọng yếu hơn lên là do muốn 

chứng minh rằng nhân nghĩa tất cả đều do bản tính của con người. Tuy nhiên,

 thật sự mà nói nếu chỉ lấy lòng trắc ẩn thì không thể giải thích rõ ràng hết

 được đức nhân 仁, và cũng có trường hợp biết xấu hổ chưa hẳn là việc nghĩa.

 Một khi đặt ra 1 học thuyết hoặc 1 nội dung giải thích thiên lệch (sai lệch) thì 

một chút sai lầm nhỏ của 1 ly cuối cùng có thể đưa đến 1 cách biệt xa rộng

 của 1 dặm. Các học thuyết tâm học (6) của đời sau này xuất phát từ mầm mống

 này.

Sửa sai của Tuân tử

Tuân tử không chấp nhận thuyết tính thiện của Mạnh tử là điều đúng. Do đó,

 Tử Tư và Mạnh tử là người trong Khổng môn đã bảo vệ môn phái mình và

 chống lại việc chê xấu của các học phái khác. Tuân tử tu sửa những điểm 

giải thích sai lầm của Tử Tư và Mạnh tử, là người có công lao và trung thật 

của 2 ông (trung thần).

Tuy nhiên vào thời đại của các nhân vật này không cách quá xa với thời đại

 của Khổng tử (từ Khổng tử đến Tuân tử khoảng 250 năm) nên còn có dư âm 

của Khổng tử. Do đó, tên gọi thật chất của sự vật không có khác biệt hoặc

 cách xa lớn (ý nói ý nghĩa ở đời sau này của các ngôn từ chưa khác biệt 

nhiều với ý nghĩa ở cổ đại). 

 Đến khi Hàn Dũ (768~ 824) của đời Đường (cách Khổng tử trên 1300 năm) 

xuất hiện thì có một sự biến đổi to lớn trong giới văn chương từ đó về sau(a).

 Những nhân vật như Trình Hạo, Trình Di (1033~1107) hoặc Chu tử (1130~1200)

 là những người xuất sắc hơn người (hào kiệt) nhưng họ không thông hiểu

  cổ văn từ (ngôn từ ở cổ đại), họ không thể đọc lục kinh để hiểu nội dung,

 họ chỉ đọc và vui vẻ với những sách dễ đọc như sách Trung Dung, sách

 Mạnh Tử (b). Để rồi kết quả là họ lấy những lời tranh cãi với các học phái 

khác (của Tử Tư và của Mạnh tử) để làm nền tảng cơ sở cho đạo thánh nhân!

 Ngoài ra, họ còn lấy ý nghĩa lúc đương thời của ngôn từ để đọc ngôn từ

 trong kinh sách cổ đại nên tên gọi nội dung thật sự của sự vật cách rời

 nhau đưa đến việc không thể hiểu được chân tướng của sự vật, họ chỉ hiểu

 theo cách giải thích lý thuyết, lập luận riêng của họ mà không liên quan gì 

đến nội dung của nguyên văn. Do lý do trên (nghĩa là với phương pháp học 

hoặc nghiên cứu như trên) không thể nào có thể hiểu biết lại được các quy

 phạm mà các tiên vương và Khổng tử đã truyền đạt lại.

Khuyết điểm của Itô Jinsai

Gần đây có họ Y (tức Y Đằng Nhân Trai (Itô Jinsai)), ông cũng là nhân vật 

xuất sắc hơn người (hào kiệt) hiểu thấu được phần nào đâu là trọng yếu của

 đạo. Tuy nhiên, ông lấy nội dung của sách Mạnh tử để giái thích nội dung 

của sách Luận Ngữ (nghĩa là các lời truyền đạt lại của Khổng tử) và ông cũng

 lại dùng ý nghĩa hiện tại của ngôn từ để đọc cổ văn. Do đó, học thuyết của

 ông cũng không khác với học thuyết của họ Trình và họ Chu bao nhiêu.

Không những vậy, ông còn phân biệt đạo tiên vươngđạo Khổng làm 2 thứ 

khác nhau. Ông gạt bỏ lục kinh qua 1 bên và chỉ đánh giá cao sách Luận Ngữ.

 Ông lại chưa thoát khỏi việc lấy ngôn ngữ Nhật để đọc ngôn ngữ Trung Hoa.

 Tôi đã đọc tác phẩm mà ông cho đó là cổ nghĩa (ý nói Luận Ngữ Cổ Nghĩa 

Ngữ Mạnh Cổ Nghĩa của Jinsai). (Hai tác phẩm đó) làm sao có thể gọi là cổ 

được, thật đáng tiếc, đáng thương làm sao!

Nguyên nhân đạo Khổng càng ngày càng trở nên nhỏ hẹp

Than ôi, theo dòng thời gian trôi qua, đạo tiên vương trở thành học phái Nho 

gia, kế đến nào là phái Mạnh tử (chủ trương tính thiện), phái Tuân tử (chủ

 trương tính ác) rồi lại đến phái Chu tử (chủ trương tính ), phái Lục

 Tượng Sơn (chủ trương tâm). Không ngừng lại ở đây, lại có thêm phái

 Itô Jinsai. Các Nho gia càng phân liệt ra nhiều phái thì tranh luận càng thêm 

nhiều lên, càng phân ra nhiều cành, nhiều lá thì nội dung của mỗi học phái 

càng nhỏ hẹp đi. Chẳng phải thật đáng đau buồn lắm sao?

Được ơn trời ban cho cơ hội gặp được cổ văn từ

Bản thân tôi may mắn được ơn trời linh diệu ban cho việc đọc được sách 

của Vương Thế Trinh 王 世 貞(1526~1590, văn nhân và chính trị gia cuối đời 

Minh) và Lý Phàn Long  攀 竜 (1514~1570, thi nhân đời Minh) nên biết được

 có cổ văn từ (ngôn ngữ cổ đại) trên đời này. Từ đó tôi bắt đầu đọc lục kinh

và sau nhiều năm tôi bắt đầu có được sự nhất trí giữa sự vật thực tếtên 

gọi của chúng viết bằng cổ văn từ và dần dần hiểu rõ được ý nghĩa của lục 

kinh(d) và có thể nói (luận bàn) về chúng.

Lục kinh là các tác phẩm viết về các sự vật cụ thể làm nguồn gốc, căn nguyên

 của sự việc (lục kinh kỳ vật dã 六 経 其 物 也: nghĩa đen: lục kínhvật cụ thể,

 ý nói không phải lý lẽ hay lý luận mà là cử chỉhành động hoặc việc làm cụ 

thể).

Sách Lễ Ký, sách Luận Ngữ là các sách giải thích ý nghĩa của lục kinh. Giải

 thích ý nghĩa chắc chắn phải phụ thuộc vào sự vật (có lẽ nên dịch “giải thích

 ý nghĩa chắc chắn chỉ là phần phụ thuộc đi kèm theo sự vật hoặc nội dung 

cần phải thực hiện cụ thể mà thôi” mới nói lên hết ý của Sorai, vì ông đã đề 

cập đến ý này ở một nơi khác trong tác phẩm ông viết). Sau đó (có như vậy)

  đạo mới thành lập (ý nói đạo quy định các việc làm cụ thể chớ không phải

 chỉ là những giải thích hoặc lý lẽ suông. Khi nói về lễ, Sorai nói trước hết 

phải làm, thực tiễn rồi dần dần sau đó tự nhiên hiểu ra ý nghĩa của lễ).

Nguyên nhân khuyết điểm của các Nho gia từ đời Đường về sau

Nếu như bỏ quasự vật cụ thể mà chỉ lấy riêng nội dung giải thích ý nghĩa thì

 rất hiếm khi tránh được khuyết điểm tự mình giải thích hoặc lập ra học thuyết

 theo ý tưởng phóng đãng riêng của bản thân. Đó là khiếm khuyết của Hàn Dũ,

  Liễu Tông Nguyên (773-819, thi văn nhân, chính trị gia đời Đường), Trình tử

Chu tử và những Nho gia sau đó (c).

Viết Biện Đạo để thực hiện thiên mệnh

Tuổi tôi đã quá 50, nếu từ bây giờ không bắt đầu cố gắng thực hiện sứ mệnh

 trời giao phó để rồi nếu có chết đi thì làm sao có thể thực hiện được. Do đó,

 khi có thời giờ rảnh tôi viết ra thành quả nghiên cứu và nhận xét (luận 論) 

của bản thân để đền đáp lại ơn huệ linh diệu của trời (đã cho tôi cơ hội biết 

cổ văn từ trên đời). Trước hết tôi ghi lại nội dung trọng yếu thành vài chục

 bài để cho những người vào học xem.

Tóm tắt ý quan trọng

  • Lấy trung dung để minh chứng đạo Khổng không ngụy tạo của Tử Tư 
  • với mục đích phản biện lại chủ trương của Lão tử, đã làm nhỏ hẹp đạo
  • Khổng lại và gây ra hiểu sai đạo cho người học đời sau bởi gì trung dung 
  • chỉ là một thứ đức hạnh của thánh nhân không thể nào diễn tả hết nội
  •  dung hoặc công dụng an dân của đạo Khổng, tức đạo của các tiên vương.
  • Mạnh tử đưa ra thuyết bản tính con người vốn tốtkhông đúng và đã 
  • gây cho người sau hiểu sai nội dung giải thích đạo thánh nhân tuân theo
  •  bản tính con người của Tử Tư.
  • Thuyết bản tính con người vốn xấu của Tuân tử là tu sửa sai lầm của Tử
  •  Tư và Mạnh tử.
  • Kiến giải của Itô Jinsai về đạo Khổng có chỗ đúng hơn Chu tử nhưng
  •  không khác bao nhiêu. Giống như Tống Nho, Jinsai có khuyết điểm là
  •  không biết cổ văn từ (ngôn ngữ cổ đại) nên xem thường gạt bỏ lục kinh 
  • (kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu) mà xem trọng sách Luận Ngữ 
  • và sách Mạnh Tử. Trong khi chính lục kinh mới chứa đựng nội dung các
  •  việc cụ thể cần thực hiện của đạo tiên vương, và sách Luận Ngữ và 
  • Mạnh Tử chỉ là sách giải thích ý nghĩa của đạo tiên vương.
  • Từ thời Tử Tư, Mạnh tử đạo Khổng trở thành học thuyết của Nho giáo và
  •  phân chia làm nhiều chi phái có chủ trương khác nhau như phái tính 
  • thiện của Mạnh tử, tính ác của Tuân tử, phái lấy tính làm lý của Nhị Trình 
  • Chu Hy, phái lấy tâm làm lý của Lục Tượng SơnVương Dương Minh
  • , phái cổ nghĩa chỉ xem trọng Luận Ngữ và Mạnh Tử của Itô Jinsai…làm 
  • cho đạo Khổng tức đạo tiên vương trở nên nhỏ hẹp và cách xa dần với 
  • mục đích an dân ban đầu của các thánh vương.
  • Các Nho gia đời từ đời Đường không chịu nghiên cứu học cổ văn từ 
  • nghĩa là ý nghĩa của ngôn từ cổ đại nên không hiểu được nội dung của 
  • lục kinh đưa đến việc khinh thường chúng và gạt bỏ chỉ biết đọc sách
  •  dùng để tranh cãi với các học phái khác là sách Trung Dung và Mạnh Tử.
  •  Bởi vì cách sách này không đi kèm với nội dung việc làm cụ thể mà các
  •  tiên vương đã lập ra nên càng ngày càng chỉ chú trọng vào lý lẽ trừu
  •  tượng nên làm mất tính thực dụng và hiệu quả trong thực tế của đạo,
  •  và phạm vi của đạo càng ngày càng nhỏ hẹp hơn.
  • Sorai may mắn gặp các tác phẩm của Vương Thế Trinh Lý Phàn Long
  • nên biết được ý nghĩa của ngôn từ cổ đại khác nhiều với ý nghĩa của 
  • ngôn từ đời sau mặc dù cùng là chữ Hán nên đã bỏ công hơn 10 năm 
  • nghiên cứu mới đọc hiểu được lục kinh theo nghĩa của ngôn từ cổ đại. 
  • Và ông đã bỏ công viết Biện Đạo, Biện Danh, Luận Ngữ Trưng để truyền
  •  lại cho môn đệ và người học đạo thánh nhân của đời sau.

Nguyễn Sơn Hùng – 

Dịch xong ngày 3/5/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Nhận xét

(a) Đúng như Sorai nói trong việc học hoặc nghiên cứu văn học, tư tưởng, 

triết học của các thời đại cổ xưa cần phải suy xét những sự vật, sự kiện cụ 

thể trong lịch sử để tránh những suy luận hoặc diễn dịch sai lầm. Ý nghĩa

 của các tên gọi hoặc ngôn từ trong khoảng thời gian trên 1000 năm chắc 

chắn có 1 sự thay đổi lớn.

(b) Đánh giá của Sorai có phần quá đáng chăng? Trong Luận Ngữ Trưng có

 những trường hợp Sorai công nhận cách giải thích của Chu tử là đúng hoặc

 hợp lý.

(c) Trong bài 25, bài cuối cùng của Biện Đạo, Sorai cho rằng bởi vì nội dung 

của lục kinh đã bị thất thoát không còn nguyên vẹn nên việc dùng (lý lẽ) để 

suy luận là cần thiết nhưng đáng tiếc là lý luận của Tống Nho chưa được tinh

 mật mà họ lại quá câu nệ vào nên gây ra sai lầm đáng tiếc.

(d) Thực ra Sorai dùng từ lục kinh ở đây không chính xác bởi vì kimh Nhạc 

đã mất, nội dung còn lại không biết chính xác được đến đâu. Trong bài 25 

Biện Đạo, Sorai cũng có nói điều này và cho rằng đó là thiên mệnh.

Ghi chú

  •  Chương 1 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ:

子曰:述而不作,信而好古,竊比於我老彭。

Tử viết:“Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ; thiết tỷ ư ngã Lão Bành.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Ta truyền thuật (đạo của cổ nhân) mà không sáng tác, tin và 

thích (kinh điển của) cổ (nhân); ta trộm ví với ông Lão Bành của ta.”

(2) Tử Tư (TCN 492~TCN 431) là cháu nội của Khổng tử theo học Tăng tử ,

 học trò của Khổng tử.

(3) Mạnh tử (TCN 372 ~ TCN 290) theo học học trò của Tử Tư, được người

 đời xem là á thánh của đạo Khổng.

(4) Trong Trung Dung của Lễ Ký viết:

“子曰:「人皆曰:『予知』,驅而納諸罟擭陷阱之中,而莫之知辟也。人皆曰:

『予知』,乎中庸,而不能期月守也。」

Tạm dịch: Khổng tử nói: “Mọi người đều nói “Tôi biết” (ý nói tôi khôn ngoan) 

nhưng khi bị rượt đuổi vào lưới hoặc rơi xuống hố mà không biết làm sao

 tránh khỏi. Mọi người đều nói “Tôi biết”, thế mà khi chọn trung dung lại

 không kiên trì được trong 1 tháng”.

子曰:「回之爲人也:乎中庸,得一善,則拳拳服膺,而弗失之矣。」

Tạm dịch: Khổng tử nói: Con người của trò Hồi (tức Nhan Hồi), khi chọn trung

 dung, gặp được 1 điều tốt là 2 tay ôm lấy khắc sâu vào lòng không bao giờ 

bỏ đi.

(5) Trong Trung Dung của Lễ Ký viết:

王天下有三重焉,其寡過矣乎!焉者雖,無徵。無,不信。不信,民弗從。

焉者雖善,不。不尊,不信。不信,民弗從。故君子之道,本諸身,徵諸庶民。

Giải thích ý nghĩa của tam trọng ở trên có nhiều thuyết khác nhau.

Trong tác phẩm Trung Dung Giải của Sorai, ông giải thích như sau: “Trọng 

trong câu của Trung Dung có nghĩa là trọng của thận trọng, tam trọng là 3 

thứ phải thận trọng là thiện (nghĩa là đức), trưng 徴 (thực hiện chính sách

 hữu ích cho dân), và tôn 尊 (địa vị). Theo giải thích này thì nội dung trên có

 thể tạm dịch như sau:

Tạm dịch: Đối với địa vị làm vua có 3 điều cần phải thận trọng gìn giữ, nếu

 giữ được có lẽ sẽ ít bị sai lầm. Người cấp trên dù tốt (có đức) nhưng không 

thực hiện các chính sách hữu ích cho dân thì dân không tin. Mà không tin thì

 không tùng phục theo. Người cấp dưới dù tốt (có đức) mà không có địa vị 

tương ứng thì người dân không tin. Mà không tin thì không tùng phục theo. 

Do đó, đạo của người quân tử là lấy đức tính và việc làm của bản thân làm

 căn bản, và thực hiện các chính sách hữu ích cho dân chúng.

(6) Thông thường tâm học là chỉ học thuyết của Vương Dương Minh đời 

Minh chủ trương tâm là lý tức hành động theo lương tâm của mình là hợp 

với đạo thánh nhân. Nhưng ở đây Sorai muốn nói bao gồm cả học thuyết 

 học của Tống Nho tức Chu tử học chủ trương tính là lý tức hành động theo 

bản tính của mình là hợp với đạo thánh nhân.

Nguyên văn

道難知亦難言。為其大故也。後世儒者。各道所見。皆一端也。夫道。先王之道也。

思孟而後。降為儒家者流。乃始与百家争衡。可謂自小已。

観夫子思作中庸。与老氏抗者也。老氏謂聖人之道偽矣。故率性之謂道。以明吾道之非偽。是以其言終帰於誠焉。中庸者。德行之名也。故曰択。子思借以明道。而斥老氏之非中庸。後世遂以中庸之道者誤矣。古之時。作者之謂聖。而孔子非作者。故以至誠為聖人之德。而又有三重之說。主意所在。為孔子解嘲者可見焉。然誠者。聖人之一德。豈足以尽之哉。

至於孟子性善。亦子思之流也。杞柳之喻。告子尽之矣。孟子折之者過矣。蓋子思本意。亦謂聖人率人性以立道云爾。非謂人人率性。自然皆合乎道也。它木不可為格格。則杞柳之性有栖倦。雖然。杨梅豈杞柳之自然乎。惻隠羞恶。皆明仁義本於性耳。其実惻隱不足以尽仁。而羞恶有未必義者也。立言一偏。毫釐千里。後世心学。胚胎于此。荀子非之者是矣。故思孟者。聖門之禦侮也。荀子者。思孟之忠臣也。

然当是時。去孔子未遠。風流尚存。名物不爽。及乎唐韓愈出。文章大変。自此而後。程朱諸公。雖豪傑之士。而不識古文辞。是以不能読六経而知之。独喜中庸孟子易読也。

遂以其与外人争者言。為聖人之道本然。又以今文視古文。而昧乎其物。物与名離。

而後義理孤行。於是乎先王孔子教法不可復見矣。

近歳伊氏亦豪傑。頗窺其似焉者。然其以孟子解論語。以今文視古文。猶之程朱学耳。加之公然岐先王孔子之道而二之。黜六経而独取論語。又未免和語視華言。我読其所為古義者。豈古哉。

吁嗟。先王之道。降為儒家者流。斯有苟孟。則復有朱陸。朱陸不已。復樹一党。

益分益争。益繁益小。豈不悲乎。

不佞藉天寵霊。得王李二家書以読之。始識有古文辞。於是稍稍取六経而読之。

歷年之久。稍稍得物与名合矣。物与名合。而後訓詁始明。六経可得而言焉。

六経其物也。礼記論語其義也。義必属諸物。而後道定焉。乃舎其物。独取其義。

其不泛濫自肆者幾希。是韓柳程朱以後之失也。予五十之年既過焉。此焉不自力。

宛其死矣。則天命其謂何。故暇日輒有所論著。以答天之寵霊。且錄其網要者数十。

以示入門之士者乎爾。

Tài liệu tham khảo

  • Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của 
  • Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36,
  •  Iwanami Shoten.