Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Đời Thủy Thủ 1 (Vũ Thất) Chương 3: GẶP GỠ NHÂN VIÊN

 

                       

GẶP GỠ NHÂN VIÊN


Tôi nói với Tâm:
– Tao lên nhà bếp xem tụi nó dọn dẹp.
Tâm ngả người trên ghế, nhẩn nha:
– Khỏi lo. Ban ẩm thực chưa từng bị khiển trách. Hỏa đầu quân đứa nào cũng tận tụy, nấu ngon, sạch sẽ, phục vụ khỏi chê. Cả năm nay tao chưa hề đề nghị phạt ai. Chỉ đề nghị thăng cấp. Ngồi xuống đi.
Tôi riu ríu nghe lời:
– Tao còn vô số việc phải học. Lại phải làm bảng tường trình nộp cho Hạm Trưởng. Ngồi đây, lỡ ông ấy vào thấy thì…
Tâm cắt ngang bằng một nụ cười:
– Mày hiện là phụ tá của tao. Trưởng Ban còn ngồi đây mà phụ tá bỏ đi là bị… củ đấy. Nhâm nhi thêm chút cà phê. Hạm Phó tám giờ rưỡi mới vào, Hạm Trưởng đúng chín giờ.

Tôi còn chưa biết phải làm gì thì Tâm hỏi:
– Mày biết hôm nay có lệnh cấm trại năm mươi phần trăm chưa?
Tôi ngạc nhiên:
– Sao vậy?
– Phật giáo tổ chức biểu tình lớn sáng nay. Có thể có rắc rối.
Tin ấy không làm tôi bất ngờ. Dũng ngày nào cũng nghe thuyết pháp ở chùa Ấn Quang, đã cho tôi biết từ hai hôm trước. Nó còn rủ tôi tham gia, nhưng tôi từ chối. Tôi nói là quân nhân, tôi tránh xa chính trị. Nó cười mỉm.
Tâm đổi giọng hăm hở:
– Tao tính rồi. Hai đứa mình đều không rơi vào phiên trực hôm nay. Có nghĩa là chiều tối mình vẫn đi gặp Tuyết theo dự tính. Không thì khổ — không gặp hôm nay là phải đợi tới Thứ Ba tuần sau. Mà tuần sau ai biết được, hoặc đi công tác, hoặc bị trực, hoặc lại có chuyện trời ơi đất hỡi nào đó, như cấm trại trăm phần trăm chẳng hạn.

Qua lối nói ấy, tôi hiểu Tâm vẫn còn nhiều tình cảm với Tuyết. Vậy tại sao anh lại muốn đưa tôi đi gặp nàng? Hay anh tự tin đủ nhẹ lòng để đứng ngoài? Còn tôi thì sao? Tôi đang thất tình. Gặp lại Tuyết, tôi yêu nàng như ngày xưa thì chỉ chuốc lấy muộn phiền. Được yêu thì bạn buồn, mà không được yêu thì lại khổ thân.
Có điều, ngay từ lúc nghe tin về Tuyết, tôi đã không sao ngăn được nỗi nôn nao. Cái tên ấy như một cánh cửa vừa mở, để gió của một thời đam mê ùa vào.
Tuy nhiên, tôi dứt khoát đứng lên:
– Mày đi một mình. Điều tao lo là bảng tường trình nộp cho Hạm Trưởng. Mất uy tín với ông ấy, đời tàn trong ngõ hẹp!
Tâm gật đầu:
– Thôi được, tùy mày. Trong lúc mày tìm hiểu nhà bếp, tao xem lại sổ sách kế toán. Đúng bốn giờ xuống đây, tao chỉ dẫn và bàn giao.
Tôi trợn mắt:
– Bàn giao? Hạm Trưởng cho tao một tuần mà!
Tâm cười tỉnh bơ:
– Bàn giao sổ sách trước. Công việc thì học từ từ.

Tôi với tay lấy chiếc mũ cát-két trên giá, đội lên rồi bước ra. Qua mấy cặp giường treo dành cho sĩ quan, tôi leo cầu thang dẫn lên nhà bếp.
Nhà bếp là một dãy hẹp nằm dọc vách tả hạm. Hai nhân viên đang lau bốn bếp điện nối liền nhau, mặt bếp phẳng bằng sắt, trông như một chiếc bàn dài. Nồi niêu, xoong chảo đang chồng chất trong một bồn rửa rộng đặt sát bếp. Bên cạnh là máy xoay thức ăn thừa tống ra sông.
Thấy tôi, anh trung sĩ đứng nghiêm:
– Chào Thiếu Úy. Xin lỗi, tôi đang dở tay.
Tôi cười:
– Không sao. Anh cứ tiếp tục.
Nhưng anh vẫn vội rửa tay rồi bước đến. Tôi còn nhớ anh — hôm qua Hạm Phó đã giới thiệu: Trung Sĩ Quân, phụ tá Ban Ẩm Thực của Tâm, và cũng là của tôi trong vài ngày tới.

Quân lần lượt giới thiệu các nhân viên dưới quyền. Hai người đang dọn dẹp là Hạ Sĩ Ngân và Thủy Thủ Bảo, ngành tiếp vụ, lo đi chợ và nấu ăn. Hạ Sĩ Nhất Ngọc là kế toán viên kiêm phụ bếp. Thủy Thủ Nhất Lâm là chiêu đãi viên phục vụ bàn ăn sĩ quan.
Tất cả đều còn rất trẻ. Ngay cả Trung Sĩ Quân cũng chỉ chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm. Tự dưng tôi thấy yêu mến họ ngay. Những khuôn mặt ấy không có chút gì phong sương của người lính trận, nhưng lại có thứ lặng lẽ cần cù giữ sức khỏe cho thủy thủ đoàn sống qua từng ngày.
Tôi nói với Quân:
– Tôi muốn xem kho lương thực. Khi nào anh rảnh thì cho tôi biết.
Quân niềm nở:
– Thiếu Úy có thể xem ngay bây giờ.

Qua khỏi máy làm nước đá, anh dừng trước một chiếc máy lớn đang chạy rầm rập. Bên trong, bọt nước nhào lộn sau tấm kính trong suốt.
– Đây là máy rửa chén. Mỗi bữa ăn thường phải rửa ba, bốn đợt mới hết.
Tiếp theo là ba kho nhỏ chứa thực phẩm, mỗi kho một độ lạnh khác nhau. Kho đầu chứa gạo, muối, đường, nước mắm. Kho kế chứa đồ hộp, rau cải. Kho cuối lạnh nhất dùng chứa thịt cá.
Tôi bước vào kho thịt cá chưa đầy ba mươi giây đã thấy buốt da. Tương tự hai kho trước, kho này cũng gần trống trơn.
Tôi ngạc nhiên:
– Sao trông lèo tèo quá vậy? Lấy gì nấu nướng?
Quân cười nhẹ:
– Thưa Thiếu Úy, đó là phần ăn buổi chiều cho nhân viên trực. Khi tàu về bến, chúng tôi đi chợ hằng ngày, chỉ mua đủ cho số nhân viên có mặt. Nấu cho cả tàu chỉ phí thực phẩm mà cũng phí công. Phần tiền chợ và gạo thặng dư được đưa vào quỹ xã hội. Nhân viên nào thật sự gặp khó khăn, ủy ban sẽ cứu xét tương trợ.
Tôi thấy hay hay. Thời gian ở quân trường, tôi chỉ học kỷ luật, điều lệnh, vũ khí, hải hành. Không ai cho biết gạo dư, tiền thừa có thể trở thành một thứ tình nghĩa.

Quân nói tiếp:
– Nhân viên nhà bếp phân công thế này: ai hôm nay đi bờ, sáng hôm sau, trước khi về tàu thì ghé chợ mua thức ăn. Như vậy ngày nào cũng có thức ăn tươi.
Quân hạ giọng, vui vẻ:
– Ông Hạm Trưởng này chịu chơi lắm. Cuối năm, thấy quỹ xã hội còn nhiều, ông cho mở tiệc tất niên. Ăn uống, nhảy nhót tưng bừng.
Nghe tới chữ “nhảy nhót”, tôi hơi lo. Nhảy không phải nghề của tôi. Ca hát thì may ra còn được gọi là tài tử. Nhưng tới đâu hay tới đó — không nhảy được thì kiếm cô nào ngồi nói chuyện rì rầm, hoặc nhìn thiên hạ quay tròn uốn éo cũng đủ vui mắt.
Tôi thành thật:
– Đáng buồn là tôi không biết nhảy. Chắc anh nhảy giỏi lắm?
Quân cười hăng hái:
– Cũng vừa đủ cho đào hài lòng. Ông thầy đừng lo, thằng em sẽ hết lòng chỉ dẫn. Dễ lắm. Bốn tuần là ông thầy dư sức lả lướt mấy điệu phổ thông.
Tôi lắc đầu cười:
– Chuyện đó bàn sau. Cám ơn anh.

Tôi bước qua một cửa thông nhỏ ra lòng tàu. Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột làm tôi hơi khó thở. Nắng bắt đầu gay gắt, chan hòa trên sàn sắt. Tôi đi về phía mũi, nơi khoảng không mở rộng phơi bày dòng sông lấp lánh.
Tôi đứng khoanh tay trên tấm sắt lớn của cửa đổ bộ. Khi tàu ủi bãi, tấm sắt này hạ xuống làm cầu cho xe lên xuống. Trên mặt có nhiều thanh ngang để tăng độ bám, cùng vô số lỗ nhỏ thoát bùn đất từ bánh xe rơi ra. Sau khi được kéo lên, hai cánh cửa mỗi bên khép lại thành mũi tàu.
Gió sông thổi nhẹ, nhưng không đủ làm khô những giọt mồ hôi bắt đầu rịn trên lưng. Ba chiến hạm nằm yên ở cầu bên cạnh. Xa hơn là những chiếc khác, im lìm dưới nắng. Xa hơn nữa, bóng vài thương thuyền hiện cùng những tòa nhà vươn cao Bên kia sông, những rặng dừa buông lá xuống những mái tôn bạc màu. Vài chiếc phao đen trắng đong đưa lặng lẽ. Một cành cây khô cùng ít rác rưởi trôi chậm theo sóng lăn tăn, luồn vào dưới tấm sắt đổ bộ.
Tôi mừng là ngày đầu hải nghiệp trôi êm như nước xuôi dòng. Nhất là may mắn gặp lại bạn cũ, giúp tôi không lạc lõng…

Tôi thích nụ cười hiền hòa của Hạm Trưởng, lối nói chuyện cà tửng của Hạm Phó. Các sĩ quan xem chừng không có kiểu hách dịch đàn anh đàn em như thời huấn nhục ở quân trường. May mắn hơn nữa là tôi được đổi xuống loại tàu chuyển vận đổ bộ.
Theo lời Tâm, đây là loại tàu “tà tà” và mang chữ thọ khá lớn. Không như loại tuần dương, trợ chiến, thường đi hành quân, tuần tiễu lâu vài tháng, tàu chuyển vận đổ bộ chỉ đi ngắn ngày, nhiều lắm đôi ba tuần. Công tác thường là chở binh lính, quân dụng, quân cụ, thiết giáp.
Có hai loại tàu chuyển vận và đổ bộ: hải vận hạm và dương vận hạm. Hải vận đặt theo tên sông, như chiếc tôi đang phục vụ là Hàm Luông, có sức chở hai trăm rưỡi tấn. Dương vận hạm thì đặt tên theo hải cảng như Cam Ranh, Vũng Tàu, có sức chở gấp sáu lần hải vận hạm.

Xa Sài Gòn khá lâu, tôi đâm nhớ những tiệm kem, những quán cà phê có nhạc thời trang êm dịu. Nhớ các cô thu ngân viên sau quầy mơn mởn dễ thương. Tôi cũng nhớ vỉa hè Lê Lợi với đủ mọi khuôn mặt già trẻ, xấu đẹp, thư thả ngược xuôi. Tôi hài lòng đã bỏ học để chọn nghề đi biển. Mỗi chuyến đi sẽ đưa tôi đến một bến bờ lạ, gặp nhiều giai nhân, rồi về bến cũ khi vừa đủ nhớ nhung.
Tôi đạp lên những thanh sắt của chiếc thang gắn vào thành tàu, leo lên sân thượng tả hạm. Chiến hạm cập cạnh bên có kiến trúc hoàn toàn khác. Tôi nhận ra đó là loại hộ tống. Sân mũi đặt một ụ súng 76,2 ly bề thế. Dọc hai bên mạn, mỗi bên có hai đại bác 20 ly và hai đại liên 50. Trên sân thượng, mỗi bên một khẩu 40 ly. So với hộ tống hạm, tàu hải vận của tôi hiền lành hơn, chỉ với khẩu 40 ly đôi ở mũi, mỗi bên mạn có ba đại bác, và hai đại liên trên đài chỉ huy.
Sau một hai năm ở hải vận hạm, tôi ao ước được đổi sang loại hộ tống. Loại này trang bị nhiều máy điện tử tân tiến hơn, đáp ứng nhu cầu hải chiến.

Tôi bước về phía lái. Ổ đại bác 20 ly cản ngang lối đi. Dưới chân súng có hộp mỡ bôi trơn và giẻ lau. Tôi dừng lại ngắm nghía với vẻ hiểu biết. Loại súng này tôi đã học khá kỹ ở quân trường, còn nhớ từng cơ phận, cách tháo ráp, những trở ngại tác xạ.
Tôi mở điện bộ máy ngắm, chờ một chút rồi ghé mắt vào. Máy vẫn tốt. Tôi quay súng qua lại, nâng nòng chỉ thiên rồi hạ thấp. Sau đó tôi nâng ngang, tìm mục tiêu, rồi dừng lại ở đỉnh cột cờ Thủ Ngữ phía xa.
Sau khi chỉnh họng súng vào thế phòng không, tôi mới nhận ra mồ hôi ướt đẫm, áo dính vào da. Thêm với việc mất ngủ khiến tôi cảm thấy uể oải. Đêm trước ở nhà Hiền, tôi đàn ca với Dũng đến gần sáng mới chịu tắm rửa, mặc đại lễ cho chỉnh tề đi trình diện. Rồi đêm qua trên tàu, lại lạ nước lạ cái, cứ nằm thao thức mãi.
Tôi nghiêng cổ tay nhìn đồng hồ. Còn hơn một tiếng mới tới giờ gặp lại Tâm. Tôi vừa đặt khẩu súng về thế phòng không thì một nhân viên xuất hiện. Anh đưa tay chào:
– Xin lỗi Thiếu Úy, em đi uống nước.

Tôi không biết xưng hô ra sao. Tuổi anh và tôi hẳn xấp xỉ. Anh xưng “em” có lẽ vì tôi là sĩ quan, nhưng tôi gọi anh ta là “em” nghe ra không ổn. Tôi chọn tiếng trung dung:
– Anh phụ trách bảo trì mấy khẩu đại bác?
– Dạ ba khẩu bên hữu hạm. Bên tả có Hạ Sĩ Cẩn.
– Ngày nào cũng tu bổ à?
– Dạ không. Chỉ sau khi về bến, rồi sau đó mỗi tuần một lần.
– Nếu không tu bổ thì làm gì?
– Dạ gõ sét, tạp dịch.
Tôi nhìn khuôn mặt bầu bĩnh mà nghĩ chắc tôi không thua kém:
– Sao không tiếp tục học mà chọn làm lính?
– Dạ em thi rớt Tú Tài. Chọn ngay Hải Quân cho khỏi bị gọi đi bộ binh. Em ớn băng rừng lội suối lắm.
Anh ngập ngừng một chút rồi nói thêm:
– Thiếu Úy có thể không biết em, nhưng em biết Thiếu Úy từ hồi ở quân trường. Thiếu Úy đi kiểm soát vọng canh ban đêm và hỏi mật khẩu.
Tôi nhớ những đêm trực nhật ở quân trường. Cứ mỗi đầu giờ, sinh viên trực phải đi một vòng doanh trại kiểm soát canh gác. Mỗi góc quân trường có một lô cốt; giữa hai lô cốt là một hai vọng gác. Bên trong tối, bên ngoài đèn sáng trưng. Những bóng người đứng gác cô độc trong đêm tưởng đã chìm khỏi trí nhớ, không ngờ hôm nay lại hiện ra trên một chiến hạm.

Tôi nói:
– Quả là tôi không nhớ anh.
– Dạ. Bạn em học giám lộ cũng thích Thiếu U1y lắm. Nó nói Thiếu Úy đánh đèn rất nghề.
Tôi lại bất ngờ.
Khu trường sinh viên sĩ quan và trường chuyên nghiệp hạ sĩ quan, đoàn viên đều có đèn hiệu để khóa sinh thực tập truyền tin. Ban đêm, khi rảnh, tôi thường ra đó chớp đèn qua khu đoàn viên. Ban đầu chỉ hỏi tên, khóa, tuổi, quê quán. Sau quen dần, những câu hỏi đi xa hơn: gia cảnh, tâm tình, ước mơ. Ban đêm mà đứng cách xa thì có trời mà biết mặt, còn tên thì nghe đó, quên đó.
Tôi hỏi:
– Anh đó cũng đổi về tàu này?
– Dạ không. Nghe nói về giang đoàn.
– Có dịp gặp thì cho tôi gửi lời thăm.
Anh lính thấp giọng:
– Rất tiếc, em cũng mất liên lạc rồi.
Tôi vỗ nhẹ vai anh:
– Tiếp tục công việc. Gặp lại sau.

Tôi định bước tiếp về phía lái thì có tiếng loa vang vang:
– Chú ý! Hạm Trưởng sắp về tàu.
Tôi bước lên chiếc cầu sắt bắc ngang lòng tàu. Đến cuối cầu, tôi đưa tay chào Trung Úy Tùng, sĩ quan trực. Một hạ sĩ quan và hai đoàn viên chào tôi. Tôi chào đáp. Tùng hô to:
– Chú ý! Hạm Trưởng về tàu. Tất cả: “Nghiêm!”.
Vừa khi Hạm Trưởng đặt chân lên hạm kiều, Tùng hô tiếp:
– Chào tay. Chào!
Tất cả đưa tay chào. Tôi hấp tấp làm theo. Cùng lúc, một điệu còi lạ tai vang lên từ chiếc còi nơi miệng anh giám lộ: í e, í e, e í… Âm thanh trầm bổng, ngắn ngủi mà trang trọng lạ lùng. Dứt còi hiệu, anh giám lộ cũng đứng nghiêm chào.
Đến đầu hạm kiều, Hạm Trưởng dừng lại. Ông quay mặt về lá quốc kỳ đang phất phới ở trụ cờ cuối lái, rồi trịnh trọng đưa tay chào. Chỉ một giây sau, ông bỏ tay xuống và bước lên chiến hạm.
Ông tươi cười bắt tay sĩ quan trực:
– Sao? Có gì lạ không?
Trung Úy Tùng đáp nghiêm túc:
– Dạ không, thưa Hạm Trưởng.

Ông nói “Tốt”, rồi đưa mắt sang tôi. Một nụ cười mỉm thoáng nở trên môi ông trước khi ông bước vào khung cửa có cầu thang dẫn xuống phòng sĩ quan. Trung Úy Tùng theo sau.
Anh giám lộ chạy nhanh lên đài chỉ huy hạ lá hiệu kỳ của Hạm Trưởng — lá cờ đuôi nheo nền trắng viền xanh. Khi lá cờ còn phất phới, có nghĩa là Hạm Trưởng không có mặt trên tàu. Ngược lại, với cấp tướng, khi cờ sao còn bay, tướng còn hiện diện tại nhiệm sở.
Thời thụ huấn, tôi đã nghe nói về thủ tục chào đón Hạm Trưởng rời tàu, về tàu. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt. Mọi động tác diễn ra rất nhanh, rất gọn, vậy mà lại tạo trong tôi một cảm xúc khó tả. Tiếng còi trầm bổng, thế nghiêm chào của cả toán trực, cái chào của ông trước quốc kỳ làm hình ảnh Hạm Trưởng trân trọng hơn.
Tôi thầm nghĩ: một ngày nào đó, rồi mình cũng sẽ là người được tiếng còi ấy chào đón.
Ý nghĩ vừa hiện lên tôi vội xóa ngay. Võ Bằng ơi, ngày đó… còn xa lắm.

Tôi nhìn rõ hai nhân viên trực, định nói mấy lời làm quen thì chợt để ý bảng tên của anh lính gác: Ngô Thành. Tôi nhìn phù hiệu ngành nghề trên tay áo.
Anh đúng là người Hạ Sĩ Vận Chuyển mà Hạm Phó đã dặn phải thận trọng. Nào ngờ chạm mặt ngay phút đầu.
Thành cao ráo, mặt xương xẩu, những nét cứng trên gò má và quai hàm khiến anh có vẻ du đãng hơn là quân nhân. Tuổi chắc chưa tới ba mươi, nhưng nét mệt mỏi làm anh trông già hơn.
Tôi chưa biết mở lời ra sao thì chợt nhớ câu Hạm Trưởng hỏi tôi lúc trình diện. Tôi hỏi anh:
– Anh Thành có gia đình chưa?
– Dạ rồi. Bốn con.
Câu nói bật ra khiến tôi nhớ đến ba tôi. Ông có ba con mà đã vất vả biết bao để duy trì miếng ăn. Trưởng ban của một quận mà còn vậy huống hồ lương lính. Tôi vọt miệng:
– Chắc chật vật lắm?
Thành cười buồn:
– Mệt lắm, Thiếu Úy ơi!
– Vợ anh có đi làm không?
– Trước kia, mới hai đứa thì còn gửi nội ngoại để đi làm. Từ đứa thứ ba là phải nghỉ ở nhà.

Tôi tưởng tượng anh mệt đến mức nào, nhưng vẫn hỏi:
– Anh đi lính mấy năm rồi?
– Dạ mười năm.
Tôi không ngăn được lời trách nhẹ:
– Mười năm lính mà mới Hạ Sĩ. Anh ba gai có ích gì đâu.
Thành đưa tay gãi đầu:
– Thì cái tánh nó vậy. Nhưng tôi cũng ráng tu tỉnh được mấy năm nay rồi.
Tôi cười:
– Ráng mà tu tỉnh cả đời… mới khá được.
Thành gật đầu, giọng thật thà:
– Chắc phải vậy. Bốn con mà lương Hạ Sĩ muôn năm thì không cách gì sống nổi. Phải bắt được lon Hạ Sĩ Nhất mới khá hơn. Cứ hăng máu hoài chỉ khổ vợ con.
Tôi không rõ sự khác biệt giữa hai mức lương, nhưng vẫn gật đầu khích lệ:
– Ráng tu tỉnh khỏi tù thì sớm lên Hạ Sĩ Nhất thôi. Rồi vài năm nữa lên Trung Sĩ.
Thành nhìn thẳng vào mắt tôi. Ánh mắt anh không còn khô khốc như lúc đầu.
– Cám ơn Thiếu Úy an ủi. Tôi nhất định cố gắng.
Trong tia nhìn ấy, tôi bỗng thấy một chút ấm áp. Tôi hình dung bốn đứa con của Thành nheo nhóc trong căn nhà chật hẹp nào đó, ăn không đủ no mặc không đủ ấm, như thời ba mẹ tôi nghèo túng.
Không hiểu sao, tôi buột miệng:
– Khi nào thật sự gặp khó khăn, anh cứ gặp tôi. Chúng ta thử cùng tìm cách giải quyết.
Mắt Thành chớp nhanh. Anh có vẻ ngạc nhiên.
– Thành thật cảm ơn Thiếu Úy.
Vừa nói xong tôi đã thấy mình hơi liều. Chưa vợ chưa con, chưa từng trải những lo âu cơm áo, tôi lấy tư cách gì mà giúp anh giải quyết khó khăn? Còn giúp tiền bạc thì… với lương Thiếu Úy mới ra trường, chi tiêu cá nhân vốn đã chật vật.

Thì tới đâu tính tới đó. Tôi vừa nhủ thầm vừa bước vào phòng truyền tin. Anh Thượng Sĩ vô tuyến chào tôi. Tôi nhờ anh hướng dẫn công dụng và cách sử dụng các máy móc. Tôi say sưa theo dõi suýt quên cái hẹn với Tâm.
Khi ngước nhìn đồng hồ trên vách, tôi vừa kịp trở xuống gặp Tâm.
Cũng phải mất cả tiếng tôi mới nắm được cách tính toán lương bổng, cách ghi sổ sách kế toán. Nhưng khó nhất là làm thế nào theo dõi nợ nần các sĩ quan mượn từ quỹ ẩm thực. Cứ mượn mượn trả trả, rất dễ sơ sót. Tất nhiên, sĩ quan ẩm thực xuất tiền túi cá nhân bù đắp.
Bàn giao xong xuôi, Tâm rủ tôi đi ăn cơm tiệm, gọi là mừng gặp nhau. Sau bữa ăn, tôi xiêu lòng đi cùng với anh gặp lại người xưa.
Tôi hình dung Tuyết qua lời mô tả của Tâm. Nhưng không hiểu sao bóng dáng hiện ra trong trí tôi không phải Tuyết, mà lại là Hiền…

Vũ Thất

(Còn tiếp)