Giai Thoại Văn Chương :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自 君 之 出 矣
"TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自 君 之 出 矣" là một câu thường thấy dùng để mở đầu trong một bài thơ ca cổ. Sau mới diễn biến thành "tựa đề" của "thơ Nhạc phủ", là một loại thơ có thể phổ nhạc và hát được. TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ thường dùng để diễn tả nỗi biệt ly và lòng tưởng nhớ của một người vợ có chồng đi xa. Có xuất xứ như sau :
Cuối đời Đông Hán, một trong "Kiến An Thất Tử 建 安 七 子", Bảy người giỏi nhất thời Kiến An là Từ Cán 徐 幹, tự Vĩ Trường 偉 長 làm một bài thơ trường thiên tựa là "Thất Tứ 室 思"; Có vế thứ ba như sau :
其 三 KỲ TAM
浮 雲 何 洋 洋, Phù vân hà dương dương ?
願 因 通 我 辭。 Nguyện nhân thông ngã từ.
飄 颻 不 可 寄, Phiêu diêu bất khả ký!
徙 倚 徒 相 思。 Tỉ ỷ đồ tương tư.
人 離 皆 復 會, Nhân ly giai phục hội,
君 獨 無 返 期。 Quân độc vô phản kỳ.
自 君 之 出 矣, TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ,
明 鏡 暗 不 治。 Minh kính ám bất trị,
思 君 如 流 水, Tư quân như lưu thủy,
何 有 窮 已 時。 Hà hữu cùng dĩ thì ?!
* Chú thích :
- Thất Tứ 室 思 : là Những suy nghĩ tơ tưởng của người ở lại nhà.
- Dương Dương 洋 洋 : chỉ trôi nổi lang thang vô định.
- Thông Ngã Từ 通 我 辭 : là Truyền đạt lời muốn nói của ta.
- Tỉ Ỷ 徙 倚 : là "Đổi chỗ tựa"; Ý chỉ "Thẩn thơ, ngơ ngẩn".
- Đồ Tương Tư 徒 相 思 : ĐỒ là Trống không, Vô ích. Nên ĐỒ TƯƠNG TƯ là Nhớ nhau một cách vô ích; là Thương nhớ khơi nhơi, không có tác dụng.
- Phục Hội 復 會 : là Hội ngộ trở lại; là Gặp lại nhau.
- Phản Kỳ 返 期 : là Kỳ hạn phản hồi; là Ngày quay trở lại.
- Bất Trị 不 治 : Không lo lắng, không màng đến; Trong bài có nghĩa là Không lau chùi.
* Nghĩa bài thơ :
NỔI NHỚ Ở NHÀ (bài 3)
Đám phù vân sao mà ung dung trôi nổi bay về đâu thế kia ? Ta muốn nhờ nó truyền đạt dùm những lời nói trong lòng của ta. Nhưng nó cứ trôi nổi phiêu bạt thế kia thì làm sao mà gởi gắm cho được! Nên ta đành thơ thẩn mà tương tư một cách vô ích mà thôi. Những người ra đi đều đã trở lại, riêng chỉ có chàng là không hẹn được ngày về. TỪ CHÀNG RA ĐI RỒI thì chiếc gương sáng cũng phai mờ vì không ai lau chùi. Thiếp nhớ chàng như dòng nước cứ chảy xuôi chảy mãi, làm sao có thể có lúc nào ngưng chảy được chứ ?!
* Diễn Nôm :
THẤT TỨ (Kỳ tam)
Mây nổi sao thảnh thơi,
Có cho ta nhắn lời.
Trôi nổi làm sao gởi,
Đành thương nhớ suông thôi.
Người đi còn trở lại,
Chỉ chàng biệt chân trời !
Từ ngày chàng đi rồi,
Gương sáng cũng mờ thôi.
Nhớ chàng như dòng nước,
Chảy mãi chẳng ngừng trôi !
Lục bát :
Phù vân sao lại thảnh thơi,
Cho ta nhắn nhủ đôi lời nhớ thương.
Nổi trôi khó gửi lòng buồn,
Thẩn thờ chiếc bóng vấn vương tơ lòng.
Người đi đều trở lại trông,
Riêng chàng biền biệt khó mong ngày về !
Từ Ngày Chàng Bước Chân Đi,
Gương trong mờ nhạt biếng khi lau chùi.
Nhớ chàng như nước sông trôi,
Nước trôi trôi mãi chẳng thôi chẳng dừng
Bốn câu cuối của vế thơ trên là "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, 自 君 之 出 矣,Minh kính ám bất trị, 明 鏡 暗 不 治。Tư quân như lưu thủy, 思 君 如 流 水,Hà hữu cùng dĩ thì?! 何 有 窮 已 時?!" nói lên mối tình thắm thiết của người vợ luôn tưởng nhớ đến người chồng đi xa của mình, đã là niềm cảm hứng vô tận cho các thi nhân sau nầy; Mọi người đều cùng nhau lấy câu "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, 自 君 之 出 矣" để làm tựa và để mở đầu bài thơ với muôn màu muôn vẻ, nói lên lắm nỗi trăm nhớ ngàn thương của người khuê phụ ở chốn phòng không với trên hai trăm bài ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn bát cú sau nầy.
Thực ra thì Từ Cán chỉ nổi tiếng về văn thời Đông Hán (25-220) chớ không phải về thơ, bài thơ trên lúc đó cũng không mấy ai để ý, thậm chí hơn hai trăm năm sau cũng không mấy người biết đến, mãi cho đến thời Nam Bắc Triều(420—589) thì Nam Triều Tống Hiếu Võ Đế Lưu Tuấn 劉 駿 (430-464) mới nhại khổ thơ trên mà viết một bài ngũ ngôn tứ tuyệt như sau:
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hỉ,
金 翠 暗 無 精。 Kim thúy ám vô tinh.
思 君 如 日 月, Tư quân như nhật nguyệt,
迴 環 晝 夜 生。 Hồi hoàn trú dạ sinh!
* Chú thích :
- Kim Thúy 金 翠 : chỉ vàng ròng và ngọc phỉ thúy làm thành đồ trang sức.
- Tinh 精 : là Tinh minh, sáng sủa, rực rỡ.
- Hồi Hoàn 迴 環 : là quay vòng, là lần lượt tuần tự theo quy trình.
- Trú Dạ 晝 夜 : Trú là ngày, Dạ là đêm.
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì đồ trang sức vòng vàng phỉ thúy của thiếp cũng không còn rực rỡ nữa. Nhớ chàng như là mặt trăng mặt trời vậy, cứ lần lượt mọc rồi lại lặn hết ngày rồi lại tới đêm (và cứ tuần tự như thế mãi!).
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi rồi,
Vàng ngọc cũng mờ thôi.
Nhớ chàng như nhật nguyệt,
Mọc lặn đêm ngày trôi !
Luc bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Trâm vàng phỉ thúy cũng mờ nhạt thôi.
Nhớ chàng nhật nguyệt dần trôi,
Ngày đêm mọc lặn không thôi nhớ chàng !
Kết cấu của bài thơ hoàn toàn giống như là vế thơ của Từ Cán: Ngoài việc lặp lại câu đầu, câu thứ hai cũng ở dạng phủ định, câu thứ ba cũng ở dạng so sánh với từ "NHƯ" và kết bằng ý chính ở câu thứ tư. Được ông vua tài hoa nhắc lại như là được một quảng cáo siêu cấp, nên mọi người đều đổ xô nhau dùng "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" để làm thơ, để mô phỏng, để tiếp tục... không ngừng về thể thơ nầy khiến NÓ trở thành một "Tựa đề" trong Nhạc phủ; cũng có những bài thơ đột phá khỏi cách thức nầy, nhưng tất cả đều cùng dùng câu "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" để mở đầu bài thơ. Sau đây là diễn tiến của "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" qua các thời đại... Bắt đầu từ bài thơ của Vương Dung 王 融 nước Tề của Nam Triều :
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hĩ,
金 爐 香 不 燃。 Kim lô hương bất nhiên.
思 君 如 明 燭, Tư quân như minh chúc,
中 宵 空 自 煎。 Trung tiêu không tự tiên.
* Chú thích :
- Kim Lô 金 爐 : là cái lò được dát vàng dùng để đốt trầm hương cho thơm phòng.
- Nhiên 燃 : có bộ HỎA 火 là Lửa ở bên trái, nên có nghĩa là Đốt.
- Minh Chúc 明 燭 : Ngọn đuốc sáng; Trong bài chỉ ngọn đèn sáp được thắp sáng hằng đêm.
- Trung Tiêu 中 宵 : là Giữa đêm, là nửa đêm về sáng; Trong bài chỉ suốt đêm.
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng ra đi rồi; Lò vàng trầm hương cũng không còn đốt nữa. Nhớ chàng như ngọn đuốc nến đang cháy sáng; Suốt đêm cứ tự mình thiêu đốt mình một cách ngẩn ngơ mà không người biết đến.
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi rồi,
Lò hương biếng đốt thôi.
Nhớ chàng như đuốc nến,
Đêm tự đốt mình thôi !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Lò vàng thiếp cũng biếng vì đốt hương.
Nhớ chàng như nến đêm trường,
Đêm đêm tự đốt tự thương thân mình !
Tể Tướng Nam Đường là Trần Thúc Đạt 陳 叔 達, là em khác mẹ của Trần Hậu Chúa Trần Thúc Bảo thì có thơ như sau:
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hĩ,
紅 顏 轉 憔 悴。 Hồng nhan chuyển tiều tụy.
思 君 如 明 燭, Tư quân như minh chúc,
煎 心 且 銜 淚。 Tiễn tâm thả hàm lệ !
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hĩ,
明 鏡 罷 紅 妝。 Minh kính bãi hồng trang.
思 君 如 夜 燭, Tư quân như dạ chúc,
煎 淚 幾 千 行。 Tiễn lệ kỷ thiên hàng !
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì nhan sắc hồng hào của thiếp cũng chuyển sang tiều tụy võ vàng; Nhớ chàng như là ngọn nến đang đốt sáng; Vừa đốt tim nến của mình lại vừa phải ngậm những giọt lệ nến chung quanh (Vừa đau lòng vừa nuốt lệ!).
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì gương sáng đã không còn soi được dung nhan đẹp đẽ của thiếp nữa. Nhớ chàng như là ngọn nến trong đêm; cứ đốt mãi thân mình cho lệ nến rơi đến mấy ngàn hàng !
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng ra đi,
Dung nhan thiếp tiều tụy.
Nhớ chàng như nến sáng,
Đốt lòng còn nuốt lệ !
Từ ngày chàng đi rồi,
Gương sáng cũng biếng soi.
Nhớ chàng như ngọn nến,
Ngàn hàng lệ tuôn rơi !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Hồng nhan tiều tụy còn gì đẹp xinh.
Nhớ chàng như nến năm canh,
Đốt tim đốt dạ nuốt dòng lệ rơi !
Từ ngày chàng ra đi rồi,
Thẩn thờ gương sáng ngậm ngùi biếng soi.
Nhớ chàng như nến đơn côi,
Ngàn hàng lệ nhỏ ngậm ngùi đêm đêm !
Đỗ Chiêu Đức
(Xem tiếp theo phần 1)