Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

Bớt - Anh Khờ


                                   

            Bớt

Đón Tết năm này chẳng bánh chưng 
Không khoanh pháo đỏ nổ vang lừng 
Bài chơi thử vận... ôi... ngao ngán...
Rượu nếm xem đời... ậy... dửng dưng! 
Hát xướng vô duyên đành phải hãm...
Thơ văn lãng nhách chắc là ngưng?
Ừ  thôi... đã quyết buông vài thứ 
Bớt được "sân si" chút cũng mừng!

Anh Khờ











Chữ Nghĩa Làng Văn - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng


***


Chữ Việt cổ

Ngàn: bờ bãi, rừng núi - bạt ngàn.

Ngạn: bờ cao, bãi biển - hữu ngạn, tả ngạn.

Ngòi: dòng nước chảy – sông ngòi.

(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Từ điển chính tả sai lỗi… chính tả

“Chỉnh: chỉnh chu”.

(Ts Hà Quang Năng/ Ths Hà Thị Quế Hương)


Viết đúng là “chỉn chu”. Vì “chỉn” nghĩa là vốn, thật (Đạo trời, báo phục chỉn ghê, Khéo thay một mẻ tóm về đầy nơi – Kiều)

(Hòang Tuấn Công)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Trống thủng
Của em bưng bít vẫn bùi ngùi,
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi,
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc,
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi,
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi
Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi.
Nhắn nhủ ai về thương lấy với,
Thịt da ai cũng thế mà thôi.


hoxuanhuong11


Thành ngữ từ bàn nhậu sau 1975

Sau 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ bàn nhậu, như
Carlsberg : Cho anh ráng lấy sức bế em ra giường !



Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 

Vạn sự khởi đầu nan… gian nan bắt đầu nản


Nếu sinh vào tháng nào thì tính cách ứng với loại cây nào?

Tháng 11, Cây thông (tùng)
Trên núi tùng sừng sững, thung lũng gió vi vu.
Tiếng gió sao lớn thế, cành tùng cứng cáp thay
Tuyết sương buốt thê lương, quanh năm xanh chính trực.
Sao không bị lạnh phá? Tùng bách tính kiên cường.

(Lưu Trinh).


Cây thông (tùng) không sợ nóng lạnh khắc nghiệt, bốn mùa xanh tươi, có tính "dẻo dai". Có thể ở trong gió tuyết, giữ vững khí tiết của mình. Bạn sinh vào tháng 11 cũng là một người rất ổn định. Làm người chịu được tịch mịch, làm việc vượt khó, ý chí kiên định.

11 - Tháng mười một - cây tùng cây thông

(Lý Văn Hàm)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 

Tình yêu không tự sinh ra cũng không tự mất đi.

 Nó chỉ chuyển từ người này sang người khác


Cha tôi - nhà văn Lan Khai - 1

Năm 1926, là những năm tháng cuối cùng ở Trường Bưởi, cha tôi tham gia tổ chức cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên ở Hà Nội, nhân đám tang Phan Chu Trinh. Sau đó, ông bị Chính phủ bảo hộ Pháp bắt và đuổi học, với tội danh “Nguyễn Đình Khải dính líu vào quốc sự”. Ông lại tìm đường vào học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Trở về quê hương, ông tiếp tục tham gia vào tổ chức bí mật chống Pháp của lãnh tụ Nguyễn Thái Học. Hoạt động được một thời gian ngắn, ông bị mật thám phát hiện và bị bắt giam ở Hỏa Lò - Hà Nội. Sau khi ra tù, ông trở lại Tuyên Quang, nơi quê hương sinh ra và lớn lên để cùng những người thân đang ở đó. Bước đầu ông cầm bút để thử nghiệm và tài năng đặng khẳng định con đường văn nghiệp của mình...
Mùa thu năm 1928, ông bà sinh ra tôi, năm ấy là năm Mậu Thìn, ông nội liền đặt cho tôi cái tên Nguyễn Đinh Phượng cũng là cái mốc, cha tôi có tiểu thuyết đầu tay gửi về Hà Nội, gia nhập làng văn bút Hà Thành (Theo các ông Nguyễn Tuân và Ngọc Giao cho gia đình tôi biết: Trước đó Lan Khai đã có một số bài viết cho An Nam Tạp Chí, Đông Pháp, Đông Tây, nhưng chúng tôi chưa sưu tầm được). Đó là cuốn: Nước Hồ Gươm được in thành sách do nhà xuất bản Nguyễn Kính - Hà Nội phát hành. Tiếp đến là các cuốn: Cô Dung, Liếp li, Lẩn sự đời, Chế Bồng Nga, Lầm Than và Chuyện Lạ Đường R9ừng... do nhà xuất bản Hương Sơn, Tân Dân... xuất bản. Tiếp đến là tiểu thuyết Mực Mài Nước Mắt do nhà xuất bản Đời Mới in. 


Sau gần nửa thế kỷ, tên tuổi Lan Khai vắng bóng trên văn đàn cả nước, bởi cái chết bất ngờ. Lan Khai mất người, mất cả tên tuổi, chỉ còn lại trên đời nỗi đau khổ triền miên ám ảnh vợ con ông. Cách đây không lâu trên dưới 30 năm có một số người bạn văn bút với Lan Khai như Ngọc Giao, Nguyễn Vĩ, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân, Trương Tửu... kể tường tận về cha tôi
(Lan Phuơng)


Thành ngữ từ bàn nhậu sau 1975

Sau 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ bàn nhậu, như:
Tiger : Tình iêu giết em rồi 


Cha tôi - nhà văn Lan Khai - 2

Mẹ tôi và ông nội tôi cho biết, khi còn nhỏ cha tôi sài đẹn, khó nuôi, nhưng biết nói rất sớm nên có biệt danh: Cu Lém và tên cúng cơm: Cậu Bủng. Còn khai sinh là Nguyễn Đình Khải được giấu đi, lên 7 mới xưng danh ở trường tiểu học. Tên “Khải” chữ Nho có nghĩa là vui, còn Nguyễn Đình là tên dòng tộc. Khi ở Hà Thành, các bút danh của cha tôi phần lớn do các nhà văn tặng. 

Năm 1928 gia nhập làng văn sĩ Bắc Hà, cha tôi lấy bút danh Lan Khai, nghĩa là hoa Lan nở, theo tâm nguyện của bà nội tôi: “Mong sao đời con sau này như hoa Lan nở”. 

Cụ Nguyễn Văn Tố hay mời Lan Khai đi diễn thuyết, cụ yêu mến tặng cha tôi bút danh là Huệ Khai để nối với Lan Khai. Khi gần gũi, Nguyễn Tuân gọi cha tôi là Ông Mán Do Thái, hoặc ông bạn Lô Giang, Lôi Giang (ý chỉ quê Sông Lô, sông Chảy, ở Tuyên Quang). Nguyễn Vĩ hay gọi Lan Khai là Thục Oanh, bởi khi đó có một cô thiếu nữ Hàng Đào rất đẹp tên Oanh mắc chứng phải lòng văn thơ của Lan Khai. Vũ Trọng Phụng thường gọi cha tôi là Ông Khai. Các chú Nguyên Hồng, Trần Huyền Trân, cô Anh Thơ hay gọi cha tôi là Lan. Ai gọi thế nào cha tôi nghe thế ấy và luôn vui vẻ. Nếu trong cùng số báo có nhiều bài viết của mình cha tôi ký các bút danh khác nhau. Chỉ có bút danh ĐKG là cha tôi tự đặt, có nghĩa là “Để kiếm gạo”, đây là những trang sách viết nhanh, viết vội, giao cho nhà in để kịp tiền đong gạo nuôi 8 người ăn, cha tôi nói: “ĐKG không phải sách để đời mà để sống qua ngày”, nhưng khi sắp chữ in các bác vẫn thường đổi lại tên hay cho dễ bán. 

Bác Tchya viết thư cho Lan Khai gọi cha tôi là “Người phiêu lưu thân mến!” Bởi vào những năm 1928 - 1933 cha tôi có nhiều cuộc hành trình khắp Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên để khám phá phong tục tập quán và danh lam thắng cảnh mọi miền đất nước. Bởi thế cha tôi quen cả tiếng Ba Na, Gia Rai, Tày, Mông, Dao, Cao Lan... ghi chép đủ điều xa lạ và sáng tác các Truyện Đường Rừng. Đương thời các văn sĩ Bắc Hà đã mệnh danh Lan Khai là Nhà văn đường rừng nguyên do từ đó. 

(Lan Phuơng)


Huy - 1

Tôi gặp Cao Xuân Huy lần đầu tiên cách đây khoảng 40 năm khi Huy phục vụ tại một căn cứ huấn luyện quân nhân gốc Thượng ở Pleiku. Tôi còn nhớ vóc dáng và nét mặt Huy lúc đó. Cao, gầy, phảng phất chút thư sinh, chút buồn, và ít nói.

Hơn 15 năm sau, gặp lại ở hải ngoại, Huy vẫn ít nói nhưng bề ngoài thay đổi nhiều. Phong sương, dày dạn, ngang tàng. Tác phẩm Tháng Ba Gẫy Súng (TBGS) đến với tôi như một bất ngờ thú vị. Cho tới lúc đó tôi vẫn chỉ nghĩ đến Huy như một người lính thứ thiệt, hơn là một nhà văn. Huy viết ít, TBGS không nhiều chữ nhưng đủ để tạo cho nó một chỗ đứng riêng biệt và quan trọng trong văn học. Huy yêu quân đội, yêu binh chủng, yêu đồng đội vô cùng. Gần gũi Huy, ai cũng thấy rõ. Đọc TBGS, càng thấy rõ. Thế nhưng, cũng trong TBGS, chúng ta thấy Huy yêu sự thật và trân trọng với ngòi bút đến như thế nào.

(Trương Vũ)


Tiểu sử CaoXuanHuy_thumb

Sinh tháng 9.1947 tạii Bắc Ninh. 

Mất ngày 12.11.2010 tại California.


Tác phẩm

Tháng Ba Gẫy Súng, Vài mẩu chuyện 

và một số truyện ngắn



Chữ nghĩa của một thời chinh chiến 

ở quán cà phê

Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:

Bastos  : Bọn anh suốt tháng ôm sầu


Huy - 2

Đối với rất nhiều người lớn lên trong chiến tranh, suốt hơn 35 năm qua, âm vang từ cuộc chiến chưa bao giờ dứt. Trong từng gặp gỡ, từng câu chuyện, từng tranh cãi gần như bất tận, những kinh nghiệm cá nhân khởi đi từ cuộc chiến, những hào hùng, những cuồng nộ, những bi phẫn, những thắt gan thắt ruột, được tuôn trào ra, luôn sôi nổi. Nhưng khi phải viết, thường chúng ta dừng tay lại. Hay, nếu không dừng lại, thường cũng chỉ viết… giống như ai ai. Trong TBGS, điều cần viết, có thắt ruột thắt gan đến như thế nào, Huy cũng viết. Thản nhiên, sống động, và văn chương. Không cường điệu. Không kịch tính. Không sử thi. Viết như thế đâu có dễ! Từ ngày tàn cuộc chiến đến nay, có bao nhiêu tác phẩm đạt được những giá trị này trong kho sách văn chương viết về chiến tranh? Dù rằng, những thảm kịch do cuộc chiến tranh này gây ra đến nay vẫn còn lãng đãng trong từng gia đình, len lỏi trong da thịt máu mủ từng con người.


Cao Xuân Huy mang trong thân phận mình hầu hết những thảm kịch của cuộc chiến cùng với tính phức tạp của nó. Gia đình chia cắt. Cha Bắc, mẹ Nam. Không sống với cả cha lẫn mẹ. Tuổi thơ cơ cực. Học xong trung học thì đi lính, và chọn một binh chủng dễ đưa mình vào cái chết. Rồi tù tội. Rồi vượt biển. Rồi sống lưu vong. Rồi, gần như làm bất cứ thứ nghề nào có thể làm được để sinh nhai, để giứp đỡ vợ con. Rồi… vẫn với tâm tư một người lính luôn tự hào với binh chủng, luôn xem đồng đội như gia đình, 


Huy trở thành một nhà văn, và sau đó, điều hành tờ Văn Học, một tạp chí văn học nổi tiếng ở hải ngoại. Huy điều hành tạp chí này một cách khá đặc biệt, có vẻ như lẫn lộn chuyện nhà binh với chuyện chữ nghĩa. Nhiều người không hài lòng nhưng ai cũng biết không ai khác có thể làm hơn được trong hoàn cảnh chợ chiều của văn chương trên giấy. Khi Huy kiệt sức, tạp chí chết. Dù sự nghiệp văn chương của Huy có thể không lớn nhưng rất nhiều nhà văn dù lớn hay bé, đặc biệt những nhà văn có liên hệ bài vở với tờ Văn Học, phải nợ nần Huy. Nợ nần chồng chất trong suốt thời gian khá dài Huy làm Tổng Thư Ký, rồi Tổng thư ký… rồi sau cùng, Chủ Biên tờ tạp chí này.

(Trương Vũ)


Văn học miền Nam 1954-1975: đường về gian nan

Nhà văn Trần Hoài Thư là một trường hợp đặc biệt bởi vì các tác phẩm do ông, cùng với sự đóng góp của một nhóm bạn thân, sưu tập và ấn hành xuất hiện trong cả hai dạng, số hóa và bản in do chính tay ông in ra và gởi đến bạn đọc qua đường bưu điện. Có thể nói Trần Hoài Thư là người đầu tiên trong cộng đồng người Việt hải ngoại áp dụng thành công phương pháp “In theo yêu cầu,” tương tự như “Print On Demand” mà Người Việt Books áp dụng cho các sách xuất bản gần đây. 


Tạp chí Thư Quán Bản Thảo và Tủ sách Di Sản Văn Chương Miền Nam là 2 công trình quan trọng nhất của nhà văn Trần Hoài Thư. Thư Quán Bản Thảo chính thức phát hành đầu năm 2001, cho đến nay gần tròn 14 năm. Số 62 là số mới nhất, phát hành tháng 12 năm 2014 với chủ đề “Khởi Hành và Tôi.” 


Theo nhà văn Trần Hoài Thư, mỗi số Thư Quán Bản Thảo thường dành khoảng 100 trang cho một tác giả chọn lọc của Văn Học Miền Nam. Ví dụ chủ đề Nguyễn Bắc Sơn (số 20), v.v… Điều này cho thấy mục đích giới thiệu [lại] các tên tuổi thuộc Văn học miền Nam là một phần quan trọng của Thư Quán Bản Thảo. Về Tủ sách Di Sản Văn Chương Miền Nam, nhà văn Trần Hoài Thư đã hoàn tất hai bộ sách đồ sộ, mỗi bộ gồm hàng ngàn trang. Bộ Thơ Miền Nam gồm 5 tập và bộ Văn Miền Nam gồm 4 tập. Trong cả hai bộ sưu tập thơ văn này, các sáng tác với chủ đề chiến tranh chiếm một tỷ lệ không nhỏ.

(Phùng Nguyễn)


Sử gia Nguyễn Đình Đầu buồn vì sách

Phát hiện thêm về Trương Vĩnh Ký

Nhưng sau này ông Nguyễn Đình Đầu cho biết ông đã phát hiện được một tư liệu nói về sự hợp tác của ông Trương Vĩnh Ký với người Pháp không có suôn sẻ từ đầu đến cuối như là người ta tưởng, như ông Bouchot đã trình bày.

"Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thư chứng tỏ Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác. Tôi viết ra sau khi xin được những tài liệu mà Trương Vĩnh Ký còn chưa xuất bản mà mới chỉ là nháp".

Ông cũng nói đang chuẩn bị thêm để chứng minh đã viết dựa trên những tư liệu ông khám phá được trong lần sang Pháp năm 1991 ba tháng khi nghiên cứu tại một bảo tàng ở Pháp.


"Nói tóm lại đây là một công trình mà đối với tôi (Nguyễn Đình Đầu), đến tuổi đã cao như thế này, không có thể kiếm tìm thêm hơn được nữa, nhưng với những hiểu biết của tôi, với những tài liệu mà tôi có cho đến bây giờ thì tôi nghĩ là tôi đã có phần đóng góp không những về cá nhân một nhân vật như ông Trương Vĩnh Ký, nó thuộc về lịch sử, mà cả giai đoạn lịch sử biến chuyển khi ông Trương Vĩnh Ký còn sống, làm việc với xã hội và cho đến khi qua đời", ông Nguyễn Đình Đầu chia sẻ.

(Đoàn Lê Giang)

Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & 

vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt 

*Bây giờ, ta nói về mấy chữ “va”, “chị va”. Ta hãy xem lại đoạn văn tóm tắt chuyện của Trương Vĩnh Ký:

“Cách ít bữa tới ngày ăn lễ sanh nhựt ông ngoại Túy kiều, cả hai ông bà và hai em Túy kiều đều đi, để chị va ở nhà coi nhà. Chị ta ở nhà một mình thong thả, đeo đồ vào đánh áo đánh quần, đóng cửa, ra phía sau, tuốt qua nhà Kim Trọng. Leo qua gặp Kim Trọng dắc vào nhà, ở đó trò chuyện, làm thơ, làm phú, đánh đờn đánh địch, thề nguyền với nhau cho một ngày một đêm; khuya lại Kim Trọng muốn xáp việc, mà va không cho…” (Chú ý: Tôi giữ nguyên phần chính tả và lối viết xưa của TVK)


Từ  “va”, trong Việt Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của, định nghĩa là “người ấy, nó” (ngoài nghĩa là “đụng vào”); và “chàng va” là “chàng ta, gã ấy, người ấy”, “chú va” là “chú ta, chú nghỉ”, “nhà va” là “nhà ta, nhà gã, gã ấy”, và “chị va” là “chị ta, chị ấy”. Như thế, vào thời Trương Vĩnh Ký và Huình Tịnh Của, từ “va” được dùng chung, trung tính, và là một đại danh từ ngôi thứ ba, số ít. Khi xác định rõ hơn, như trong “chị va” mà TVK đã dùng thay đổi với “chị ta” ở đoạn trích văn trên, nó xác định rõ cho phái nữ. Nhưng “va” không thì có thể dùng chung cho cả hai phái.

(Bùi Vĩnh Phúc) 



Cái đinh của vua chúa  

Cái đinh bằng kim loại được ta dùng từ bao giờ? Không có câu trả lời chính xác. Cuối thế kỉ 18, John Barrow đi theo một phái đoàn người Anh đến xứ Nam Hà. Ông viết hồi kí kể lại nhiều điều mắt thấy, tai nghe, trong đó có dấu vết cái đinh. 

”Nguyễn Phúc Ánh là người quản đốc các cảng biển và các kho quân dụng, thợ cả trong các xưởng đóng tàu, kỹ sư trưởng trong mọi công trình; không có việc gì dự định thực hiện mà không có lời khuyên bảo và chỉ dẫn của ông. Trong việc đóng tàu, không có cái đinh nào được đóng mà không có sự tham vấn ban đầu của ông, không có một khẩu đại bác nào được đưa lên vị trí mà không có lệnh của ông. Không những ông đi vào từng chi tiết nhỏ nhặt nhất khi thảo ra những chỉ dẫn, mà chính bản thân ông thực tế còn trông nom khi chúng được thực hiện”  

(Nguyễn Dư)



Phở

Tên gọi “phở” xuất phát từ đâu?

Tên gọi phở vốn còn nhiều uẩn khúc, hy vọng rằng trong dịp sinh nhật thứ 100 này nó sẽ được giãi bày và soi sáng. Ta hãy cùng lội ngược dòng thời gian trở về thời kỳ phở ra đời mà truy căn, làm sáng tỏ cái danh xưng “Phở”! Lúc phở xuất hiện ở thập niên đầu của thế kỷ XX, Nho học vẫn còn ngự trị xã hội Việt, cho dù đang bước vào thời kỳ tàn tạ (từ sau 1919 khoa thi Nho học cuối cùng ở Việt Nam). Chữ Hán - Nôm vẫn giữ vị trí chính thống với xã hội người Việt. Đại đa số dân chúng vẫn còn mù chữ quốc ngữ.

 

Thêm nữa bến bãi sông Hồng rất nhiều phu phen người Hoa, trong bối cảnh ấy, tiếng rao âm Hán - Việt “ngưu nhục phấn” phổ biến là điều dễ hiểu. Tuy nhiên nó cần được hiểu chính xác là món “xáo bò”, chứ không hề là chứng cứ, gốc gác món “ngưu nhục phấn Quảng Đông” như nhiều người lầm tưởng. Con bò trong tiếng Hán là hoàng ngưu, nên ngưu nhục chỉ nghĩa thịt bò; phấn nghĩa là bột chỉ món bánh bột gạo dạng sợi. Tiếng rao dần được nghe “lái âm” Hán - Việt như “ngầu nhục phắn a!.. ngầu phắn a!” Dần dần nó được dân gian hóa, giản thể thành “phắn a”... rồi “phớ ơ!” cuối cùng ra cái tên “phở”.


Danh từ phở được chính thức hóa ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam Tự Điển (trước 1930) do hội Khai Trí Tiến Đức Hà Nội khởi thảo. Trong cuốn tự điển định rõ tên phở bắt nguồn từ chữ phấn và giải thích đó là món ăn bằng bánh xắt nhỏ nấu với thịt bò. Nhà thơ chữ tình tài hoa Tản Đà từng là nhân chứng cho cách gọi này. Tiên sinh thuộc số ít người sành sỏi có “tâm hồn” ăn uống, từng được xếp vào hàng “đầu bếp siêu hạng” của những món ăn “đượm hồn dân tộc”. Chả thế, ẩm thực Việt đi vào văn nghiệp Tản Đà một cách tự nhiên như hơi thở cuộc sống thường nhật. 

Ông từng thổ lộ:

Nghề ăn cũng lắm công phu

Làng ăn ta phải biết cho đủ mùi


(Nhiều tác giả)


Thành Tây

Dân đất Bắc
Đắp thành Tây.
Đông thật là đông
Sầu Nam vời vợi.


Câu này gồm đủ đông, tây, nam, bắc! Dân đất Bắc phải chăng những người dân miền Bắc bị đưa vào Nam làm dân phu, đắp thành cho người Tây? Số dân phu ắt nhiều lắm, Đông thật là đông. Sự đông đúc này quả là một mối sầu vời vợi cho nước Nam, cho dân Nam! Nước mất nhà tan, thân làm nô lệ, phải đi đắp thành cực khổ cho Tây để chúng dựa vào thành trì đô hộ đồng bào mình. Người miền Bắc bị đi dân phu hằng than thở: 
Nhà tan nước mất ai ơi
Cái thân nô lệ sống đời cu ly

(Sơ lược nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)



Phố phuờng Hà Nội

Sinh sôi theo đời sống thành phố, Hà Nội còn có 2 khu khác mà ít người nhận ra và phân biệt được. Các phố nhỏ yên tĩnh 2 bên chợ Hôm và đường Huế. Bây giờ là đường Trần Xuân Soạn, Ngô Thời Nhiệm, Phùng Khắc Khoan, Hòa Mã và bên này, Mai Hắc Đễ, Triệu Việt Vương, Bùi Thị Xuân. 


Mới hôm nào đi từ dốc cây Thị Hàng Kèn xuống Vân Hồ, còn bãi hoang, đầm lầy, tre pheo làng xóm lơ phơ. Trơ trọi cái trường Hàng Kèn hay Thân Trọng Huề, đằng xa cũng nhìn thấy những cây bàng xanh rì mới trồng. Rồi nhà cửa, phố xá mọc dần lên. Vùng này, phố của những công chức, các ông ký ông thông, nhà buôn phố trên để dành tiền làm nhà tậu nhà. Thông thường ngày nay còn thấy dấu vết, nhiều ngôi nhà một hai tầng lợp ngói, nách tường có cửa bên. Tấm gôc gác lên bậc thềm. Bây giờ nhà cửa các phố này còn phảng phất vẻ êm đềm bề ngoài thời ấy. 

Một vùng khác dưới dọc đê sông Hồng. Các bãi Cơ xá, nghĩa Dũng, Phúc Xá-bãi An Dương còn bỏ hoang, xuống tới bến Phà Đen toàn nhà lá-những túp lều lá. Đấy là nhà những người nghèo, cu li dọn kho, bắt-tê cửa ga, kéo xe, phu phen khuân vác, đổi thùng, thợ hồ, người các vùng quê đói rách đổ ra kiếm sống ở thành phố đều chui rúc xuống ở bãi. 

Có một hồi, về Hà Nôi, Nguyên Hồng cũng ở 1 gian nhà lá thuê dưới bãi Nghĩa Dũng, tôi thường xuống chơi. Khi ấy, vợ chồng anh mới có con đầu lòng. Nhà vách đất tối om vào cửa phải cúi đầu. Cả gian nhà kê vừa cái giường chõng. Dưới gầm chiếc hòm gỗ. Tất tật, gạo nước nồi niêu, quần áo tống cả vào hòm. Bên chân giường dựng bó củi nứa và cái hỏa lò để chị ấy thổi cơm. 

(Tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường – Tô Hòai)



Các món ăn rùa 

Rùa xé phay

Món rùa xé phay thì chỉ cần nướng rùa trên bếp lửa cho chín, đem ra gỡ lấy thịt. Để thịt nguội, xé ra từng miếng vừa ăn, bỏ vào tô lớn. Nêm ít muối, nước mắm, tiêu, đường, bột nêm, dưa kiệu xắt lát, củ hành tím xắt nhỏ, giấm, ớt trộn đều cho thịt thấm gia vị. Cuối cùng, rắc ít đậu phộng rang đã giã giập, rau răm xắt nhỏ, trộn đều. Múc ra đĩa lớn, rưới ít dầu ăn (hoặc mỡ) xào hành tím, rắc thêm đậu phộng, rau răm lên trên. Ăn nguội kèm với bánh phồng tôm chiên. Món ăn này có vị béo, đậm đà, thơm mùi thịt rùa, rau răm, có hương vị ngọt dịu, vị chua cay, ...

 

Cháo rùa

Chọn gạo tẻ loại ngon, một ít đậu xanh cà, vo sạch nấu cháo cho nhừ (có nơi người ta rang gạo cho vàng thơm, trước khi nấu).

Thịt rùa đã làm “lông”, xắt thành miếng vừa ăn, ướp sơ qua với rượu trắng (để khử mùi tanh), bắc chảo nấu phi tỏi mỡ cho thơm, đổ thịt rùa vào xào xăn đều. Nêm nếm thịt rùa vừa ăn rồi đổ qua nồi cháo đang sôi. Đợi thịt rùa mềm, nêm lại lần nữa, nhắc nồi cháo xuống ăn nóng, với gừng xắt chỉ, ớt, nước mắm me…

 

Rượu huyết rùa

Như chúng tôi đã nói ở trên khi cắt cổ rùa, người ta lấy huyết pha rượu uống cho “mau tiêu” bởi rùa có vị “hàn”, cần phải có chất nóng của rượu để lưu thông huyết quản, mà rượu pha huyết rùa thì càng hảo hạng. 

(Trần Minh Thương)



Sài Gòn thời Minh Mạng 

Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đổi Gia Định Thành làm Phiên An Tỉnh Thành, thống trị hai tỉnh Phiên An và Biên Hòa. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), mang danh Nam Kỳ Lục Tỉnh. Năm thứ 17 (1836), xây thành mới đổi danh là Gia Định Tỉnh.


Ngày nay nhắc lại thì tòa hành cung đã không còn, cứ theo dấu tích để lại thì lọt giữa đường Thống Nhứt hiện tại. Địa điểm phủ tướng súy, tức là dinh Tả quân, truy ra thì ở gần nhà linh mục Bá Đa Lộc và gần bộ Ngoại giao hiện thời (đường Alexandre de Rhodes) chạy dài ra sau dinh Tổng Thống (dinh Thống Nhất hiện giờ), vì thế cho nên cái hoa viên Tao Đàn xưa tách ra còn mang tên riêng là “Vườn Ông Thượng”. 


Mả Ngụy từ giặc Lê Văn Khôi nổi dậy năm 1833, có cả thảy 1.137 người lớn nhỏ bị chém và vùi thảy trong một mả lớn. Mả Ngụy ở gần trường đua cũ, làng Chí Hòa, tại góc đường Thuận Kiều (Lê Văn Duyệt) và Général Lizé (Phan Thanh Giản). Xưa còn thấy trụ đề "Ngụy tặc nhứt võng trinh tru " (quân loạn bắt chung một lưới bị giết hết.). Theo học giả Đặng Văn Ký thì Mả Ngụy ở gần Dưỡng đường Bình Dân đường Phan Thanh Giản. Chưa ai tìm ra di tích Mả Ngụy. 

(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)



Các món ăn rắn 

Rắn nướng trui

Đây là món ăn nguyên thuỷ. Rắn không cần làm kỳ công. Đi ruộng, đắp bờ, bắt được rắn nước, rắn trun, hổ hành, người ta dung cây đập chết, rồi lấy trúc cặp gắp đem nướng bằng rơm, rạ, lá tranh kh.,  Tàn một, hai lượt rơm đem rắn ra cạo sạch tro, dùng tay xé, chấm ngay với rơm tro để ăn. Sang hơn, thì chấm muối ớt thì không thịt gì ngon ngọt bằng. Món này chủ yếu dùng để ăn chơi hoặc làm miếng mồi “dã chiến” để lai rai vài ba xị đế,  

 

Rắn hầm sả

Rắn làm sạch chặt thành từng khúc, sả ớt băm nhuyễn, một số lá sả cuộn tròn, gia vị,  Bắc nồi lên bếp cho nóng, phi ít mỡ heo với sả ớt đã băm nhuyễn cho thơm. Đổ thịt rắn vào đảo đều cho săn. Đổ nước săm sấp rồi bỏ lá sả, cọng sả xắt khúc vào, đậy nắp cho kín, chụm lửa cháy đều, vừa, cho nước hầm sôi đều khi thịt rắn mềm, là ăn được. Nước chấm là nước mắm mặn, hoặc nước tương (đậu nành, xương trâu, bò)

 

Rắn nấu cháo

Hai loại rắn dùng chuyên nấu cháo là hổ hành, hổ đất. Độc chiêu là rắn hổ xé phay với cháo đậu xanh cà ăn rất mát, ngon hết ý.

Rắn làm sạch, chặt ra làm hai hay làm ba bốn khúc nấu cháo với đậu xanh cà. Gạo nấu cháo phải chọn gạo nàng thơm mới, có nhiều nhựa càng tốt. Muốn nồi cháo rắn hổ thêm ngon, cần phải có thêm nước cốt dừa. Khi thịt rắn thật chín, người ta lấy rắn ra để nguội, dùng tay xé tách thịt để vào một cái dĩa to hoặc trong cái thố lớn, hành củ thái mỏng ngâm giấm có thêm một ít đường cát, để một lát cho thấm giấm, đem trộn với thịt rắn , rau răm xắt nhỏ rải lên cùng với đậu phọng rang đâm nhuyễn, rắc nhiều tiêu và hành, ngò rí.. Nhâm nhi ly rượu đế với chén cháo rắn thì ngon miệng không gì bằng.

Cần chi cá lóc cá trê

Thịt chuột thịt rắn nhậu mê hơn nhiều

(Trần Minh Thương)



Sài Gòn chốn cũ đường xưa - 1

Chợ Cũ từng mang tên Bến Thành là khu chợ sầm uất nằm ven kênh Thị Vải, nối sông Sài Gòn với khu buôn bán của người Hoa, người Ấn Độ.


 ChoCu03

(Ga Sài Gòn đi Chợ Lớn. Đằng sau mái nhà là các gian hàng ở Chợ Cũ). 


Theo tác giả Nguyễn Đức Hiệp trong cuốn Sài Gòn – Chợ Lớn ký ức đô thị và con người, kênh Chợ Vải được lấp vào năm 1887.
Trước đó, việc lấp kênh Chợ Vải gặp phải sự chống đối từ các nhà buôn bán kinh doanh dọc hai bên bờ kênh, vốn sống nhờ hàng hoá di chuyển bằng ghe thuyền, nên mãi đến năm 1887 kênh mới thật sự được lấp. Đại lộ mới được đặt tên là Charner, sau này là phố đi bộ Nguyễn Huệ. 

(Hà Hương – Bùi Thư) 



Về cơm thố Chợ Cũ năm xưa - 1  

Cơm của người Việt mình từ xưa đến nay, có nhiều loại cơm quen thuộc như cơm trắng, cơm tẻ, cơm nếp, cơm chiên, cơm vắt, cơm nguội, cơm tấm, cơm tay cầm, v.v.. Nhưng cái tên “cơm thố” nghe lạ tai với không ít người Việt mình ở hải ngoại.

(Trần Văn Chi)



Sài Gòn chốn cũ đường xưa - 2


ChoCu04

(Chợ Cũ về hướng bến Bạch Đằng).


Cùng với sự biến mất của kênh Chợ Vải, khu Chợ Cũ cũng bị phá đi để xây toà nhà ngân khố mới thay thế toà ngân khố cũ trên đường Catinat. Chợ Mới (chợ Bến Thành ngày nay) được xây dựng cách đó không xa, dường như đã đặt một dấu chấm hết cho thời kỳ hoàng kim của Chợ Cũ. 
(Hà Hương – Bùi Thư) 



Về cơm thố Chợ Cũ năm xưa - 2 

Cơm thố là cơm gì? Chợ Cũ ở đâu?

Cơm thố là làm chín gạo trong cái thố nhỏ bằng cách chưng cách thủy. Mỗi thố cơm tương đương độ một chén cơm nhỏ. Đây là cách nấu cơm cầu kỳ theo truyền thống của một số dân tộc người Hoa. Theo như kể lại, cơm thố có mặt ở Sài Gòn-Chợ Lớn vào thập niên 30-40 của thế kỷ trước. 


Chợ Cũ Sài Gòn nguyên là chợ Bến Thành, đã có trước khi Pháp chiếm Gia Định. Chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, gần thành Gia Định, bến nầy dân gian gọi là Bến Thành và chợ có tên là chợ Bến Thành.

Năm 1912, vì chợ cũ kỹ nên Pháp lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới lớn hơn. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (sau nầy là bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.


Khu chợ Bến Thành cũ được gọi là Chợ Cũ tới nay. 

Nên có câu ca dao:

Chợ Bến Thành dời đổi,

Người sao khỏi hợp tan.

Xa gần giữ nghĩa tào khang,
Chớ ham nơi qườn quới, (mà) phụ phàng bạn xưa!

(Trần Văn Chi)


Sài Gòn, thế kỷ 17 đến thế kỷ 19

Trở lại chuyện sau cuộc khởi nghĩa Tây Sơn năm 1772 ở Bình Định, chúa Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định lánh nạn vào năm 1774. Chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn trở nên gay gắt và Nguyễn Ánh phải nhiều lần bỏ đất Saigon bôn ba ra các đảo và sang Xiêm La. Năm 1789, sau khi chiếm lại Saigon, Gia Long cho xây “thành bát quái” với sự trợ giúp của một viên sĩ quan hải quân người Pháp, Victor Olivier de Puymaniel, thiết kế thành theo kiểu Vauban ở Âu châu.


Theo dấu tích để lại thì lọt giữa đường Thống Nhất hiện tại. Địa điểm phủ tướng súy, tức là dinh Tả Quân, ở gần nhà Linh Mục Bá Đa Lộc và gần bộ Ngoại Giao (đường Alexandre de Rhodes) 


Theo tài liệu Trương Vĩnh Ký 4 vách Quy Thành theo bốn hướng:

1. Đông: đường Lê Thánh Tôn (d ' Espagne cũ).

2. Tây: đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ).

3. Bắc: đường Đinh Tiên Hoàng (Albert ler cũ) 

4. Nam: đường Công Lý (Mac Mahon sau là Général de Gaulle)


***

Năm 1823, theo John Crawfurd khi ông đến Saigon ngày 31/10/1823, sau khi được hội kiến với Tổng Trấn Gia Định, có một buổi trình diễn được tổ chức. Trong số khán giả Crawfurd thấy có 8 người ít ăn mặc và diện mạo hoàn toàn khác với những người chung quanh. Vị Tổng Trấn cho họ mỗi người một bộ quần áo và nói cho Crawfurd biết là những người này là những thổ dân (1).

(Nguyễn Đức Hiệp)


(1) Họ vẫn còn cư ngụ rất đông mà người Việt và sau này người Pháp gọi họ là “mọi”. 

Ở Saigon cũng có một đường người Pháp gọi là “rue des Moïs” 



Cua cáy phiếm lược – cua nhện Seattle

Nếu chỉ nhìn qua bộ dạng gớm ghiếc của cua nhện, nhiều người sẽ nghĩ đây là một loài 'thủy quái' mới đến từ thời tiền sử. Tên khoa học của loài cua này là Macrocheira kaempfer. Chúng có những cái chân dài cả mấy thước. Con cua nhện có tên Crabzilla, khoảng 40 năm tuổi, có trọng lượng khoảng 12,5 kg, chiều dài khoảng 6,5 m. Nó được coi là một trong những con cua lớn nhất thế giới đã được phát hiện từ trước tới nay


Một con cua nhện trưởng thành có chiều dài trên 5 m, bằng cả một chiếc xe hơi. Trong khi một con cua nước ngọt chỉ có chiều dài khiêm tốn chừng 10 cm. Loại cua nhỏ nhất là cua đậu (Pea crab) Pinnothera faba thuộc gia đình Pinnotheridae dài lối 3 cm.


      Một chú cua nhện trưởng thành có chiều dài toàn cơ thể lên tới 5m, bằng cả một chiếc xe hơi. Trong khi một chú cua nước ngọt chỉ có chiều dài khiêm tốn chừng 10cm.


Nhưng sự thật chúng lại vô cùng “nhu mì, hiền dịu”. Chúng lợi dụng bọt biển, rong và các loại tảo sống xung quanh để ẩn nấp, ngụy trang, né tránh kẻ thù. Thường chúng sống ở dưới thềm đáy biển Thái Bình dương nên rất khó bắt. Tuy nhiên, vì thịt cua nhện rất hấp dẫn với tửu đồ, tín đồ sành ăn nên mọi người đổ xô đi kiếm cua nhện.


cận cảnh một con cua nhện được đưa lên bờ    Theo những thông tin khoa học, loài cua nhện sống ở khu vực nước sâu khủng khiếp và rất khó để tiếp cận

Một con cua nhện trên bờ    Cua nhện sống ở nước sâu 


Món bún chả 

Ấy, suýt nữa đi khỏi các thứ quà cốt bún, mà tôi quên không nói đến thứ quà bún quang trọng và đặc điểm nhất của Hà Nội băm sáu phố phường: đó là thức quà bún chả.
Phải, cái thức quà tầm thường đó, sáu tỉnh đường trong, bốn tỉnh đường ngoài, chẳng có đâu ngon bằng kinh độ Ai cũng phải công nhận như thế, hay ít ra những người sành thưởng thức. Một ông đồ cuồng chữ ở nhà quê, một hôm khăn gói, ô lên Hà Nội, đã phải ứng khẩu đặt hai câu thơ như thế này, khi ngửi thấy mùi khói chả:
Ngàn năm bửu vật đất Thăng Long
Bún chả là đây có phải không?

Mà cảm hứng thế thì chí phảị. Khi ngồi cuống chiều gió, đói bụng mà đón lấy cái khói chả thơm, thì ngài dễ thành thi sĩ lắm. Khói lam cuộn như sương mờ ở sườn núi, giọt mỡ chả xèo trên than hồng như một tiếng thở dài và tiếng quạt khẽ đập như cành cây rung động, quà bún chả có nhiều cái quyến rũ mê hồn, nếu không là mê bụng.
Những thứ rất là tầm thường, rất là giản dị mà đi gần nhau sao lại sinh ra được mùi vị riêng như thế? Ai là người đầu tiên đã nghĩ ra bún chả? Người đó đáng được chúng ta nhớ ơn và kính trọng ngang, hay là hơn với người tạo nên được tác phẩm văn chương... Có lẽ người kia còn làm ít cho nhân loại hơn là người này nữạ. Tiếc thay tên người tài tử đó thất truyền, để không liệt kê vào cái sổ vàng của những danh nhân "thực vi đạo".

( Nội 36 phố phường – Thạch Lam)



Hữu Loan và Hà Thượng Nhân

Sau năm 1975, qua Trương Hùng Thái (chú Thái) là một nhà thơ trẻ ở miền Nam, tôi có dịp gặp gỡ làm quen được với mấy nhà thơ ở miền Bắc như Trần Dần, Hữu Loan. Các bạn trẻ ở Saigon hay tổ chức những buổi sinh hoạt văn nghệ tại tư gia, vừa gọn gàng kín đáo mà lại vừa thân mật ấm cúng như trong phạm vi một gia đình.

Anh Trần Dần hồi đó đã đau bệnh nên đi lại khó khăn. Nhưng anh Hữu Loan dù đã ở tuổi “thất thập” rồi, mà vẫn còn tráng kiện lắm, anh cỡi xe đạp rong ruổi khắp nơi trong thành phố, ra cả ngoại ô. Tôi thường dẫn anh đi ăn phở nơi các quán “Phở gánh” trong mấy đường hẻm khu ngã ba Ông Tạ hay khu nhà ga Phú Nhuận. Cũng như dẫn anh đi uống cà phê ở mấy quán bình dân, khuất nẻo như quán cóc trong lối xóm.

Anh Loan rất thích cái phong cách cởi mở, hồn nhiên của người miền Nam, mặc dầu họ đã phải sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa trên 10 năm rồi. Nhiều gia chủ khi được giới thiệu anh là tác giả bài thơ nổi danh “Màu Tím Hoa Sim”, thì đã vui vẻ khoản đãi món ăn, thức uống, mà không hề lấy tiền của Hữu Loan. Dịp này, anh tâm sự với tôi, “Bà con miền Nam thật là cởi mở hào phóng, đầy ắp tình người...”

Và trong nhiều buổi tối, chú Thái và cô Tú còn hay tổ chức bữa nhậu để khoản đãi Hữu Loan, dịp này bằng hữu tha hồ chuyện trò tâm sự với nhà thơ được tiếng là “bất cần đời”, chuyên môn đi thồ những phiến đá đẽo từ khu núi đồi tại vùng quê Thanh Hóa.

(Ðoàn Thanh Liêm)


Đoàn Thanh Liêm sinh năm 1934 tại làng Cát Xuyên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thuở thiếu thời, ông học Chu Văn An-Hà Nội. Sau đó tốt nghiệp Cử Nhân Luật tại Đại Học Luật-Sài Gòn năm 1958. Năm 1975, ông bị kết án 12 năm vì tội “Tuyên truyền chống phá Xã Hội Chủ Nghĩa.” Khi sang Hoa Kỳ, ông viết cho nhiều tờ báo khác nhau. Ông qua đời năm 2018 ở thành phố Costa Mesa, hưởng thọ 84 tuổi.

Chữ nghĩa làng văn

Tháng gần Tết (tức tháng Chạp), người ta lại bảo nhau: “Tháng này là “tháng củ mật” đấy, phải cẩn thận”. Bởi theo kinh nghiệm dân gian, vào tháng giáp Tết, rất hay xảy ra trộm cắp, nên giữ gìn đồ đạc vật dụng cho cẩn thận.

Từ “củ mật” được rút gọn từ “củ soát nghiêm mật”, đây cũng lại là cách nói được tạo ra từ những từ gốc Hán. Trong tiếng Hán, “củ” có nghĩa là “đốc sát” tức xem xét. Còn “sát”, có nghĩa là quan sát. 

(Nguyễn Trung Thuần – “Tháng củ mật”)



Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách

(Trích từ cuốn sách Cuộc phỏng vấn các nhà văn của Lê Thanh

do nhà Đời Mới xuất bản tại Hà Nội năm 1943)


- Sau này, tiên sinh là một nhà văn trữ tình không phải là lạ.

 - Những thi gia này hợp với tâm hồn thanh niên ta bấy giờ, cái tâm hồn do thời thế tạo nên: chúng tôi đang ở vào một buổi giao thời, tựa hồi Lê mạt, Trần suy ở bên ta và sau hồi đại cách mệnh về thế kỷ thứ XVIII bên Pháp.

Đọc văn quốc ngữ, chúng tôi chỉ có những bài thơ than về quốc vận mà tác giả là những người ôm chủ nghĩa yếm thế vào hồi 1904 đến 1925.


Nhưng phải nhận điều này:

Ở mỗi thanh niên hồi bấy giờ có hai sức mạnh phản động: sức mạnh của tình cảm và lý trí. Sống cuộc đời bên trong thì sống với tình cảm, nhưng khi hành động thì hành động theo lý trí. Trong những cuộc đàm luận, những cuộc bút chiến của chúng tôi, sự xung đột ấy, có thể nhận thấy rất rõ rệt.

Mà phải thế mới được. Sống với tình cảm là cần cho tâm hồn, nhưng nếu cứ miên man với tình cảm thì còn làm gì được để lợi cho văn chương, tư tưởng.

(Lê Thanh)



Đê là con dê đực

Tô Vũ mục đê (đ có gạch ngag) không phải là Tô Vũ mục dê 

(dê không có gạch ngang). Đê chữ Hán là con dê đực. Dê là 

tiếng Việt, là tích Tô Vũ bị đày đi chăn dê ở Hung Nô 19 năm.

(Bảo Lâm)


Đê là con dê đực

Đê đương xúc phiên nghĩa là dê đực húc giậu, mô tả hòan cảnh

Đi hay ở đều không được. Bà chúa thơ Nôm có câu thơ:

Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa

(Bảo Lâm)


An yên bên tiếng chuông chùa

Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) quê Sơn Tây. Tháng 7 năm 1934, cụ tốt nghiệp Trường Công Chánh ở Hà Nội, 3 tháng sau thì được giao việc tại Sài Gòn và sau đó mươi ngày có lệnh điều động cụ về dạy học tại Long Xuyên. Cơ duyên gắn bó với miền Tây Nam Bộ của cụ bắt đầu từ đó. Trong cuốn “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”, học giả Nguyễn Hiến Lê trần tình: “Chiều mùng một Tết, tôi và vài anh em ra sau nhà; nhìn sương, khói phủ rặng tre ở rạch Trà Bông, tôi bồi hồi nhớ những bụi tre ở Sơn Tây, và trong cảnh xa quê tôi yêu ngay làng đó, một điểm trên Đồng Tháp như quê hương thứ hai của tôi vậy”.


Học giả Nguyễn Hiến Lê thành gia lập thất với người phụ nữ An Giang, dành trọn cả thời thanh xuân và về già ở miền Nam. Năm 1984, cụ bạo bệnh qua đời tại bệnh viện ở Sài Gòn. Theo di nguyện, cụ được vợ là bà Nguyễn Thị Liệp hỏa táng tại đài thiêu Thủ Đức. Tro cốt được bà Liệp đưa về thờ phụng tại quê nhà Long Xuyên, trong bảo tháp trước sân nhà, nơi có mảnh vườn, hoa thơm, cây lá xanh tươi mà sinh thời cụ rất thích. 

(Duy Khôi)


Chùa chiền 

Theo ý kiến của giáo sư Lê Thước và nhà văn Hoàng Ngọc Phách thì từ ghép “Chùa chiền” được hiểu như sau: 


Chùa - có nguồn kinh tế là tự điền (ruộng sở hữu của nhà chùa) để lấy hoa lợi dùng vào việc đèn hương cúng tế. 


Chiền - không có tự điền nhưng được thu thuế ở một ngôi chợ bên cạnh để dùng vào việc đèn hương cúng tế. 

Các chợ này thường có tên gọi là chợ chùa.


Chữ nghĩa làng văn

Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.


Minh Thùy: Theo Minh Thùy được biết  trước đây chị được xem là nhà văn ngổ ngáo nhất trong số các nhà văn nữ thì lý do tại sao, và tên gọi có đúng với phong cách viết văn của chị không?

Trần Thị NgH.: Ngổ ngáo là chữ của người khác đặt cho người viết, còn người viết trong người như thế nào cứ… xịt ra như thế ấy, chả biết có phải là ngổ ngáo không, nhưng mà không thích điệu, thích cắt tóc tém, đi nhanh, ăn mặc gọn; trong văn chương thì không thích uốn éo, không tráng men, chắc vì vậy nên được coi là ngổ ngáo.

Năm 1997, một người bạn về Việt Nam thăm nhà – anh Phạm Việt Cường, làm biên tập trong báo Hợp Lưu cùng với anh Khánh Trường, do có sẵn vài truyện ngắn nên tôi để anh mang đi.

Thế là sau 22 năm truyện của tôi xuất hiện lại trên Hợp Lưu; từ đó.



Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn

4. Chiều Một Mình Qua Phố

Có khi nắng khuya chưa lên/ Mà một loài hoa chợt tím”… Ông Trịnh này lạ thật, đêm khuya thì làm gì có nắng, nên có 1 số ca sĩ đã đổi lại thành “có khi nắng mưa chưa lên” cho hợp lý, làm cho câu hát nghe rất khiên cưỡng và buồn cười. Thật ra đó là một sự ẩn dụ tinh tế của nhạc sĩ. Bài hát có bối cảnh buổi chiều, đường phố chưa lên đèn. Nhạc sĩ ví von đèn đường là một loại “nắng khuya”. Ý nghĩa của hai câu này là mới có buổi chiều, trời chưa tối, đường chưa lên đèn, mà loài hoa quỳnh tím ban đêm đã nở sớm rồi. TCS có lẽ bị ám ảnh bởi loài hoa đêm này, nên có hẳn hai bài hát dành cho loài hoa quỳnh là bài Quỳnh Hương và Chuyện Đóa Quỳnh Hương.

(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)



Bát canh dưa chiều đông

Có lần tôi nói với Mẹ:

- Nhà mấy bạn con tòa nấu canh dưa cá cho thìa là, Mẹ ạ

- Ôi dào. Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu nhời đắng cay. Các cụ ta đã dạy thế. Cải với răm cũng là duyên nợ như vợ với chồng đấy. Sướng khổ cũng qua hết một đời. 


Cũng có khi thèm canh dưa nấu cá tép, mà vại dưa nhà đã hết, Mẹ tôi ra chợ mua cân dưa nén sẵn của các bà dưa cà Đình Gừng dưới làng mạn Khương Hạ đem lên. Dưa các bà muối, quái lạ, cả cây cải sen nhỏ nhắn, hay câu cải Đông Dư to đùng, dù để lâu qua mấy tháng mà chúng vẫn vàng ruộm và chua gắt. Chỉ mỗi tội là đắt có dễ gấp đôi dưa nhà muối. Mẹ tôi đồ rằng các nhà muối dưa Đình Gừng thường kén dưa già, đanh cây, muối mới để được lâu như thế.

Dưa Đình Gừng đem nấu canh, thì nhớ đun thêm một dạo so với nấu dưa nhà. Bảo đảm là nồi canh lại thơm nức thêm một bậc đó. Chẳng bao giờ sai đâu

Hay là có ai đi chơi trung du về làm quà cho nắm dưa đọt sắn muối chua. Thì đem nấu cá tép cũng thật tuyệt vời đó. Lạ miệng tốn cơm đừng hỏi. 

(Vũ Thị Tuyết Nhung)



Vĩnh biệt Đào Mộng Nam

Nhà thơ Khế Lêm (?) hôm thứ sáu cũng gửi một điện thư tới tất cả các nhà thơ từng góp mặt trong Tạp Chí Thơ để tưởng niệm anh, trích:
“...Học giả Đào Mộng Nam là ngừoi đã cộng tác với Tạp chí Thơ ngay từ số ra mắt với những bài thơ dịch thơ Cao Bá Quát. Chỉ có thế thôi cũng đủ để chúng ta biết ơn, và hân hạnh đựơc sự cộng tác của ông. Ông là lớp nhà Nho hiếm hoi của thời đại chúng ta. Ông sống lặng lẽ và ra đi cũng lặng lẽ, để lại nơi chúng ta nỗi ngậm ngùi. Chúng tôi xin gửi đến quí anh chị bản tin này và mong quí anh chị đã từng cộng tác với Tạp chí Thơ và website www.thotanhinhthuc.org hãy để ra 1 phút để tửơng niệm ông, một ngừơi mà suốt cuộc đời cặm cụi chỉ để phục vụ cho nền văn học Việt...”


Trở lại với nhà văn Nguyễn Tiến Văn trên Talawas.org, nơi đây cuộc đời Đào Mộng Nam được kể thêm như sau:
"…Từ giữa thập niên 60, anh mở lớp dạy chữ Nho cho các sinh viên Y khoa Đại học Huế trong chương trình kết hợp Đông và Tây; dưới sự tôn vinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, và lời thề với Y tổ này thay cho lời thề Hippocrate của Tây y. Đồng thời anh cũng phát triển các khoá dạy chữ Nho tại Đại học Vạn Hạnh, Đại học Minh Đức, dạy tự do cho công chúng tại trường Đức Trí, đường Cao Thắng, quận 3 mỗi thứ bảy Chủ Nhật. Cũng như xuất hiện trên truyền hình để quảng bá việc học chữ Nho theo cách mới đến mọi tầng lớp.

(Phan Tấn Hải)


Đào Mộng Nam sinh năm 1940 tại Nam Định, di cư vào Sài Gòn năm 1954. Sau khi lên Đại học Văn Khoa, ông đã bỏ ngang để khởi thảo biên soạn bộ sách “Chữ Nho tự học”. Năm 1975 Đào Mộng Nam định cư ở California, Hoa Kỳ. Ông từng về Việt Nam nhiều lần để sưu tầm thơ văn chữ Hán Cao Bá Quát cho công trình ông dịch toàn bộ thơ Cao Bá Quát, khoảng 2.000 bài, nhưng ông đang dịch được vài trăm bài. Tháng 8-2006, ông qua đời hoàn toàn đơn độc tại nhà riêng ở California.


***


Phụ đính 


Chữ nghĩa làng văn

Ngọc Thứ Lang với Bố Già - 1

Đó là một buổi sáng tháng Chạp năm 1972, một người đàn ông gầy ốm, mặc chiếc sơ mi màu cháo lòng bỏ ngoài, tay áo thả dài xuống lấp cả hai bàn tay, bước vào toà soạn Văn ở số 38 đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn. Mai Thảo giới thiệu với tôi anh là tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả cuốn Bố Già của Mario Puzo

"Mình đi uống cà phê đi" Mai Thảo rủ cả hai chúng tôi. Quán cà phê nhỏ của bà Tư gần toà soạn. Bà vẫn thường cho tôi ghi sổ nợ để cuối tháng trả một lần cho tiện, mặc dù tôi ít khi được dịp trả nợ, vì Bố già Nguyễn Đình Vượng luôn luôn "thanh toán hộ" tôi trước kỳ hạn. Thường tôi vẫn ra ngồi cà phê sáng ở quán Cái Chùa với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân, chỉ hôm nào không ra ngồi ở đường Tự Do, tôi mới ăn sáng ở quán bà Tư. 

(Nguyễn Xuân Hoàng)



Chữ nghĩa làng văn

Ngọc Thứ Lang với Bố Già - 2

Chỉ hôm nào không ra ngồi ở đường Tự Do, tôi mới ăn sáng ở quán bà Tư. Quán nhỏ nằm trong con hẽm, bên hông một tiệm ảnh sát toà soạn Văn. Con hẽm rất hẹp, chỉ vừa cho một chiếc xe Honda ra vào một chiều. Quán chỉ có hai ba chiếc ghế, loại ghế cao đóng bằng gỗ tạp.

Ngọc Thứ Lang ít nói. Và Mai Thảo hôm đó cũng không nói nhiều. Chưa uống hết ly cà phê, Ngọc Thứ Lang đã đứng dậy dợm bước. Tôi hỏi sao vội thế. Ngọc Thứ Lang nói anh có chuyện cần phải đi. Mai Thảo cười, tôi biết cậu đi đâu rồi, và anh đứng dậy bước theo kín đáo dúi vào tay Ngọc Thứ Lang mấy tờ giấy bạc

Đó là lần đầu tiên và lần duy nhất tôi gặp dịch giả Bố Già.

(Nguyễn Xuân Hoàng)