Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

Thiên Tình Sử của Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (tiếp theo). Bài số 14: Thu Dạ (2) Nguyễn Du/ (Ngân Triều biên soạn)

 


Thiên Tình Sử của Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (tiếp theo).
Bài số 14:
Thu Dạ (2)
Nguyễn Du


Nguyễn Du trả lời bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu Dạ 2…
Tiết Bạch Lộ tháng tám âm lịch, hơi thu đã già, qua tháng chín là tiết Sương Giáng,
Không phải chỉ lòng em đầy mây mù đâu, lòng anh cũng lạnh lẽo, sương giăng mờ mịt cây cỏ quanh bến Giang Thành đìu hiu.
Bên đèn khuya quạnh quẽ ngóng đợi.
Vắt tóc như Chu Công bận lo việc nước, vừa gội đầu vừa tiếp sĩ phu, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.
Lo cái chí nguyện tàn phai theo ngày tháng, non sông nghìn dặm càng nghĩ càng nhớ càng lo lắng trong ngày dài.
Phong cảnh bốn mùa thay đổi, riêng mình ngậm ngùi buồn Trời chớm lạnh.
Mới hay không áo là khổ.
Nghe tiếng chày người khuê phụ đập vải trong chiều, lòng nhớ đến em nơi khuê phòng trông ngóng.

Đêm Thu II.
Móc trắng sương thu giăng mịt mùng,
Đìu hiu cây cỏ bến Giang Thành.
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng,
Vắt tóc lo hoài chí nhạt tan.
Vạn dặm giang sơn dài nỗi nhớ,
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông.
Chớm lạnh mới hay không áo khổ,
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du Thanh Hiên Thi Tập.

Chú Thích:
Bạch lộ: 白 露 sương móc trắng, tiết bạch lộ là tháng 8 âm lịch.
Ác phát: 握 髮 Chu Công bận lo việc nước có khách lại, ông vắt tóc lên ra tiếp, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 夜 其 二

白 露 為 霜 秋 氣 深
江 城 草 木 共 蕭 森
剪 燈 獨 照 初 長 夜
握 髮 經 懷 末 日 心
千 里 江 山 頻 悵 望
四 時 煙 景 獨 沉 吟
早 寒 已 覺 無 衣 苦
何 處 空 閨 催 暮 砧
*
Nhất Uyên phiên âm,Thu Dạ kỳ 2
Bạch Lộ vi sương thu khí thâm,
Giang Thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ,
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm.
Thiên lý giang sơn tần trướng vọng,
Tứ thì yên cảnh độc trầm ngâm.
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm?
*
Dịch nghĩa
Móc trắng thành sương, hơi Thu đã già.
Cây cỏ quanh thành bên sông, trông đến tiêu điều!
Khêu ngọn đèn cho chiến rọi vào cảnh đêm dài mới bắt đầu.
Búi tóc mà lo cho chí nguyện những ngày tàn tạ.
Non sông ngàn dặm cứ nhìn là thấy buồn.
Phong cảnh bốn mùa, riêng mình ngậm ngùi.
Mới rét, đã khổ vì không áo,
Mà nơi đâu tiếng đập vải của người khuê phụ rộn rã trong chiều hôm?
*
Ngân Triều cảm đề:
Móc trắng sương giăng, Thu sắp hết,
Quanh sông cây cỏ, những tiêu điều!
Khêu đèn soi sáng đêm dài tới,
Chuyện phiếm hoài công ngày quạnh hiu.
Ngàn dặm non sông buồn lặng ngắm,
Bốn mùa khoe sắc, cảnh cô liêu.
Rét về thêm khổ vì không áo,
Đập vải người đâu rộn rã chiều?
***
Ảnh minh họa Thu Dạ 2, có hỗ trợ của AI:
Rét về thêm khổ vì không áo,
Đập vải người đâu rộn rã chiều? (NT)














Góc Việt Thi : Thơ CAO BÁ QUÁT (3) (tiếp theo) - (Đỗ Chiêu Đức biên soạn )

  Góc Việt Thi :       

                 Thơ CAO BÁ QUÁT (3) (Tiếp theo) 

                              *****

6. BỆNH TRUNG HỮU HỮU NHÂN CHIÊU ẨM TỊCH THƯỢNG TÁC 病 中 有 友 人 招 飲 席 上 作 :
                  
       病 中 有  友 人 招 飲 席 上 作 BỆNH TRUNG HỮU HỮU NHÂN CHIÊU ẨM TỊCH THƯỢNG TÁC

 每 約 春 還 載 酒 從,   Mỗi ước xuân hoàn tải tửu tùng,
 春 還 無 信 復 無 蹤。   Xuân hoàn vô tín phục vô tung.
 客 中 對 鏡 三 分 瘦,   Khách trung đối kính tam phân sấu,
 病 裏 看 花 一 樣 慵。   Bệnh lý khan hoa nhất dạng dung.
 入 世 功 名 渾 墜 甑,   Nhập thế công danh hồn truỵ tắng,
 傳 家 書 史 漫 屠 龍。   Truyền gia thư sử mạn đồ long.
 時 人 誤 許 文 章 價,   Thời nhân ngộ hứa văn chương giá,
 欲 把 衰 顏 換 醉 容。   Dục bả suy nhan hoán tuý dung.

           
* Chú thích :
    - Chiêu Ẩm 招 飲 : là "Chiêu đãi Ẩm tửu", là Mời đi uống rượu.
    - Tịch Thượng Tác 席 上 作 : là "Làm (thơ) trên bàn tiệc". 
    - Mỗi Ước 每 約 : ƯỚC là Hẹn ước, nên MỖI ƯỚC là Mỗi lần ước hẹn. 
    - Tải Tửu 載 酒 : TẢI là Vận tải, là Chuyên chở; nhưng TẢI TỬU có nghĩa là "Mang theo rượu" chớ không phải là Chuyên chở rượu. 
    - Dung 慵 : là DUNG LÃN 慵 懶 là Biếng nhác, mệt mỏi, không có hứng thú.
    - Trụy Tắng 墜 甑 : TRỤY là Tuột, Rơi, Rớt; TẮNG là Cái Chõ, cái Nồi bằng đất nung dùng để nấu đồ ăn. TRỤY TẮNG là Cái nồi đất rớt (bể). Điển nầy có xuất xứ từ Hậu Hán Thư, Quách Thái Truyện《後 漢 書· 郭 泰 傳》như sau: "Đời Hán Hoàn Đế, có một ẩn sĩ là Mạnh Mẫn quẩy một cái nồi đất đi trên đường; Nồi bị rớt xuống đất bể tan, nhưng Mạnh Mẫn vẫn cứ đi thẳng không nhìn lại. Quách Thái đi qua lấy làm lạ hỏi, thì Mạnh Mẫn đáp rằng: “Nồi đã bể rồi, nhìn lại có ích gì đâu?” Ý là : Chuyện đã lỡ vỡ rồi cứ cho qua luôn đi, hối tiếc thì có ích gì đâu!
    - Đồ Long 屠 龍 : là Giết Rồng. Có xuất xứ từ sách《Trang Tử. Liệt Ngự Khấu 莊 子· 列 禦 寇》như sau: Chu Bình Mạn mang ngàn vàng đi học kỹ thuật giết rồng ở nhà của Chi Ly Ích, mất ba năm mới học thành tài; nhưng khi về nhà thì chỉ ngồi không, đợi mãi cũng chẳng có ai đến mời mình đi giết rồng cả! Ý nói: Tốn tiền của và thời gian để học lấy cái bản lãnh siêu phàm nhưng lại không thực dụng.
    - Ngộ Hứa 誤 許 : NGỘ là Nhầm lẫn; HỨA là Chấp nhận. NGỘ HỨA là Chấp nhận một cách nhầm lẫn. Ý là : Đánh giá một cách sai lầm.
    - Thời Nhân 時 人 : là Người đương thời; Người của lúc bấy giờ.
    - Suy Nhan 衰 顏 : là Dung nhan Suy yếu, là Vẻ mặt tiều tụy; Túy Dung 醉 容 là Gương mặt của người say.

* Nghĩa bài thơ :
             BÀI THƠ LÀM TRÊN TIỆC TRONG LÚC BỆNH MÀ CÓ BẠN MỜI UỐNG RƯỢU
      - Mỗi lần ước hẹn với nàng xuân về đều phải mang theo rượu, nhưng...
      - Nàng xuân trở về lại chẳng có chút tin tức nào báo trước cả!
      - Nơi đất khách soi gương thấy dung nhan đã gầy đi ba phần...
      - Trong lúc bệnh mà ngắm hoa nở thì vẫn cảm thấy biếng nhác như thường.
      - Vào đời với công danh lỡ dỡ như là rớt bể cái nồi đất vậy. Còn...
      - Sánh vở gia truyền thì khinh mạn như là nghề giết rồng vậy.
      - Người đương thời lại nhầm lẫn đánh giá văn chương (ta) qúa cao, ta...
      - Muốn đem cái dung nhan tiều tụy nầy đổi thành cái mặt của kẻ say rượu.

      Qua bài thơ, ta thấy rõ tính chất tự phụ và cao ngạo của Cao Bá Quát mặc dù đang trong cơn bệnh hoạn, thể chất suy yếu nhưng giọng điệu thì lại rất lớn lối bất cần đời vì tự hào với cái sở học và cái tài hoa của mình với hai câu luận :

  入 世 功 名 渾 墜 甑,   Nhập thế công danh hồn truỵ tắng,
  傳 家 書 史 漫 屠 龍。   Truyền gia thư sử mạn đồ long.

      Không tỏ ra hối tiếc với những lần công danh lở dở đã qua vì "Nó chỉ như cái nồi đất rớt bể thì thôi, nuối tiếc thì có ích gì?! Ông tự tin vào gia thế thư hương và tài cao bát đấu của mình, mình có tài giết được cả rồng, chỉ là họ chưa biết đến hoặc thời cơ chưa đến mà thôi! Câu :
       時 人 誤 許 文 章 價,   Thời nhân ngộ hứa văn chương giá,
 ... Vừa khiêm nhường vừa tự phụ. Người đương thời đánh giá nhầm về tài văn chương của ta, ta không có giỏi như thế đâu (ta còn giỏi hơn thế đấy nữa!) Khi thời cơ đến thì sẽ biết! Thôi thì đành đem cái vẻ mặt tiều tụy của kẻ đang bệnh hoạn nầy để đổi lấy cái gương mặt đỏ gay của kẻ say rượu vậy ! 
      欲 把 衰 顏 換 醉 容。   Dục bả suy nhan hoán tuý dung.

* Diễn Nôm :
            BỆNH TRUNG HỮU HỮU NHÂN CHIÊU ẨM TỊCH THƯỢNG TÁC
                


                  Hẹn ước nàng xuân chở rượu sang,
                  Xuân về lặng lẽ chẳng tin nàng.
                  Soi gương đất khách ba phần ốm,
                  Mang bệnh ngắm hoa một tiếng than.
                  Rơi chõ công danh khi nhập thế,
                  Giết rồng tài bộ đủ hành trang.
                  Người đời cứ ngỡ văn chương giỏi,
                  Tiểu tụy mặt say muốn đổi sang.
       Lục bát :
                  Hẹn xuân về, chở rượu sang,
                  Xuân về lặng lẽ chẳng màng đưa tin.
                  Soi gương gầy guộc khôn nhìn,
                  Ngắm hoa trong bệnh dáng hình biếng sao !
                  Công danh rơi chõ sao nào !?
                  Truyền gia sử sách tài cao giết rồng.
                  Người đời ngỡ giỏi hằng trông,
                  Thay mặt tiều tụy đỏ hồng mặt say !
                  


      Qua ba bài thơ BỆNH TRUNG (Trong cơn bệnh) của Chu Thần Cao Bá Quát, ta thấy rõ được tài hoa lỗi lạc và tính cách cao ngạo của ông, mặc dù đang trong cơn bệnh ngặt nghèo nhưng vẫn luôn bày tỏ cái ý chí cao xa của mình. Cho dù... 

   側 身 天 地 悲 孤 掌,   Trắc thân thiên địa bi cô chưởng,
   回 首 煙 霄 屈 壯 圖。   Hồi thủ yên tiêu khuất tráng đồ.

      Nép mình trong trời đất chỉ buồn vì "Một bàn tay khó vổ cho kêu" chỉ có một thân một mình đơn độc, và "Quay đầu trong chốn khói sương thì hùng tâm tráng chí đều bị đè nén". Vì "Vào đời như con Thiên lý mã đơn độc một thân (Nhập thế chích thân thiên lý mã 入 世 隻 身 千 里 馬) Mặc dù tài hoa cần mẫn thì có thừa (Khan thư song nhãn vạn niên đăng 看 書 雙 眼 萬 年 燈)... Cái bệnh của ông là cái bệnh của Duy-Ma-Cật, cái bệnh vì lo cho dân cho nước cho muôn người...
     Có tài cao, có chí lớn, có hoài bão cao xa... Nhưng tài bất thắng thời, nên Cao Chu Thần đành ôm cái hận của kẻ sĩ đến hồi mạt vận mà văng tục :
                        Ba hồi trống giục, đù cha kiếp...
                        Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời !
    


      Hẹn bài dịch tới !
                                                               杜 紹 德
                                                           Đỗ Chiêu Đức