ĐỜI THỦY THỦ III - VŨ THẤT
CHƯƠNG 42: TRƯỜNG SA LỬA ĐẠN
Trợ chiến hạm Rạch Gầm kiên trì vượt biển suốt đêm suốt sáng, không trục trặc và cũng không dừng xét ghe. Nhiệm vụ khẩn: ngăn chặn hai tàu lạ đang dò đường đổ quân lên các đảo Trường Sa.
Khoảng cách còn lại: bốn giờ hải hành.
Ở phía trước, Tuần Duyên Hạm Sinh Tồn đã tiếp cận, đang bám sát mục tiêu.
Khi Võ Bằng bước vào phòng ăn, đồng hồ chỉ đúng ngọ.
Cố vấn Mỹ và các sĩ quan đứng dậy chào. Anh gật đầu, ra hiệu ngồi. Không khí bữa cơm vẫn như thường lệ: thân mật, chút rộn ràng sau những giờ hải hành căng thẳng.
Cà phê được rót. Một khoảng lặng thinh. Rồi Trung Úy Tài lên tiếng:
– Thưa Hạm Trưởng, đêm qua, Hạm Trưởng và Hạm Phó nói về Trường Sa… quá ít. Nhị vị hẳn đến đấy nhiều lần. Xin cho chúng tôi biết thêm…
Võ Bằng mỉm cười:
– Biết thêm những gì?
– Như địa dư, địa hình, tài nguyên, dân cư.
– Nghe như anh từng là thầy dạy sử địa.
– Dạ đúng.
Võ Bằng quay sang Hạm Phó:
– Hạm Phó có ý kiến?
Hạm Phó Tiến nhấp ngụm cà phê, đặt ly xuống, giọng trầm đều:
– Quần đảo Trường Sa nằm phía nam Hoàng Sa khoảng ba trăm năm mươi hải lý. Cách Vũng Tàu khoảng ba trăm. Chiều dài gần năm trăm hải lý. Diện tích… ba trăm sáu mươi ngàn cây số vuông. Hơn trăm đảo, bãi đá, bãi cạn, rạn san hô…
Trung Úy Tài tròn mắt:
– Rộng vậy sao?
– Không chỉ rộng mà còn nhiều điều thú vị. Như các bãi cạn nằm về phía Việt Nam đều được đặt tên theo lịch sử. Như các bãi Phúc Nguyên, Phúc Tần – tên hai vị vua nhà Nguyễn. Như bãi Huyền Trân – tên công chúa nhà Trần. Như bãi Quế Đường – tên hiệu của Lê Quý Đôn…
Thấy mọi người lắng nghe, Tiến tiếp:
– Nhưng cho dù mang tên đặc biệt gì đi nữa, cái đáng sợ không phải là rộng. Mà là… nguy hiểm.
Anh đưa tay vẽ một vòng vô hình trên bàn:
– Các bãi vừa kể, cũng như các bãi nổi khác, đều dễ thấy. Còn rạn san hô thì chìm dưới mặt nước mà nhiều vô số, khắp nơi quanh quần đảo. Thành ra khi tuần tiễu là cả một vấn đề. Dù tàu có fathometer mà vẫn luôn nơm nớp lo sợ.
Anh đổi nét nghiêm trang:
– Nói tổng quát, Hoàng Sa, Trường Sa từ xưa đến nay vẫn là vùng biển nguy hiểm. Đã có rất nhiều tàu thuyền bỏ xác tại vùng này. Mùa gió Tây Nam nếu đi phía trong thì bị đẩy tấp vào rạn san hô. Mùa gió Đông Bắc, đi phía ngoài thì cũng mắc cạn tương tự. Vì quá xa bờ, việc cứu cấp khó khăn, xác tàu mang theo cả xác người chết đói.
Không khí trong phòng lắng xuống. Thiếu Úy Quang hỏi:
– Vậy sao không đi ngược với mùa gió? Nghĩa là nếu gió Đông Bắc thì đi phía trong, mùa Tây Nam thì đi phía ngoài.
– Đi như vậy là đi vòng, mất thêm bốn năm tiếng. Lại tốn thêm nhiên liệu.
– Sao không xây hải đăng?
Tiến cười nhạt:
– Hoàng Sa có. Trường Sa… thì không. Hải Đăng Hoàng Sa có từ năm 1937, do Pháp xây dựng.
– Sao lạ vậy?
Hạm Phó cười:
– Để tôi hỏi chính phủ Pháp.
Mọi người phì cười. Thiếu Úy Quang hỏi tiếp:
– San hô có phải là đá đâu mà gây hư hại tàu?
– Nó là loài thủy-sinh-vật, nhưng có hai loại. Loại cứng thì như đá nhưng loại mềm thì uyển chuyển. Cả hai đều có màu sắc rực rỡ, tuyệt đẹp, có thể sống tới hàng nghìn năm. Chúng bám vào đá ngầm, sinh trưởng bằng mọc chồi. Vì là loại sống dưới nước, nên chồi mọc theo chiều cao đến gần mặt nước là ngưng.
– Rất thú vị. Xin tiếp.
– Xét địa hình, tuy quần đảo Trường Sa rộng hàng chục lần Hoàng Sa nhưng độ cao thì thua Hoàng Sa. Đảo Nam Yết cao nhất cũng chỉ được 5 mét từ mặt biển, trong khi ở Hoàng Sa, có đảo cao gấp ba lần. Cây cối cũng vậy. Trường Sa cằn cỗi. Hoàng Sa cây xanh um.
Trung Úy Tuấn lên tiếng:
– Tôi đọc báo… nói có mỏ dầu ngoài thềm lục địa. Có phải vì vậy mà các nước cố chiếm các đảo, các bãi của ta?
– Phải. Nhưng đó là chuyện sau này. Trước kia… là vì hải sản. Cá, tôm, cua, bào ngư, vi cá, hải sâm, thứ nào cũng tiền là tiền! Lại thêm ốc xà cừ lóng lánh sắc màu để cẩn bàn ghế, tủ thờ.
– Tại sao mình không xua đuổi?
Mọi người nhìn Võ Bằng. Anh lắc đầu:
– Muốn đuổi thì phải có chiến hạm. Nhiều chiến hạm bao vùng. Hiện thời… quyền lực trên biển của mình chưa đến đâu. Đuổi được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Điện thoại reo. Đài Chỉ Huy báo tin đã thấy đảo Trường Sa.
Võ Bằng đứng lên:
– Thôi, tạm ngưng. Trường Sa đây rồi.
Hai giờ trưa, biển vẫn yên. Gió Tây Nam thổi nhẹ, mang theo oi bức đầu hè.
Võ Bằng đứng bên cánh phải Đài Chỉ Huy, khuỷu tay tựa lên thành kim loại.
Mắt anh quét trên mặt biển. Mặt trời ngả về Tây giúp mắt thường nhìn rõ đáy. Màu nước, sắc long lanh của các rạn san hô thay đổi tùy độ sâu.
Trường Sa… Anh còn nhớ:
Song Tử Tây – cực Bắc.
An Bang – cực Nam.
Tiên Nữ – phía Đông.
Tứ Chính – phía Tây.
Và giữa đó… là một mê cung.
Giọng Hạm Phó vang lên từ Phòng Chiến Báo:
– Đài Chỉ Huy, còn cách đảo An Bang 15 hải lý.
Trung Úy Tài đáp ‘Rõ’ rồi trình Hạm Trưởng.
Võ Bằng gật đầu, nhấc PRC 46:
– Sinh Tồn. Vị trí?
– Gần bãi Thuyền Chài. Hai mục tiêu đang lảng vảng. Có thể chúng chờ tối.
– Giữ khoảng cách. Tôi đến.
Anh đặt máy. Nhìn lại hải đồ. Còn xa 35 hải lý. Nếu không trở ngại, tới đó còn ban ngày, nhiều lợi thế.
Anh nhớ kinh nghiệm tuần phòng thời còn trên Hộ Tống Hạm Đống Đa ba năm trước. Ở vùng này, chạy vận tốc sáu gút là khá liều mạng. Độ sâu rất bất thường. Nơi thì chỉ vài mét, rồi đột ngột xuống sâu hàng ngàn mét.
Còn đảo An Bang, thật là một hiện tượng thiên nhiên độc đáo.
Đảo có hình dạng như cây nấm khổng lồ giữa bãi cát. Các chiến sĩ canh phòng gọi đây là “bãi cát biết đi”. Do tác động của hải lưu và hai mùa gió, bãi cát này không cố định mà luân chuyển quanh đảo. Mùa gió Đông Bắc, bãi cát bồi về phía Tây Nam. Mùa gió Tây Nam, bãi cát lại chạy sang phía Đông Bắc.
Chiều dài đảo thay đổi tùy theo cường độ gió và sóng. Bãi cát có lúc bồi thêm đến hơn hai trăm mét, nhưng cũng có lúc bị bão đánh tan còn vài chục mét. Sóng ở An Bang nổi tiếng là dữ dội – sóng lừng – cộng với bãi cát di chuyển đã khiến nhiều tàu thuyền lâm nạn.
Nhưng dù có thế nào, Rạch Gầm cũng phải đến phối hợp với Sinh Tồn.
Võ Bằng nói qua về đặc điểm Trường Sa cho Cố Vấn. Anh chàng thích thú ghi chép lia lịa. Anh hỏi Cố Vấn có ý kiến ra sao về việc ngăn địch đổ bộ. Anh chàng cười gượng: “You know better than me, Captain!”
Tiếng vang từ Phòng Chiến Báo:
— Đài Chỉ Huy. Có ba echo. Hướng 030… khoảng cách 20 hải lý.
Võ Bằng nâng ống dòm. Vẫn chỉ là biển xanh mênh mông. Nhưng chắc chắn chúng đâu đó.
Một tiếng sau, hình dáng hiện ra. Ba chiếc.
Sinh Tồn — quen thuộc. Hai chiếc kia — lớn, đen, lạ. Nằm yên như đang thả lưới.
Năm phút sau, Phòng Chiến Báo trình:
– Hai mục tiêu di chuyển. Hướng 310.
Võ Bằng nâng ống dòm. Hai chiếc tàu lạ đang quay đầu ra khơi. Anh yêu cầu Sinh Tồn bám theo rồi bước tới bàn hải đồ. Hải trình không có bãi cạn. Anh ra lệnh:
— Lái hướng 040. Máy tiến ba.
Chiến hạm tăng máy, rẽ nước hướng về hai tàu lạ.
Anh nói vào PRC 46:
– Sinh Tồn, truy kích. Giữ khoảng cách.
– Nhận rõ.
Anh gác máy, nói với nhân viên lái:
— Lái hướng Bắc
Mũi tàu xoay dần. Tiếng vọng từ Phòng Chiến Báo:
– Khoảng cách 10 hải lý.
Võ Bằng lẩm nhẩm: “Hừm! Sao chúng lại bỏ chạy?”
– Khoảng cách 8 hải lý. Mục tiêu đổi hướng về bãi Ba Kè.
– Nó muốn… kéo mình đi đâu?
Anh bước nhanh tới bàn hải đồ. Đo đạc, làm phép tính.
Anh đập nhẹ xuống bàn:
— Nó dụ mình vào bãi cạn.
Võ Bằng tăng tốc, chạy chận đầu.
Tiếng Hạm Phó:
— Khoảng cách 6 hải lý.
Võ Bằng nói to:
– Nhiệm sở tác chiến.
– Khẩu 76 sẵn sàng.
– Các khẩu đại bác sẵn sàng.
– Phản pháo ngay khi bị bắn, không chờ lệnh.
– Rõ.
Phòng Chiến Báo:
— Đài Chỉ Huy, radar bị nhiễu xạ. Nhiều echo giả. Không xác định được khoảng cách mục tiêu.
Võ Bằng nghiến răng, nghĩ thầm: “Không lẽ nó có máy gây nhiễu?”
Anh giơ tay ra hiệu im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng sóng vỗ mạn tàu, tiếng động cơ rền đều, và hơi thở dồn dập của các quan sát viên.
Anh nâng ống dòm. Hai chiếc tàu lạ không giống tàu đánh cá. Dường như có các ổ súng. Tự dưng một cảm giác e ngại ùa về.
Rồi bỗng nhiên…
Một đốm lửa chớp lên từ con tàu địch.
Ầm!
Một cột nước trắng xóa dựng lên sát mạn phải Rạch Gầm, tạt lên boong.
Tiếng một người la hốt hoảng:
— Nó bắn đó!
Tiếng nổ phản pháo từ khẩu 76 ở mũi xé toạc không khí. Khói lửa phụt ra, viên đạn đầu tiên bay vút đi. Tiếng nổ dồn dập của các khẩu đại bác vang lên tiếp nối.
Một viên 76 khác lại vụt ra. Một đốm lửa bùng lên trên thân tàu địch. Tiếng ai đó hét lên.
— Trúng đích!
Nhưng ngay lúc đó, một loạt đạn trả đũa quét tới. Tiếng “keng” kêu ran trên vách đài chỉ huy.
Một quan sát viên ngã xuống. Tiếng la thất thanh:
— Thủy thủ Tạo bị thương!
Đạn tiếp tục rít qua đầu. Nổ sau lái. Nổ sát hông. Không gian vỡ tan.
Võ Bằng nói vào máy nội bộ, giọng điềm tĩnh:
— Y tá lên ngay đài chỉ huy.
Anh nhìn quanh, nói to:
— Giữ vững vị trí!
Bên trái, Tuần Duyên Hạm Sinh Tồn lao vào. Khẩu 40 ly mũi đang nhả đạn như mưa vào chiếc tàu địch thứ hai. Tàu địch bốc khói đen nghịt.
Nó quay đầu bỏ chạy. Lửa bùng cháy ở phần lái. Nó tăng tốc, lao về hướng Bắc. Sinh Tồn rượt theo.
Võ Bằng bật máy PRC-46:
– Sinh Tồn! Diệt luôn nó đi!
– Rõ, thẩm quyền.
***
Chiếc tàu địch còn lại vẫn đang nhả đạn.
Rạch Gầm tiến xéo. Khoảng cách rút ngắn.
– 76 ly. Trực xạ phòng lái.
Phát đạn nổ tung. Phòng lái tàu địch vỡ vụn. Khói đen cuộn lên. Tiếng reo hò từ khẩu 76.
Nhưng tàu địch như con thú bị thương. Tất cả hỏa lực dồn lại, nó điên cuồng phản kích.
Một ánh chớp từ mũi.
Một tiếng rít. Một quả đạn lao thẳng.
Đoàng!
Một vầng hào quang lóe lên. Một lực ép mạnh mẽ. Mảnh kim loại văng tứ tung. Hai người ngã sóng soài, lăn lộn trên sàn. Một người nấc lên, máu ộc ra miệng. Một người ôm vai, rên rỉ. Trung Úy Tài – bị mảnh đạn cứa vào bắp tay, máu chảy đầm đìa. Cố Vấn Mỹ bị rách đùi – vết thương nhẹ nhưng mặt biến sắc.
Hai chân Võ Bằng nhói buốt. Đầu anh như bị đóng búa. Anh lảo đảo, mắt nhòe đi, Nóc đài chỉ huy xoay tròn. Thoảng mùi khói súng, mùi máu. Mọi âm thanh như bị bóp nghẹt.
Tiếng kêu thất thanh như từ đáy nước vọng lên: “Hạm Trưởng bị thương!”
Đó là lời cuối cùng anh còn nghe thấy.
Cố Vấn Mỹ cố giữ bình tĩnh mở PRC-46 liên lạc với tần số khẩn cấp:
– Mayday, mayday! Tàu Rạch Gầm trúng đạn! Hạm Trưởng bị thương nặng! Yêu cầu tản thương! Tọa độ: 9°52′07″B 114°18′47″Đ.
Nghe tin báo khẩn, Hạm Phó lao vội lên đài chỉ huy. Thấy Hạm Trưởng nằm bất động, cảnh tượng đầy máu me, anh đâm hoảng, mặt tái đi, tuy nhiên vẫn cố giữ giọng đanh thép:
– 76 ly. Đánh chìm nó.
Những viên đại pháo liên tiếp nối nhau. Chiếc tàu xâm nhập vỡ tung. Vài thân người bắn lên, rơi xuống biển. Tàu phát hỏa, nghiêng rồi lật úp.
Hạm Phó ra lệnh đổi hướng về Phan Thiết, tốc độ tối đa. Khói đen từ hai bên hông hầm máy phụt ra mù mịt cuốn về đuôi tàu.
Y Tá băng bó xong cho các thương binh, lay nhẹ vai Võ Bằng:
– Tỉnh dậy, Hạm Trưởng. Tỉnh lại. Cứu thương đang tới.
Võ Bằng cố tập trung. Anh mơ hồ cảm giác mình bị nhấc lên, đặt vào cáng. Anh cũng chập chờn thấy Như Oanh nắm chặt tay anh. Rồi tất cả tối đen.
Hai mươi phút sau, trên bầu trời vọng tiếng cánh quạt vù vù của trực thăng. Một chiếc UH-1 từ Đệ Thất Hạm Đội xuất hiện. Hạm Phó cho lệnh ngưng máy Rạch Gầm.
Trực thăng lượn một vòng, giảm độ cao. Gió rít mạnh theo cánh quạt quay vùn vụt. Trên boong sau, các thủy thủ lấy tay che mặt, cố giữ thăng bằng.
Cửa hông trực thăng mở toang. Một chiếc cáng được thả xuống bằng dây cáp. Võ Bằng và ba thủy thủ bị thương, lần lượt được kéo lên. Trung Úy Tài và Cố Vấn từ chối tản thương.
Thủy thủ đoàn và Cố Vấn Mỹ vẫy tay. Trực thăng UH-1 nhấc mình, lao vút, xa dần rồi mất hút.
Bên trong trực thăng, không khí thoang thoảng mùi thuốc sát trùng. Y Sĩ Thiếu Tá Tony Kent đo mạch cho Võ Bằng, ưu tư nhìn đồng hồ, rồi nhanh chóng truyền nước biển và tiêm thuốc trụ sinh.
Hai mươi phút bay vượt biển, chiếc trực thăng hạ cánh xuống boong hàng không mẫu hạm USS Midway.
Đội y tế với bốn cáng cứu thương đã đợi sẵn. Họ nhanh chóng đưa các thương binh vào bệnh xá dưới hầm tàu.
Đèn huỳnh quang trắng lóa. Bác Sĩ tháo nón sắt trên đầu Võ Bằng, khám vết thương, rồi hối hả ra lệnh:
– Đưa ngay vào phòng mổ.
Ông ghi vội vào sổ trực bằng nét chữ nguệch ngoạc: Bị thương hai đùi. Một mảnh đạn xuyên nón sắt găm vào xương sọ. Cần mổ lấy ra ngay.
Vũ Thất
(Còn tiếp)