Đời Thủy Thủ III (Vũ Thất)
CHƯƠNG 39: RA MẮT
Chuyến xe đò Hữu Phước bốn mươi chỗ rời bến xe miền Tây lúc chín giờ sáng, hướng thẳng Tân Châu.
Võ Bằng và Như Oanh ngồi khoảng giữa, dãy ghế bên phải. Vì đi lần đầu, Như Oanh chọn ngồi phía ngoài, nép sát cửa kính để nhìn quang cảnh. Xe vừa qua khỏi Phú Lâm, đường trống, bánh xe lăn nhanh, gió đập phần phật vào thân xe.
Cánh đồng mở ra, trơ những luống cày. Thỉnh thoảng mới có một mái nhà thấp, tường vàng, ngói đỏ, nằm lặng như một chấm nhỏ giữa bãi trời mênh mông.
Như Oanh ngạc nhiên thấy ruộng hoàn toàn bỏ hoang, định hỏi, nhưng kịp nhớ bài ca dao: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi… Tháng Tư đi tậu trâu bò. Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm.”
Nàng im lặng khá lâu, cố quên nỗi lo, rồi cũng buột miệng nói khẽ với Võ Bằng:
– Ba mẹ anh có khó như ba mẹ em không?
Võ Bằng lắc đầu. Anh định nói: “Ba má anh dễ tính, không hắc búa như ba má em”, nhưng kịp dừng lại. Một thoáng ngắn. Rồi anh đổi giọng:
– Bình dị lắm. Em gặp sẽ thấy thương mến liền.
– Anh bảo đảm?
– Một trăm phần trăm.
Nàng nhìn anh như muốn tin. Nhưng tâm vẫn còn một chút gì bất an:
– Thú thiệt… đây là lần đầu em về miền Tây.
Một chút ngập ngừng. Rồi như một đứa trẻ vòi vĩnh:
– Nói cho em nghe… những gì anh biết đi.
Võ Bằng không nhìn nàng. Anh nhìn ra ngoài, giọng thấp:
– Miền Tây… mênh mông lắm. Chuyện cũng mênh mông. Anh chỉ biết những gì mắt thấy tai nghe thôi…
Anh nói tổng quát về Long An, về Mỹ Tho nhưng kể chi tiết các trận Rạch Gầm, Nhật Tảo hai chiến hạm mang tên. Nàng có cảm tưởng anh đang dẫn nàng đi từng bước, vào một vùng đất mà anh mang theo như một kinh nghiệm chiến đấu.
Rồi như quá mòn mỏi sau ba ngày chuẩn bị lễ tưởng thưởng, anh tựa đầu, lim dim.
***
Xe dừng ở Trung Lương. Người lên, kẻ xuống. Những sạp trái cây bày sát lề đường: vú sữa, xoài, nhãn, bưởi, chuối, cam, quýt… Mận đỏ, mận hồng, mận trắng, căng bóng dưới nắng.
Một tiếng rao vang lên, ngọt và mềm:
– Ai ăn mía ghim…
Như Oanh nghiêng đầu nhìn. Mâm mía ghim đặt trên đầu một cô gái đứng ngay cửa sổ. Những khúc mía nhỏ, thon, ghim thành chùm trên thanh nứa chẻ.
Nàng mua một chùm. Thấy Võ Bằng đã thức, nàng đưa mời. Anh nhai ngon lành:
– Mía ngọt.
Nàng nhai chậm, rồi nói nhỏ nhẹ:
– Anh kể chuyện nghe mê quá. Khi nào có thể anh tiếp tục nghen.
Như đươc dịp khoe tài hoạt bát, anh nói về Cai Lậy, Nha Mân, Cái Bè
Như Oanh lại mê mẩn lắng nghe.
Đúng ngọ, xe dừng lại ở bắc Mỹ Thuận.
Tất cả hành khách xuống xe. Võ Bằng dẫn nàng vào một quán quen. Anh gọi cho cả hai: cơm tấm, tôm rim, trứng chiên.
Như Oanh ăn chậm, gật gù, đôi mắt sáng lên một cách rất thật:
– Ngon quá…
Sau bữa ăn, họ đứng trên bắc. Dòng nước chảy xuôi, chậm.
Những dề lục bình trôi qua, lá xanh mướt, hoa trắng, tím, hồng tươi mơn mởn. Nàng hỏi:
– Hoa gì vậy anh? Trôi lênh đênh mà đẹp dữ!
Võ Bằng nhìn theo dòng nước. Một thoáng lặng.
– Lục bình…
Anh nói chậm hơn:
– Người miền Tây… thích lắm. Dù trôi đi đâu, hoa vẫn nở, màu hoa vẫn sắc son. Biểu tượng của lòng thủy chung.
Như Oanh trầm ngâm. Một ý nghĩ thoáng qua: Có phải… mình cũng đang trôi như vậy? Nàng hỏi:
– Sao gọi là lục bình?
Võ Bằng cười:
– Em làm như anh là cuốn tự điển…
Nàng cũng cười. Nhưng lần này, tiếng cười đã dịu hơn.
Xe chạy tiếp.
– Còn phải qua bắc nào nữa không anh?
– Qua Vàm Cống. Rồi qua một chuyến phà.
Như đụng chạm nghề nghiệp, nàng nhăn mặt:
– Bắc với phà khác nhau ra sao?
– Bắc là đọc từ tiếng Tây le bac, dùng chở xe và người qua sông. Bắc khá lớn, chở nhiều xe. Loại nhỏ gọi là phà.
Như Oanh reo khẽ:
– Em hiểu rồi. Thì ra dân Sài Gòn gọi phà Thủ Thiêm là vậy.
Võ Bằng mỉm cười:
– Nhưng dân gian cũng dùng lẫn lộn. Như dân Mỹ Tho không gọi phà mà gọi bắc Rạch Miễu. Còn Châu Đốc, cùng ngang qua dòng sông Hậu mà nơi thì gọi bắc Năng Gù nơi thì phà Châu Giang.
– Năng Gù, nghe lạ quá!
– Vùng này xưa dân Miên ở, tên Năng Gô, mình đọc trại thành Năng Gù. Cũng như Svay Ton thành Tri Tôn.
– Nhiều điều thú vị thật. Đúng là đi cho biết đó biết đây.
– Trước khi tới Năng Gù, mình còn qua các địa danh lạ khác: Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng, Bằng Lăng. Anh cũng chỉ nghe tên. Để sưu tầm nguồn gốc rồi kể sau.
Như Oanh trầm ngâm nhìn dòng sông một lúc, rồi nghiêng mặt hỏi nhỏ:
– Chừng nào thì mình ngang qua mấy chỗ đó?
– Khoảng nửa tiếng, sau khi qua bắc Vàm Cống.
***
Xe dừng. Anh lơ xe lại la to. Tiếng vang vang mà thân ái:
– Tới Vàm Cống rồi! Xuống Bắc qua sông bà con ơi!
Tiếp theo là tiếng rao lanh lảnh:
– Ai ăn mía ghim.
Võ Bằng âu yếm hỏi:
– Em thích ăn uống gì không?
Nàng lắc đầu:
– Em còn no quá!
Trên chiếc bắc, Như Oanh nắm bàn tay Võ Bằng trên lan can:
– Từ đâu có địa danh Vàm Cống, anh Bằng?
– Mấy năm trước, một lần chiến hạm qua đây, ông Hạm Trưởng có giải nghĩa: vàm là con sông nhỏ chảy ra Hậu Giang. Tại vàm, người ta xây một cái cống để điều tiết lưu lượng nước. Người dân kết hợp thành địa danh Vàm Cống. Có nhiều vàm lắm: Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Láng, Vàm Xáng…
– Chắc vì nhiều vàm nên lục bình sông Hậu nhiều hơn sông Tiền?
– Không phải đâu! Vì sông Hậu nước rề rề chảy, ít sóng to gió lớn, nên lục bình dễ sinh sôi.
Cả hai lặng thinh nhìn từng dề lục bình trôi hàng hàng như đang tách nguồn về biển.
Như Oanh chợt reo nhẹ:
– Em vừa nhớ bài thơ ‘Ðêm Qua Bắc Vàm Cống’ của Tô Thùy Yên. Bài thơ đẹp mà buồn. Nàng đọc khẽ:
Đêm qua bắc Vàm Cống
Mối sầu như nước sông…
Chiếc bắc xa dần bến
Đời xa dần tuổi xanh…
Nước tách nguồn về biển
Sầu lại chảy vào hồn.
Một lúc, Như Oanh hỏi khẽ:
– Chừng nào mới tới nhà, anh Bằng?
Anh liếc đồng hồ:
– Nếu không kẹt phà, khoảng năm giờ chiều!
– Gì mà lâu dữ vậy?
– Còn phải qua một chuyến đò nữa.
– Qua đò?
Võ Bằng nghe nhưng không trả lời. Anh có phần hồi hộp: “Không biết… ba má sẽ nghĩ gì về Như Oanh?”
Anh chưa từng lo điều này trước đây. Nhưng kinh nghiệm hôn nhân của các anh chị còn đó. Anh bắt đầu thấy lo.
Như Oanh quay sang nhìn Võ Bằng. Lần đầu tiên, nàng hình dung rõ ràng: con đường về nhà anh không phải là một con đường thẳng, trơn tru.
– Anh đi đi về về… vất vả quá hả?
Một khoảng lặng. Giọng Võ Bằng quan tâm:
– Em muốn trở về Sài Gòn không?
Nàng lắc đầu, không suy nghĩ:
– Không. Anh đến đâu, em đến đó.
Võ Bằng nắm lấy bàn tay nàng, bóp nhẹ.
***
Xe lên bắc Vàm Cống hướng về Long Xuyên. Một bảng hiệu nền xanh chữ trắng hiện ra. Nàng đọc:
– Thốt Nốt
Võ Bằng nhìn nàng mỉm cười:
– Đọc lại lần nữa xem.
– Thốt Nốt.
– Người ở đây đọc ‘Thốc Nốc’.
– Sao kỳ vậy?
– Anh cũng không biết…
Như Oanh cười. Nhưng rồi lại im.
Một nỗi lo mới, nhỏ thôi, nhưng rõ: “Giọng nói của mình… có lạc lõng không? Giọng nói của ba mẹ Võ Bằng có dễ nghe không? Lời lẽ có khe khắt lắm không!
Nàng hỏi, để xua đuổi:
– Quê anh có gì đặc biệt, anh Bằng?
– Tân An là xã nghèo, bên bờ sông Tiền, cách chợ Tân Châu bốn cây số, cách biên giới Miên chừng mười một. Dân số trên mười ngàn, đa số làm ruộng, trồng cây ăn trái, nuôi cá, nuôi tằm, ươm tơ. Ba má anh chị của anh được may mắn làm công chức, giáo viên. Ba anh cũng có chút tiếng tăm. Người lạ đến Tân Châu hỏi ông Võ Hảo là ai cũng biết.
Giọng Như Oanh bất an:
– Em lại lo. Ba mẹ anh mà chê em thì mắc cỡ lắm.
– Anh nghĩ ngược lại. Ba má anh sẽ nức nở khen thằng con khéo chọn vợ.
Như Oanh đập vai anh:
– Hy vọng được vậy. Giờ kể tiếp về Tân An đi.
– Tân An có hàng xóm là xã Vĩnh Xương sát biên giới, đất phù sa rất tốt, dân số chừng ngàn người chuyện ruộng rẫy. Gần đó có Núi Nổi, cao chưa tới mười thước mà mùa nước lên, bất kể bao nhiêu, núi cứ nổi bồng bềnh giữa biển nước. Nhất định anh sẽ đưa em đến viếng.
– Nghe hấp dẫn quá. Mà Núi Nổi thuộc quận nào?
– Cũng thuộc Tân Châu.
Mắt Như Oanh sáng lên:
– Em nhớ tới câu ca dao “Gái nào thảo bằng gái Tân Châu. Tháng ngày dệt lụa trồng dâu. Thờ cha kính mẹ quản đâu nhọc nhằn”. Em thắc mắc sao anh không chọn vợ Tân Châu mà lại chịu vất vả chọn em?
Võ Bằng lắc đầu:
– Ba má anh cũng đã giới thiệu vài cô nhưng không duyên nợ.
– Lại có câu: “Chuối non giú ép chát ngầm. Trai tơ đòi vợ khóc thầm cả đêm”. Anh có vậy không?
Võ Bằng gật đầu:
– Có. Từ khi gặp em.
Như Oanh kề tai anh, thì thầm:
– Nghe thương quá! Tặng anh đây: “Phải chi em vác nổi cây súng đồng. Hải Quân đi thế, cho chồng nghỉ ngơi.”
Võ Bằng choàng tay qua vai nàng, hôn phớt lên má:
– Cám ơn em nhiều…
Nàng hăng hái hỏi tiếp:
– Em có nghe loại vải nổi tiếng lãnh Mỹ A ở Tân Châu. Việc trồng dâu nuôi tằm hẳn dính dáng đến loại vải này?
– Không chỉ dính dáng mà chính là nguồn cội của lãnh Mỹ A. Người ta thành lập nhiều cơ sở chuyên trồng dâu nuôi tằm, Rồi xây dựng các lò ươm tơ, các xưởng dệt, nhà nhuộm vải. Nếu em thích, anh đưa em đi xem trọn chu trình từ tằm đến vải.
– Em thích lắm.
– Nhắc nuôi tằm, anh ao ước sống qua thời xa xưa: “Sáng trăng trải chiếu hai hàng. Bên em đọc sách, bên chàng quay tơ.”
Như Oanh bụm miệng cười đến đỏ mặt. Võ Bằng cố nhịn:
– Ngày xưa khác, bây giờ phải như thế cho hợp thời. Em tiếp tục sách đèn, còn anh giải ngũ thất nghiệp, về quay tơ dệt vải.
Như Oanh rút khăn tay lau nước mắt, lòng nghe hạnh phúc tràn trề. Bên Võ Bằng lúc nào cũng thoải mái, vui tươi.
***
Tới Châu Đốc, xe qua phà Châu Giang. Một cổng vòm thật đẹp hiện ra, tiếp sau là một thánh đường nhỏ hai màu xanh và trắng, thanh khiết, trang trọng.
Võ Bằng nói:
– Người Chàm ở đây, Thánh đường Hồi giáo Mubarak.
Như Oanh nhìn, nghĩ đến một vùng đất xa lạ. Một nền văn hóa khác. Một dòng người khác. Và mình… sắp bước vào một thế giới khác nữa.
Nàng kêu khẽ:
– Người Chàm sao ở đây? Em tưởng họ ở miền Trung.
– Họ chính là hậu duệ từ vương quốc Chàm, thủ đô Đồ Bàn ở Bình Định. Sau thời Chế Bồng Nga, vương quốc suy yếu rồi tan rã, dân Chàm tản cư sang Miên, rồi từ Miên họ sang Châu Đốc. Họ dệt sà rông, khăn choàng, nón. Đánh bắt cá tôm, buôn bán…
Xe đò chạy đến hàng rào Thánh Đường, quẹo trái. Con đường từ Châu Giang sang Tân Châu nhỏ hẹp, nhà cửa thưa thớt. Bên trái là con kinh đào. Bên phải ruộng đồng đang phơi đất.
***
Từ bến xe Tân Châu, họ đi xe lôi máy thêm bốn cây số hướng về biên giới Miên.
Con đường đất, nhiều ổ gà. Hai bên là nhà dưới rừng dừa, giữa cây ăn trái.
Tiếng máy nổ đều đều. Gió mang theo mùi nước, mùi đất, mùi nắng.
Như Oanh lặng thinh, chỉnh lại áo, vuốt nhẹ tóc.
Tim đập nhanh.
Rồi qua một chuyến đò nhỏ mới đến nơi.
Ngôi nhà năm gian nằm gần cuối con kinh. Mái ngói âm dương phủ rêu. Hàng cau trước sân. Các cánh cửa màu xanh thẫm. Hai con chó đá đứng canh hai bên.
Không gian tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng tim thình thịch.
Một người đàn bà mặc áo bà ba trắng đang ngồi ở gian cuối bán tạp hóa vụt đứng lên, bước vội đến.
Bà reo to:
– Bằng! Con về đó hả?
Tiếng gọi bật tiếp như đã chờ từ lâu:
– Ông ơi! Thằng Bằng về!
Từ gian giữa, ông Võ Hảo bước ra. Áo sơ mi cũ. Quần tây xám. Dép nhựa mòn gót.
– Về sao không báo?
Giọng ông trách nhẹ. Nhưng ấm.
Rồi ông nhìn sang Như Oanh.
– Ai đây?
Nàng cúi đầu:
– Con kính chào hai bác.
Võ Bằng cười, giọng bình thản mà chắc:
– Thưa ba má… con dâu tương lai của ba má đây.
Ông bà lặng nhìn. Một khoảnh khắc. Rất ngắn. Nhưng dài như cả quãng đường vừa đi. Rồi người mẹ bật lên:
– Vậy sao… Bất ngờ quá!
Giọng chân tình.
Nhưng trong lòng Như Oanh vẫn gợn lên làn sóng ngỡ ngàng pha lẫn bối rối. Nàng ngước lên. Cố nở một nụ cười thật tươi.
Vũ Thất
(Còn tiếp)
