Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026

Thiên Tình Sử của Hồ Xuân Hương & Nguyễn Du (tiếp theo): Bài số 13: Thu Vũ - Hồ Xuân Hương (Ngân Triều biên soạn)

 

                   

Thiên Tình Sử của Hồ Xuân Hương & Nguyễn Du (tiếp theo):
Bài số 13: Thu Vũ - Hồ Xuân Hương


Xuân Hương đã phúc đáp bài Thu Dạ I của Nguyễn Du bằng bài Thu Vũ. (Mưa Thu). Nàng đã khóc khi nghe tin Nguyễn Du bệnh gần cả năm, tóc đã nhuốm bạc.
Trời ảm đạm mây mù giăng mờ mịt, lòng em như mây (tiếp ý mây bài Thu Dạ Hữu Hoài và Thu Dạ I),
Nhưng mây đầy trời ảm đạm và mù mịt, tí tách mưa thu rơi trên sân vắng.
Đầu cành cây khô giọt lệ tuôn dài ngắn,
Mưa lộp độp trên lá chuối vàng, tiếng nhặt khoan.
Ngâm đọc xong bài Thu Dạ (I) , ngẩn ngơ, chạnh buồn thương người cách xa ngàn dặm,
Sầu vấn vương, mối tình đòi đoạn vò tơ, (ND), lòng như hoang vắng, thắc thỏm suốt năm canh.
Nơi khuê phòng, giờ chỉ khổ cho phận hồng nhan,
Một mảnh sầu không tên như thế nầy, muốn vẽ nhưng không thể nào vẽ đươc nên tranh.
*
    Mưa Thu
Trời thảm mây giăng tối mịt mùng,
Mưa Thu tí tách nhỏ ngoài sân.
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ.
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh.
Ngâm dứt đê mê sầu vạn dặm,
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc,
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ.
*
Thu Vũ, Nhất Uyên phiên âm:
Thiên cách vân âm thảm bất minh,
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Đoản trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu khiên liêu lạc ngũ canh tình.
Thâm khuê tối khổ như hoa diện,
Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.

*
Thu Vũ, bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 雨

天 隔 雲 陰 慘 不 明
蕭 蕭 秋 雨 落 閒 庭
短 長 枯 樹 枝 頭 淚
舒 急 黃 蕉 葉 上 聲
吟 斷 低 迷 千 里 夢
愁 牽 寥 落 五 更 情
深 閨 最 苦 如 花 面
一 片 愁 容 畫 不 成
*
(1) Mưa Thu
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Trời cách mây mù thảm chả xanh,
Mưa thu sân vắng giọt buồn tanh.
Đầu cành cây héo châu dài vắn,
Trên lá tiêu vàng tiếng chậm thanh.
Hát dứt đê mê mơ vạn dặm,
Sầu giăng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê sâu rất khổ mày hoa ấy,
Vẻ mặt buồn thương vẽ chẳng thành.
*
(2) Nguyễn Cang dịch thơ:
Mưa Thu

Trời mây sầu thảm ngập mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh
Cây chết, vắn dài cành nhỏ lệ
Mưa rơi tàu chuối tiếng trầm thanh
Thơ ngâm dứt đoạn, sầu ly biệt
Khắc khoải u hoài thức trắng canh
Vò võ khuê phòng hoa héo úa
Sầu riêng một mảnh khéo đành hanh!
Nguyễn Cang (15/10/2017)
Nguồn: Trích FB Nguyễn Cang

*
(3) Lưu Đức Thọ dịch thơ:
Mưa Thu

Trời thu ảm đạm không mây xanh
Rả rích mưa buồn cảnh vắng tanh
Rũ héo cành khô rơi lệ ứa
Tiếng mưa tàu chuối đếm trầm thanh
Nhận thơ đọc hết yêu người lắm
Thắc thỏm sầu vương tận những canh
Thương quá ở hai đầu nỗi nhớ!
Sầu riêng tự họa mãi không thành
Lưu Đức Thọ
Praha, 14.10.2017

*
(4) Kim Trân cảm đề:
Gió đùa mây thắm tận trời xanh
Lác đác mưa Thu ngõ vắng tanh
Nhặt cánh thư buồn dâng suối lệ
Chạnh lòng cành rũ, nhạt mày thanh
Nhớ ai ai nhớ sầu trăm nỗi
Tái dạ tim bời vọng tứ canh
Mái tóc hoa sương đành gửi chút
Tình riêng hoài tưởng họa không thành!
Kim Trân
*
(5) Ngân Triều cảm đề:
Mưa Thu:

Mây mù ảm đạm, mây mông mênh,
Tí tách mưa Thu, sân vắng tanh.
Cây chết đầu cành cây đọng lệ,
Mưa khua tiếng chuối, tiếng trầm thanh.
Đọc thư thờ thẫn người xa cách,
Quạnh vắng sầu giăng suốt ngũ canh.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.
Ngân Triều
***
Ảnh minh họa Mưa Thu, NT cảm đề ,
có hỗ trợ của AI.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.
Ngân Triều



QUA CẦU NÓN BAY - Thơ Trần Đông Thành và Thơ Họa

             

QUA CẦU NÓN BAY

Giở nón qua cầu sợ gió bay

Gió luồn cổ áo lạnh bờ vai

Trời trưa nắng lộng chen hàng nút

Em gái hàng hoa nhón bước dài

Chợ xế bôn ba bày cửa chợ

Chiều tà áo não chẳng phôi phai

Người ơi giữ chắc chi tà áo

Tiếc nón quai thao mất chẳng hay

Trần Đông Thành


Thơ Họa:

       HAY

         (Hỷ thi)

   Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà dối Mẹ qua cầu gió bay

                                   (Ca dao)

Qua cầu chỉ ngại gió thôi bay

Áo cởi ngượng ngùng... tóc xõa vai

Che nón giỡn anh... vờ thở ngắn

Về nhà dối Mẹ... hết than dài"?"

E e thẹn thẹn... tình si đắm

Sợ sợ gờm gờm... nghĩa nhạt phai"?"

Dải yếm vắt ngang thầm dẫn lối

Sát đầu chụm má... gẫm... hay hay"?!"

Nguyễn Huy Khôi

     21-10-2026

 

     BÓNG GIAI NHÂN

Tà áo lụa vàng phất phới bay

Tóc huyền buông xõa xuống đôi vai

Thân hình uyển chuyển như mây lượn

Bóng dáng mơ màng giữa nắng phai

Lộng lẫy làn môi khoe sắc thắm

Long lanh ánh mắt rợp mi dài

Ngẩn ngơ, thi sĩ say mê ngắm

Chiều xuống lâu rồi chẳng có hay !

  Sông Thu

( 21/10/2026 )

 

     BAY MẤT BIẾN

Tình yêu mấy chốc đã uyên bay, (1)

Ngày ấy đôi ta vẫn sánh vai.

Động đất thề nguyền không nát đá, (2)

Lở non nguyện ước chẳng vàng phai. (2)

Nhìn vào kỷ vật mà ngao ngán,

Nhớ đến người xưa chỉ thở dài.

Quả đúng như trời long đất lở,

Để rồi bay mất biến (3), nào hay!

Đỗ Quang Vinh

  21-10-2026

Chú Thich:

(1) Ví cảnh đôi lứa yêu nhau phải chia lìa, tan vỡ;  như chim uyên trong đôi uyên ương đã bay đi, để lại sự lẻ bóng. Vd: Câu chuyện tình của họ thật đáng tiếc, giờ đã uyên bay rồi.

(2) nát đá vàng phai: thành ngữ chỉ những lời thề nguyền hứa hẹn sắt son phai nhạt tan vỡ

(3) Khẩu ngữ bến mất đọc trại

 

  GIÓ NẮNG QUA CẦU

Gió lộng qua cầu sợ nón bay

Em đành để nắng cháy hai vai

Hè nung khoảng vắng đùa chân nhỏ

Hạ đốt tầng không cợt áo dài

Bóng lẻ tìm đâu niềm thắm đượm

Bờ xa chỉ thấy cảnh nhòa phai

Vì xưa bỏ mặc tình quên nhớ

Nên lối cũ về bạn chẳng hay

Lý Đức Quỳnh

   22/10/2026 


THEO EM CUỐI NẺO 

Vào Thu lả tả lá me bay

Em đội nón, vành rộng phủ vai

Đi giữa phố quen sang hẻm ngắn

Dạo ngang xóm lạ tới đường dài

Âm thầm nối gót khi chiều nhạt

Lặng lẽ theo người lúc nắng phai

Anh bám đến cùng về cuối nẻo

Nàng vờ chẳng biết, giả không hay.

     LAN.

(22/10/2026)

 

       QUA CẦU

Qua cầu nắm chặt nón hay bay

Anh tặng cho em gió khuất vai

Mây xám mưa phùn che mái tóc

Áo hồng đẹp mắt bước chân dài

Phố phường người ngắm duyên tranh vẽ

Đồng ruộng cấy cày chớ lợt phai

Nón nhẹ đơn sơ tình mãi đậm

Đây là mình ước... gợi em hay …

  Yên Hà

22/10/2026

 

THƯƠNG LẮM NGƯỜI EM GÁI

Tha thướt dáng em tà áo bay...

Tóc thề buông xõa ôm bờ vai

Trời xanh gió lộng lay vành nón

Nắng gắt nhanh chân bước dặm dài

Lẽo đẽo theo sau Nàng ngoãnh mặt

Khiến Chàng ngơ ngẩn bóng hình ai

Nàng ơi, xinh quá áo dài trắng

Thương lắm người Em gái có hay?...

Mỹ Nga

   22/10/2026  ÂL, 12/09/ Bính Ngọ.

 

NÀNG THƠ QUA CẦU 

Cứ tưởng em còn nón để bay

Hoá ra khoe tóc che ngang vai

Ngó anh ngơ ngẩn qua cầu nổi

Thấy chị bâng khuâng ngắm áo dài

Mũ nỉ vừa mua chưa đội thử

Môi son thoa vội tưởng tô phai

Nàng thơ e ấp nghe tiêu thổi

Tiếng sáo bên sông vẳng quá hay …

    Hawthorne 22 - 10 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

   GÁI XINH QUA CẦU

Qua cầu áo mỏng phất phơ bay,

Tóc dạt ôm trùm phủ kín vai.

Gió kéo hung hăng bung đứt nút,

Cầu trơ lơ lắt đẩy chân dài.

Nữ nhi yểu điệu neo chân nhón,

 Nam tử ngắm nhìn mộng khó phai.

Mắt liếc thân trơ đơ phất áo,

Người ơi! Mộng ngụp có nào hay.

HỒ NGUYỄN

 (22-10-2026)  


  QUA CẦU TÓ BAY

Ngộ nhứt trên đời chuyện tó bay

Vậy mà có đó! Chớ rùng vai !

Leo nheo hai mắt dòm quanh quẩn

Xịch lụi ba chân bước ngắn dài

Hàng tháng đôi giò thêm lẩy bẩy

Mỗi năm cặp kiếng lại mờ phai

Chính là anh bạn Đông Thành đó

Gậy lọt xuống cầu . Vậy mới hay !

LHN

 

       GỬI GẤM 

Bước hững hờ theo chiếc lá bay

Dáng gầy ngại gió ấp ôm vai

Khi mà góp nhặt cơn mơ ngắn

Là lúc gom về mộng mị dài

Vẽ đẹp thanh tao còn đậm chất

Thời gian khắc nghiệt nỏ mờ phai

Lời ca tiếng hát người quan họ

Gửi gấm bao tình… bậu có hay !

PHƯỢNG HỒNG

 

CHỢ VẮNG HOA PHAI

Nghiêng nón làm chi để tóc bay?

Che ngang chừng khuất nửa đôi vai?

Người nhanh đang gánh đưa tay nhẹ 

Nắng sớm vừa lên đổ bóng dài

Chợ vắng không vui ngày cũng lụn

Hoa tươi lỡ ế sắc dần phai

Cảm thương cô gái đời bươn chải

Đâu khách hào hoa… liệu có hay…?

Đông A

25/10/26 


       BẬU CÓ HAY

(Hỷ thi gởi hai bác LHN và TĐT)

Khua gõ trên cầu, nhập đúng vai

Gió lùa dưới cẳng, tó rờn bay

Lều nghều nhấc gối ngừa lề hẹp

Thủng thẳng rê chân ngại bước dài

Nhĩ sớm dầy da, kiềng laptop

Kiếng nhanh thay số, ngại guai phai

Căn duyên giời định ai khôn kén

Được thế tuyệt rồi... bậu có hay?!

Nguyễn Huy Khôi

     24-10-2026

















Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

Giai Thoại Văn Chương: VŨ VÔ MÔN HỘ NĂNG LƯU KHÁCH (Đỗ Chiêu Đức biên soạn)

 Giai Thoại Văn Chương  :  

             VŨ VÔ MÔN HỘ NĂNG LƯU KHÁCH
                           
                             


      Một hôm, khi vừa giảng xong bài và lớp cũng vừa tan học, thì trời đổ mưa, các sinh đồ không về được. Nên cụ đồ Đàm Thận Huy mới ra một vế đối như sau để cho các học trò đối lại cho vui và cũng để thử tài của các học trò mình. Vế ra như sau :
            Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách, 雨 無 鉗 鎖 能 留 客,
Có nghĩa :
        Mưa không cần phải cầm cọng gì cả mà vẫn giữ được khách ở lại (Kiềm là Cây Kềm. Tỏa là Khoá, nên KIỀM TỎA là Kềm khóa lại, ý chỉ hết lòng giữ khách lại, Miền Nam nói là CẦM CỌNG ).
    Một anh học trò tên Nguyễn Chiêu Huấn bèn đối lại rằng :
           Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân  月 有 彎 弓 不 射 人.
Có nghĩa : 
        Trăng có vành cong như cánh cung, nhưng không bắn người bao giờ.         


    Cụ đồ khen : 
       - Con người tài hoa phúc hậu, sẽ có hậu vận tốt về sau !
    Một anh học trò khác bộp chộp đối là :
         Phân bất uy quyền dị sử nhân  糞 不 威 權 易 使 人.
Có nghĩa :
         Cứt (phân) không có quyền uy gì cả mà dễ sai khiến con người (ý nói khi "mắc đi cầu" thì không ai có thể cưỡng lại được cả!)
    Cụ đồ Huy cười mà phán :
       - Thứ đồ thô lậu, có tài nhưng chỉ đáng là hàng trọc phú mà thôi !
     Lúc bấy giờ, anh học trò Nguyễn Giản Thanh mới thủng thỉnh đối lại rằng :
           Sắc bất ba đào dị nịch nhân  色 不 波 濤 易 溺 人.
Có nghĩa :
         Sắc đẹp không có sóng gió gì cả nhưng dễ làm cho con người bị chìm đắm.

    Cụ đồ Huy vổ bàn đánh đét một tiếng, khen :
       - Thật tuyệt ! tài hoa sắc sảo đáng bậc Trạng Nguyên, nhưng e hậu vận sẽ bị lụy vì nữ sắc.
                    
           

    Lời nhận xét của cụ đồ Đàm Thận Huy đã thành lời tiên tri trong những năm sau đó. Nguyễn Giản Thanh thi đỗ thủ khoa, rồi đỗ Trạng Nguyên đời Vua Lê Uy Mục (1508), làm quan Lễ Bộ Thượng Thư, nhưng vì say đắm một cô gái đẹp ở kinh thành mà đến ô danh bại tiết. Còn Chiêu Huấn chỉ đỗ Bảng Nhãn nhưng làm quan và sống yên ổn đến già. Riêng người học trò kia sau cũng vào hàng hào phú trong vùng, nhưng ai cũng chê là hạng thô lỗ, bỉ lậu.
     Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc (làng Me), huyện Ðông Ngàn (nay là Từ Sơn), Bắc Ninh. Ông sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, sinh năm 1482, mất năm nào không rõ. Lúc nhỏ ông rất thông minh, mới 16 tuổi đã thông hiểu rất nhiều sách vở, sau đỗ Trạng Nguyên, nên tục gọi là Trạng Me.

     Đó là "Giai Thoại Văn Chương Việt Nam" ta, còn "Giai Thoại Văn Chương Trung Hoa" thì vế ra như sau :
       雨 無 門 戶 能 留 客    Vũ vô MÔN HỘ năng lưu khách

             


     Theo truyện kể trong dân gian Trung Hoa như sau đây:
     Đường Dần 唐 寅(1470—1524)tự Bá Hổ 伯 虎, Tử Úy 子 畏, hiệu là Lục Như Cư Sĩ  六 如 居 士、Đào Hoa Am Chủ 桃 花庵 主... Người Ngô Huyện, Trực Lệ thuộc đất Tô Châu, là nhà thơ, nhà văn học và nhà thư họa nổi tiếng trong đời nhà Minh, là một trong Ngô Trung Tứ Tài Tử 吳 中 四 才 子 và cũng là một trong "Giang Nam Tứ Đại Tài Tử 江 南 四 大 才 子" đương thời. Năm Hoằng Trị thứ 11 (1498) Đường Bá Hổ đậu đầu khoa Ứng Thiên Mậu Ngọ ở Nam Kinh, nên người đời thường gọi là Đường Giải Nguyên. 
     Một hôm, Đường Bá Hổ cùng một nhóm bạn bè rủ nhau ra ngoại thành du ngoạn. Đang trong lúc cả nhóm xướng họa nói cười vui vẻ thì trời bỗng đổ cơn mưa to. Cả nhóm nhốn nháo tìm nơi trú mưa. May sao phía trước mặt không xa thấp thoáng thấy có một trang viên, bèn cùng nhau kéo đến gỏ cửa xin trú mưa. Chủ trang viên là một Viên Ngoại Lang họ Từ, tuổi trạc ngoại ngũ tuần tiếp đón niềm nở. Sau khi pha trà đãi khách và trao đổi qua lại, biết đây là những thư sinh Tú Tài trong vùng nên càng ân cần tiếp đãi hơn lên. 

            

             Đường Bá Hổ và Giang Nam Tứ Đại Tài Tử qua Điện ảnh

     Nguyên Từ Viên Ngoại tuy ở vùng ngoại thành, nhưng cũng thuộc dòng dõi thư hương. Dưới trướng không con trai, chỉ có một gái nên hết mực cưng chiều. Từ Tiểu Thư ngoài công ngôn dung hạnh còn giỏi cả thi từ ca phú nữa. Nghe trong nhóm thư sinh đến trú mưa có cả tài tử Giang Nam Đường Bá Hổ mà mình hằng nghe tiếng là giỏi giang, bèn xin phép cha cùng được ra diện kiến và trao đổi văn thơ. Từ Viên Ngoại là người cởi mở phóng khoáng nên cho phép Từ Tiểu Thư cùng ra uống trà và đàm đạo. Nhân nói đến trời mưa, Từ Tiểu Thư bèn gợi ý và ra một vế đối để mọi người cùng đối lại cho vui. Vế ra như sau:
       雨 無 門 戶 能 留 客    Vũ vô MÔN HỘ năng lưu khách,
      Có nghĩa :
           - Mưa không có nhà cửa gì cả mà có thể giữ được khách.

      Vế ra nghe như đơn giản, nhưng hàm ý của Từ Tiểu Thư muốn nói là: Tôi nhờ có nhà cửa mới lưu được khách qúy ở đây, nhưng MƯA thì không có NHÀ CỬA gì cả mà cũng lưu được khách qúy; Biết rằng khách qúy có lưu được mãi hay không, hay khi mưa tạnh thì lại đi mất rồi ?!.
      Một thư sinh Tú tài đứng dậy, nắm vạt áo ướt của mình đưa lên đối rằng:
     雲 有 彩 裳 不 借 人   Vân hữu thái thường bất tá nhân.  
      Có nghĩa :
           - Mây trời có áo đủ màu nhưng không cho người mượn bao giờ !

               
            
      Cả bọn đều vổ tay khen hay, vì câu đối vừa chỉnh vừa vui : Mây trên trời như các tà áo màu, nhưng làm sao mượn cho được, áo ướt thì rán chịu đi ! Một thư sinh khác đứng lên đưa hai tay lên trời như than oán, đối rằng :

    天 有 風 雲 易 惱 人   Thiên hữu phong vân dị não nhân.
      Có nghĩa :
           - Trời có gió mây bất thường nên dễ làm phiền lòng người !

           
      Một thư sinh khác đứng dậy nói rằng: "Gió mưa là bệnh của trời mà, làm sao trách trời cho được!?" Đoạn anh ta hướng về phía Từ Tiểu Thư tủm tỉm cười mà đối lại rằng:
     野 有 花 香 易 縛 人    Dã hữu hoa hương dị phược nhân
      Có nghĩa :
           - Ngoài đồng nội có hoa thơm nên cũng dễ trói buộc con người !
              

      Ý anh ta ví Từ Tiểu Thư như là một cánh hoa thơm ngoài đồng nội đã trói buộc được "trái tim" của anh ta rồi ! Ý tình qúa lộ liễu, mọi người còn đang lo sợ là Tiểu Thư sẽ nổi giận, thì ngoài trời mưa cũng đã tạnh hẵn. Cả bọn bèn đứng lên nói lời cảm tạ và từ biệt gia chủ để ra về. Khi ra đến cổng ngoài, Từ Tiểu Thư như chửa cam tâm, bèn đến bên Đường Bá Hổ mà thỏ thẻ rằng: "Đường Giải Nguyên có thể hạ cố cho một vế đối được chăng?" Biết là Từ Tiểu thư bất chấp thị phi là đã có tình ý với mình, nhưng ở nhà Đường Bá Hổ đã có đến tám vị phu nhân rồi, nên còn đang bối rối chưa biết phải từ chối như thế nào, chợt nhìn lên bầu trời đối diện, sau cơn mưa một chiếc cầu vồng ngũ sắc hiện lên thật đẹp ở chân trời, Đường Bá Hổ bèn vòng tay thi lễ và đối rằng:

   虹 有 橋 梁 不 渡 人    Hồng hữu kiều lương bất độ nhân
      Có nghĩa :
           - Cầu Vồng có cầu đó nhưng không để cho người nào đi qua được cả !

              

      Ý của Đường Bá Hổ là : Tiểu Thư ơi, Tôi chỉ hào nhoáng được như cánh cầu vồng mà thôi, thấy thì đẹp mà không thể đi qua được đâu! Từ Tiểu Thư chừng như cũng hiểu ý của Đường Bá Hổ nên cũng đành buồn thương mà chấp nhận cho số kiếp và duyên phận của mình.
      Nói thì nói thế, chứ ngoài tám bà vợ ở nhà ra, Đường Bá Hổ còn nổi tiếng với những kịch bản, sân khấu, điện ảnh... với truyện tình thứ 9 là "ĐƯỜNG BÁ HỔ ĐIỂM THU HƯƠNG 唐 伯 虎 點 秋 香" lưu truyền rộng rãi trong dân gian mãi cho đến hiện nay với hai câu thơ:
   聞 道 禁 中 時 節 異,  Văn đạo cấm trung thời tiết dị,
   九 秋 香 滿 鏡 臺 前。  Cửu THU HƯƠNG mãn kính đài tiền !
       Có nghĩa :
                             Nghe nói trong cung thời tiết khác,
                             Thu Hương thứ chín ngập đài gương !
           


       ĐƯỜNG BÁ HỔ ĐIỂM THU HƯƠNG qua Sân khấu và Điện ảnh

       Hẹn bài viết tới !

                                                           杜 紹 德         
                                                        Đỗ Chiêu Đức