Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Đời Thủy Thủ 1 (Vũ Thất) / Chương 9: ĐƯỜNG ĐẾN HOÀNG SA

                                                


Đời Thủy Thủ 1 
 Chương 9: ĐƯỜNG ĐẾN HOÀNG SA
                  *****

Chuyến ra Đà Nẵng êm ả như một cuộc du ngoạn. Suốt hai ngày hai đêm, biển đẹp vô cùng. Mặt nước xanh thẫm, lặng đến mức tôi gần như quên rằng con tàu này từng chui khỏi rừng đước Năm Căn. Màu xanh ấy như muốn xóa nhòa quá khứ, gột đi những vết cũ trên boong. Nhưng có những thứ mà nước không rửa nổi. Với tôi, hình ảnh máu trên sàn, bao nhiêu nước chẳng cuốn trôi được.
Những tưởng đường đến Hoàng Sa cũng đẹp như mơ, nào đâu tàu vừa cập Tiên Sa thì có tin bão nổi gần Hoàng Sa. Đó chính là nơi chiến hạm chuyển quân ra thay toán quân đã trấn giữ trọn sáu tháng. Bộ Tư Lệnh Vùng ra lệnh cho tàu vào sông Hàn, ủi bãi tránh bão.
Cả tàu thất nghiệp. Ngủ nghê chán chê, chúng tôi rủ nhau chơi belote, bói bài. Ngày không trực thì đội mưa la cà, hết quán cà phê sang quán kem, đâu đâu cũng nghe Hùng Cường hát Sầu Đông giữa mùa Hè. Cái oi ả của Đà Nẵng như bị nén lại trong tiếng hát, càng nghe càng thấy ngột. Nỗi chán khép thành một vòng tròn, mỗi ngày bò qua thật chậm.
Đà Nẵng mang dáng Sài Gòn, cũng một dòng sông êm chảy ngang phố. Nhưng suốt tuần mưa bão, thành phố vắng bóng hồng đến lạ: đường im lắng, hàng cây rũ rượi nước. Cảnh ấy khiến tôi thỉnh thoảng thầm ngâm: “Đà Nẵng vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai?” Yêu ai ư? Câu hỏi vu vơ, bởi câu trả lời đã nằm sẵn trong lòng từ trước khi tàu rời bến.

Hết một tuần, Hạm Trưởng quyết định lên đường. Ông cho cơm chiều sớm hơn lệ thường. Đúng sáu giờ, tàu rời bãi, chầm chậm trườn dọc thành phố. Bờ bến xa lạ, những dãy nhà không quen, vậy mà cảnh vật vẫn khơi trong tôi nỗi nhớ Sài Gòn tha thiết.
Lẽ ra giờ này tôi đang ngồi ở một quán kem trên đường Lê Lợi, ngắm ông đi qua bà đi lại. Lẽ ra tôi đã xem được dăm cuốn phim mới. Lẽ ra tôi đang đấu láo với Linda Sờ Nách, và lẽ ra tôi được gặp lại… Tôi cười nhạo chính mình. Đã quyết chia tay Hiền và Tuyết thì còn “lẽ ra” cái nỗi gì?
      Mà “lẽ ra” cho lắm thì rốt cuộc cũng phải ca bài “Một trăm phần trăm em ơi, giờ đây lại cấm trại rồi!”. Ngày tàu rời Sài Gòn, không khí thủ đô căng như dây đàn. Ngày trở về, biết đâu chẳng vỡ tung như tình anh với em.

       Chưa ra tới cửa sông Hàn — cũng như cửa Soài Rạp hôm nào — môi sóng đã cười. Những con sóng đầu tiên vỗ vào mũi tàu, báo trước điều sắp đến. Hạm Trưởng quay sang Hạm Phó, giọng điềm đạm như chính khuôn mặt ông: “Biển còn động mạnh quá.” Mắt Hạm Phó sáng lên, ánh hy vọng lóe ra như kẻ sắp chết đuối vớ được phao.
Vừa nãy, trong buổi họp bàn công tác, Hạm Phó đã đề nghị hoãn khởi hành thêm vài ngày, chờ biển êm. Tôi và Tâm hiểu ngay cái lý do thầm kín ấy. Đêm qua ông khoe mới quen một cô nữ sinh trường Sao Mai, đã hẹn hôm nay cùng dung dăng dung dẻ. Cả bọn đều không ngờ: lẽ nào một người vừa nghỉ phép bảy ngày để cưới vợ mà còn bay bướm đến thế? Tình yêu và sự mạo hiểm hình như cùng một thứ men, khiến người ta không bao giờ biết no.
Giọng cà tửng quen thuộc của Hạm Phó lại vang lên: “Hoãn thêm một ngày là phải quá, thưa Hạm Trưởng. Chuyển quân ra đảo đâu gấp đến mức cả tàu phải oằn mình vì sóng gió. Một ngày rỗi rãi, Hạm Trưởng sáng tác thêm dăm bài thơ tình, còn Hạm Phó thì hưởng nốt những phút êm đềm trước khi… bó thân về với vợ.”
Tôi không cười mà nhìn Hạm Trưởng, thầm mong ông đừng đổi ý. Tôi muốn lên đường sớm để chóng về lại Sài Gòn. Gặp lại “tiểu muội” hẳn vui hơn.

Giọng Hạm Trưởng dứt khoát:
– Muộn rồi, Hạm Phó! Trung đội địa phương quân đã lên tàu. Khí tượng báo bão đã yếu, phong vũ biểu gần trở lại bình thường. Binh lính ngoài Hoàng Sa đang mỏi cổ ngóng tàu. Họ cạn lương thực.
Hạm Phó vẫn níu kéo:
– Ta cập cầu Tiên Sa, cho họ tạm trú trong căn cứ.
Hạm Trưởng lắc đầu:
– Phiền toái hơn là chịu sóng gió.
Ông tiếp tục ban lệnh, đưa con tàu an toàn ra cửa. Trong sương mù, còi hải hành cứ vài phút lại hú lên não nề. Tiếng còi loang xa giữa không gian âm u như một tiếng gọi hoang dại. Sau mỗi hồi, lại có tiếng đáp từ những con tàu vô hình – một bản giao hưởng của những hiệp sĩ mù.
Tôi nhớ câu nói đùa khi học hải hành trong âm u: tàu chẳng khác hiệp sĩ mù nghe gió kiếm. Nghe tiếng còi để tránh nhau; khi “thấy” nhau thì thường quá muộn. Nhìn màn sương dày trước mũi, lòng tôi bỗng bàng hoàng – chúng tôi đang dò dẫm như những người mù, chỉ nghe tiếng còi mà đoán đối phương ở đâu, chẳng bao giờ trông thấy.

Tiếng Hạm Trưởng sang sảng:
– Lái hướng bắc.
Liền đó, tiếng Hạ sĩ Thành từ phòng lái vọng lên:
– Báo cáo, đúng hướng bắc.
– Hai máy tiến hai.
Tiếng leng keng báo máy chìm trong tiếng sóng gió ì ầm. Con tàu bất ngờ chui vào một vùng mây mù xám xịt, như xuyên qua bức màn vô hình. Vô số mảng nhỏ xoắn xuýt rồi tan biến trước mũi. Mặt biển đục ngầu, lồng lộn sủi bọt, như một con thú dữ vừa bị đánh thức.
Hạm Phó cất tiếng:
– Phòng radar, cho biết hướng và khoảng cách ba đối vật trên bờ gần nhất.
Lệnh truyền đi, kết quả về tức thì. Hạm Phó đo đạc, chấm tọa độ rồi đề nghị Hạm Trưởng đổi đường. Những phép tính nối nhau trên hải đồ, những con số chính xác — tất cả như một điệu vũ kỹ thuật giữa sóng gió. Mũi tàu từ từ ngả sang phải.

Bất chợt chiến hạm chao đảo dữ dội. Tôi chụp lấy thành đài, bám chặt. Hạm Phó buông thõng ống dòm trước ngực, phóng tới ôm lấy chiếc la bàn điện đặt trên trụ sắt giữa đài chỉ huy.
Giọng Hạm Trưởng gọn và mạnh:
– Lái đường ba bốn không.
Tiếng vọng: “Đường ba bốn không.”
Từ lòng tàu, tiếng ọe mửa của trung đội địa phương quân dội lên, xen tiếng trẻ con khóc ré và tiếng nức nở của các bà mẹ. Cổ tôi nhợn nhợn, chực trào theo. Hít vài hơi thật dài, tôi kìm được. Nhưng mùi tanh nồng của chất nôn từ dưới bốc lên, gợi lại mùi máu trên sàn tàu ngày trước. Tôi chợt nghĩ: biển rửa trôi được mọi thứ, riêng mùi thì ám mãi.

Trời sụp tối mịt mù. Chiếc Hàm Luông đáy bằng không xẻ sóng như tàu đáy nhọn. Nó bò lên đỉnh mỗi con sóng, khựng lại một nhịp trên cao — khoảnh khắc cả thân tàu treo lơ lửng giữa trời và biển, cân bằng mong manh đến mức tôi nghe rõ tim mình đập — rồi đổ ụp xuống lòng sóng một cú “RẦM” chấn động cả vỏ, nước tóe lên trắng xóa phủ kín boong. Cứ thế nối nhau. Mỗi lần, con tàu lại rên lên, thân kêu răng rắc. So với lần đầu ra cửa Soài Rạp, cửa sông Hàn dã man hơn nhiều. Ở Soài Rạp tôi còn thấy được bờ; ở đây chỉ có biển vô tận và bóng tối.
Như chuyến đi Năm Căn, người tôi nóng bừng, bứt rứt. Nước đắng dâng lên miệng. Mồ hôi rịn ướt đẫm ngực và lưng. Tôi lại hít hơi, cố ngăn. Ruột gan như cuộn xoắn, chực trào ra. Tôi kêu thầm: “Trời ơi! Mỗi chuyến đi mà cứ như thế này thì chắc phải đào ngũ.”

Hạm Phó lại xác định vị trí. Hạm Trưởng lại cho lệnh đổi đường. Ông mở quyển nhật ký hải hành, ghi vài dòng tiêu lệnh rồi hỏi:
– Ai là sĩ quan đương phiên?
Trung Úy Quá lên tiếng:
– Thưa, tôi và Thiếu Úy Được.
– Ai kế?
Hạm Phó đáp:
– Thưa, Trung Úy Tùng, Thiếu Úy Tâm.
– Anh với Thiếu Úy Bằng từ nửa đêm tới bốn giờ sáng?
– Dạ đúng.
– Anh chia phiên vậy là hợp ý tôi. Đi quá xa bờ, cần hết sức thận trọng.
Ông xoay người bước xuống cầu thang. Hạm Phó hô nghiêm. Tất cả đưa tay chào. Đợi Hạm Trưởng khuất hẳn, ông quay sang tôi, cười cười:
– Xuống ngủ đi, còn chờ gì nữa.
Tôi nuốt vị đắng, đáp yếu ớt:
– Dạ, chờ Hạm Phó.
Trung Úy Quá tựa lưng vào thành đài, nhăn nhó:
– Đêm qua quần nhau tới sáng. Giờ gặp sóng gió thế này chắc chết sớm!
Hạm Phó cảm thông:
– Chỉ hai tiếng nữa thôi, ráng đi.
– Có làm có chịu, bắt buộc phải ráng!
Anh cười tiếp:
– Phục Hạm Phó sát đất. Trăng mật suốt tuần mà vẫn còn phong độ.
– Phong độ con khỉ! Đang bứt hơi đây.
Dứt lời, ông kéo tay tôi cùng xuống. Ông ghé phòng ăn dùng cơm tối; tôi về thẳng buồng.

* * *

Tiếng còi đổi phiên rền rĩ vọng tới, mơ hồ. Tôi trở mình rồi lại chìm sâu vào giấc ngủ. Phải đến hồi còi thứ hai mới đủ sức nhấc tôi dậy. Tôi đong đưa chân ngoài giường, cố định thần. Ánh đèn đỏ trên vách phủ một màu tối huyền ảo, như một thế giới nửa thực nửa mơ. Kim dài chiếc đồng hồ cuối phòng còn mười phút nữa mới chỉ đúng hai mươi bốn giờ. Chờ con tàu về lại thế thăng bằng, tôi nhảy phóc xuống.
Giường tôi ở tầng ba, trên giường Tâm và Tùng. Giữa cơn lắc lư này, leo lên được cũng gọi là một thành tích. Cấp bậc thấp chịu thiệt đủ đường. Tôi chợt nghĩ: chẳng phải mọi thứ trên đời đều thế sao — cấp thấp luôn lãnh phần khổ nhất, trong quân đội cũng như trong tình yêu.
Vệ sinh xong, tôi mang giày, chỉnh quân phục.
Trên đường lên đài chỉ huy, tôi bước qua khung cửa vào lòng tàu. Cả trung đội địa phương quân say sóng, nằm la liệt từ mũi đến lái. Trông như đang ngủ, mà thật ra là mê thiếp, hệt tôi đêm qua. Những người lính trẻ, những bà mẹ, những đứa bé — tất cả nằm ngổn ngang, mặt tái nhợt, môi khô. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ hân hoan lên bờ. Còn tôi, có lẽ trọn đời khó thoát khỏi biển. Ý nghĩ ấy vừa buồn vừa kiêu hãnh, một mối ràng buộc kỳ lạ với đại dương.

Vừa thấy tôi bước vào đài chỉ huy, Tâm reo:
– Tưởng mày tiêu tùng rồi! Khá lắm! Khá lắm!
Tôi chào Trung Úy Tùng. Nhớ việc đầu tiên khi nhận phiên là xác định vị trí chiến hạm. Tàu đang viễn dương, xác định vị trí bằng thiên thể. Tôi nhìn bầu trời. Đen kịt, đang mưa. Tôi bước sang bàn hải đồ. Hàng chục vòng tròn nhỏ gạch chéo nằm cách đều nhau trên hải trình kéo dài từ ngoài khơi Sơn Trà đến trung tâm quần đảo Hoàng Sa. Vòng cuối ghi 2400H, cách xa một nhóm đảo trông như những quả trứng lớn nhỏ ngổn ngang. Căn cứ các khoảng cách phỏng định – với tốc độ 12 gút – tôi đo tới điểm cuối hải trình.
Tiếng Hạm Phó vang sau lưng:
– Mình đến đâu rồi, cụ Bằng?
– Thưa, theo phỏng định thì còn chín tiếng nữa tới điểm đổ quân.
Hạm Phó ân cần:
– Nhớ cho kỹ: phỏng định là… phỏng định! Mùa sóng gió bão bùng, cộng độ giạt và dòng nước ngầm, tàu thực sự đang ở đâu chỉ có Trời biết.
Rồi chỉ vào hải đồ:
– Không chừng ta đã tạt lên phía bắc, vào vùng Amphitrite Group đầy đá ngầm. Hoặc giạt xuống phía nam, vào vùng nước cạn North Reef lắm xác tàu chìm. Vào đâu cũng thân bại danh liệt. Cho nên, tốt hơn hết là bám lấy độ sâu.

Anh bảo tôi xuống phòng lái, theo dõi và nhắc nhân viên đọc chính xác chiều sâu. Ba nhân viên phụ trách tay lái, radar và fathometer thấy tôi thì vồn vã chào. Tôi chưa kịp hỏi han, anh thám xuất đã kêu lớn:
– Thiếu Úy! Có écho hướng mười giờ, cách hai mươi hai hải lý. Écho di chuyển nhanh, có thể là phi cơ.
Tôi bước vội đến radar. Trên màn ảnh lấm tấm chấm trắng như cát — phản ánh mặt biển đang dao động mạnh — một vệt sáng lớn nhích dần về phía chiến hạm. Tôi vội báo lên đài chỉ huy.
Tiếng Hạm Phó vọng xuống:
– Theo dõi và báo cáo liên tục.
Ít lâu sau, một luồng đèn pha bất ngờ rọi sáng rực xuống tàu. Rồi tiếng động cơ yếu dần. Một bóng đen lướt qua, nhanh vô cùng, rồi tan vào màn đêm. Chẳng ai biết nó từ đâu tới.
Giọng Tâm:
– Võ Bằng lên gặp Hạm Trưởng.

Rời phòng lái, tôi lo thầm: chuyện gì đây? Lên tới bậc thang chót, tôi đưa tay chào. Hạm Trưởng đợi tôi bước hẳn vào mới lên tiếng:
– Vừa có một máy bay hỏi ta mật hiệu. Nếu anh là trưởng phiên, trước tiên anh phải làm gì?
– Thưa, bấm chuông báo Hạm Trưởng.
– Trong khi chờ tôi lên, anh làm gì?
– Thưa, cho tắt hết đèn.
– Gì nữa?
Tôi cố nghĩ. Đầu óc trắng xóa như trang giấy. Trống rỗng. Kiến thức quân trường bỗng chốc tiêu tan.
Ông hỏi tiếp:
– Gặp máy bay địch thì sao?
– Thưa, cho nhận còi nhiệm sở tác chiến.
– Làm sao biết là máy bay địch?
Tôi lúng túng im lặng.
– Anh chưa học nhận dạng phi cơ, phải không?
– Thưa Hạm Trưởng, chưa.
– Vậy từ mai phải học. Hỏi Hạm Phó hồ sơ nhận dạng phi cơ. Phải nhận ra từ xa để đủ thì giờ ứng phó. Trong khi chờ, nhớ vài điều căn bản. Ban đêm, thấy đối vật di chuyển nhanh trên radar thì cho darken ship. Ban ngày, cứ coi phi cơ nào cũng là của địch, cho máy tiến hết tốc lực, chạy zic-zac. Cả hai trường hợp, báo tôi tức khắc.
– Thưa, nhận, rõ.
– Được rồi, về lại vị trí cũ.

Tôi chào ông rồi trở xuống phòng lái. Sau hai năm vùi đầu mệt xác ở quân trường, cứ tưởng tốt nghiệp là được phè cánh nhạn, nào ngờ còn mệt hơn: vừa công tác không ngơi, vừa học hỏi không nghỉ. Hết Huấn thị Điều hành, Hải Quy, Cẩm Nang Chiến Hạm… giờ thêm nhận dạng phi cơ. Xem chừng chẳng dễ. Chiếc nào mà chẳng có mũi, có thân, có cánh, có đuôi? Khác nhau ở chỗ nào, hả trời? Tôi thở dài, nhìn ra màn đêm, tự hỏi liệu mình có kham nổi không.
Màn hình radar đột nhiên tối đen. Cùng lúc, mọi ngọn đèn phụt tắt, chỉ còn chút sáng lờ mờ từ các bóng đỏ dự phòng. Trung Sĩ vận chuyển la lớn:
– Báo cáo, tay lái mất điện!
Anh thám xuất cũng hô:
– Báo cáo, radar, fathometer mất điện!
Tiếng Hạm Phó từ đài chỉ huy:
– Hai máy tiến hai.
Anh nhân viên kéo cần tốc độ lui hai nấc. Phút chốc, tiếng máy hạ xuống. Con tàu hơi khựng lại, như một con vật khổng lồ chậm bước để thở.

Sau tiếng leng keng xác nhận từ hầm máy, anh nhân viên báo:
– Đài chỉ huy, máy đã tiến hai.
Tiếng Hạm Phó lại oang oang:
– Trừ Thiếu Úy Bằng trở lên đài chỉ huy và nhân viên đánh cần tốc độ tiếp tục tại chỗ, tất cả xuống ngay hầm lái tay.
Vừa bước vào đài chỉ huy, tôi nghe tiếng Hạm Trưởng từ thành đài bên phải:
– Anh đeo điện thoại, chuyển lệnh tôi.
Tôi thi hành ngay, nhưng không nghe ông nói gì. Trong ánh đèn hải hành lờ mờ, mũi tàu đang từ từ xoay ngang sóng. Một mảng sóng lớn ập vào hông, tràn vào lòng tàu.
Tiếng con nít khóc ré, tiếng các bà mẹ nức nở vỗ về. Tôi tặc lưỡi thương cảm: “Theo chồng, theo cha chi cho khổ!” Nhưng chồng và cha cũng đâu hơn gì. Tiếng ọe mửa át cả tiếng sóng dập, gió rít. Đâu đó cất lên tiếng rên thảm thiết: “Trời ơi! Sao mà khốn khổ thế này hả trời! Cho tôi chết phứt đi cho rồi!”
Tôi đồng tình với lời rên này. Đúng là chết còn sướng hơn.

Bỗng tiếng Hạm Phó trong máy nghe:
– Đài chỉ huy, hầm lái tay sẵn sàng.
Tôi trình ngay Hạm Trưởng. Ông nhanh nhẹn bước tới, rọi đèn pin vào la bàn từ. Giọng ông dứt khoát:
– Tay lái hết bên trái.
Tôi chuyển lệnh. Hạm Trưởng vẫn đứng ôm la bàn, chốc chốc rọi sáng. Con tàu phần nào bớt lắc. Tiếng Hạm Trưởng:
– Hai máy tiến ba. Lái đường bảy sáu.
Lại truyền lệnh. Một lúc, tiếng đáp từ phòng lái:
– Máy tiến ba. Đúng đường bảy sáu.
Hạm Trưởng bước sang chiếc ghế dành riêng, ngồi thỏm xuống, bật lửa châm thuốc. Mùi thuốc không còn thơm như trên bờ; nó pha với khói tàu, mùi biển, mùi dầu máy. Tôi chẳng thấy thèm hút, nhưng tự hứa: ba tháng nữa, tôi sẽ hút, bất chấp biển động. Lời hứa vu vơ, vậy mà giúp tôi chống chọi với đêm dài.

Bỗng có tiếng la hoảng vang lên từ boong sau. Rồi dăm bóng người loáng thoáng chạy tới. Mười lăm phút sau, một Hạ Sĩ Quan lên báo cáo sự tình. Anh đang đi tuần phòng tai chợt thấy một lính địa phương quân ra mạn tàu để mửa, không bám chắc dây an toàn. Thình lình, con sóng lớn ập tới, nước trùm lên boong, kéo anh ta trượt đi, nửa người đã lòi ra ngoài thành tàu. Người đi tuần vội lao tới, kịp chộp lấy cánh tay. Hai lính địa phương nhào theo phụ. Ba người ghì, kéo được anh ta về tàu. Quá kinh hãi khiến mặt anh trắng bệch, mắt mở to, như không tin mình còn sống.
Bỗng có tiếng reo:
– Báo cáo, đã có điện!
Tiếng từ phòng lái vọng lên:
– Tay lái đã có điện! Radar, fathometer chạy tốt!
Hạm Trưởng cho lệnh giải tán hầm lái tay. Ông cho tăng tốc và lái hưng cũ đường bảy sáu.

Khi Hạm Phó xuất hiện, Hạm Trưởng ngỏ lời cám ơn rồi dặn:
– Lúc nào bớt sóng gió, cho máy tiến bốn, lái đường 84.
– Nhận rõ.
Hạm Trưởng rời đài chỉ huy. Hạm Phó ngồi phịch lên ghế bên vách, nhăn nhó:
– Thiếu Úy Bằng lái tàu, tôi… hết xí quách rồi!
Tôi “dạ”, nhìn quanh. Nhân viên trực phiên vẫn nghiêm chỉnh. Ý thức trách nhiệm giữ họ đứng đó, nhưng chắc lòng cũng như tôi: chỉ muốn nằm bẹp. Lúc này, nằm bẹp là… quốc sách. Song tôi chỉ có thể bắt chước Hạm Phó, ngồi lên chiếc ghế nhỏ ở thành đài đối diện. Đầu tôi nặng trịch. Tôi xoa thái dương, mắt nhìn trừng trừng phía trước.
Gió rít veo véo. Sóng đập đì đùng. Nước bắn rào rào. Thỉnh thoảng chiến hạm va phải một đợt sóng mạnh, cả thân run lên, kèm những tiếng răng rắc rợn người. Tôi vẫn chưa quen thứ âm thanh ấy — thứ âm thanh khiến tôi cứ ngỡ chiến hạm sắp gãy đôi. Nó như tiếng xương cốt đang rạn, và mỗi lần nghe, tôi lại thấy lo.

Tiếng Hạm Phó lạc trong gió:
– Cụ Bằng xuống kiểm soát hai máy thám xuất. Phải chắc tụi nó quan sát kỹ, đọc đúng con số. Có gì bất thường, báo cáo ngay.
Tôi đáp nhận, rồi xiêu vẹo lần ra đầu cầu thang. Cầu thang như dài hơn, sâu hơn mọi ngày. Hai tay bám chặt thanh sắt an toàn, tôi lần từng bậc. Con tàu nghiêng về phải rồi vặn mình ngả sang trái. Mỗi lần tàu nghiêng hết một phía, tôi phải dồn toàn lực vào hai tay để khỏi bị hất văng.
Xuống tới chân thang, tôi thận trọng bước về cửa phòng lái. Cửa là một tấm sắt nặng, đóng kín khi sóng to gió lớn. Cần khóa đang dựng đứng; muốn mở phải vặn cho nằm ngang. Với mức tròng trành này, canh không đúng lúc, cánh cửa ngàn cân có thể bật tung vào người; mở được mà không lách vào kịp, nó ập lại, chặt gãy tay chân. Tôi từng chứng kiến một người bị cửa kẹp, tiếng xương gãy đến giờ vẫn còn trong tai.
Một tay bám thanh an toàn, tay kia nắm cần chốt, tôi nín thở chờ. Vừa lúc con tàu về thế thăng bằng, tôi xoay chốt, mở vụt cánh cửa, lách vào thật lẹ. Chân vừa rút khỏi ngưỡng thì cửa đã ập sầm sau lưng. Tôi gài chốt, hú hồn.

Phòng lái lờ mờ. Hạ Sĩ Thành ngồi trước vành tròn bánh lái. Màn ảnh radar đặt sát vách. Anh Trung Sĩ Thám Xuất đưa tay chào. Tôi gật đầu:
– Các anh đều êm cả chứ?
Anh cười:
– Cám ơn Thiếu Úy, tụi này cũng đỡ.
Tôi vỗ vai Hạ Sĩ Thành:
– Anh vẫn ôm “bánh xe nước mía”? Chì quá!
Anh cười thân thiện:
– Cùng phiên trực với Thiếu Úy mà. Trông Thiếu Úy cũng tỉnh táo thua ai!
Cái tếu của Thành như một liều thuốc, giúp tôi tỉnh ra đôi chút.
Tôi bước sang nhìn vào mặt kính radar. Từ tâm điểm, một vệt sáng quét chầm chậm, đều đều, giáp một vòng. Ánh sáng khuếch tán làm mắt và đầu tôi căng nhức. Tôi lùi lại, tựa lưng vào vách. Không thấy sóng ập tới, chỉ nghe nó gầm gừ, rồi cảm giác con tàu bị nhấc bổng, treo lơ lửng, và cú đập xuống chấn động. Mỗi lần, cả con tàu lại rên xiết, thân kêu răng rắc. Tôi lại thấy sợ — không phải cái sợ băng qua tử địa sông Bồ Đề khi bị phục kích, mà một nỗi sợ âm ỉ, kéo dài, mài mòn thần kinh. Tôi vừa nhận ra: ngoài khơi xa, nếu tàu gặp trở ngại, sẽ chẳng có rừng đước nào để tấp vào, cũng chẳng có cửa biển nào để chạy ra. Chỉ có con tàu mong manh và đại dương mênh mông. Cái cảm giác bất lực ấy còn kinh khủng hơn bất kỳ trận đánh nào.

Tôi thấy lạnh khắp người. Sự mong manh của kiếp người bỗng hiện rõ trên khối sắt chênh vênh giữa biển bạo tàn. Ruột gan trào lên, đè nghẹt buồng phổi. Bụng quặn. Nước mắt ứa ra. Đến cơn quặn thứ ba, tôi lao tới chiếc xô gần cửa. Chưa kịp gục mặt, miệng đã há rộng. Tôi nôn thốc hết thức ăn bữa trưa, rồi đến những thứ lợn cợn chắc còn từ bữa sáng. Nước mắt ràn rụa. Tôi nín thở mà vẫn ngửi thấy mùi tanh nồng nặc. Cảm giác như đang nôn ra cả tuổi trẻ của mình lẫn những mộng tưởng ngày nào.
Tôi không dám đứng lên, vẫn ôm chiếc xô, chờ cơn kế tiếp. Trong giây phút toát mồ hôi ấy, tôi nghe Hạ Sĩ Thành ngâm nga: “Hôm qua lên gác đài cao, trông cá cá lặn, trông sao sao mờ, buồn trông thiếu úy ôm xô…” Tôi bật cười cay đắng. Tên này quả danh bất hư truyền, chẳng nể ai. Rồi tôi bỗng thấy nhẹ người. Theo kinh nghiệm lần trước, tôi hiểu công tác “nuôi cá” tạm dứt. Lần sau lại cần thời gian…
Tôi gượng đứng lên, bám vào vách, hổn hển. Đúng lúc ấy, giọng ca Thanh Thúy văng vẳng đâu đây. Ngỡ mình mê, tôi lắng tai. Giọng ca nỉ non, rõ từng tiếng: “… thì dù xa xôi tôi vẫn là của người…” Tôi cười thầm: “Cám ơn em. Cho dù có em ở đây, anh cũng chẳng ăn được cái giải gì.” Nghe tôi cười, Hạ Sĩ Thành quay sang:
– Phòng vô tuyến chơi điệu lắm, Thiếu Úy. Những lúc sóng to biển động, họ mở nhạc yêu cầu, nghe hết xảy.
Tôi gật đầu tán đồng nhưng không dám nói. Hé miệng là mửa tiếp chứ chẳng nói được.
– Thiếu Úy! Có écho hướng hai giờ, cách năm hải lý.

Trung Sĩ Tất chỉ màn ảnh. Tôi giật mình. Năm hải lý là quá gần. Tôi lặp lại chi tiết vào loa báo đài chỉ huy.
– Báo cáo liên tục hướng và khoảng cách.
Tôi đáp nhận rồi chỉ thị Trung Sĩ Tất. Đó là nghề của anh chàng; tôi chỉ tập sự.
Tôi nhìn qua lỗ châu mai. Mặt biển đen thẫm rồi mất hút trong sương. Chẳng dấu hiệu nào của một đối vật. Tôi tự hỏi liệu trí tưởng tượng của mình có đang giở trò lừa.
– Hướng hai giờ, bốn hải lý.
Tiếng Hạm Trưởng vọng xuống:
– Thiếu Úy Bằng lên đài chỉ huy.

Tôi đáp nhận rồi vội bước. Vừa lên tới nơi, nghe Trung Úy Tùng la lớn:
– Kéo ba tiếng còi dài.
Tiếng còi lay động cả đại dương. Từ chuồng cu gắn đèn tín hiệu, cao hơn nóc đài chỉ huy, anh giám lộ nói vọng xuống:
– Báo cáo, đã thấy ánh đèn hướng hai giờ!
Hạm Trưởng lớn tiếng:
– Ánh đèn ra sao?
– Thưa, nó đang đánh đèn.
– Nó nói gì?
– Thưa, nó hỏi which ship.
– Hỏi lại: which ship.
Anh giám lộ chuyển tín hiệu. Đèn đối diện đáp trả. Tôi nhận ra nội dung cùng lúc anh giám lộ nói to:
– Thưa, USN ship.
– Đánh lại: VNN ship.
Đèn từ tàu Hải Quân Mỹ lại chớp. Anh giám lộ báo:
– Thưa Hạm Trưởng, nó hỏi where are you heading.
– Bảo nó Hoàng Sa. À không, Pattle Island.

Anh giám lộ lại vật lộn với sóng gió và đèn hiệu. Radar báo tàu bạn cách năm trăm feet.  Tôi nhìn ra ngoài, ngạc nhiên: “Vậy mà chỉ thấy đèn chớp, hình dạng vẫn bặt tăm. Tàu ma chăng?”
– Thưa Hạm Trưởng, nó nói best wishes to the captain and sailors.
Hạm Trưởng đáp:
– Trả lời thank you, same to you.
Khi anh giám lộ leo xuống, Hạm Trưởng thân mật:
– Khá lắm. Cám ơn em.
Con tàu lầm lũi đi, bóng tối tan dần, sóng cũng dịu. Khi kim đồng hồ chỉ đúng bảy giờ bốn mươi lăm, Trung Úy Tùng cho nhận còi đổi phiên. Tiếng còi quen thuộc vang lên, nghe thật dễ thương. Tôi thở phào. Lúc Tâm lên nhận phiên, tôi đùa trước khi xuống ăn sáng:
– Bảo đảm mày dư thời gian nhớ Tuyết.

* * *

Trời còn thương, tự dưng chiến hạm thôi lắc lư. Thật hiếm khi bữa sáng lại đông đủ sĩ quan như hôm nay. Không như bữa trưa và bữa tối bắt buộc đủ mặt, đúng giờ, đúng chỗ, bữa sáng được tự do giờ giấc lẫn chỗ ngồi, trừ ghế Hạm Trưởng. Có lẽ, sau trận bão, ai cũng đói.
Hạm Trưởng ngồi đầu bàn, gương mặt sạm nắng đã giãn ra sau bao căng thẳng. Tôi thủ phận, vẫn bám ghế của mình. Mùi cà phê nóng và mùi trứng chiên thơm lừng cả gian phòng. Hạm Trưởng nâng ly nước, cười khà:
– Thật vui, cuối cùng Long Vương cũng chịu buông tha chúng ta!
Cả bàn cười ồ. Hạm Phó Đắc, mặt còn tai tái, gãi đầu:
– Thưa Hạm Trưởng, đêm qua tôi suýt như anh địa phương quân. Trượt chân lăn nhào, may vớ được cột an toàn.
Hạm Trưởng xuýt xoa:
– Mừng là còn gặp anh. Đừng ỷ y. Cẩn thận vẫn hơn.
Cơ Khí Trưởng Tô Văn Hải nối lời:
– Tôi thì suốt đêm ôm máy tàu, tưởng như ôm người yêu. Lần này về, chắc xin đổi qua bộ binh cho khỏi ói mửa!
Cả bàn cười rộ. Hạm Trưởng lắc đầu:
– Các anh đều biết, tàu cập bến là quên ngay sóng gió. Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi!

Mọi người vui vẻ thanh toán phần ăn. Tôi dứt điểm một dĩa trứng chiên, một ổ bánh mì. Vậy mà vẫn còn thòm thèm. Đành nhấp cà phê. Ôi sao thơm ngát, ngọt ngào. Cái cảm giác được sống, được thưởng thức, thật đáng đồng tiền bát gạo!
Giọng ấm áp của Hạm Trưởng:
– Đến bữa trưa, tôi đề nghị ăn ít thôi, dành bụng chiều ăn vích. Hoàng Sa nhiều vích lắm.
Tôi hỏi:
– Vích là con gì, thưa Hạm Trưởng?
– Một loại rùa, lớn hơn cả ba ba. Thịt ngon hơn thịt gà.
– Nghe hấp dẫn. Nhất định sẽ thử.
Bỗng chuông điện thoại reo. Ngồi gần, tôi vội đứng dậy nhấc máy, xưng tên:
–  Anh báo với Hạm Trưởng còn cách điểm neo mười lăm hải lý.
Tôi trình lại. Ông nói:
– Sắp tới Hoàng Sa.

Thấy ông có vẻ muốn đứng lên, tôi vội hỏi:
– Thưa Hạm Trưởng, vừa rồi nghe Hạm Trưởng nói mới biết Pattle Island là đảo Hoàng Sa. Vậy những đảo còn lại có tên Việt không?
Ông gật đầu:
– Trong các tài liệu và bản đồ cổ, các đảo đều mang tên Việt, rất lâu trước khi người ngoại quốc biết đến và tự tiện đặt tên mới. Vào thế kỷ mười sáu, các thương thuyền Bồ Đào Nha đi qua giao thương với Tàu, thấy vùng này nhiều đảo và bãi san hô hiểm trở nên gọi là Paracel Islands – nghĩa tiếng Bồ là quần đảo san hô nguy hiểm. Hai thế kỷ sau, một công ty người Anh đến khảo sát, lấy tên những người tham gia đặt cho từng đảo. Như Thomas Pattle tức đảo Hoàng Sa, William Money tức Quang Ánh, John Roberts tức Hữu Nhật, James Drummond tức Duy Mộng, vân vân.
Hạm Phó lên tiếng:
– Thưa Hạm Trưởng, ta đặt tên Hoàng Sa cho một đảo cát vàng rồi gọi cả quần đảo tên đó. Nhưng như Hạm Trưởng vừa nói, tụi ngoại quốc họ đặt hai tên khác nhau.
– Tôi đã nói họ tự tiện.
– Đảo có bãi cát vàng thì đặt Hoàng Sa, còn các đảo khác thì sao?
– Đảo có cây cối rậm rạp thì đặt Phú Lâm. Đảo ở hướng nào thì gọi tên theo hướng đó như đảo Bắc, đảo Nam. Có đảo sẵn tên ngoại quốc đặt thành tiếng Việt như đảo Tri Tôn là từ họ Triton.
Trung Úy Hải hỏi:
– Thưa Hạm Trưởng, còn các tên Quang Ánh, Duy Mộng, Hữu Nhật? Nghe thật đẹp mà xem ra chả ăn nhậu vào đâu!
– Có chứ, mà đáng kính nữa. Thời Gia Long, vua lập một đội thủy quân ra quần đảo Hoàng Sa khảo sát, đo đạc và dựng bia chủ quyền. Không rõ ai bắt chước ai, vị đội trưởng cũng lấy tên các nhân viên đặt cho các đảo: Phạm Quang Ánh, Phạm Hữu Nhật, Lê Duy Mộng.

Chuông điện thoại lại reo. Tôi nhấc máy:
– Thiếu Úy Bằng nghe.
– Hạm Trưởng còn đó?
– Dạ, còn.
– Trình Hạm Trưởng, cách điểm neo mười hải lý.
Tôi trình lại. Hạm Trưởng vội rời phòng. Chúng tôi bước theo.
Mặt trời đã lên khá cao. Ngoài vài đám mây hồng, trời xanh thẳm. Nước biển trong veo. Gió mát rượi. Hai hòn đảo nối nhau hiện ra chếch mũi, vừa đủ nổi trên mặt nước. Tôi chưa từng thấy đảo nào nhỏ và thấp đến vậy.
Càng tới gần, hai đảo càng cao dần, lớn dần. Khi chiến hạm chạy ngang, một đảo trông như con rùa bơi bập bềnh, hòn kia như chiếc tiềm thủy đĩnh lặng lờ trôi.
Hạm Trưởng cho lệnh giảm máy. Con tàu sựng lại, tiến thật chậm. Chiều sâu được báo cáo liên tục. Lệnh vận chuyển cũng liên tục ban ra để giữ an toàn con tàu. Không xa bên hông là những dãy san hô ngầm long lanh khoe sắc.

Hạm Trưởng bất ngờ chỉ tay xuống rạn san hô:
– Con vích kia kìa. Gần cửa hang.
Tôi nhìn kỹ. Nó là con rùa, chỉ lớn hơn thường. Tôi cũng chưa từng ăn rùa. Tối nay nhất định phải thưởng thức.
Một mùi hương lạ thoang thoảng đưa tới, sảng khoái. Tôi nghĩ chỉ ngoài khơi xa mới có hương vị tuyệt vời này.
Hạm Trưởng cho giảm máy thêm, thư thả tiến qua vùng nước trong veo, phô cả đáy biển toàn cát đá vàng tươi. Cá lớn nhỏ tung tăng bơi lượn.
Hòn đảo hiện ra trước mũi tàu. Tôi chỉ một đốm trắng nằm cuối đảo, hỏi Trung Sĩ Tất đứng cạnh:
– Đảo gì vậy anh Tất? Cái khối màu trắng ở cuối đảo là gì thế?
– Đó là đài khí tượng đảo Hoàng Sa. Tin khí tượng cho tàu chạy ven biển là từ đài đó.
– Thì ra vậy!
Tôi mỉm cười, thích thú với khám phá mới.

Đúng chín giờ, Hạm Trưởng ban lệnh thả neo, cách đảo nửa cây số. Đó là điểm neo an toàn nhất, dẫu vây quanh là vô vàn rạn san hô. Con tàu xuôi theo gió, nằm song song với hòn đảo. Bãi cát vàng chạy vòng quanh rừng cây rậm. Nổi bật trên nóc đài khí tượng là lá cờ vàng ba sọc đỏ, ngạo nghễ phất phới giữa nền trời xanh.
Tôi đăm đăm nhìn lá cờ. Rồi như một thói quen, tôi chụm hai chân, đứng vào thế nghiêm, đưa bàn tay lên ngang mày. Trong tôi, những xúc động dạt dào dâng lên. Tôi chợt nhận ra: con đường đến Hoàng Sa không chỉ là một hải trình. Nó là con đường vượt sóng gió gian nguy, vượt nhọc nhằn âu lo, để gìn giữ mảnh đất quê hương.

Vũ Thất

(Còn tiếp)