BIỆN ĐẠO (BÀI 9)
NHÂN CỦA ĐẠO
KHỔNG LÀ NUÔI DƯỠNG ĐỂ PHÁT TRIỂN
Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
***
Lời thưa trước
Bài này tuy ngắn nhưng nội
dung cho chúng ta hiểu được điểm trọng yếu đạo tiên vương, tức đạo Khổng mà các
Nho gia về sau đặc biệt Tống Nho đã hiểu không đúng và giải thích sai lầm theo
ý riêng của họ sinh ra sự hà khắc khó khăn trong việc học đạo thánh hiền.
BÀI 9
Nhân 仁 là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến
tranh
Nhân 仁l à đạo nuôi dưỡng(a). Khi áp dụng nhân
vào việc quản lý quốc gia thì tích cực
dùng người “thẳng” (trực 直) chung với người “cong”
(uổng 枉)
để sửa người “cong” thành ra người “thẳng” (1). Khi áp dụng nhân
vào việc tu thân thì nuôi dưỡng, khuyến
khích việc làm điều tốt để các tật xấu tự nhiên mất đi. Đó là thuật (cách làm thực tế) quản lý quốc gia và giáo dục dân của các tiên vương.
Giải thích sai của Tống Nho gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội
Các Nho gia đời sau không thấu hiểu đạo tiên vương nên tự ý lấy trí tuệ riêng của bản thân họ và giải thích đạo tiên vương là làm thiện trừ ác, phổ biến lan rộng lẽ trời và ngăn cấm lòng ham muốn (2). Trong khi xã hội thực tế đương thời không phải như thời đại Nghiêu Thuấn, và con người không phải là thánh nhân (mà có thể diệt hết lòng ham muốn), do đó tất nhiên xấu nhiều tốt ít. Do đó, một khi giải thích này trở thành mục tiêu để họ theo đuổi thì trong xã hội dưới ảnh hưởng của họ trở nên đầy sát khí (không khí sát phạt). Do đó, đối với việc quản lý quốc gia thì đưa đến tình trạng Chu Hy biên soạn lại sách ghi chép lịch sử tựa Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang theo quan điểm (danh phận luận và chính thống luận) của riêng ông thành sách Tư Trị Thông Giám Cương Mục (3). Đối với việc tu thân thì vua Thái Tông nhà Minh đã ra chiếu chỉ sai Hồ Quảng và các người khác biên soạn sách Lý Tính Đại Toàn theo quan điểm của Tính Lý học của Tống Nho (4). Chủ trương này đòi hỏi mức độ hà khắc (độc dữ khắc khổ) mà cả người (người được lấy làm đối tượng) lẫn ta (người chủ trương) đều không chịu đựng nỗi. Kết quả đưa đến việc người đời cho rằng các Nho gia yêu thích việc công kích người khác. Không phải là việc đáng buồn lắm sao?
Từ thời Thương Ưởng (5) về sau, không những ở triều đình mà ngay cả trong các trường học ở địa phương phương pháp nghiêm khắc và độc ác này được áp dụng (tức chủ trương về Khổng học của Tống Nho nói trên được dùng để giảng dạy). Việc quản lý quốc gia và giáo dục dân này không thể sánh kịp với 3 thời Hạ, Ân và Chu!
Tóm tắt ý quan trọng
- Nhân 仁 là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh.
- Do hiểu sai nên giải thích sai đạo Khổng của Tống Nho nên gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội làm cho người đời nghĩ rằng đạo Khổng là khắc nghiệt (hà khắc).
Nguyễn
Sơn Hùng
Dịch
xong ngày 6/8/2026
Xem
lại và bổ sung ngày 30/8/2026
Nhận
xét
(a) Ngay khi bắt đầu
mục
Nhân trong Biện Danh, Sorai viết “Nhân
giả. Vị trưởng nhân an dân chi đức dã. Thị thánh nhân chi đại đức dã. 仁者、謂長人安民之徳也。是聖人之大徳也”, nghĩa là: “Nhân là đức an dân của
người đứng đầu. Là đại đức của thánh nhân”. Thế tại sao ở đây ông là nói “Nhân
là đạo
nuôi dưỡng”?
Khi bắt đầu mục Đức của Biện Danh Sorai viết “Đức giả đắc giả. Vị nhân các sở đắc ư đạo dã”, nghĩa là: 徳者得也。謂人各有所得於道也。Đức là được (đạt). Đức để gọi những phần nội dung của Đạo có được ở mỗi người. Hơn nữa, Nhân là đức quan trọng nhất của đạo tiên vương và thống lãnh, tổng hợp mọi thứ đức nên có thể nói nhân là đại diện của của đạo tiên vương nên ở bài này Sorai nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng” chăng? Tuy nhiên, đây chỉ là suy đoán của người dịch. Bởi vì Sorai rất nhiều lần viết trong Biện Đạo, Biện Danh và Luận Ngữ Trưng rằng “lễ và nghĩa” không phải là đức mà là đạo. Như nói ở trên có lẽ vì nhân là đứng đầu trên mọi thức đức và tiêu biểu cho đạo tiên vương nên chỉ có Nhân là được xem vừa là đạo vừa là đức chăng?
Nhận
xét tổng thể
(1) Chính trong thời
đại chiến tranh đang xảy ra nhiều nơi trên thế giới hiện nay càng cho chúng ta
thấy phương châm nhân = nuôi dưỡng để
phát triển càng thêm quan trọng. Phải nói để thực hiện phương châm này
trong việc quản trị quốc gia đối với đối tượng tích cực (những cá nhân, tổ chức
làm điều tốt) thì dễ và được nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, đối với đối tượng
tiêu cực (những cá nhân, tổ chức làm điều xấu) thì rất khó vì cần phải mất nhiều
công sức, tài chánh cùng nhẫn nại chịu đựng cho đến khi có hiệu quả. Tuy nhiên,
không nên vì vậy mà hoàn toàn bỏ qua không thực hiện thử. Chúng ta có thể thấy
những nước tiên tiến đã thực hiện trong vài lãnh vực và đã thành công. Để xây dựng
thế giới hòa bình thật sự, tất cả mọi người cần gắng sức trong phạm vi có thể của
mình là điều quan trọng. Ít nhất cần triệt đễ phương châm này trong lãnh vực
giáo dục.
Ghi
chú
(1)
Trong chương 19 thiên 2 Vi Chính sách Luận Ngữ viết:
哀公問曰:何為則民服?孔子對曰:舉直錯諸枉, 則民服;舉枉錯諸直,則民不服。
Ai Công vấn viết: “Hà vi tắc
dân phục?” Khổng Tử đối viết: “Cử trực thố chư uổng, tắc dân phục. Cử uổng thố
chư trực, tắc dân bất phục.”
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
Vua Ai Công hỏi: “Làm thế nào thì dân phục tòng?” Khổng tử đáp: “Đề cử người
ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục tòng, đề cử người cong
queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục tòng.”
Chú
thích (Nguyễn Hiến Lê)
Ai Công là vua nước Lỗ, con Định Công, lên ngôi năm TCN 494. Bài này có thể
hiểu hai cách: chữ thố [錯] là bỏ, chữ chư [諸] là hết thảy, như vậy “cử trực
thố chư uổng” nghĩa là: Dùng người ngay thẳng, bỏ hết những người cong
queo. Chúng tôi hiểu theo Triệu Thông (Luận ngữ dịch chú – Hữu Liên xuất bản): thố
[錯] là đặt lên, chư [諸] là hai chữ chi ư [之於] hợp lại (như từ ảnh = anh ấy của ta, hoặc từ Smog = Smoke + fog của Anh)
mà dịch như trên. Triệu Thông cho rằng hiểu như vậy mới hợp với câu “cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực”
trong bài 20 thiên XII (Nhan Uyên): cứ đề cử người ngay thẳng lên trên người
cong queo thì người cong queo cũng tự ý rút đi, nếu không tự sửa mình, không cần
phải đuổi hết bọn họ đi.
Chú thích của người dịch: Giải thích của Sorai cũng giống như Triệu Thông. Đón xem bản dịch Luận Ngữ
Trưng của người dịch.
Trong chương 22 thiên 12 Nhan Uyên
sách Luận Ngữ viết:
樊遲問仁。子曰:愛人。 問知。子曰:知人。 樊遲未達。子曰:舉直錯諸枉,能使枉者直。 樊遲退,見子夏曰:鄉也,吾見於夫子而問知。子 曰:“舉直錯諸枉,能使枉者直。”何謂也? 子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶, 不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者 遠矣。
Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: “Ái nhân.” Vấn trí. Tử viết:
“Tri nhân.” Phàn Trì vị đạt. Tử viết: “Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả
trực.” Phàn trì thối, kiến Tử Hạ viết: “Hướng dã ngô kiến ư Phu tử nhi vấn trí.
Tử viết: ‘Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.’ Hà vị dã?” Tử Hạ viết:
“Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả
viễn hỹ. Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
Phàn Trì hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Yêu người”. Hỏi về đức trí, đáp:
“Biết người”. Phàn Trì chưa hiểu rõ, Khổng tử giảng thêm: “Đề bạt người chính
trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính
trực”. Phàn Trì lui ra, kiếm Tử Hạ hỏi: “Mới rồi, tôi vô yết kiến thầy, hỏi về
trí. Thầy bảo: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến
cho người cong queo hoá ra chính trực”. Như vậy nghĩa là sao?” Tử Hạ đáp: “Lời
thầy hàm súc lắm. Ông Thuấn khi có thiên hạ (lên ngôi thiên tử) tuyển chọn
trong dân chúng mà đề bạt ông Cao Dao, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh. Ông
Thang khi có thiên hạ, tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Y Doãn, mà những
kẻ bất nhân đều xa lánh.”
Chú
thích (Nguyễn Hiến Lê)
Cao Dao là hiền thần vua Thuấn. Y Doãn là hiền thần vua Thang.
(2) Trong Chu Tử Chương Cú của chương 6 phần Truyện của sách Đại Học
viết:
言欲自脩者、知為善以去其惡、則當實用其力而禁止其自欺、使其惡惡則如惡惡臭、好善則如好好色。
Ngôn dục tự tu giả, tri vi
thiện dĩ khứ kỳ ác, tắc đương thực dụng kỳ lực nhi cấm chỉ kỳ tự khi, sử kỳ ố
ác tắc như ố ác xú, háo thiện tắc như háo hảo sắc
Tạm
dịch
Ý nói người muốn tự rèn luyện bản thân thì cần phải biết thực hiện điều thiện
(tốt) từ bỏ điều ác (xấu), cấm tự lừa dối mình, bắt bản thân ghét điều ác như
ghét mùi hôi thúi, yêu thích điều thiện như yêu thích màu sắc đẹp.
Trong Chu Tử Chương Cú của chương 1 phần Kinh của sách Đại Học viết:
蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也
Cái tất kỳ hữu dĩ tận phu thiên lý chi cực,
nhi vô nhất hào nhân dục chi tư dã.
Tạm
dịch
Chắc chắn cần phải hết
sức đạt đến điểm cao nhất của lẽ trời và không có 1 chút nhỏ nào lòng ham muốn
riêng tư.
Trong Tứ Thư Đại Toàn khi chú giải câu Nhân
giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm人皆有不忍人之心 (con người ai cũng có lòng không nỡ bỏ qua người đang bị
khốn khổ) trong chương 6 thiên 3 Công
Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử viết:
新安陳氏曰…. 此章亦在於遏人欲擴天理也
Tân An Trần thị viết…thử chương diệc tại ư át nhân dục khuếch
thiên lý dã.
Tạm
dịch
Trần Lịch (1252-1334, thời Nguyên) của Tân An nói: ...Chương này lại nói cấm lòng ham muốn của con người và làm rộng lớn lẽ trời.
(3) Tư Trị Thông Giám Cương Mục thường được gọi là Thông Giám Cương Mục do Chu Hy biên soạn lại sách sử Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quan (1019~ 1086) theo lập luận danh phận và chính thống của ông chứ không có thông tin lịch sử mới. Sách gồm có 59 quyển.
Tư Trị Thông Giám vốn có tên là Thông Chí通志, vua Tống Thần Tông đã đổi thành Tư Trị Thông Giám. Sách gồm có 294 quyển.
(4) Lý Tính Đại Toàn. Thời Minh, Chu tử học trở thành môn học của
quan lại nên Vĩnh Lạc đế (1360~1424) đã ra lệnh cho Hồ Quảng胡広 và
nhiều học giả khác biên soạn Tứ Thư Đại
Toàn, Ngũ Kinh Đại Toàn, Lý Tính Đại Toàn, gọi là Vĩnh Lạc Tam Đại Toàn.
Lý Tính Đại Toàn gồm 70 quyển. Theo Quốc Ngữ Đại Từ Điển
(tiếng Nhật) , quyển 1 ~ 25 biên tập các nguyên điển của Chu tử周子(Chu Đôn Di), Trương tử張子(Trương Tái), Chu tử朱子(Chu
Hy) và chú giải chi tiết; quyễn 26 ~70 biên tập các giải thích của các học giả
khác trong Chu tử học theo phân loại của 13 hạng mục.
(5) Thương Ưởng商鞅 (TCN 390 ~ TCN 338) là nhà chính trị, Tướng quân, thuộc học phái chủ trương pháp luật và hình phạt là quan trọng trong việc quản lý quốc gia (pháp gia), binh gia của nước Tần thời Chiến Quốc của Trung Quốc.
Nguyên
văn
仁者養之道也。故治国家之道。挙直錯諸枉。能使枉者直矣。修身之道。亦養其善而悪自消矣。先王之道之術也。後世儒者不識先王之道。逎逞其私智。以謂為善而去悪。拡天理而遏人欲也。此見一立。世非唐虞。人非聖人。必悪多而善少。則殺気塞天地矣。故通鑑之於治国。性理之於修身。人与我皆不勝其苛刻焉。遂使世人謂儒者喜攻人。豈不悲哉。大氐商鞅之後。不啻朝廷。雖庠序亦用其法。宜其不及三代矣。
Âm
Hán Việt của nguyên văn
Nhân giả dưỡng chi đạo dã. Cố trị quốc gia chi đạo. Cử trực thác chư uổng. Năng sử uổng giả trực hỹ. Tu thân chi đạo. Diệc dưỡng kỳ thiện nhi ác tự tiêu hỹ. Tiên vương chi đạo chi thuật dã. Hậu thế Nho giả bất thức tiên vương chi đạo. Tù sính kỳ tư trí. Dĩ vị vi thiện nhi khứ ác. Khuếch thiên lý nhi át nhân dục dã. Thử kiến nhất lập. Thế phi Đường Ngu. Nhân phi thánh nhân. Tất ác đa nhi thiện thiểu. Tắc sát khí hàn thiên địa hỹ. Cố Thông Giám chi ư trị quốc. Tính lý chi ư tu thân. Nhân dữ ngã giai bất thắng kỳ hà khắc yên. Toại sử thế nhân vị Nho giả hỹ công nhân. Khởi bất bi tai! Đại để Thương Ưởng chi hậu. Bất thí triều đình. Tuy tường tự diệc dụng kỳ pháp. Nghi kỳ bất cập tam đại hỹ.
Tài
liệu tham khảo
(1)
Trách nhiệm biên tập Bitô
Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
(2)
Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật
Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.