Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Đời Thủy Thủ III - Chương 30: Biết Đến Bao Giờ

 

                                     

Đời Thủy Thủ III

Chương 30: Biết Đến Bao Giờ

Tiếng chuông báo giờ giải lao vang lên. Trong khoảnh khắc, sân trường rộn ràng các tà áo trắng, bốn hướng rôm rả tiếng gọi tiếng cười.

Huỳnh Như Oanh bước chậm vào phòng giáo sư, rót ly nước lạnh, ngồi vào ghế trống giữa bàn dài. Nàng nghĩ, nếu không có mươi phút xả hơi này, có lẽ nàng đã ngất đi ngay trên bục giảng”. Đêm qua, tự dưng nàng mất ngủ, có thể do soạn bài quá khuya rồi quá giấc. Và từ lúc đó, nàng cứ nghĩ ngợi miên man. Muốn xin dạy trường khác mà trường nào? Lấy lý do gì? Võ Bằng đã nhận được thư của nàng chưa? Chừng nào anh về? Khi về có đến nàng không? Cũng may hôm nay chỉ dạy nửa buổi, nàng chỉ cần cố gắng thêm hai tiếng nữa thôi…

Như Oanh khép mắt, thở đều, cố gạt ra ngoài tai những câu chuyện rì rầm quanh bàn: chuyện người yêu, chuyện chồng con, chuyện gia đình. Nhưng đoạn đối thoại của hai cô giáo ngồi đối diện khiến nàng mở mắt.

– Báo hôm nay có bài phóng sự về chuyến công tác của một chiến hạm ở vùng đảo Thổ Châu, Phú Quốc. Tác giả ký tên Lan Như. Lan Như thì hẳn là đàn bà. Đàn bà đi trên tàu chiến! Khó tin quá. Dám ông nào lấy bút danh đàn bà cho thêm phần hấp dẫn!

Như Oanh nhìn sang. Cô bạn đồng nghiệp còn đang đọc. Nàng nôn nóng chờ đợi. Bài viết về chiến hạm hoạt động vùng Phú Quốc, biết đâu… biết đâu có nhắc đến chiến hạm của Võ Bằng. Nhưng mãi đến khi chuông báo hết giờ giải lao, cô bạn mới bỏ tờ báo xuống.

Như Oanh nấn ná chờ cô bạn ra khỏi cửa, vội vàng cầm tờ báo lên. Dòng tựa hiện ra rõ ràng đến nhói tim: “Chiến hạm Rạch Gầm: Pháo đài di động giữa trùng khơi Thổ Châu”.

Mắt nàng dán chặt vào bức ảnh nhỏ chiếm một góc trên trang nhất, chụp Võ Bằng đang nghiêng người chỉ tay về hòn đảo hiện giữa biển mênh mông.

Nàng định đọc tiếp nhưng bài khá dài, vội uống ly nước rồi đi nhanh về lớp. Một cảm giác lẫn lộn tràn ngập: vui mừng, nhung nhớ, lo âu… Nàng ra đề cho học sinh làm bài, rồi ngồi thừ người…

Đúng mười hai giờ trưa nàng rời trường. Trên đường về, nàng ghé sạp báo mua tờ Ngôn Luận.

***

Vào phòng riêng, nàng mở tờ báo đọc không sót một chữ:

“Phóng sự chiến trường đặc biệt của Lan Như.

Ngày 3 tháng 12 năm 1969, tôi đến An Thới sau nửa ngày xe đò từ Sài Gòn và bốn tiếng trên một chiến đỉnh từ Rạch Giá. Tôi được Căn cứ Hải Quân An Thới cấp cho một phòng tạm trú và sáng hôm sau được Đại tá Lương Đình Thám Tư lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên hải tiếp kiến.

Ông nói qua về lực lượng và vùng trách nhiệm của ông. Với mười lăm ngày công tác của tôi, ông chỉ định tôi tháp tùng Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm HQ 266 trong tám ngày đầu. Sau đó tôi sẽ chuyển sang một chiến hạm khác…

Người tôi gặp ở bãi biển một ngày trước đó cho tôi cái cảm tưởng là một tên phất phơ, hóa ra là Hạm Trưởng chiếc Rạch Gầm. Ông tiếp tôi bằng thái độ dè dặt nhưng tử tế. Tôi được ăn ở trong khu vực sĩ quan, được tự do tiếp xúc thủy thủ đoàn và tìm hiểu chiến hạm.

Chín giờ sáng ngày 5 tháng 12, Rạch Gầm rời quân cảng An Thới. Khi con tàu ra khỏi cửa vịnh, đất liền biến mất rất nhanh. Quanh tàu, mặt nước phẳng lặng, mênh mông, trải dài đến tận đường chân trời. Thỉnh thoảng, một đàn hải âu vụt ngang mũi tàu, lượn vài vòng rồi mất hút.

Gió nhẹ từ hướng đông bắc, biển êm, thuận lợi cho hải trình dài bốn tiếng đến quần đảo Thổ Châu – một vị trí tiền tiêu quan trọng ở cực Tây Nam lãnh hải.

Rạch Gầm là loại trợ chiến hạm thiết kế gọn nhưng trang bị súng lớn nhỏ đủ loại, thích ứng chiến đấu mọi tình huống và hoạt động dài ngày không cần tiếp tế.

Màu nước biển thay đổi rõ rệt. Càng xa đất liền màu càng đậm hơn. Từ xanh nhạt chuyển dần sang xanh thẫm, báo hiệu tàu đã đi vào vùng nước sâu hơn. Sóng và gió tương ứng với độ di chuyển mặt trời. Càng trưa và về chiều, gió mạnh dần, sóng thêm cao.

Từ đài chỉ huy, mệnh lệnh được ban ra ngắn gọn, chính xác. Các ca trực nối tiếp nhau. Tiếng máy tàu gây nên âm nhịp, đều đều kiên trì như hơi thở của chiến hạm.

Các sĩ quan thường xuyên theo dõi vị trí, điều chỉnh hướng đi phù hợp với dòng chảy, độ giạt.

Tôi bắt đầu cảm phục sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ, đòi hỏi mức chính xác và kỷ luật cao. Với người lính biển, đó là công việc thường ngày. Nhưng với tôi, đó là hình ảnh hoàn toàn khác biệt với đời sống trên đất liền: xô bồ, bon chen, ồn ào, hời hợt.

Sau hành trình hơn ba tiếng, hình dáng vài đảo nhấp nhô hiện ra. Rồi một đảo lớn với tháp hải đăng vút lên nền trời: Đảo Thổ Châu.

Khi chiến hạm chạy vòng quanh đảo, tôi có cảm tưởng như đang đi quanh một viên ngọc khổng lồ. Chín đảo nhỏ vây quanh như chín đóa hoa khoe sắc giữa biển khơi…

– Ngày mai: Trận hải chiến kinh hồn ở Hòn Chuối”.

Như Oanh đọc mà quên cả thở. Dù không một lần nhắc đến tên Võ Bằng, mỗi chữ gợi bao nỗi nhớ, bâng khuâng. Đã bao lâu rồi, kể từ lần cuối cùng đứng bên anh nơi bãi biển? Chỉ chưa đầy một tháng mà như lâu lắm rồi.

Nàng đứng dậy, nôn nao, bần thần.
Trận hải chiến kinh hồn?
Ác liệt, khủng khiếp đến mức nào?
Võ Bằng có mệnh hệ gì không?

Nàng ngồi thẫn thờ, ý nghĩ chồng chéo. Cuối cùng, Như Oanh quyết định: nàng phải gặp phóng viên Lan Như. Chỉ qua Lan Như, nàng mới có thể biết rõ thêm về hiện trạng của Võ Bằng, mới hy vọng gặp lại. Nhưng nếu Lan Như là đàn ông và tòa soạn không muốn cho gặp…

***

Chiếc xích lô dừng trước Tòa soạn báo Ngôn Luận trên đường Phạm Ngũ Lão. Như Oanh bước vào, hơi ngập ngừng trước không khí bận rộn của tòa soạn. Khi nàng trình bày lý do, cô thư ký chỉ vào chiếc bàn phía trong.
Một thiếu nữ trẻ đang chăm chú đánh máy. Ánh đèn bàn tỏa sáng khuôn mặt trái xoan thanh tú, mái tóc cắt ngắn ôm bờ vai.

Như Oanh nhỏ nhẹ:
– Xin lỗi, chị là phóng viên Lan Như?
Thiếu nữ ngẩng lên. Đôi mắt sáng, thẳng thắn, hơi ngạc nhiên:
– Tôi đây. Có việc gì, hả chị?
Như Oanh hít sâu, rồi thở ra mọi lo lắng, hồi hộp:
– Tôi là Huỳnh Như Oanh. Tôi vừa đọc bài phóng sự của chị. Tôi… tôi muốn hỏi thăm… một người trên chiến hạm Rạch Gầm.

Lan Như ngưng đánh máy. Ánh mắt như xuyên thấu từ từ dịu lại. Linh cảm cho biết người đối diện là ai, nàng nhẹ giọng:
– Chị muốn hỏi thăm về Hạm Trưởng Võ Bằng, đúng không?
Như Oanh sững sờ:
– Sao… Sao chị biết?”
Lan Như đứng dậy, giọng êm ái:
– Ở đây ồn ào. Chúng ta đến nơi khác nói chuyện, tiện hơn.

Quán cà phê gần tòa soạn, vắng khách. Nhạc tiền chiến nhẹ vang, êm và ấm.
Hai người ngồi đối diện, lặng lẽ quan sát nhau. Lan Như ngắm kỹ hơn người con gái được Võ Bằng để mắt đến. Gương mặt hiền hậu, đôi mày cong trên đôi mắt to đen. Tóc phủ bờ vai. Vẻ âu lo không che giấu. Một người con gái đủ dịu dàng để Võ Bằng thương yêu.
Như Oanh cũng ngắm Lan Như: mảnh mai, năng nổ, ánh nhìn thẳng thắn, đôi môi gợi cảm. Nếu Võ Bằng có rung động trước người con gái này cũng không có gì là lạ. Đã đến lúc rút lui như đã rút lui với Vinh chăng?

Khuấy đường cho ly cà phê, Như Oanh lên tiếng:
– Sao chị biết tôi muốn hỏi về Hạm Trưởng Võ Bằng?
Lan Như mỉm cười:
– Có lần anh ấy nhắc đến chị.
Như Oanh nghe rung động. Lan Như mỉm cười tiếp:
– Không chỉ nhắc mà còn thú nhận là… yêu chị.
Như Oanh giật mình:
– Xin đừng nói chơi…
Lan Như khẽ lắc đầu:
– Tôi nói thiệt.

Như Oanh đi thẳng vào mục đích:
– Chị có biết anh ấy chừng nào về Sài Gòn?
Lan Như lại mỉm cười:
– Về rồi!
Như Oanh cúi đầu, cổ như nghẹn lại:
– Xin chị đừng đùa cợt nữa. Tôi rất cần biết tin tức về anh ấy.
– Tôi nói đứng đắn mà. Anh ấy đã về và đã thú nhận với tôi anh ấy yêu chị.
Như Oanh mắt mở lớn, lắc đầu:
– Chúng tôi chỉ mới quen biết.
Lan Như thẳng thừng nói:
– Anh ấy thú nhận vì muốn ngăn tôi yêu anh ấy!

Như Oanh ngạc nhiên trước một thổ lộ quá mức chân thành đến khó tin. Nàng cúi đầu không biết nói gì thêm.
Giọng Lan Như êm đềm:
– Tôi nghĩ anh ấy chọn… đúng người.
Như Oanh trầm giọng:
– Cám ơn chị dành cho lời tốt đẹp. Nhưng thực tế có thể không được như vậy.  Chúng tôi chỉ gặp gỡ gần như là thoáng qua. Còn chị, chị sống bên anh bao nhiêu ngày đêm, nơi mà tôi chưa từng được hân hạnh đặt chân lên.
Một nụ cười nhẹ, mơ hồ trên môi Lan Như:
– Đó cũng chính là niềm chua xót cho tôi. Tôi đã từ chối mọi chàng trai ve vãn cho đến khi gặp Võ Bằng. Mỗi ngày một ít, tôi hiểu anh hơn. Và rồi có cảm tình lúc nào không biết.

Như Oanh lặng nghe, lòng xôn xao. Những điều Lan Như kể, nàng đều có thể hình dung. Xét ra, nàng còn tệ hơn, chỉ sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi.  Sự việc xem ra rối rắm, mơ hồ. Nàng vẫn thấy trong giọng Lan Như một điều gì chưa thể buông dù đã nghe Võ Bằng thú nhận yêu nàng. Còn với Võ Bằng, biết đâu anh chẳng nghĩ nàng đã có hôn phu mà ngả qua Lan Như. Dù thế nào cũng nên gặp Võ Bằng cho rõ trắng đen. Rồi chia tay không thắc mắc.

Như Oanh hỏi dò:
– Về đây, chắc chị đã có dịp gặp lại anh ấy?
– Chưa. Chưa được gặp.
Nàng hấp tấp hỏi:
– Chưa gặp? Sao chưa gặp? Có phải anh ấy bị thương?
Lan Như xua tay:
– Không. Anh ấy bình an. Tôi nói chưa gặp vì tôi đã tìm nhưng… không thể gặp.
– Sao vậy chị?
– Sáng hôm nay, sau khi báo phát hành, tôi mang xuống tàu tặng anh ấy nhưng họ không cho phép. Họ viện cớ tàu đang được giám định sửa chữa và sau đó vào Hải Quân Công Xưởng. Khu vực cấm dân chính.
Như Oanh vẫn ngờ vực:
– Xin chị kể cho nghe trận hải chiến.
– Tôi đang viết, và cần viết gấp. Muốn biết rõ, chị đón đọc báo ngày mai. Cả báo ngày mốt, kể về trận cuồng phong cũng kinh hồn.

Họ nói chuyện thêm một lúc. Lan Như kể vài chuyện vui trên tàu, về tính cách của những thủy thủ trẻ, về những bữa cơm đạm bạc nhưng đầm ấm như trong gia đình. Như Oanh lắng nghe, như được sống trong không khí ấy, như được gần Võ Bằng hơn.
Nàng nói:
– Chị may mắn hơn tôi, có được những kỷ niệm sâu đậm với Võ Bằng. Còn tôi, rất hời hợt, chưa biết gì nhiều về anh ấy.
Lan Như thấy chút an ủi. Quả là nàng hơn Như Oanh về mặt gần gụi Võ Bằng. Chỉ có nàng là được thấy những gì anh thực hiện, được nghe những lệnh anh ban ra khiến cả một khối sắt cũng biết nghe lời.

Lúc hai thiếu nữ ra khỏi quán, chuẩn bị chia tay, Lan Như nghiêm giọng:
– Hãy tin tôi. Đời Võ Bằng thuộc về biển, nhưng trái tim thuộc về chị. Hãy vui lên. Nay mai chị sẽ gặp mà!
Như Oanh gật đầu, mắt sáng lên. Hai người vòng tay ôm nhau. Bàn tay của phóng viên hơi chai sạn, của cô giáo mềm mại, nhưng cùng truyền cho nhau cảm giác ấm áp lạ thường.
Lan Như hướng về tòa soạn. Như Oanh bước trên lề phố đông người. Lần đầu tiên, từ sau ngày đi dạy, nàng không còn thấy mình đơn độc trong nỗi mong chờ dù chưa biết đến bao giờ…

Vũ Thất
(Còn tiếp)








ĐÓN BÃO TUYẾT - Thơ Hưng Quốc và Thơ Họa

                            

  ĐÓN BÃO TUYẾT

Tin bão sẽ về một sáng mơi

Đường đi băng phủ khó di dời

Cửa hàng chuẩn bị quầy rau nhấm

Siêu thị sẵn sàng kệ thịt xơi

Gạo thóc hôm qua mua mấy bịch

Nước nôi bữa trước sắm vài đôi

Mùa đông lắm lúc trời giông tố

Thủ kỹ an toàn ngắm tuyết rơi

    Hưng Quốc

Texas 1-29-2026


Thơ Họa:

    CHỜ TUYẾT

Lò sưởi sẳn bừng cho tối mơi

Mền trùm cây lựu khỏi lo dời

Nguyên tuần hạn chế ra đường phố

Mươi bữa dư thừa thực phẩm xơi

Tích trữ đổ khô phòng điện cúp

Mua thêm áo ấm sắm găng đôi

Nến đèn thơm phức mùi hương quế

Tựa cửa chờ… mơ tuyết trắng rơi

Kiều Mộng Hà

  Jan.30.2026

 

    BÃO TUYẾT

Bão tuyết lan tràn buổi sớm mơi

Khổ ghê, thời tiết cứ luân dời

Người co thân quắp không kham nổi

Thú xuống hang nằm chẳng muốn xơi

Áo mũ,khăn choàng mua một bộ

Giầy đông,vớ bít sắm hai đôi

Mặc khi trái gió, ngày hàn giá

Dành lúc trở trời, băng phủ rơi.

      LAN

(30/01/2026)

 

     TUYẾT  LẠNH 

Lạnh buốt... giật mình, mới sớm mơi

Nhìn ra của sổ, mắt khôn dời

Bên ngoài, tuyết phủ dày không tưởng

Trong bếp, bánh đà cứng khó xơi

Hối hả, vớ găng tìm mấy bộ

Vội vàng, nón ủng kiếm dăm đôi

Cha, con trang bị ra cào, xúc

Mẹ hấp đồ ăn để nóng, rời.

  Sông Thu

(30/01/2026 )

 

    BÃO TỚI RỒI

Thế là bất kể bão chiều, mơi

Tuyết trắng muôn phương khó chuyển dời

Tránh mãi mỗi năm mùa giá phủ

Lại thêm một thủa tiết băng xơi

Gió hoang thấp thoáng lùa thân lẻ

Hơi lạnh chập chờn xẻ gối đôi

Ánh lửa xanh lè hong khí ẩm

Khiến thầm buồn tủi lệ sầu rơi…

      Hawthorne  30 - 1 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

        CẢM ĐỀ

        (Họa 4 vận)

Trắng trời bão tuyết buổi hôm mơi

Tắc nghẽn tầu xe khó chuyển dời?

Ngõ ngách lạnh tanh người hoạt động

Phố phường vắng lặng trẻ đùa chơi?

Than lò sưởi ấm phòng thừa dụng

Gạo bữa mưu sinh dự đủ xơi...

Ấm áp hồn người xua rét giá

Chạnh niềm tết đến...lệ mi rơi!?

Nguyễn Huy Khôi

    30- 01-2026

 

LUNG LINH ÁNH TUYẾT

Tin thời có tuyết mốt hay mơi

Xê xích thường thôi chẳng dễ dời

Dăm bữa kéo dài, ôm gối ngủ

Cả tuần đeo lạnh, lấy mì xơi

Ngoài sân bầy nhỏ quay mòng vụ

Trong bếp cụ nhà nhún múa đôi

“Bê bốp” xoay đều theo nhịp muỗng(*)

Khoái cười đến nỗi buông thìa(*) rơi.

Thái Huy

Jan/ 31/26

(*) Cùng loại nhưng khác vùng gọi

 

        ĐÓN BÃO

Nghe bão, cuống cuồng tự sớm mơi

Vật chi cần chuyển phải mau dời

Ra vườn nhặt nhạnh đồ dành nấu

Xuống chợ quơ quào cái để xơi

Lửa củi phòng lo nhà cúp điện

Xăng dầu trữ sợ lối ngăn đôi

Mở đài hồi hộp nhìn trời đất

Gió thổi vù vù lá rụng rơi

Lý Đức Quỳnh

   31/1/2026 


ĐỢI CHỜ BÃO TUYẾT

Bão tuyết nghe chừng nội tối mơi

Giò lan,  mai cúc phải mau dời.

Tôm khô đặt trước ra giêng nhậu

Bánh tét gọi liền trử Tết xơi.

Kiểm lại áo bông chừng mấy cái

Lục tìm len vớ phỏng mươi đôi.

Bếp hồng tí tách hương thông thoảng

Dạ khúc não nùng lệ lão rơi !

   Mailoc

Jan-31-2026

 

         BÃO

Biết làm sao tính vào ngày mơi

Xe xúc đâu rồi chẳng đến xơi*

Cửa trước ngõ vào băng vẫn đóng

Đường ngoài lối đến tuyết chưa dời

Đồ ăn trong tủ còn dăm món

Thức uống trên bàn chỉ một đôi

Mai mốt có gì cho cái bụng

Thế thì đói lả sẽ cùng rơi.

2026-02-01

   Võ Ngô

* Có một loại xe ăn tuyết để chở đi xa bỏ.

 

   RÉT ĐÔNG LẠI ĐẾN

Bão ầm kéo rét sáng chiều mơi,

Xe cộ khó đi lại khó dời.

Hàng chuẩn bị đầy cho đủ nhấm,

Cá cơm sẵn hết thiếu thì xơi.

Mì tôm chất đống năm mười gói,

Nước uống mấy thùng cả cặp đôi.

Quen quá xứ người đông lạnh ngắt,

Vườn sau sân trước tuyết ào rơi.

                          *

Cô phòng co rút nhói tim côi.

HỒ NGUYỄN

 (31-01-2026)

 

      BÃO TUYẾT

Nhận tin báo bão tới ngày mơi

Băng giá đường đi khó chuyển dời

Chợ búa quày rau màu bị nhấm

Cửa hàng cá thịt kệ nằm xơi

Hôm qua bao gạo về ba bịch

Bữa trước thùng năm lít một đôi

Thủ sẵn an toàn khi bão tố

Mùa Đông lạnh giá tuyết bay rơi…!

MAI XUÂN THANH

Silicone Valley January 31, 2026 







Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Té Đêm - Anh Khờ

      Té Đêm 

Hí hửng nàng thơ hiện bỗng... "ầm"!
Bầu trời đảo lộn tối mù câm
Quơ quào chẳng rõ... bám vào hóc?
Tỉnh thức thì ra... ngã xuống gầm!
Bật dậy lần xem bao chỗ xước
Ngồi lên nắn thử mẩy nơi thâm
May sao "sự việc" không nghiêm trọng
Chuyện lỡ đang đêm nghĩ cũng… "châm"!(*)

Anh Khờ 

(*)  châm = ngán sợ (Tiếng lóng trước năm 75)  












Góc Cổ Thi : TỐNG CỰU NGHINH TÂN (2) (Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Cổ Thi :  

                       TỐNG CỰU NGHINH TÂN  (2)

 
                
      Nhắc đến "Tống Cựu Nghinh Tân 送 舊 迎 新" trong đêm Giao thừa, thì không thể không nhắc đến câu ngạn ngữ cổ xưa đã truyền tụng trong dân gian là:

                  一 夜 連 雙 歲,   Nhất dạ liên song tuế,
                  五 更 分 二 年.   Ngũ canh phân nhị niên.
        Có nghĩa :
                  Một đêm nối liền hai tuổi,
                  Năm canh chia đều hai năm.
        Qủa là :
                    Một đêm hai tuổi liền nhau,
               Năm canh sau trước chia đều hai năm.

      Không phải chỉ trong dân gian mà cả trong cung của vua Đường; nhà vua tài hoa văn võ song toàn Đường Thái Tôn Lý Thế Dân 唐 太 宗 李 世 民 cũng có bài thơ "Thủ Tuế" trong đó có các câu rất hay như sau:

                 寒 辭 去 冬 雪,   Hàn từ khứ đông tuyết,
                 暖 帶 入 春 風。   Noãn đới nhập xuân phong.
        Có nghĩa :
             - Cái lạnh giả từ ra đi mang theo cả tuyết của mùa đông, và...
             - Cái ấm về lại mang cả gió xuân ấm áp theo về.

                     Lạnh đi mang cả tuyết đông,
                 Ấm về mang cả xuân phong theo về !
       Và...

                              

                 共 歡 新 故 歲,   Cộng hoan tân cố tuế,
                 迎 送 一 宵 中。   Nghinh tống nhất tiêu trung !
       Có nghĩa :
            - Cùng vui vẻ với tuổi cũ và tuổi mới, vì...
            - Đón năm mới và đưa năm cũ chỉ trong một đêm mà thôi!

                              Cùng vui tuổi mới cũ vong,
                     Nghinh tân tống cựu trong vòng một đêm !     

       Rõ nét nhất, cụ thể nhất và cũng thi vị nhất là bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú《Trừ Dạ 除 夜》là "Đêm Trừ tịch" của Tào Tung 曹 鬆 đời Đường:  

                殘 臘 即 又 盡,     Tàn lạp tức hựu tận,
                東 風 應 漸 聞.     Đông phong ưng tiệm văn.
                一 宵 猶 幾 許,     Nhất tiêu do kỷ hử,
                兩 歲 欲 平 分.     Lưỡng tuế dục bình phân ?
       Có nghĩa :
            - Tháng Chạp sẽ tàn lụi ngay trước mắt đây thôi (Tức hựu tận).
            - Đã dần dần nghe có tiếng gió xuân (Đông phong) thổi đến rồi.
            - Một đêm là thời gian còn có bao lâu (kỷ hử) đâu, mà...
            - Hai tuổi, hai năm lại muốn chia đều (bình phân) với nhau ?!...
  
                 
            

       Qủa là :
                   Tháng Chạp đã sắp tàn rồi,
                   Đã nghe tiếng gió xuân bồi hồi sang.
                   Một đêm ngắn chẳng đầy gang,
                   Chia đều hai tuổi chia làm sao đây ?!

       "Tống cựu nghinh tân" cũng có nhiều điều rất thi vị và lý thú, nên thơ  đến... ngẩn ngơ !

       Trong đêm trừ tịch, khi nghe tiếng pháo tre đì đà đì đẹt nổ để đón giao thừa, thì tất cả mọi người trong gia đình đều cùng nhau nâng ly rượu "Đồ Tô" trừ tà, trừ dịch bệnh lên để cùng nhau "Chúc Mừng Năm Mới". Tiêu biểu nhất là bài thơ "Nguyên Nhật 元 日" là "Ngày đầu một năm" của một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" là Tể Tướng Vương An Thạch 王 安 石 đời Tống như sau:

   爆 竹 聲 中 一 歲 除,     Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ,
   春 風 送 暖 入 屠 蘇.     Xuân phong tống noãn nhập Đồ tô.
   千 門 萬 戶 曈 曈 日,     Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
   總 把 新 桃 換 舊 符.     Tổng bả tân đào hoán cựu phù.

                                

      Có nghĩa :
           - Trong tiếng pháo tre nổ thì một tuổi (một năm) đã được trừ đi,
           - Gió xuân đưa làn hơi ấm áp vào trong ly rượu Đồ tô.
           - Muôn nhà ngàn hộ đang đón ánh nắng ban mai theo mặt trời mọc...
           - Đều cùng "Gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".
      * Đào Phù 桃 符 : là "Lá bùa được viết để dán lên cành đào". Ta gọi là "Lá bùa nêu" thường được viết trên giấy đỏ và đều là những lời viết tốt đẹp. Sau phát triển thành những câu "Liễn Tết" mà ta gọi là "Câu Đối Đỏ". Nên "Tổng bả tân đào hoán cựu phù 總 把 新 桃 換 舊 符 là "Đều cùng gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".

                   Một tuổi qua đi trong tiếng pháo,
                   Gió xuân đưa ấm rượu Đồ tô.
                   Muôn nhà chờ nắng ngày xuân mới,
                   Thay liễn đều cùng đón ước mơ !

       Trên đây là những gia đình được đoàn tụ, sum họp trong đêm Ba Mươi Tết để cùng đón giao thừa, cùng vui hưởng cái thiên luân của một gia đình đoàn viên hạnh phúc; còn những người tha phương cầu thực, gởi thân nơi đất khách, phiêu bạc nơi xứ lạ quê người thì đón Giao thừa trong đêm Trừ tịch như thế nào đây? Ta hãy cùng đọc bài thơ 《TRỪ DẠ 除 夜》của thi nhân TỪ BÍ 徐 賁 đời Nguyên như sau đây:

                                         

   客 舍 無 人 更 寂 寥,  Khách xá vô nhân cánh tịch liêu,
   聲 傳 爆 竹 隔 林 遙。  Thanh truyền bộc trúc cách lâm diêu.
   幾 多 時 節 何 堪 恨,  Kỷ đa thời tiết hà kham hận,
   送 卻 流 年 是 此 宵。  Tống khước lưu niên thị thử tiêu !
      Có nghĩa :
           - Nhà khách không người nên càng (cánh) cảm thấy cô đơn vắng vẻ,
           - Tiếng pháo tre văng vẳng đưa lại từ mé rừng xa xa...
           - Biết bao lễ tiết đi qua làm sao nói cho hết được cái hận ở trong lòng ?
           - Lại phải đưa quách đi cái lễ tiết cuối cùng của năm nay trong đêm nay!

       Đưa tiễn năm cũ qua đi một cách dỗi hờn trong đêm trừ tịch. Quả là một cách đưa tiễn hờn mát của một kẻ xa nhà khi năm tàn Tết đến mà chẳng được cùng gia đình đoàn tụ .

                                                    
                    Nhà khách không người càng vắng lặng,
                    Pháo tre đì đẹt cách rừng xa...
                    Bao nhiêu lễ Tết còn chi hận...
                    Đưa quách năm tàn đêm đã qua !

      Sau đây là tâm sự buồn thương day dứt của Thi Bá Bạch Cư Dị 詩 霸  白 居 易 phải đón giao thừa nơi đất khách khi công chưa thành danh chưa toại qua bài thơ  KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ 客 中 守 歲 (Đón Giao thừa nơi đất khách) của ông:   

              守 歲 樽 無 酒,   Thủ tuế tôn vô tửu,
              思 鄉 淚 滿 巾。   Tư hương lệ mãn cân.
              始 知 爲 客 苦,   Thủy tri vi khách khổ,
              不 及 在 家 貧。   Bất cập tại gia bần.
              畏 老 偏 驚 節,   Úy lão thiên kinh tiết,
              防 愁 預 惡 春。   Phòng sầu dự ố xuân.
              故 園 今 夜 裏,   Cố viên kim dạ lý,
              應 念 未 歸 人。   Ưng niệm vị quy nhân.
                        白 居 易                    Bạch Cư Dị
              
                        

* CHÚ THÍCH :
    - Khách Trung 客 中 : là Trong lòng đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.
    - Thủy Tri 始 知 : Mới biết được rằng ...
    - Bất Cập 不 及 : Không bằng được ....
    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚 畏 là Sợ Hãi.
    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可 惡 : là Đáng ghét.
    - Cố Viên 故 園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa, Quê hương.
    - Ưng Niệm 應 念 : là Chắc là đang nhớ đến, nhắc đến...                    

* NGHĨA BÀI THƠ :
              ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH

                                  

       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi.
       Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn tay. 
       Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, 
       Không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì...
       Sợ gìa nên cũng sợ luôn cả các lễ Tết...
       Dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. 
       Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng...
       Đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn bao giờ hết, như lời thơ của nhà thơ Chế Lan Viên thời Tiền Chiến:

                     Tôi có chờ đâu có đợi đâu,
                   Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

* DIỄN NÔM :           
                 KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ
              
                        


                Giao thừa chai hết rượu,
                Nhớ quê lệ ướt khăn.
                Mới hay tha hương khổ,
                Không bằng nghèo yên thân.
                Ngại gìa lại e Tết,
                Sợ buồn cũng ghét xuân.
                Quê nhà đêm nay chắc...
                Nhớ người đi bâng khuâng.
   Lục bát :
                Giao thừa chai rượu lại không,
                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.
                Mới hay lưu lạc khổ thay,
                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.
                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,
                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.
                Đêm nay chắc cả thôn làng,
                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !
                                       
       Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa nơi quê nhà: Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón giao thừa và  ăn Tết ra sao?!    

       Hẹn bài dịch tới !

                                                                杜 紹 德
                                                             Đỗ Chiêu Đức