BÀI 2
CÁC CỔ ĐIỂN THỜI KHỔNG TỬ GIÚP ÍCH HIỂU ĐẠO KHỔNG
Bề rộng của không gian giống như chiều dài của thời gian. Chiều dài
của không gian cũng giống như bề rộng của không gian. Do đó, nếu
lấy ngôn ngữ ngày nay để xem ngôn ngữ ngày xưa, hoặc lấy ngôn
ngữ ngày xưa để xem ngôn ngữ ngày nay, thì trường hợp nào cũng
không thể hiểu được, mà chỉ giống như nghe tiếng chim hót của
dân tộc khác. Ở điểm này, (đối với người Nhật Bản chúng ta) thì văn
tự cổ đại của Trung quốc và văn tự cổ đại của Ấn Độ đều giống như
nhau (ý tác giả muốn nói đến cả hai trường hợp:học đạo Khổng và
đạo Phật).
Ngôn ngữ thay đổi dần theo thời đại. Do đó, ngôn ngữ diễn tả đạo
cũng thay đổi dần theo thời đại. Nguyên nhân chủ yếu đưa đến việc ý
nghĩa chân thật của đạo trở nên không rõ ràng là bởi lý do này.
Việc 100 đời sau truyền đạt truyện cổ đại giống như lời nói của họ
Việt Thường thông qua phiên dịch 9 lần mới chuyển sang được ra
tiếng Trung quốc (1). Trường hợp của nước họ Việt Thường thì chỉ
cách xa Trung quốc vạn dặm nhưng còn trong cùng thời đại. Trường
hợp này không thể so sánh với trường hợp của tăng Tam Tạng sang
đến Ấn Độ thỉnh các kinh điển cổ đại. (Bởi vì trường hợp này có sự
cách biệt to lớn của cả không gian và thời gian).
Các giải thích được đời sau thêm vào các giải thích cũ của đời trước,
cháu tiếp nối con, chắt lại tiếp nối cháu… cứ tiếp tục mãi đến lúc
nào đó không còn biết tổ tiên của mình trước đó là ai! Trải qua dòng
thời gian dài ngàn năm, phong tục cũng thay đổi, các sự vật cụ thể
của ngày xưa cũng không còn. Không thể chỉ tin vào các giải thích
(của người khác mà chính bản thân người muốn học phải tìm hiểu ở
nguyên văn). Thêm vào đó, cũng không thể đặt bản thân mình vào
thời đại của Khổng tử, cũng không thể thân mật với các học trò của
ông như Tử Du, Tử Hạ v.v… để cùng nghe giảng dạy.
Ngoài ra, sự xa cách của không gian và sự cách biệt của thời gian
thật ra có những điểm khác biệt, không hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên, cái mà còn mãi (bất hủ) là văn (chữ viết) (nguyên văn: bất
hủ giả văn); nội dung được ghi lại của văn vẫn còn nguyên vẹn trong
kinh sách. Trong khoảng thời gian mà ngôn ngữ chưa thay đổi, các
sách khác như Quản Tử, Yến Tử Xuân Thu, Lão Tử, Liệt Tử v.v… có
cùng loại ngôn từ với sách của thánh nhân vẫn còn lưu lại đến hiện
tại. Mặc dù đạo của các tác giả này giảng giải, chủ trương không
giống như đạo của Nho gia nhưng không có lý do gì phải chán ghét
đến mức độ không thèm ngó đến. Nếu không phải để nghiên cứu nội
dung mà chỉ nghiên cứu về ngôn từ được dùng để giải thích nội dung
thì tinh thần trí óc chúng ta vẫn trong sáng (bất muội) không bị mê
hoặc (nguyên văn: bất muội giả tâm) (2).
Việc không thể hiểu như nghe tiếng chim hót không những do sự
khác biệt của lời (ngôn言) mà còn do thứ tự của các lời trong câu nói
(từ 辞) (ý nói còn có vấn đề văn phạm hoặc cách diễn tả, ngoài sự
khác biệt của tiếng nói, của ngữ vựng).
Bản thân tôi đã theo lời khuyên của ông Vu Lân(3) nghiên cứu cổ văn
từ để hiểu cổ đại, hết lòng học cổ văn từ cho thuần thục, và đã dành
nhiều thời gian để “đồng hóa” bản thân với cổ văn từ, từ cách diễn tả
đến tinh thần (của tôi) đều giống như người cổ đại. Sau khi đã đạt
được như vậy, thì ngày đêm đều có thể trò chuyện với người của
ngàn năm về trước. Điều này gọi là đặt bản thân mình vào thời đại
của Khổng tử, cùng thân mật với Tử Du, Tử Hạ v.v… cùng nghe lời
giảng dạy của phu tử. Điều này cũng gọi là gia nhập vào giới bạn bè
của cổ nhân, không cần phải mượn sức của Hòa huấn, cách phiên
đọc Hán văn bằng tiếng Nhật
Tóm tắt ý quan trọng
– Tổng hợp ý nghĩa của ngôn từ và cách diễn tả của các tác giả cùng
thời đại là cách thực dụng để có thể hiểu đúng học ngôn ngữ cổ đại.
Cụ thể, để hiểu lời của Khổng tử trong Luận Ngữ, lục kinh nên đọc
Lão Tử, Quản Tử, Yến Tử Xuân Thu, Liệt tử.
– Để có thể hiểu chính xác ngôn ngữ nước ngoài ngoài việc thông
thạo từ vựng, văn phạm còn phải biết dùng để diễn tả ý tưởng, tâm
tình như người bản xứ.
Nhận xét
(1) Theo thể nghiệm bản thân của người dịch, đọc nguyên văn bằng
Hán văn của Sorai người dịch nhận thấy nắm được chính xác nội
dung tác giả muốn truyền đạt hơn nhiều, và nhờ đó có thể phiên dịch
chính xác hơn khi chỉ đọc qua nội dung dịch bằng tiếng Nhật hiện
đại. Đặc biệt đối với những từ ngữ Hán mà tác giả trích dẫn hoặc mô
phỏng các sách cổ điển khác, tuy rất ngắn gọn nhưng hàm chứa
nhiều ý nghĩa trong đó. Cần phải tra cứu thêm mới có thể hiểu đúng.
Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 5/12/2025, Xem lại và bổ sung ngày 20/1/ 2026
Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng
Ghi chú
(1)Họ Việt Thường: Theo giải thích của Tài liệu tham khảo, vào đời
Chu, là dân tộc ở phía Nam của nước ta vào thời đó. “Theo Thượng
Thư Đại Truyện và Hậu Hán Thư thì vào năm 6 kể từ khi Chu Công
nhiếp chính, người nước Việt Thường đi bằng ba con voi đến dâng
chim trĩ trắng cho Chu Thành Vương. Hai bên đều không có ai biết
tiếng của nhau nên phải dùng cách phiên dịch gián tiếp qua nhiều
ngôn ngữ khác để nói chuyện.” (Theo Wikipedia tiếng Việt). Trong
sách Luận Hành của Vương Sung (27~97) ghi “Thiên hạ đời Chu thái
bình, Việt Thường hiến trĩ trắng”.
(2) Trong thơ của Lý Phàn Long viết cho Vương Thế Trinh có câu:
“不 朽 者 文、不 昧 者 心” (Bất hủ giả văn, bất muội giả tâm: cái mà
không mất là văn, cái không tối tăm là tâm)
(3)Vu Lân于 鱗 (tự của Lý Phàn Long 李 攀 竜, 1514 ~ 1570) là thi nhân
và văn nhân của Trung quốc đời Minh. Nhân vật chủ yếu của phái
cổ văn từ đời Minh gồm có 7 văn nhân được gọi là “tiền thất tử”: 李
夢 陽, 何 景 明, 徐 禎 卿, 康 海, 王 九 思, 辺 貢, 王 廷 相. Phái này được Lý
Phàn Long, Vương Thế Trinh 王 世 貞và các người khác kế tục.
Tài liệu tham khảo
- Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh
- Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
- Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng
- Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.