Ngày ngày người thêm già nữa,
Năm năm xuân đến chẳng sai.
Cùng vui còn có chai rượu,
Tiếc làm gì cánh hoa bay !
Đó là ý nghĩa của bốn câu thơ trong bài "Tống Xuân Từ" cuả Vương Nhai 王 涯 (764~835)đời Đường. Thuận theo sự tuần hoàn của vũ trụ và sự luân hồi của lẽ tự nhiên trong đời sống con người; Hãy vui với cái mà ta đối diện trước mắt, chớ đừng nên thương tiếc xót xa khi thấy Xuân tàn hoa rụng cánh bay mà làm gì :
日 日 人 空 老, Nhật nhật nhân không lão,
年 年 春 更 歸。 Niên niên xuân cánh quy.
相 歡 有 樽 酒, Tương hoan hữu tôn tửu,
不 用 惜 花 飛。 Bất dụng tích hoa phi !
Diễn Nôm :
Ngày ngày người một già,
Năm năm xuân lại qua.
Cùng vui có chai rượu,
Tiếc gì các cánh hoa !
"Xuân đi xuân đến hãy còn xuân" như lời ca trong bài "Gái Xuân" của nhà thơ Nguyễn Bính. Không như Giả Đảo, một nhà thơ đời Đường thuộc phái "Quái Đản" đã nắm níu nuối tiếc từng giây từng phút trong đêm 30 tháng 3, là đêm cuối cùng của mùa Xuân, vì sáng hôm sau mồng 1 tháng Tư thì đã là mùa Hè rồi. Giả Đảo đã cùng bạn suốt đêm không ngủ, thức trắng để bầu bạn với nàng xuân đến giây phút cuối cùng, vì khi chuông chùa chưa công phu buổi sáng thì vẫn hãy còn là mùa Xuân với bài tứ tuyệt "Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Xuân 三 月 晦 日 送 春" sau đây:
三 月 正 當 三 十 日, Tam nguyệt chính đương tam thập nhật, 春 光 別 我 苦 吟 身。Xuân quang biệt ngã khổ ngâm thân.
共 君 今 夜 不 須 睡, Cộng quân kim dạ bất tu thụy,
未 到 曉 鐘 猶 是 春。 Vị đáo hiểu chung do thị xuân.
Có nghĩa :
Tháng ba vừa đúng ba mươi,
Khổ ngâm giả biệt xuân tươi mỏi mòn.
Cùng anh thức suốt đêm tròn,
Chuông chưa điểm sáng vẫn còn là XUÂN !
Bản viết tay Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Xuân của ĐCĐ
Khéo mà lưu luyến, nắm níu nàng xuân đến giây phút cuối cùng. Giả Đảo 賈島 quả không hổ là Thi Nô 詩 奴 trong làng thơ thuộc trường phái "Quái đản". Hãy lạc quan như nhà thơ Nguyễn Bính, hay như Tần Quan đời Tống, thi nhân đã có cái nhìn phóng khoáng lạc quan về sự biến đổi tự nhiên của thời tiết, sự vần xoay của tứ qúy trong năm; Xuân đi rồi Xuân lại về, chỉ có những nam nữ si tình hoài Xuân mới cảm thấy quyến luyến muốn giữ nàng Xuân lại trong buổi Xuân tàn mà thôi. Sao không nhìn xem cảnh cây cỏ cành lá xanh om trong nắng Hạ với tiếng ve sầu ra rả trong những cơn gió nam mát mẻ của các buổi trưa Hè cũng gợi cảm và đẹp... chán chê, sao lại cứ phải tiếc mãi những cánh hoa rơi của buổi tàn Xuân mà chi cho thêm phiền não. Nào hãy cùng đọc bài "Tam Nguyệt Hối Nhật Ngẫu Đề 三 月晦 日 偶 題" của Tần Quan 秦 觀 sau đây:
節 物 相 催 各 自 新, Tiết vật tương thôi các tự tân,
痴 心 兒 女 挽 留 春。 Si tâm nhi nữ vãn lưu xuân.
芳 菲 歇 去 何 須 恨, Phương phi yết khứ hà tu hận,
夏 木 陰 陰 正 可 人。 Hạ mộc âm âm chánh khả nhân !
Có nghĩa :
Thời tiết đẫy đưa tự đỗi thay,
Si tình nam nữ luống ai hoài.
Hương Xuân giả biệt sao mà hận,
Bóng Hạ râm râm cũng đẹp thay !
"Tam nguyệt hối nhật ngẫu đề" của Tần Quan
Lạc quan như Vương Lệnh 王 令 (1032-1059)một thi nhân đời Tống, ông cho rằng: Sau ba tháng của mùa Xuân thì hoa sẽ tàn và sẽ nở lại trong năm sau, và chim én cũng sẽ ngày ngày lại bay về dưới mái hiên nhà cũ, và con cuốc vẫn sẽ gọi Hè đến mửa máu trong đêm... Nên ông không tin là gió Xuân sẽ không thổi về khi Xuân lại đến. Ta đọc lại bài "Tống Xuân 送 春" của ông sau đây:
三 月 殘 花 落 更 開, Tam nguyệt tàn hoa lạc cánh khai,
小 檐 日 日 燕 飛 來。 Tiểu thiềm nhật nhật yến phi lai.
子 規 夜 半 猶 啼 血, Tử Quy dạ bán do đề huyết,
不 信 東 風 喚 不 回。 Bất tín đông phong hoán bất hồi ?!
Có nghĩa :
Ba tháng hoa tàn rồi lại nở,
Bên hiên én lại lượn ngày ngày.
Gọi Hè tiếng cuốc đêm trào máu,
Chẳng lẽ gió Xuân gọi chẳng về ?!
Nói đi rồi nói lại, đa số thi nhân vẫn tiễn Xuân với cõi lòng sầu muộn tiếc thương xuân sắc của ba tháng mùa Xuân. Mùa Xuân qua đi với hoa tàn liễu rủ, như tuổi trẻ đã qua đi, như giai nhân đã qua thời xuân sắc, vẻ đẹp đã tàn phai; Như người lữ khách đã qua rồi thời oanh liệt với hùng tâm tráng chí, chỉ còn biết tiêu sầu với chén rượu để quên đi nỗi sầu thiên cổ... như trong bài luật thi "Tống Xuân Từ 送 春 詞" của Lưu Vũ Tích 劉 禹 錫 đời Đường:
昨 來 樓 上 迎 春 處, Tạc lai lâu thượng nghinh xuân xứ,
今 日 登 樓 又 送 歸。 Kim nhật đăng lâu hựu tống quy.
蘭 蕊 殘 妝 含 露 泣, Lan nhụy tàn trang hàm lộ khấp,
柳 條 長 袖 向 風 揮。 Liễu điều trường tụ hướng phong huy.
佳 人 對 鏡 容 顏 改, Giai nhân đối kính dung nhan cải,
楚 客 臨 江 心 事 違。 Sở khách lâm giang tâm sự vi.
萬 古 至 今 同 此 恨, Vạn cổ chí kim đồng thử hận,
無 如 一 醉 盡 忘 機。 Vô như nhất túy tận vong ky !
Có nghĩa :
Ngày trước đón Xuân ở chốn này,
Hôm nay đưa tiễn cũng là đây.
Lan tàn nhụy rửa trong sương phủ,
Liễu rủ cành đưa theo gió rây.
Người đẹp soi gương lòng thổn thức,
Khách xa tâm sự sóng vơi đầy.
Ngàn xưa nay vẫn cùng chung hận,
Nâng chén say mèm quên hết ngay !
Tống Xuân Từ 送 春 詞" của Lưu Vũ Tích 劉 禹 錫
Hay an phận tự an ủi mình khi tàn Xuân về lại mái nhà xưa, nhìn lại khóm trúc trước cửa sổ bên hông nhà vẫn xanh om tươi tốt chờ đón người về, mặc cho các loài hoa tươi đẹp khác như Hoa mộc lan đã úa tàn, chỉ còn có hoa hạnh là vẫn nở và bay la đà trong gió sớm, dù đã không còn chim hoàng oanh kêu hót bên khe nước trong buổi tàn Xuân. Cảm khái làm sao khi đọc lại bài thơ "Mộ Xuân Quy Cố Sơn Thảo Đường 暮 春 歸 故 山 草 堂" của Tiền Khởi 錢 起 (Có thuyết cho là của Lưu Trường Khanh 劉 長 卿) như sau:
溪 上 殘 春 黄 鳥 稀, Khê thượng tàn xuân hoàng điểu hi,
辛 夷 花 盡 杏 花 飛。 Tân di hoa tận hạnh hoa phi.
始 憐 幽 竹 山 窗 下, Thỉ lân u trúc sơn song hạ,
不 改 清 蔭 待 我 歸。 Bất cải thanh âm đãi ngã quy !
Có nghĩa :
Trên khe vắng tiếng hoàng oanh hót,
Hoa mộc lan tàn hoa hạnh bay.
Thương quá bên song kìa khóm trúc,
Bóng râm chẳng đổi tựa bao ngày !
Cuối cùng là lời nhắn nhủ thiết tha của Thôi Lổ 崔 橹, là Tiến sĩ của thập niên(847—858)từng là Lệ Châu Tư Mã 棣 州 司 马, khi ông đưa tiễn bạn trong ngày cuối của mùa Xuân 30 tháng 3 : Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Khách 三 月 晦 日 送 客 như sau:
野 酌 亂 無 巡, Dã chước loạn vô tuần,
送 君 兼 送 春。 Tống quân kiêm tống xuân.
明 年 春 色 至, Minh niên xuân sắc chí,
莫 作 未 歸 人。 Mạc tác vị quy nhân.
* Chú Thích :
1. Hối 晦 : là Đêm 30 âm lịch, trời tối đen như mực. "Tam nguyệt Hối nhật 三 月 晦 日" là 30 tháng 3, ngày cuối cùng của mùa Xuân.
2. Dã Chước 野 酌 : Dã là Đồng trống, phần đất ở ngoài khu phố, chợ. Chước: Ta đọc trại thành Chuốc, là Chuốc rượu. "Dã Chước 野 酌" là Rót rượu mời nhau ngoài đồng trống bên đường khi đưa tiễn nhau.
3. Loạn 亂 ở đây không có nghĩa là rối loạn, mà là "Không theo Thứ Tự nào cả".
4. Tuần 巡 : là Đi một vòng. Vd : Đi Tuần là đi kiểm soát một vòng. Rượu mời giáp vòng là "Một Tuần Rượu". Vô Tuần 無 巡 là Không có Tuần Tự gì cả.
5. Mạc Tác 莫 作 : Mạc là Đừng, Tác là Làm, Mạc Tác 莫 作 là Đừng làm...
Bản viết tay năm 1972 của ĐCĐ
* Dịch nghĩa :
Ngày 30 Tháng 3 Đưa Khách
Chuốc rượu tiễn đưa nhau bên đường, nên cứ rót mời tràn lan, không ra tuần tự gì cả. Hôm nay, đưa tiễn anh đi mà cũng tiễn cả nàng Xuân đi nữa! Mà này, sang năm thì nàng Xuân lại mang Xuân sắc trở về nữa đấy nhé, mong rằng bạn đừng làm kẻ không về, (mà hãy cùng về với nàng Xuân !).
* Diễn Nôm :
Rượu chuốc loạn không tuần tự
Tiễn anh, tiễn cả Xuân đi.
Sang năm nàng Xuân lại đến,
Nhớ đừng làm kẻ không về !
Lục Bát :
Chén đưa loạn chẳng thành tuần
Tiễn anh, tiễn cả nàng Xuân một bề
Sang năm Xuân sắc lại về,
Mong rằng anh sẽ cùng về với Xuân !
Qủa là một lời nhắn nhủ chân tình thiết tha và khéo léo biết bao nhiêu!
Hẹn bài viết tới !
杜 紹 德
Đỗ Chiêu Đức
05-16-2026
Nhằm ngày 30 tháng 3 Âm lịch năm Bính Ngọ