Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Các Nhân Vật và Sự Kiện hư cấu trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA (Đỗ Chiêu Đức)

 Các Nhân Vật và Sự Kiện hư cấu trong 

            TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA

                          

                                       Kết Nghĩa Đào Viên

       Ta có 2 quyển : TAM QUỐC CHÍ 三 國 誌 và TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義; Và ta cần phân biệt những điểm khác nhau của hai quyển sách trên như sau:

     * TAM QUỐC CHÍ 三 國 誌 là quyển biên niên sử từ năm Hoàng Sơ Nguyên niên thời Ngụy Văn Đế (220) đến Thái Khang Nguyên niên Tấn Võ Đế (280) tổng cộng là 60 năm; gồm có Ngụy Thư 30 quyển, Thục Thư 15 quyển, Ngô Thư 20 quyển; Cả thảy là 65 quyển. Tác giả là nhà sử học Trần Thọ 陳 壽 (233-297) đời Tây Tấn biên soạn theo những sử liệu sưu tập được. 

    * TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 là quyển tiểu thuyết do Tiểu thuyết gia La Quán Trung 羅 貫 中(1330—1400)ở cuối đời Nguyên đầu đời Minh căn cứ theo quyển biên niên sử TAM QUỐC CHÍ của Trần Thọ và chú giải của Bùi Tùng 裴 松 kết hợp với các truyền thuyết trong dân gian về đời Tam Quốc, rồi hư cấu thêm thắt mà sáng tác nên TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA với 120 hồi. 

    * TAM QUỐC CHÍ 《三 國 誌》cùng với SỬ KÝ《史 記》、HÁN THƯ《漢 書》、HẬU HÁN THƯ《后 漢 書》Hợp xưng là "Tiền Tứ Sử 前 四 史" là Bốn quyển sử có trước nhất. TAM QUỐC CHÍ cũng là một trong "Nhị Thập Tứ Sử 二 十 四 史" là "Hai Mươi Bốn Bộ Sử" của Trung Hoa.

    * TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 của La Quán Trung, "TÂY DU KÝ 西 遊 記" của Ngô Thừa Ân, "HỒNG LÂU MỘNG 紅 樓 夢" của Tào Thuyết Cần và "THỦY HỬ TRUYỆN 水 滸 傳" của Thi Nại Am hợp xưng là "Tứ Đại Danh Tác 四 大 名 作" là "Bốn sáng tác lớn" của nền văn học cổ Trung Hoa.

                                     
                        TAM QUỐC CHÍ 《三 國 誌》

      Từ những khác biệt trên. cho ta đưa đến 4 kết luận như sau:

    1. TAM QUỐC CHÍ 《三 國 誌》là một quyển sách biên niên sử, ghi lại những sự kiện lịch sử có thật; TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 là một quyển tiểu thuyết chương hồi, nên có thêm thắt về những truyền thuyết và hư cấu.
    2. TAM QUỐC CHÍ 《三 國 誌》 được viết bởi Trần Thọ 陳 壽, người đời Tây Tấn sau đời Tam Quốc, nên những sự kiện và nhân vật đều rất trung thực sát với thực tế. TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 được viết bởi La Quán Trung 羅 貫 中 ở cuối đời Nguyên đầu đời Minh, hơn một ngàn năm sau TAM QUỐC CHÍ, nên có rất nhiều truyền thuyết trong dân gian và hư cấu lồng thêm vào trong nội dung truyện.
    3. TAM QUỐC CHÍ 《三 國 誌》là do Trần Thọ bỏ công sức nhiều năm sưu tầm tài liệu chứng cứ lịch sử mà viết nên. Còn TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 là do La Quán Trung lấy tài liệu chủ yếu trong TAM QUỐC CHÍ rồi thêm thắt các truyền thuyết và hư cấu mà thành. Nên TAM QUỐC CHÍ là cái nguồn chính của TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA.
    4. Về "Gía trị Lịch Sử" thì TAM QUỐC CHÍ chính xác hơn TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA; Còn về "Giá trị Văn học" thì TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA vượt trội hẵn TAM QUỐC CHÍ. Chả trách, người Hoa đánh giá TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 là một trong "Tứ Đại Danh Trứ 四 大 名 著" (Ta gọi là "Tứ Đại Danh Tác" cũng cùng một nghĩa mà thôi) của nền văn học cổ Trung Hoa.
 
                           

                                TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA

       Vì là tiểu thuyết chương hồi lại có giá trị văn chương rất lớn, nên TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA 三 國 誌 演 義 được phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân hơn là sách lịch sử TAM QUỐC CHÍ 《三 國 誌》. Chẳng những ở Trung Hoa mà ở cả những nước chịu ảnh hưởng bởi nền văn học Trung Hoa cũng thế; nên có rất nhiều "Nhân vật" và "Sự kiện" trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA chỉ là theo truyền thuyết hay hư cấu cho câu truyện hấp dẫn hơn chứ không có thật trong chính sử. 
       Sau đây ta sẽ lần lượt đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác trước những sự việc mà ta luôn đinh ninh rằng đó là sự thật, nhưng lại toàn là hư cấu.

     1. ĐÀO VIÊN TAM KẾT NGHĨA 桃 園 三 結 義. Ta thường gọi là Kết nghĩa Đào Viên giữa ba anh em Lưu Bị, Quan Công, và Trương Phi. Trong chính sử không có ghi lại chuyện kết nghĩa nầy, chỉ nói là ba người rất thân nhau như là anh em ruột vậy. Trong chính sử còn cho biết, nếu kể về tuổi tác thì Quan Công còn lớn hơn Lưu Bị một tuổi. La Quán Trung vì muốn nhấn mạnh và đề cao tình cảm giữa ba người nên mới hư cấu thêm chuyện ba người thề nguyền kết nghĩa ở vườn đào sau nhà Trương Phi mà thôi.
   
                                 
                       ĐÀO VIÊN TAM KẾT NGHĨA

     2. ÔN TỬU TRẢM HOA HÙNG 温 酒 斬 華 雄 là Hâm rượu chém Hoa Hùng: Trong hồi thứ 5 của Tam Quốc Diễn Nghĩa, khi chư hầu hợp quân phạt Đổng Trác. Đại tướng của Đổng Trác là Hoa Hùng sau khi chém hai anh em Bào Tín, Bào Trung lại đánh bại tướng tiên phong của liên quân là Tôn Kiên, tiếp đó lại chém thêm mấy tướng của liên quân nữa. Các lộ chư hầu đều hãi kinh thất sắc, thì Quan Công lúc bấy giờ chỉ là một tiểu mã cung thủ trong quân xin ra trận. Khi Quan Công chém đầu của Hoa Hùng xách về trong trại thì rượu mà Tào Tháo hâm sẵn để đãi ông hãy còn ấm trong ly. Thật ra theo chính sử thì Hoa Hùng chết về tay của Mãnh Hổ xứ Giang Đông là Tôn Kiên, chớ không phải chết về tay Quan Công. TAM QUỐC DIỄN NGHĨA của La Quán Trung lại cho Tôn Kiên thua dưới tay Hoa Hùng một cách oan ức, lại ghi công giết Hoa Hùng cho Quan Công một cách oai hùng.

    3. TAM ANH CHIẾN LỮ BỐ 三 英 戰 吕 布. Sau khi Hoa Hùng chết, Đổng Trác lại phái Phi Tướng Quân Lữ Bố đến, Bố liên tiếp chém các tướng Phương Duyệt, Mục Thuận, và sát thương Võ An Quân, Công Tôn Toản, đưa đến việc Trương Phi rồi Quan Công, và Lưu Bị ba người cùng đại chiến với Lữ Bố ở Hổ Lao Quan. Nhưng theo chính sử thì lúc bấy giờ Lưu Quan Trương đang theo dưới trướng của Công Tôn Toản, mà Toản không có tham gia liên minh diệt Đổng Trác, nên chuyện "Hổ Lao Quan Tam Anh Chiến Lữ Bố" chỉ là chuyện hư cấu của La Quán Trung mà thôi. Đánh lui Lữ Bố là công của Mãnh Hổ xứ Giang Đông là Tôn Kiên, chớ không phải Lưu Quan Trương.

               
                      TAM ANH CHIẾN LỮ BỐ 三 英 戰 吕 布

    4. THẬP BÁT LỘ CHƯ HẦU THẢO ĐỔNG TRÁC 十 八 路 諸 侯 討 董 卓 là La Quán Trung chỉ nói cho xôm thôi, chứ theo chính sử thì chỉ có "Mười Ba lộ Chư Hầu thảo phạt Đổng Trác" mà thôi. (Xin miễn kể ra vì qúa dài dòng).

   5.QUAN CÔNG TRẢM NHAN LƯƠNG, TRU VĂN SỬU 關 公 斬 颜 良,誅 文 丑 : Bất luận là trong văn học, trên sân khấu hay trong điện ảnh, hình ảnh "Trảm Nhan Lương, Tru Văn Sửu" là biểu tượng hào hùng vô địch của Quan Công. Vì đó là hai tướng tài tiên phong của Viên Thiệu. Nhưng theo chính sử: Chỉ có Quan Công "Trảm Nhan Lương" là chuyện có thật, còn Văn Sửu là do bộ hạ của Tào Tháo sát hại, chớ không phải do Quan Công giết.

  6.TRƯƠNG PHI TIÊN ĐỐC BƯU 張 飛 鞭 督 郵 là "Trương Phi đánh Đốc Bưu": Ba anh em Lưu Quan Trương vì dẹp Giặc Khăn Vàng có công, nên Lưu Bị được phong làm Huyện Úy huyện An Hỉ. Có quan tuần kiểm là Đốc Bưu đến thanh tra. Đòi hối lộ không được bèn vu cáo Lưu Bị là mạo nhận hoàng thân quốc thích và báo giả chiến công đánh Giặc Khăn Vàng. Trương Phi uống rượu say tức giận xông vào dịch quán bắt Đốc Bưu lôi ra buộc vào cột buộc ngựa, rồi bẻ liễu làm roi. Đánh gãy hết mấy cây roi liễu mới thôi. Sau đó Lưu Bị treo ấn quan vào cổ của Đốc Bưu rồi anh em từ quan mà đi. Theo chính sử thì việc nầy do Lưu Bị làm chớ không phải do Trương Phi làm; Nhưng dân gian chỉ biết có "Trương Phi say rượu đánh Đốc Bưu " mà thôi.

                  
                             Trương Phi đánh Đốc Bưu

  7.MẠNH ĐỨC HIẾN ĐAO 孟 德 献 刀 là "Tào Tháo dâng đao": Khi Đổng Trác chuyên quyền, Tư Đồ Vương Doãn mưu đồ hành thích Đồng Trác. Tào Tháo tự là Mạnh Đức biết rằng trước sau gì Đổng Trác cũng thất bại, nên lãnh Thất Tinh Đao đi hành thích Đổng Trác. Khi đó Đổng Trác đang nằm xoay mặt vào trong, chợt thấy trong gương loé sáng, bèn xoay mình ra. Tào Tháo biết đã bị lộ bèn giả vờ qùy xuống nói với Đổng Trác là "Vì có đao qúy muốn đến để dâng lên cho Đổng Trác". Đây là chuyện hoàn toàn hư cấu của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa không có trong chính sử. 

  8.ĐIÊU THUYỀN 貂 嬋 : với tích "Điêu Thuyền Bái Nguyệt 貂 嬋 拜 月" là dưỡng nữ của quan Tư Đồ Vương Doãn với Liên Hoàn Kế là: Hứa gả Điêu Thuyền cho Lữ Bố, rồi lại đem Điêu Thuyền dâng cho Đổng Trác để gây mâu thuẫn xung đột giữa Đổng Trác và Lữ Bố. Truyện hoàn toàn do hư cấu mà nên, vì theo chính sử thì: Lữ bố có gian tình với một người hầu thiếp của Đổng Trác mà gây nên xung đột, chớ không có ai bày mưu lập kế gì cả. Cái tuyệt vời của truyện này là: ĐIÊU THUYỀN là nhân vật hư cấu trong Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa lại nghiễm nhiên trở thành một trong TỨ ĐẠI MỸ NHÂN 四 大 美 人 của Trung Hoa cổ đại, chẳng những trong dân gian mà cả giới văn học cũng vẫn còn nhắc mãi như là một con người có thật trong lịch sử vậy.

                          
                  Điêu Thuyền Bái Nguyệt 貂 嬋 拜 月

    9. QUAN CÔNG HÀNG TÀO 關 公 降 曹 : Sau khi đến Từ Châu, Lưu Bị đóng quân ở Tiểu Bái, lệnh cho Quan Công thủ Hạ Phi. Năm 200 Tào Tháo đánh Tiểu Bái, Lưu Bị thua bỏ chạy, vợ con bị Tào Tháo bắt. Khi Tào Tháo công hãm Hạ Phi; Quan Công thất thế đầu hàng Tào Tháo, chớ không phải vì "Nhị Tẩu" mà đầu Hàng, vì lúc đó không có "Nhị Tẩu" nào bên mình cả. Khi đã qui hàng Tào Tháo rồi, trong trận chiến Quan Độ Quan Công đã chém tướng Nhan Lương để lập công, được Tào Tháo tâu lên vua Hán phong cho tước hiệu "Hán Thọ Đình Hầu 漢 壽 亭 侯".

  10.QÚA NGŨ QUAN TRẢM LỤC TƯỚNG 過 五 關 斬 六 將∶là "Qua năm ải, chém sáu tướng" . Vì Không có "Nhị Tẩu" bên mình khi đầu hàng Tào Tháo, nên không có chuyện "Quan Công phò Nhị tẩu" và cũng không có chuyện "Quá ngũ quan, trảm lục tướng" gì gì cả! Tất cả chỉ là do hư cấu của La Quán Trung để đề cao nhân phẩm và nhân cách của Quan Công mà thôi. Trên thực tế thì năm cửa ải đó cách nhau rất xa và không có liên quan gì đến đường đi của Quan Công cả. Sau khi rời dinh Tào Tháo ở Hứa Xương thì Quan Công xuôi nam thẳng đến đất Nhữ Nam để gặp Lưu Bị. nên trong chính sử không có chuyện "Quá ngũ quan, trảm lục tướng" gì cả.

  11.VỀ SÁU TƯỚNG Bị TRẢM 被 斬 的 六 将∶ theo Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa thì 6 tướng đó là : Khổng Tú, Mạnh Thản, Hàn Phước, Biện Hỉ, Vương Trực, và Tần Kỳ. Cả sáu nhân vật nầy đều không có trong chính sử, cả tên tuổi của họ đều được hư cấu cả; Họ xuất hiện trong truyện chỉ là để "Nhận một đao" của Quan Công và tô điểm thêm nét chính trực và trung nghĩa của Quan Công mà thôi.

    12. TRƯỜNG BẢN PHA THẤT TIẾN THẤT XUẤT 長 板 坡 七 進 七 出 : là "Bảy lần ra vào Gò Trường Bản". Khi Tào Tháo lấy Kinh Châu, Lưu Bị thua ở trận Đương Dương Trường Bản. Triệu Vân là Thường Sơn Triệu Tử Long đã bảy lần vào ra gò Trường Bản để cứu Cam phu nhân và ấu Chúa Lưu Thiền. Khi Lưu Bị chiếm Ích Châu lập nên nhà Thục Hán; Triệu Vân được phong là Dực Quân Tướng Quân 翊 軍 將 軍. Theo chính sử thì Triệu Vân đưa gia quyến của Lưu Bị rút lui một cách êm thắm bình an, nên cũng không có chuyện: Lưu Bị ném thằng con Lưu Thiền xuống đất mà nói rằng: Tại mi mà ta xuýt chút nữa đã mất hết một viên đại tướng.

    13. TRƯƠNG PHI NỘ HỐNG TRƯỜNG BẢN KIỀU 張 飛 怒 吼 長 板 橋 là "Trương Phi hét lớn ở cầu Trường Bản". Thua ở trận Đương Dương Trường Bản, Lưu Bị phải rút lui, khi đến cầu Trường Bản Trương Phi đã ở lại đứng chặn truy binh của Tào Tháo trên cầu. Quân Tào không ai dám tiến lên. Trương Phi quát to lên rằng: "Người đất Yên Trương Dực Đức là ta đây, có ai dám cùng ta tử chiến chăng?" Tiếng quát vang động cả núi rừng, làm cho tướng của Tào Tháo là Hạ Hầu Kiệt đứt ruột, vỡ gan, ngã nhào xuống ngựa. Quân tướng Tào Tháo thấy thế ai cũng bỏ chạy cả. Trương Phi thấy vậy sai chặt cầu rồi cùng Lưu Bị và các tướng chạy về Giang Hạ. Đây chỉ là thủ pháp khoa trương của La Quán Trung muốn nhấn mạnh sự uy vũ của Trương Phi mà thôi, không có ghi trong chính sử.

                                     
        TRƯƠNG PHI NỘ HỐNG TRƯỜNG BẢN KIỀU 

    14. THIỆT CHIẾN QUẦN NHO 舌 戰 群 儒 : Chỉ Khổng Minh dùng miệng lưỡi để chiến đấu thuyết phục phe Nho sĩ chủ hòa của Giang Đông như Trương Chiêu, Ngu Phiên, Lục Tích... Cuối cùng cũng thuyết phục được Chúa Đông Ngô là Tôn Quyền và Thuỷ Quân Đô Đốc Châu Do liên kết với Lưu Bị để cùng chống lại tám mươi vạn quân Tào Tháo. Theo chính sử thì Khổng Minh Gia Cát Lượng chỉ gặp và nói chuyện với Tôn Quyền mà thôi, chứ không có "Thiệt chiến quần Nho", bày ra "khổ Nhục kế" hay "liên hoàn kế" gì cả. Tất cả đều là hư cấu.

     15. ĐỒNG TƯỚC XUÂN THÂM TỎA NHỊ KIỀU 銅 雀 春 深 鎖 二 喬 là "Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều". Khi Tào Tháo đem 80 vạn quân đi đánh Đông Ngô, thì Đô Đốc tam quân của Đông Ngô là Chu Du đang còn do dự chưa quyết, không biết nên hòa hay nên đánh. Khổng Minh mới dùng kế khích tướng, làm như không biết Tiểu Kiều là vợ của Chu Du, mới bảo Chu là: "Tào Tháo cho xây Đồng Tước Đài là để khi đánh tan quân Đông Ngô rồi thì bắt hai người đẹp nổi tiếng của Giang Đông là Đại Kiều và Tiểu Kiều về khóa xuân trong đài Đồng Tước để vui hưởng tuổi già. Nay nếu Đô Đốc sợ hao binh tổn tướng không dám đánh, thì cứ bắt hai nàng Kiều đem dâng cho Tào Tháo. Giang Đông chỉ mất có hai nàng Kiều mà tránh khỏi chiến tranh và chức Đô Đốc của tướng quân cũng sẽ vững như bàn thạch!" Chu Du nghe xong, trong lòng đà nổi giận, nhưng vẫn bình tĩnh hỏi lại rằng: "Có chi làm bằng?!" Khổng Minh bèn cười mà đáp: "Có chứ !" bèn đọc lại hai câu trong bài phú Đồng Tước Đài của Tào Thực (là Tào Tử Kiến con trai thứ của Tào Tháo rất giỏi văn thơ ) đã làm theo lệnh của Tào Tháo khi Đồng Tước Đài vừa xây xong là: 
          攬 二 喬 于 東 南 兮, Lãm nhị Kiều vu đông nam hề,
          樂 朝 夕 之 與 共。   Lạc triêu tịch chi dữ cộng,
       Có nghĩa :
                  Ôm ấp hai nàng Kiều ở phía đông nam nầy...
                  Cùng nhau mà vui vầy sớm tối.
      Chu Du nghe xong cả giận, rút gươm chém đứt một gốc bàn, mắng rằng: "Lão tặc Tào Tháo, ta quyết sẽ không đội trời chung với ngươi! Từ rày về sau ai còn bàn việc hàng Tào, thì hãy xem gốc bàn nầy mà làm gương". Khổng Minh làm bộ kinh ngạc hỏi: "Chỉ là 2 nàng Kiều thôi, sao Đô Đốc lại giận dữ thế?!" Lỗ Túc bèn đáp rằng: "Tại quân sư không hiểu thôi, Tiểu Kiều chính là Đô Đốc phu nhân đó". 
     Đó là theo TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA của La Quán Trung, còn theo chính sử thì trận chiến Xích Bích xảy ra ở năm Kiến An thứ 13 tức (208), còn Đồng Tước Đài được xây dựng năm Kiến An thứ 15 (210) theo ước vọng của Tào Tháo. Nên khi xảy ra trận chiến Xích Bích thì Tào Thực chưa làm bài "Phú Đồng Tước Đài" thì lấy đâu ra hai câu thơ trên để mà nói khích Chu Du. Nguyên...
     Đền Đồng Tước gồm có 3 dãy, dãy giữa là Đồng Tước Đài, lớn và đẹp nhất; phía Nam là Kim Hổ Đài và phía Bắc là Băng Tĩnh Đài. Ba dãy kiến trúc nầy mỗi dãy cách nhau khoảng 60 bước, giữa có hai cầu vượt nối liền ba dãy với nhau. Nên Tào Thực mới hạ câu:

       連 二 橋 于 東 西 兮, Liên nhị kiều vu đông tây hề,
       若 長 空 之 蝃 蝀。    Nhược trường không chi đế đống.
      Có nghĩa :
                Nối liền bằng hai cầu ở phía đông tây này...
                Trông giống như hai cái mống trên bầu trời.

     Vì muốn nói khích Chu Du nên Khổng Minh đã đổi lại thành:

           攬 二 喬 于 東 南 兮, Lãm nhị Kiều vu đông nam hề,
           樂 朝 夕 之 與 共。    Lạc triêu tịch chi dữ cộng,
     Có nghĩa :
                Ôm ấp hai nàng Kiều ở phía đông nam nầy...
                Cùng nhau mà vui vầy sớm tối.
   
                                      ]    
                      Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều

     Chữ NHỊ KIỀU 二 橋 là 2 cây Cầu với chữ NHỊ KIỀU 二 喬 là 2 nàng Kiều là chữ Đồng Âm nhưng khác nghĩa! Qủa là miệng lưỡi của những kẻ thuyết khách lợi hại vô cùng! Nói cho đúng, không phải là Gia Cát Khổng Minh lợi hại, mà là La Quán Trung lợi hại vô cùng. Ông đã gán ghép nhiều câu chuyện trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA mà người đời biết là hư cấu, nhưng vẫn tin những việc đó như là có thật. Ví dụ như việc sau đây... 

    16. THẢO THUYỀN TÁ TIỄN 草 船 借 箭 là "Thuyền Cỏ Mượn Tên". Theo chính sử: Tháng Giêng năm Công nguyên 213, Tào Tháo thống lĩnh 40 vạn đại quân tấn công Tây doanh của Tôn Quyền trên sông Trường Giang, bt sống Đô đốc Công Tôn Dương, nên Tôn Quyền dẫn 7 vạn đại quân đến nghinh chiến. Khi quân Tào đuổi đánh quân Đông Ngô đến một sa châu là bãi đất nổi lên giữa sông thì bị quân của Tôn Quyền bao vây chết hết mấy ngàn quân. Tào Tháo ra lệnh cố thủ. Tôn Quyền đích thân cầm quân khiêu chiến áp sát bến sông. Tào Tháo ra lệnh dùng tên để bắn các chiến thuyền của Tôn Quyền. Tên ghim đầy một bên làm cho các chiến thuyền nghiêng chao về một phía; Tôn Quyền bèn ra lệnh cho các chiến thuyền quay đầu lại để thuyến hứng tên phía bên kia, đến khi thấy thuyền đã cân bằng vì hai bên đã ghim đầy tên của quân Tào rồi, Tôn Quyền bèn ra lệnh đánh trống thu binh. Sự gan dạ và đãm lược của Tôn Quyền làm cho Tào Tháo cũng phải buộc miệng khen rằng: "Sinh con phải được như Tôn Trọng Mưu vậy!" Còn trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA vì La Quán Trung muốn nâng hình tượng của Khổng Minh Gia Cát Lượng lên trên tầm cao, nên mới gán công lao "Thuyền Cỏ Mượn Tên" của Tôn Quyền cho Khổng Minh Gia Cát Lượng là vì thế.

     17. TÔN PHU NHÂN 孫 夫 人 là con của Tôn Kiên, em gái của Tôn Quyền và Tôn Sách. Quyền gả em gái cho Lưu Bị để liên minh thế lực. Năm Kiến An thứ 17, khi Lưu Bị vào đất Thục, Quyền cho đón em gái về, muốn dắt theo cả Á Đẩu về Đông Ngô, nhưng gặp Triệu Vân chặn thuyền trên sông đoạt Á Đẩu về. Phu nhân về Đông Ngô. Về sau chính sử không nhắc đến nữa. Đây là cuộc hôn nhân mang tính chính trị nên mới gán ghép cho ông già 50 Lưu Bị lấy Tôn Phu Nhân chỉ mới đôi mươi. Nhưng trong truyện Diễn Nghĩa kể theo truyền thuyết dân gian thì: Tôn Phu Nhân có nhũ danh là Tôn Thượng Hương 孫 尚 香. Mặc dù thân ở Đông Ngô, nhưng khi nghe tin Lưu Bị thất trận ở Di Lăng, chết ở thành Bạch Đế, Phu Nhân mới đến bên ven sông, trông về hướng Tây mà khóc rồi nhảy xuống sông tự trầm mà chết. Dân chúng thương cho sự tiết liệt chung thủy của Phu Nhân, nên lập miếu ở ven sông mà thờ. Vì Lưu Bị là Vua nên mới gọi là Nương Nương Miếu. Đỉnh núi mà Phu Nhân khóc Lưu Bị gọi là Đỉnh Vọng Phu. Đây cũng là một trong những truyền thuyết về VỌNG PHU SƠN 望 夫 山 của Trung Hoa như bài thơ của Lưu Vũ Tích sau đây:

   終 日 望 夫 夫 不 歸,  Chung nhật vọng phu phu bất quy,
   化 為 孤 石 苦 相 思。  Hóa vi cô thạch khổ tương ti (tư).
   望 來 已 是 幾 千 載,  Vọng lai dĩ thị kỉ thiên tải,
   只 似 當 時 初 望 時。  Chỉ tự đương thời sơ vọng thì.
       Có nghĩa :
                    Mõi mắt trông chồng chẳng thấy đâu,
                    Hóa thành tượng đá chửa thôi sầu.
                    Mỏi mòn trông ngóng ngàn năm đợi,
                    Nỗi nhớ còn nguyên tựa lúc đầu !

   
                                                
                     VỌNG PHU SƠN 望 夫 山

     18. BÀNG THỐNG LIÊN HOÀN KẾ 龐 統 連 環 計 : là "Kế Liên Hoàn của Bàng Thống" Trước trận Xích Bích, Chu Du đã nhờ Lổ Túc hỏi kế Bàng Thống. Thống đã đưa ra kế hỏa công, nhưng vì trên sông, hễ đốt một thuyền thì các thuyền khác sẽ tản ra, nên Thống lại đưa ra kế Liên Hoàn là bày cho quân Tào Tháo kết các thuyền nhỏ lại thành một thuyền lớn, điều nầy cũng hợp với quân Tào Tháo là dân miền bắc chuyên về đánh bộ không quen với sông nước chông chênh. Các thuyền liên kết lại khiến cho Chu Du dễ dàng dùng hỏa công để đốt quân Tào Tháo trên sông Xích Bích. Thực ra theo chính sử thì Liên Hoàn các thuyền lại là kế sách do Tào Tháo nghĩ ra chớ không phải vì nghe lời của Bàng Thống.

     19. KHỔNG MINH TÁ ĐÔNG PHONG 孔 明 借 東 風 : Là "Khổng Minh mượn gió Đông". Về Khổng Minh Gia Cát Lượng, ông ta chỉ giỏi về Thiên văn Địa lý mà thôi, chớ không biết phép thần thông hô phong hoán vũ gì cả. Nhìn mây nhìn trời ông biết được hôm nào sẽ có sương mù, hôm nào sẽ có gió chướng, nên mới dám hứa cầu phong để mượn ba ngày gió đông cho Chu Du. Xây Thất Tinh Đài là để đứng trên cao, khi thấy cờ phướng đã trở gió Đông bèn đi xuống ngay và đã dặn sẵn Triệu Tử Long đến đón. Đến khi gió đông thổi mạnh, Chu Du cho người đến truy sát vì ganh ghét thì Khổng Minh đã đi xa rồi. Nên đây cũng là chuyện hư cấu chứ không có trong chính sử.

     20. HOA DUNG ĐẠO QUAN CÔNG NGHĨA THÍCH TÀO THÁO 華 容 道 關 公 義 釋 曹 操 : Là "Quan Công vì nghĩa mà tha cho Tào Tháo ở Hoa Dung Đạo". Đây là việc La Quán Trung hư cấu để bôi đen hình tượng của Tào Tháo và tô hồng nghĩa khí của Quan Công mà thôi; Vì theo chính sử là Lưu Bị lãnh quân chặn ở Hoa Dung Đạo, chớ không phải Quan Công, nhưng vì Lưu Bị đem quân đến trễ, nên Tào Tháo đã chạy xa rồi!

    21. QUÁT CỐT LIỆU THƯƠNG 刮 骨 療 傷 : là "Nạo xương trị thương". Trong DIỄN NGHĨA nói là Thần y Hoa Đà đã nạo xương trị thương cho Quan Công, nhưng theo chính sử thì lúc đó Hoa Đà đã chết hai năm rồi; nên việc nạo xương trị thương chắc chỉ do những thầy thuốc bình thường trong quân ngũ đã làm mà thôi.

                        

                                  TAM KHÍ CHU DU

    22. GIA CÁT LƯỢNG TAM KHÍ CHU DU 諸 葛 亮 三 氣 周 瑜 : Là "Gia Cát Lượng làm cho Chu Du nổi giận ba lần". Lần đầu ở Hồi thứ 51: Chu Du và Gia Cát Lượng hẹn nhau nếu Chu Du đánh chiếm Nam Quận thất bại, thì Lưu Bị sẽ đánh chiếm Nam Quận. Chu Du đánh chiếm Nam Quận lần đầu thất bại, lại bị tiễn thương, rồi tương kế tựu kế dụ quân Tào ra khỏi thành rồi tập kích đánh bại quân Tào, nhưng khi định về chiếm Nam Quận thì quân của Lưu Bị đã đánh chiếm Nam Quận rồi. Chu Du tức đến vết thương vỡ ra và té nhào xuống ngựa. Lần thứ hai ở hồi thứ 55: Hay tin phu nhân của Lưu Bị qua đời, Chu Du bèn hiến Mỹ Nhân Kế với Tôn Quyền giả vờ đem em gái là Tôn Thượng Hương gả cho Lưu Bị, dụ cho Bị đến Đông Ngô rồi giết đi. Gia Cát Lượng tương kế tựu kế giúp cho Lưu Bị thuận lợi đưa Tôn Phu Nhân về đất Thục, lại cho quân sĩ rêu rao rằng: "Chu Lang diệu kế an thiên hạ, Bồi liễu phu nhân hựu chiết binh 周 郎 妙 計 安 天 下,賠 了 夫 人 又 折 兵' Chu Du tức đến nổi thuốc kim thương vỡ ra và ngất xỉu. Lần thứ ba ở hồi 56 : Lưu Bị mượn của Đông Ngô 9 quận đất Kinh Tương để làm cơ sở khởi nghiệp. Đông Ngô năm lần bảy lượt đòi lại đất Kinh Châu. Lưu Bị hứa khi nào chiếm được đất Tây Xuyên, sẽ trả lại Kinh Châu. Chu Du bèn tương kế tựu kế nói rằng sẽ giúp Lưu Bị đánh chiếm Tây Xuyên. Định cử đại binh giả đánh Tây Xuyên kỳ thực là khi đi ngang Kinh Châu sẽ bất ngờ đánh chiếm lại Kinh Châu. Nào ngờ Gia Cát Lượng đoán biết được, cho các tướng mai phục sẵn, khi đại binh của Chu Du vừa đến thì đồng loạt xuất hiện để chào đón và bao vây quân của Chu Du bốn phía. Chu Du lại một phen tức giận đến ói máu, vết thương lại vỡ ra chẳng bao lâu thì qua đời. Trước khi chết còn than một câu rằng: "Trời sanh Du, sao còn sanh Lượng?" Nhưng...
      Tất cả những chuyện trên đây đều do La Quán Trung hư cấu cho câu chuyện thêm hấp dẫn người đọc mà thôi, vì theo chính sử thì Chu Du và Gia Cát Lượng rất ít khi gặp mặt nên cũng rất ít khi chú ý đến nhau. Vả lại, sau trận chiến Xích Bích rồi Chu Du bị bệnh mà chết, trong khoảng hai năm nầy Gia Cát Lượng đang làm công tác hậu cần ở Linh Lăng không hề gặp mặt Chu Du lần nào, và thay mặt cho nước Thục đến điếu Chu Du là Bàng Thống chứ không phải là Khổng Minh Gia Cát Lượng.
 
             
                                 NGŨ HỔ TƯỚNG  五 虎 将

    23. NGŨ HỔ TƯỚNG 五 虎 将 : Lưu Bị không có phong hàm NGŨ HỔ TƯỚNG cho ai cả. Trong quân ngũ cao nhất là Quan Vũ tức Quan Công là "Tiền Tướng quân", kế đến  Trương Phi là "Xa Kỵ Tướng quân", Mã Siêu là "Phiêu Kỵ Tướng quân", Hoàng Trung là "Hậu Tướng quân", nhỏ nhất Triệu Vân là "Dực Quân Tướng quân". Từ năm Kiến An 25 cho đến Chương Võ năm thứ 2, chỉ trong vòng 4 năm nầy Quan, Trương, Mã, Hoàng đều chết hết cả.

    24. QUAN CÔNG MẠCH THÀNH LẪM NHIÊN CỰ HÀNG 關 公 麥 城 凛 然 拒 降 : là "Quan Công hiên ngang từ chối đầu hàng ở Mạch Thành". Sau khi thua ở Mạch Thành, bên mình Quan Công chỉ còn có mười mấy kỵ binh thân tín. Tôn Quyền cho thuyết khách đến khuyên đầu hàng. Quan Công giả vờ chịu hàng, rồi rút lui bằng cửa khác. Lữ Mông đoán được cho phục binh chặn đường bắt được giết chết. Theo Quan Vũ Truyện thì Quan Công bị tướng Mã Trung bắt giết. Tôn Quyền cho đem thủ cấp đến Lạc Dương dâng lên cho Tào Tháo.

    25. TRUY MỆNH LỮ MÔNG 追 命 吕 蒙 : là "Theo Lữ Mông đòi mạng". Tương truyền sau khi chết, hồn của Quan Công phiêu dạt đến Ngọc Tuyền Sơn của huyện Đương Dương, luôn gào lên câu "Trả đầu lại cho ta". Gặp phải sư Phổ Tịnh giảng rằng: "Chuyện thị phi xưa nay, đừng luận đến nữa; Tiền nhân hậu quả, đây đó đều không vui. Nay tướng quân bị Lữ Mông giết chết, lớn tiếng kêu đòi lại đầu; Có nhớ trước đây Nhan Lương, Văn Sửu, rồi qúa ngũ quan trảm lục tướng, những người đã bị tướng quân chém chết thì đi đòi đầu với ai đây?" Hồn Quan Công chợt tỉnh ngộ, cúi đầu qui y. Từ đó về sau hay hiễn linh để phù hộ cho dân chúng ở Ngọc Tuyền Sơn. Dân làng ở đây cảm đức nên mới lập miếu thờ phượng. Đây là ngôi QUAN THÁNH MIẾU đầu tiên trong lịch sử. 
     Dĩ nhiên, câu truyện trên đây toàn là hư cấu, chỉ có dân lập miếu thờ lòng trung nghĩa của Quan Công là có thật mà thôi. Và... nói cũng lạ, đây là ông thánh được dân chúng người Hoa và Hoa Kiều trên khắp thế giới thờ phượng nhiều nhất, mãi cho đến hin nay, hễ nơi nào có người Hoa trú ngụ sinh sống là nơi đó có QUAN THÁNH MIẾU với các tên như QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN MIẾU, HIỆP THIÊN CUNG, CHÙA ÔNG HIỆP THIÊN CUNG...

                                     
                   Ngọc Tuyền Sơn hiển Thánh

     26. THẤT CẦM MẠNH HOẠCH 七 擒 孟 獲 : Là "Bắt Mạnh Hoạch bảy lần". Không có trong TAM QUỐC CHÍ, chỉ có trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA nên chỉ là chuyện hư cấu. Trong Hán Tấn Xuân Thu《漢 晋 春 秋》do Bùi Tùng Chi chú giải có một câu “Thất Cầm Thất Túng 七 擒 七 縱” là "Bảy lần bắt bảy lần tha" nhưng không có chi tiết gì cả. Còn Mạnh Hoạch sau nầy làm quan Ngự Sử Trung Thừa ở đất Thục, là một quan văn chớ không phải võ tướng.

     27. LỤC XUẤT KỲ SƠN 六 出 祁 山 : là 6 lần ra núi Kỳ Sơn để phạt Ngụy. Chỉ là nói cho oai thôi, vì theo chính sử chỉ có lần thứ nhất và lần 4 là đến được Kỳ Sơn mà thôi. Còn mấy lần kia đều thất bại.

     28. HOẢ THIÊU THƯỢNG PHƯƠNG CỐC 火 燒 上 方 谷 : là "Lửa đốt Thượng Phương Cốc" . Xuýt tý nữa thì đã đốt chết Tư Mã Ý và Nguỵ Diên rồi. Nhưng đây chỉ là chuyện hư cấu.

     29. KHÔNG THÀNH KẾ 空 城 計 là "Kế mở cửa thành trống không cho quân địch vào". Hư cấu phát xuất từ "KHÔNG DOANH KẾ 空 营 計"(Kế bỏ trại trống không) của Thường Sơn Triệu Tử Long. Vì lúc bấy giờ Gia Cát Lượng đồn binh ở Bình Dương của đất Hán Trung, còn Tư Mã Ý là Đô Đốc Kinh Châu; Hai quân cách nhau cả ngàn dặm làm sao gặp được nhau mà có "Kế không thành"?

     30. TỬ GIA CÁT TẨU SANH TRỌNG ĐẠT 死 諸 葛 走 生 仲 達 : là "Gia Cát đã chết làm cho Trọng Đạt còn sống phải sợ mà chạy" là chuyện có thật, nhưng không phải là kế của Gia Cát Lượng. Khi Gia Cát Lượng chết, quân Thục lặng lẽ rút lui. Tư Mã Ý đem quân đuổi theo. Tướng Thục là Dương Nghi hạ lệnh cho quân Thục xoay cờ gióng trống tiến về phía quân Ngụy. Tư Mã Ý (tự là Trng Đạt) thấy thế, nghi có phục binh, bèn rút quân không dám đuổi theo. Trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA còn cho thêm chi tiết là khi quân Thục xoay cờ gióng trống quay lại, giữa trung quân lại đẫy ra một chiếc xe có hình nộm của Gia Cát Lượng ngồi phe phẩy quạt, nên Tư Mã Ý mới nghi là có phục binh mà bỏ chạy.
     
                                 

               TỬ GIA CÁT TẨU SANH TRỌNG ĐẠT

     31. CHÂU THƯƠNG 周 倉 tự là Nguyên Phúc, là bộ tướng trung thành nhất của Quan Công. Sau khi nghe tin cha con Quan Công và Quan Bình bị hại, bèn tự vận chết theo, nên khi Quan Công hiển thánh ở Ngọc Tuyền Sơn thì một bên là Quan Bình cầm ấn tín Hớn Thọ Đình Hầu, một bên là Châu Thương cầm Thanh long Yễm Nguyệt đao, và đây cũng là hình tượng thờ phượng Quan Công mãi cho đến hiện nay ở các chùa miếu.

     32. LƯU HOÀNG THÚC LƯU BỊ 劉 皇 叔 劉 備 : Chỉ là gán ghép một cách không chính xác để nâng cao thân phận của Lưu Bị. Vì La Quán Trung muốn cho đọc giả đối chiếu giữa "Hán gian" Tào Tháo và "Hoàng thúc" Lưu Bị mà thôi, chứ chưa chắc Lưu Bị là dòng dõi của Hoàng tộc, và nếu là Hoàng tộc thật như trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA thì Lưu Bị là cháu 20 đời của Trung Sơn Tịnh Vương Thắng, còn Hán Hiến Đế trước mắt là cháu 16 đời của Cao Tổ Lưu Bang. Lưu Bị phải kêu nhà vua bằng Ông Cố Cố, chớ không phải nhà vua phải kêu Lưu Bị bằng Hoàng Thúc đâu.

     33. TÀO THÁO 曹 操 : là một quyền thần ở cuối đời Đông Hán, ông ta là Thừa Tướng, là Ngụy Vương, là nhà chính trị, quân sự, văn học, nhà thơ, và là nhà thư pháp... Vì ngòi bút của La Quán Trung mà trở nên gian hùng với câu nói: "Ta thà phụ người thiên hạ, chớ không để người thiên hạ phụ ta" khi giết cả gia đình của Lã Bá Xa... Theo TAM QUỐC CHÍ và NGỤY THƯ thì: Khi Tào Tháo đến nhà thì Lả Bá Xa không có ở nhà, nên các con của Lã Bá Xa cùng một nhóm bạn bè định bắt Tào Tháo. Tháo giết 8 người và bỏ đi. Chuyện Trần Cung bắt rồi đi theo Tào Tháo  cũng là chuyện hư cu mà thôi.

     34. KHỔNG MINH 孔 明 : Theo chính sử Khổng Minh Gia Cát Lượng chỉ giỏi về nội chính, trị nước an dân thôi, chớ không có "trên thông thiên văn dưới thông địa lý" và "dụng binh như thần" như trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA đã nói.

     35. CHU DU 周 俞 :Theo chính sử thì Chu Du hay Châu Do, tự là Công Cẩn, nên còn gọi là Chu Công Cẩn,  đa nghệ đa tài, tinh thông âm luật và rất giỏi về đàn cầm, nên dân gian mới có câu: "Khúc hữu ngộ, Chu lang cố 曲 有 误,周 郎 顾" có nghĩa: Nếu khúc đàn có sai sót, thì chàng Chu sẽ chiếu cố, chỉ điểm cho ngay! Chu Du là người văn võ song toàn, tính tình phóng khoáng, chớ không phải tâm địa hẹp hòi nhỏ nhen ganh tị như La Quán Trung đã miêu tả trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA đâu. Trái lại...

                 

                       Khúc hữu ngộ, Chu lang cố

     36. QUAN CÔNG 關 公 : là người tâm địa hẹp hòi, có quan hệ không tốt với đồng liêu, như ...
       - Khi nghe Mã Siêu về quy thuận đã viết thư hỏi Gia Cát Lượng: " Tài năng của Mã Siêu có thể so sánh với ai được?..."
       - Khi nghe lão tướng Hoàng Trung được phong là Hậu Tướng Quân, ngang hàng với Quan Công là Tiền Tướng Quân, thì nổi giân mà rằng: "Đại trượng phu sao có thể liệt ngang hàng với một tên lính già được chứ ?"
       - Thái Thú Nam Quận là Mi Phương và Phó Sĩ Nhân cùng cộng sự với Quan Công trấn thủ vùng Kinh Tương, nhưng vì Quan Công thường hiềm khích với họ, nên cả hai đều theo về với Tôn Quyền.
       - Lưu Phong và Mạnh Đạt là hai tướng trấn thủ vùng Thượng Dung. Trong trận chiến Tương Phàn, Quan Công nhờ đem binh tương trợ, hai tướng vẫn án binh bất động...

     37. TRƯƠNG PHI 張 飛 : Theo chính sử không phải chỉ là một võ tướng nóng nảy, hữu dõng vô mưu; mà ông còn là một nhà thư pháp và tinh thông về hội họa nữa.

     38. XÍCH THỐ MÃ 赤 兔 馬 : Nguyên là của Lữ Bố cưi. Sau khi Bố chết thì không biết đi về đâu... Trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA nói Tào Tháo tặng Ngựa Xích Thố cho Quan Công và lại hư cấu rằng, khi Quan Công chết thì ngựa Xích Thố cũng bỏ ăn mà chết theo chủ.(Muốn chết theo chủ, sao trước đây không bỏ ăn để chết theo Lữ Bố?!). Lữ Bố chết năm Kiến An thứ 4 (199), 20 năm sau Quan Công chết năm Kiến An thứ 24 (219), nếu ngựa Xích Thố còn sống thì không nhịn ăn cũng già mà chết thôi.

     39. THANH LONG YỂN NGUYỆT ĐAO 青 龍 偃 月 刀 là Cây Đao mà Quan Công sử dụng trong TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA. Theo chính sử thì Quan Công sử dụng Trường Mâu (cây Thương dài). Vũ khí của Lữ Bố và Trương Phi cũng là Trường Mâu. Trượng Bát Xà Mâu hay Phương Thiên Họa Kích gì gì đó đều do La Quán Trung hư cấu và đặt tên nghe cho kêu, cho hợp với nhân vật mà ông muốn miêu tả mà thôi.
 
         
        Thanh Long Yển Nguyệt Đao, Trượng Bát Xà Mâu, Phương Thiên Họa Kích,                      Trường Thương. 

     40. THẤT THẬP NHỊ NGHI TRỦNG 七 十 二 疑 冢: là 72 gò mã dùng để chôn Tào Tháo. Chỉ là hư cấu cho thần bí mà thôi, không có 72 gò trủng nào cả. Tào Tháo được chôn ở An Dương Cao Lăng thuộc tỉnh Hà Nam, năm Kiến An thứ 25 (Công Nguyên năm 220).

       Trên đây là những điểm tiêu biểu mà nhiều người biết về truyện TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA, nhưng lại không biết đó chỉ là những truyền thuyết và hư cấu do La Quán Trung căn cứ vào chính sử rồi nhào nặn thêm thắt mà viết nên theo ý tưởng riêng của cá nhân mình. Những "Đào Viên Tam Kết Nghĩa, Tam Anh Chiến Lữ Bố, Quan Công Phò Nhị Tẩu, Qúa Ngũ Quan Trảm Lục Tướng..." toàn là những chuyện hư cấu. Nhưng những người mê truyện TAM QUỐC, ai cũng tưởng đó là những chuyện có thật. Thế mới biết ngòi bút của năn nhân lợi hại biết dường nào !

       Hẹn bài viết tới !

                                                             杜 紹 德
                                                         Đỗ Chiêu Đức









Bảy Bó (III) - Anh Khờ

 Bảy Bó  (III)

Bảy bó tuần qua rồi… nhậu đã!
Yêu đời cuộc sống hoài nhàn hạ
Từng chiều cắt tỉa cánh hoa tà
Mỗi sáng moi bươi chùm cỏ lạ
Thỉnh thoảng đi han hỏi bạn xa 
Đôi khi đến hẹn hò "người lạ"
Vui thơ xướng họa tránh mau gìa 
Thích thú trò chơi đầy... hỉ hả…

Anh Khờ











Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

Đời Thủy Thủ III (Vũ Thất) - CHƯƠNG 39: RA MẮT

                                                    

Đời Thủy Thủ III (Vũ Thất)

CHƯƠNG 39: RA MẮT

Chuyến xe đò Hữu Phước bốn mươi chỗ rời bến xe miền Tây lúc chín giờ sáng, hướng thẳng Tân Châu.
Võ Bằng và Như Oanh ngồi khoảng giữa, dãy ghế bên phải. Vì đi lần đầu, Như Oanh chọn ngồi phía ngoài, nép sát cửa kính để nhìn quang cảnh. Xe vừa qua khỏi Phú Lâm, đường trống, bánh xe lăn nhanh, gió đập phần phật vào thân xe.
Cánh đồng mở ra, trơ những luống cày. Thỉnh thoảng mới có một mái nhà thấp, tường vàng, ngói đỏ, nằm lặng như một chấm nhỏ giữa bãi trời mênh mông.
Như Oanh ngạc nhiên thấy ruộng hoàn toàn bỏ hoang, định hỏi, nhưng kịp nhớ bài ca dao: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi… Tháng Tư đi tậu trâu bò. Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm.”

Nàng im lặng khá lâu, cố quên nỗi lo, rồi cũng buột miệng nói khẽ với Võ Bằng:
– Ba mẹ anh có khó như ba mẹ em không?
Võ Bằng lắc đầu. Anh định nói: “Ba má anh dễ tính, không hắc búa như ba má em”, nhưng kịp dừng lại. Một thoáng ngắn. Rồi anh đổi giọng:
– Bình dị lắm. Em gặp sẽ thấy thương mến liền.
– Anh bảo đảm?
– Một trăm phần trăm.

Nàng nhìn anh như muốn tin. Nhưng tâm vẫn còn một chút gì bất an:
– Thú thiệt… đây là lần đầu em về miền Tây.
Một chút ngập ngừng. Rồi như một đứa trẻ vòi vĩnh:
– Nói cho em nghe… những gì anh biết đi.
Võ Bằng không nhìn nàng. Anh nhìn ra ngoài, giọng thấp:
– Miền Tây… mênh mông lắm. Chuyện cũng mênh mông. Anh chỉ biết những gì mắt thấy tai nghe thôi…
Anh nói tổng quát về Long An, về Mỹ Tho nhưng kể chi tiết các trận Rạch Gầm, Nhật Tảo hai chiến hạm mang tên. Nàng có cảm tưởng anh đang dẫn nàng đi từng bước, vào một vùng đất mà anh mang theo như một kinh nghiệm chiến đấu.
Rồi như quá mòn mỏi sau ba ngày chuẩn bị lễ tưởng thưởng, anh tựa đầu, lim dim.

***

Xe dừng ở Trung Lương. Người lên, kẻ xuống. Những sạp trái cây bày sát lề đường: vú sữa, xoài, nhãn, bưởi, chuối, cam, quýt… Mận đỏ, mận hồng, mận trắng, căng bóng dưới nắng.
Một tiếng rao vang lên, ngọt và mềm:
– Ai ăn mía ghim…
Như Oanh nghiêng đầu nhìn. Mâm mía ghim đặt trên đầu một cô gái đứng ngay cửa sổ. Những khúc mía nhỏ, thon, ghim thành chùm trên thanh nứa chẻ.
Nàng mua một chùm. Thấy Võ Bằng đã thức, nàng đưa mời. Anh nhai ngon lành:
– Mía ngọt.
Nàng nhai chậm, rồi nói nhỏ nhẹ:
– Anh kể chuyện nghe mê quá. Khi nào có thể anh tiếp tục nghen.
Như đươc dịp khoe tài hoạt bát, anh nói về Cai Lậy, Nha Mân, Cái Bè
Như Oanh lại mê mẩn lắng nghe.

Đúng ngọ, xe dừng lại ở bắc Mỹ Thuận.
Tất cả hành khách xuống xe. Võ Bằng dẫn nàng vào một quán quen. Anh gọi cho cả hai: cơm tấm, tôm rim, trứng chiên.
Như Oanh ăn chậm, gật gù, đôi mắt sáng lên một cách rất thật:
– Ngon quá…
Sau bữa ăn, họ đứng trên bắc. Dòng nước chảy xuôi, chậm.
Những dề lục bình trôi qua, lá xanh mướt, hoa trắng, tím, hồng tươi mơn mởn. Nàng hỏi:
– Hoa gì vậy anh? Trôi lênh đênh mà đẹp dữ!
Võ Bằng nhìn theo dòng nước. Một thoáng lặng.
– Lục bình…
Anh nói chậm hơn:
– Người miền Tây… thích lắm. Dù trôi đi đâu, hoa vẫn nở, màu hoa vẫn sắc son. Biểu tượng của lòng thủy chung.
Như Oanh trầm ngâm. Một ý nghĩ thoáng qua: Có phải… mình cũng đang trôi như vậy? Nàng hỏi:
– Sao gọi là lục bình?
Võ Bằng cười:
– Em làm như anh là cuốn tự điển…
Nàng cũng cười. Nhưng lần này, tiếng cười đã dịu hơn.

Xe chạy tiếp.
– Còn phải qua bắc nào nữa không anh?
– Qua Vàm Cống. Rồi qua một chuyến phà.
Như đụng chạm nghề nghiệp, nàng nhăn mặt:
– Bắc với phà khác nhau ra sao?
– Bắc là đọc từ tiếng Tây le bac, dùng chở xe và người qua sông. Bắc khá lớn, chở nhiều xe. Loại nhỏ gọi là phà.
Như Oanh reo khẽ:
– Em hiểu rồi. Thì ra dân Sài Gòn gọi phà Thủ Thiêm là vậy.
Võ Bằng mỉm cười:
– Nhưng dân gian cũng dùng lẫn lộn. Như dân Mỹ Tho không gọi phà mà gọi bắc Rạch Miễu. Còn Châu Đốc, cùng ngang qua dòng sông Hậu mà nơi thì gọi bắc Năng Gù nơi thì phà Châu Giang.
– Năng Gù, nghe lạ quá!
– Vùng này xưa dân Miên ở, tên Năng Gô, mình đọc trại thành Năng Gù. Cũng như Svay Ton thành Tri Tôn.
– Nhiều điều thú vị thật. Đúng là đi cho biết đó biết đây.
– Trước khi tới Năng Gù, mình còn qua các địa danh lạ khác: Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng, Bằng Lăng. Anh cũng chỉ nghe tên. Để sưu tầm nguồn gốc rồi kể sau.
Như Oanh trầm ngâm nhìn dòng sông một lúc, rồi nghiêng mặt hỏi nhỏ:
– Chừng nào thì mình ngang qua mấy chỗ đó?
– Khoảng nửa tiếng, sau khi qua bắc Vàm Cống.

***

Xe dừng. Anh lơ xe lại la to. Tiếng vang vang mà thân ái:
– Tới Vàm Cống rồi! Xuống Bắc qua sông bà con ơi!
Tiếp theo là tiếng rao lanh lảnh:
– Ai ăn mía ghim.
Võ Bằng âu yếm hỏi:
– Em thích ăn uống gì không?
Nàng lắc đầu:
– Em còn no quá!

Trên chiếc bắc, Như Oanh nắm bàn tay Võ Bằng trên lan can:
– Từ đâu có địa danh Vàm Cống, anh Bằng?
– Mấy năm trước, một lần chiến hạm qua đây, ông Hạm Trưởng có giải nghĩa: vàm là con sông nhỏ chảy ra Hậu Giang. Tại vàm, người ta xây một cái cống để điều tiết lưu lượng nước. Người dân kết hợp thành địa danh Vàm Cống. Có nhiều vàm lắm: Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Láng, Vàm Xáng…
– Chắc vì nhiều vàm nên lục bình sông Hậu nhiều hơn sông Tiền?
– Không phải đâu! Vì sông Hậu nước rề rề chảy, ít sóng to gió lớn, nên lục bình dễ sinh sôi.
Cả hai lặng thinh nhìn từng dề lục bình trôi hàng hàng như đang tách nguồn về biển.
Như Oanh chợt reo nhẹ:
– Em vừa nhớ bài thơ ‘Ðêm Qua Bắc Vàm Cống’ của Tô Thùy Yên. Bài thơ đẹp mà buồn. Nàng đọc khẽ:

Đêm qua bắc Vàm Cống
Mối sầu như nước sông…
Chiếc bắc xa dần bến
Đời xa dần tuổi xanh…
Nước tách nguồn về biển
Sầu lại chảy vào hồn.

Một lúc, Như Oanh hỏi khẽ:
– Chừng nào mới tới nhà, anh Bằng?
Anh liếc đồng hồ:
– Nếu không kẹt phà, khoảng năm giờ chiều!
– Gì mà lâu dữ vậy?
– Còn phải qua một chuyến đò nữa.
– Qua đò?

Võ Bằng nghe nhưng không trả lời. Anh có phần hồi hộp: “Không biết… ba má sẽ nghĩ gì về Như Oanh?”
Anh chưa từng lo điều này trước đây. Nhưng kinh nghiệm hôn nhân của các anh chị còn đó. Anh bắt đầu thấy lo.
Như Oanh quay sang nhìn Võ Bằng. Lần đầu tiên, nàng hình dung rõ ràng: con đường về nhà anh không phải là một con đường thẳng, trơn tru.
– Anh đi đi về về… vất vả quá hả?
Một khoảng lặng. Giọng Võ Bằng quan tâm:
– Em muốn trở về Sài Gòn không?
Nàng lắc đầu, không suy nghĩ:
– Không. Anh đến đâu, em đến đó.
Võ Bằng nắm lấy bàn tay nàng, bóp nhẹ.

***

Xe lên bắc Vàm Cống hướng về Long Xuyên. Một bảng hiệu nền xanh chữ trắng hiện ra. Nàng đọc:
– Thốt Nốt
Võ Bằng nhìn nàng mỉm cười:
– Đọc lại lần nữa xem.
– Thốt Nốt.
– Người ở đây đọc ‘Thốc Nốc’.
– Sao kỳ vậy?
– Anh cũng không biết…
Như Oanh cười. Nhưng rồi lại im.

Một nỗi lo mới, nhỏ thôi, nhưng rõ: “Giọng nói của mình… có lạc lõng không? Giọng nói của ba mẹ Võ Bằng có dễ nghe không? Lời lẽ có khe khắt lắm không!
Nàng hỏi, để xua đuổi:
– Quê anh có gì đặc biệt, anh Bằng?
– Tân An là xã nghèo, bên bờ sông Tiền, cách chợ Tân Châu bốn cây số, cách biên giới Miên chừng mười một. Dân số trên mười ngàn, đa số làm ruộng, trồng cây ăn trái, nuôi cá, nuôi tằm, ươm tơ. Ba má anh chị của anh được may mắn làm công chức, giáo viên. Ba anh cũng có chút tiếng tăm. Người lạ đến Tân Châu hỏi ông Võ Hảo là ai cũng biết.

Giọng Như Oanh bất an:
– Em lại lo. Ba mẹ anh mà chê em thì mắc cỡ lắm.
– Anh nghĩ ngược lại. Ba má anh sẽ nức nở khen thằng con khéo chọn vợ.
Như Oanh đập vai anh:
– Hy vọng được vậy. Giờ kể tiếp về Tân An đi.
– Tân An có hàng xóm là xã Vĩnh Xương sát biên giới, đất phù sa rất tốt, dân số chừng ngàn người chuyện ruộng rẫy. Gần đó có Núi Nổi, cao chưa tới mười thước mà mùa nước lên, bất kể bao nhiêu, núi cứ nổi bồng bềnh giữa biển nước. Nhất định anh sẽ đưa em đến viếng.
– Nghe hấp dẫn quá. Mà Núi Nổi thuộc quận nào?
– Cũng thuộc Tân Châu.
Mắt Như Oanh sáng lên:
– Em nhớ tới câu ca dao “Gái nào thảo bằng gái Tân Châu. Tháng ngày dệt lụa trồng dâu. Thờ cha kính mẹ quản đâu nhọc nhằn”. Em thắc mắc sao anh không chọn vợ Tân Châu mà lại chịu vất vả chọn em?
Võ Bằng lắc đầu:
– Ba má anh cũng đã giới thiệu vài cô nhưng không duyên nợ.
– Lại có câu: “Chuối non giú ép chát ngầm. Trai tơ đòi vợ khóc thầm cả đêm”. Anh có vậy không?
Võ Bằng gật đầu:
– Có. Từ khi gặp em.
Như Oanh kề tai anh, thì thầm:
– Nghe thương quá! Tặng anh đây: “Phải chi em vác nổi cây súng đồng. Hải Quân đi thế, cho chồng nghỉ ngơi.”

Võ Bằng choàng tay qua vai nàng, hôn phớt lên má:
– Cám ơn em nhiều…
Nàng hăng hái hỏi tiếp:
– Em có nghe loại vải nổi tiếng lãnh Mỹ A ở Tân Châu. Việc trồng dâu nuôi tằm hẳn dính dáng đến loại vải này?
– Không chỉ dính dáng mà chính là nguồn cội của lãnh Mỹ A. Người ta thành lập nhiều cơ sở chuyên trồng dâu nuôi tằm, Rồi xây dựng các lò ươm tơ, các xưởng dệt, nhà nhuộm vải. Nếu em thích, anh đưa em đi xem trọn chu trình từ tằm đến vải.
– Em thích lắm.
– Nhắc nuôi tằm, anh ao ước sống qua thời xa xưa: “Sáng trăng trải chiếu hai hàng. Bên em đọc sách, bên chàng quay tơ.”
Như Oanh bụm miệng cười đến đỏ mặt. Võ Bằng cố nhịn:
– Ngày xưa khác, bây giờ phải như thế cho hợp thời. Em tiếp tục sách đèn, còn anh giải ngũ thất nghiệp, về quay tơ dệt vải.
Như Oanh rút khăn tay lau nước mắt, lòng nghe hạnh phúc tràn trề. Bên Võ Bằng lúc nào cũng thoải mái, vui tươi.

***

Tới Châu Đốc, xe qua phà Châu Giang. Một cổng vòm thật đẹp hiện ra, tiếp sau là một thánh đường nhỏ hai màu xanh và trắng, thanh khiết, trang trọng.
Võ Bằng nói:
– Người Chàm ở đây, Thánh đường Hồi giáo Mubarak.
Như Oanh nhìn, nghĩ đến một vùng đất xa lạ. Một nền văn hóa khác. Một dòng người khác. Và mình… sắp bước vào một thế giới khác nữa.
Nàng kêu khẽ:
– Người Chàm sao ở đây? Em tưởng họ ở miền Trung.
– Họ chính là hậu duệ từ vương quốc Chàm, thủ đô Đồ Bàn ở Bình Định. Sau thời Chế Bồng Nga, vương quốc suy yếu rồi tan rã, dân Chàm tản cư sang Miên, rồi từ Miên họ sang Châu Đốc. Họ dệt sà rông, khăn choàng, nón. Đánh bắt cá tôm, buôn bán…
Xe đò chạy đến hàng rào Thánh Đường, quẹo trái. Con đường từ Châu Giang sang Tân Châu nhỏ hẹp, nhà cửa thưa thớt. Bên trái là con kinh đào. Bên phải ruộng đồng đang phơi đất.

***

Từ bến xe Tân Châu, họ đi xe lôi máy thêm bốn cây số hướng về biên giới Miên.
Con đường đất, nhiều ổ gà. Hai bên là nhà dưới rừng dừa, giữa cây ăn trái.
Tiếng máy nổ đều đều. Gió mang theo mùi nước, mùi đất, mùi nắng.
Như Oanh lặng thinh, chỉnh lại áo, vuốt nhẹ tóc.
Tim đập nhanh.
Rồi qua một chuyến đò nhỏ mới đến nơi.

Ngôi nhà năm gian nằm gần cuối con kinh. Mái ngói âm dương phủ rêu. Hàng cau trước sân. Các cánh cửa màu xanh thẫm. Hai con chó đá đứng canh hai bên.
Không gian tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng tim thình thịch.
Một người đàn bà mặc áo bà ba trắng đang ngồi ở gian cuối bán tạp hóa vụt đứng lên, bước vội đến.
Bà reo to:
– Bằng! Con về đó hả?
Tiếng gọi bật tiếp như đã chờ từ lâu:
– Ông ơi! Thằng Bằng về!

Từ gian giữa, ông Võ Hảo bước ra. Áo sơ mi cũ. Quần tây xám. Dép nhựa mòn gót.
– Về sao không báo?
Giọng ông trách nhẹ. Nhưng ấm.
Rồi ông nhìn sang Như Oanh.
– Ai đây?
Nàng cúi đầu:
– Con kính chào hai bác.
Võ Bằng cười, giọng bình thản mà chắc:
– Thưa ba má… con dâu tương lai của ba má đây.
Ông bà lặng nhìn. Một khoảnh khắc. Rất ngắn. Nhưng dài như cả quãng đường vừa đi. Rồi người mẹ bật lên:
– Vậy sao… Bất ngờ quá!
Giọng chân tình.
Nhưng trong lòng Như Oanh vẫn gợn lên làn sóng ngỡ ngàng pha lẫn bối rối. Nàng ngước lên. Cố nở một nụ cười thật tươi.

Vũ Thất

(Còn tiếp)