Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

Dẹp... Bỏ - Anh Khờ

     Dẹp... Bỏ

Đêm qua mần được một bài thơ
Dzợ đọc phán liền: "qúa vẩn vơ!...
Bút pháp, văn hoa… đâu tả thế…
Ngôn từ, diễm lệ… phải xiêu cơ!
Chưa môi tha thiết… sao ươm mộng…
Chẳng mắt trữ tình … đã vướng tơ?"
Xét kỹ từng câu… ừa... đúng dzậy!
Thôi thì dzẹp quách... khỏi cần mơ…
           Anh Khờ











Đôi điều Tâm sự : NGHỀ DẠY HỌC (Đỗ Chiêu Đức) & Thơ họa

 Đôi điều Tâm sự : 

                        NGHỀ DẠY HỌC                          
 

        
     Nhân đọc bài viết "NGHỀ DẠY HỌC của nhà văn Quyên Di
"và bài thơ "Giáo Già Tự Tình" của thầy Phạm Khắc Trí, cựu 
giáo sư Trung học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần 
Thơ xưa : 
  
     GIÁO GIÀ TỰ TÌNH
      
                                                                                
             
Cõi đời gió bụi bao gian khổ,
Suốt kiếp phong sương lắm đoạn trường.
Lòng đỏ khôn nguôi niềm biệt xứ,
Trời xanh khéo bỡn khách tha phương.
Ba chìm bảy nổi còn ngơ ngác ,
Chín ghét mười thương những vấn vương.
Năm tháng tuổI già quay ngó lại ,
Cười ai khôn dại chốn vô thường.  
                                              PKT 

     ... Đỗ Chiêu Đức tôi cũng muốn nói lên "Đôi Điều Tâm Sự"
 sau đây...

Kính Thưa Thầy Cô và các bạn đồng môn,

      Hổm rày đọc hết Giáo Già tự trào, tự bạch, tự trách , tự 
thán, tự vịnh, nay lại "tự tình" làm Đỗ Chiêu Đức tôi cũng xúc 
động với nghề Thầy Giáo nầy. Theo tôi biết thì ngoài Thầy Lộc,
 Thầy Trí, Thầy Vạn (Trầm Vân), Thầy Nguyễn Văn Trường, 
Thầy Chân Diện Mục... thì anh Huỳnh Hữu Đức, anh Cao Linh
 T, Niên Trưởng Song Quang, niên Trưởng mà cũng là người 
giữ vườn của trang mạng PTG&ĐTĐ USA là Nhà Văn Trần
 Bang Thạch cũng là Nhà Giáo, và cuối cùng là người mang 
tiếng Thầy Đồ Dỏm là tôi đây cũng là... một Thầy Giáo Già, vì 
ai trẻ nhất cũng trên 75 cả rồi !!!
      Không biết chị Phương Hà (Lộc Mai), Cô Kim Oanh, Kim 
Phượng... có phải là Cô Giáo hay không?  Chớ Cô Kim Quang 
thì là Hiệu Trưởng Trường Trung Tiểu Học TÂN TRIỀU (TÂN
 HƯNG) Cái Răng ngày xưa của tôi đó!

                        
                                            

                    Đỗ Chiêu Đức 7 tuởi đến 14 tuổi

      Riêng tôi, xuất thân con nhà nghèo, thất học sớm, mà lại mơ ước
 làm Thầy giáo (nghèo mà ham!), trong khi chữ Hoa chỉ học có 
Tiểu Học, chữ Việt thì mới học hết lớp Đệ Lục là... tốt nghiệp rồi.
 Khi tốt nghiệp Tiểu học tiếng Hoa, vì nhà nghèo, anh em đông nên
 không thể ra Cần Thơ để học tiếp bậc Trung học. Lúc đó Ba tôi đã
 than rằng: "Chữ Hoa mà chỉ học có 5 năm thì đâu có ra gì ! Bây 
giờ đi học chữ Việt, chắc nó sẽ quên hết chữ Hoa quá, mất gốc là
 cái chắc!" Nghe ba tôi than, tôi cũng rất buồn, nên để dành tiền 
mua sách dạy chữ Nho về học chữ Hoa bằng từ Hán Việt, điều này
 cũng phù hợp với bà con lối xóm, họ nói: "Cái thằng nầy nó học 
chữ Tàu, nên nó biết chữ Nho!" Trong ấp Yên Thượng của tôi ở lại
 có ngôi chùa Linh Thạnh Tự, tôi đến đó để học chữ Nho với ông 
Thầy Thừng, là Thầy trụ trì của ngôi chùa, nên chữ Nho cũng biết
 kha khá. Có một điều trở ngại là chữ Nho là chữ Hán Cổ, không 
phù hợp với tiếng Hán hiện đại, nên vẫn không xem báo và đọc tiểu
 thuyết Quỳnh Dao hay truyện võ hiệp của Kim Dung được, vả lại
 tôi chỉ biết phát âm bằng âm Việt Hán, chứ đâu biết phát âm bằng
 tiếng Quan Thoại.....
      Lớp tôi chuyển sang học tiếng Việt 11 đứa, luyện thi 3 tháng, đi
 thi Bằng Tiểu Học, đậu 10 đứa. Bà con trong chợ đều khen, "Mấy
 đứa học trò trường Hoa chuyển sang học tiếng Việt giỏi thiệt!"
 Mười đứa thi đậu lại tiếp tục học lớp luyện thi vào Đệ Thất của 
Trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ. Một tháng sau đi
 thi, chỉ có mình ên tôi trúng tuyển vào Đệ Thất PTG của năm học
 1962-1963 mà thôi. Đến giữa năm Đệ lục, thì có lớp luyện thi Trung
 Học Đệ Nhất Cấp cho học sinh Lục, Ngũ, Tứ của thầy Thiều Quang
 Minh treo đầy quảng cáo trước mặt cổng trường Phan Thanh
 Giản. Tôi mới đánh liều cả gan ghi danh vào lớp luyện thi đó, 6 
tháng sau, hè năm 1964, Trời xui đất khiến tôi đi thi và đậu ngay
 bằng Trung học Đệ Nhất Cấp. Cuối năm Đệ Lục mà đã đậu Bằng 
Trung Học ĐNC, vấn đề là ở đây, đậu Bằng Trung Học rồi không lẽ
 lại vào học lớp Đệ Ngũ, Còn xin học Đệ Tam thì Trường PTG đâu
 có cho, ra học ngoài trường tư thì đâu có tiền đóng học phí, cuối 
cùng... tôi đành "tốt nghiệp" ở cuối năm Đệ Lục với bằng Trung 
Học Đệ Nhất Cấp.
       Rồi vì sinh kế, tôi phải lên Chợ Lớn làm lao công trong trường
 Trung Tiểu học PHƯỚC ĐỨC của ban Phước Kiến ở số 226 đường
 Khổng Tử Quận 5, ban đêm đi học lớp Tam Nhị luyện thi Tú Tài 1
 ở trường Chu Văn An... Chính trong thời gian nầy, tôi học cách 
phát âm bằng tiếng Quan Thoại với các thầy cô trong trường Phước
 Đức, và học nói tiếng Tiều Châu, tiếng Quảng Đông với bà con  
Chợ Lớn khi đi chợ, đi ăn cơm... Cuối tuần thì chui vào các rạp 
chiếu bóng bình dân chiếu thường trực suốt ngày 2 phim cũ nói 
tiếng Quan thoại, thường là một phim xưa cổ trang 古 装, và một 
phim thời đại mới 时 代 装 để học nghe tiếng Quan Thoại cả xưa 
lẫn nay. Dần dần tôi nói năng trôi chảy, cộng thêm số vốn văn học 
Hán Việt có sẵn, lại có hoa tay, viết chữ đẹp nên ông Sự Vụ Trưởng
 事 務 主 任 của trường Phước Đức lúc bấy giờ là ông Hà Đức 
Phương rất tốt bụng, đã giới thiệu tôi lên Ban Mê Thuộc để dạy 
học, năm đó là năm 1966, tôi vừa tròn 18 tuổi...

                                                              
                                     Đỗ Chiêu Đức khi 18 tuổi

      Sẵn đây, cũng xin trình bày luôn để mọi người được biết là: 
Trước đây, tất cả các trường Hoa ở khắp Miền Nam, trừ một 
vài trường của tư nhân lập ra ở Sài Gòn Chợ Lớn, còn tất cả
 đều là TRƯỜNG CÔNG LẬP , do Ngũ Ban (Quảng Đông,
 Triều Châu, Phước Kiến, Hải Nam, và Khách Gia "Ban Hẹ"), 
Với Hội Phụ Huynh học sinh thường là những thương gia giàu 
có ở địa phương đứng ra tổ chức, gây quỹ, xây dựng và điều 
hành mọi sinh hoạt và hỗ trợ toàn bộ kinh phí hoạt động của 
nhà trường.
      Đối với Nhà Nước, thì là trường Tư Thục, còn đối với đồng 
bào người Hoa, là trường Công Lập. Ban Quản Trị của Hội
 phụ huynh học sinh (Đổng Sự Hội 董 事 會) chịu trách nhiệm 
tìm người giỏi, có học thức, có kinh nghiệm tổ chức điều hành 
giáo dục làm Hiệu Trưởng. Hiệu Trưởng chịu trách nhiệm đi
 tìm giáo viên về hợp tác với mình. Nên cứ Hè đến là tất cả Hiệu
 Trưởng của các trường Hoa ở các Tỉnh đều đổ xô về Sài Gòn
 Chợ Lớn để tìm thêm giáo viên về dạy cho trường mình.
 Thường thì, Hợp đồng của BQT Hội PHHS ký với Hiệu Trưởng
 là 2 năm. Nếu điều hành không có thành tích, thì sau 2 năm, 
Hiệu Trưởng sẽ tự động rút lui, còn nếu là Hiệu Trưởng giỏi thì 
Hội PHHS sẽ giữ lại tiếp tục 2 năm nữa! Vì thế, nên Hiệu Trưởng
 tìm được giáo viên, thì chỉ ký hợp đồng 1 năm mà thôi, sau 1 năm,
 nếu là GV giỏi, thì Hiệu Trưởng sẽ ký tiếp 1 năm nữa, còn nếu HT
 nín thinh, thì GV tự động cuốn gói đi tìm trường khác! Về tiêu 
chuẩn của giáo viên tiếng Hoa thì phải tốt nghiệp Trung học và ch
 cần nói thông thạo tiếng Quan Thoại và viết chữ đẹp là được rồi. 
Nguyên tắc là thế, nhưng có nhiều Hiệu Trưởng và giáo viên trụ lại
 8 năm, 10 năm hoặc định cư lập nghiệp luôn ở địa phương đó cũng
 là chuyện thường tình.
      Đối với Bộ và Ty Giáo Dục, thì mỗi địa phương đều phải tìm 
một người ở tại địa phương có bằng cấp thích hợp (Tú Tài 1, 2,
 hoặc Đại học) để đứng tên làm Hiệu Trưởng và phụ trách tất cả 
giấy tờ và thủ tục hành chánh của nhà trường. Trước đây vì chiến
 tranh, nam phải đi lính, nên thường là nữ đứng tên làm Hiệu 
Trưởng (Như trường hợp Cô Nguyễn Kim Quang là Hiệu Trưởng 
Hành Chánh của trường Tân Hưng Cái Răng vậy). Vì thế mà mỗi 
trường HOA đều có 2 vị Hiệu Trưởng: Một điều hành bên chuyên 
môn tiếng Hoa, và Một chịu trách nhiệm về thủ tục hành chánh 
bên tiếng Việt.

                                                                
                           Đỗ Chiêu Đức khi dạy ở Ban Mê Thuộc (1966)  
                               
      Đôi hàng giải thích, để mọi người hiểu được là tại sao anh lao
 công Đỗ Chiêu Đức phủi chân cái rụp là nhảy lên thành thầy giáo
 trong nháy mắt liền một khi!... Còn về việc học thi Tú Tài thì mãi
 đến sau biến cố năm Mâu Thân, khi đi lính theo lệnh Tổng động 
viên rồi, mới mua sách về tự học, nhờ có điểm lính nên năm 1970 
mới đậu được Tú Tài I và năm sau 1971 đậu luôn Tú Tài II, tất cả
 đều là ban D cổ ngữ. Ghi danh vào Ban Việt Hán của Đại Học Văn
 Khoa Sài Gòn ở số 12 Đinh Tiên Hoàng Quận Nhứt, nhưng đâu có
 thời gian về trường nghe giảng, chỉ lấy tài liệu về tự học mà thôi. 
Năm 1972 là năm Mùa Hè Đỏ Lửa, nên không về trường thi được,
 mãi đến hè 1973 mới đậu được Chứng Chỉ Dự Bị Năm Thứ Nhất,
 Hè 1974 mắc bận lu bu với công tác Trao đổi tù binh... nên cũng 
không có thi cử gì cả. Năm 1975 thì khỏi phải nói... "sự nghiệp học
 hành" chấm dứt luôn từ đó!

      Mới có 18 tuổi đã trở thành Thầy Giáo dạy lớp Hai Tiểu Học 
rồi, rồi cứ cái đà vừa học vừa dạy vừa... đi lính, lại được lên dạy 
Trung học ở các lớp đêm Chợ Lớn của các trường Quảng Nhã,
 Phước Đức... Sau 1975, cũng vừa học vừa dạy ở các Trung Tâm 
Ngoại Ngữ của các Đại Học ở Sài Gòn và nhờ có vốn kiến thức về
 Hoa Việt, Việt Hoa rất vững, nên khi dạy cho Trung Tâm Ngoại
 Ngữ ANH HOA của Đại Học Tổng Hợp ở số 1 đường Nguyễn Trãi,
 học trò đại học theo học rất đông, nên "Trời xui Đất khiến" lại 
được thỉnh giảng vào Khoa Trung của Đại Học Khoa Học Xã Hội
 và Nhân Văn (Đại Học Văn Khoa ngày trước ở số 12 Đinh Tiên 
Hoàng Quận I) do Giáo sư Lương Duy Thứ làm Trưởng khoa. 
Đang dạy 12.000$ một tiết ở Trung Tâm Ngoại Ngữ, được thỉnh 
giảng vào dạy Đại học với thù lao 30.000$ một tiết (năm 1994 khi 
100 usd chỉ đổi được 1.100.000 vnđ mà thôi) Tôi sướng như muốn
 lên mây, nhưng cũng cực như "con dòi", vì ngoài thời gian lên lớp
 ra, thì phải cố gắng nghiên cứu và học thêm các tài liệu giảng dạy 
của Đại học Bắc Kinh gởi qua, nếu không, thì lấy đâu ra kiến thức 
mà dạy?! Thường thì phải học ngày trước và dạy lại ngày sau và 
lại phải truyền đạt thật khéo thật sinh động... May nhờ các bạn học
 sinh "thương tình" cùng rủ nhau vào giảng đường nghe giảng rất
 đông! Cứ thế, nuôi sống một vợ và ba con học đại học ở đất Sài
 Gòn Chợ Lớn cho đến năm 1998 thì được anh em bảo lãnh sang 
định cư ở Hoa K!

                                                                 
                                       Đỗ Chiêu Đức khi được thỉnh giảng

      Dạy học và Tự Học mấy chục năm, học trò cũng nhiều mà 
Thầy học thì cũng lắm, chẳng những học ở Thầy, ở bạn, mà gần
 đây còn phải "Học Ở Các Học Trò Cũ của mình" nữa, về các
 mặt như Máy Tính, Computer... Cho nên lại càng thắm thía
 hơn với lời dạy của Đức Khổng Phu Tử là "Tam nhân đồng 
hành, tất hữu ngã sư yên 三 人 同 行 必 有 我 師 焉" (Trong 3 
người cùng đi, thế nào cũng có một người là Thầy của ta đó!)
 nên "Trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải 
chi 擇 其 善 者 而 從 之,其 不 善 者 而 改 之" (chọn người 
giỏi mà học theo cái giỏi của họ và người dở thì biết cái dở đó 
mà tránh ).

      Bây giờ ngồi đây nghĩ lại, ai đó than van oán trách cho nghề
 giáo là nghề nghèo nàn bạc bẽo, "Nhà văn, nhà giáo, nhà báo 
là... Nhà nghèo mà!" Riêng tôi, thì tôi rất thỏa mãn với cái nghề
 giáo của mình: Thứ nhất, là thỏa mãn được ước mơ làm Thầy 
Giáo của mình từ thuở nhỏ. Thứ hai, là nhờ dạy học mà bắt
 buộc phải tự học, nên kiến thức ngày càng phong phú hơn. 
Thứ ba, là trước mắt, Thầy học, bạn học, học trò ở khắp Năm
 Châu Bốn Bể. Đi đâu cũng có người quen hết. Thứ tư, là được 
dạy cả 3 bậc học, từ Tiểu Học, Trung Hoc, cho đến Đại Học 
(Đụng "La Phong" rồi còn gì!) Chẳng những thỏa mãn ước mơ
 được làm thầy giáo của mình, mà tôi còn vươn đến đỉnh cao 
nhất của nghề Thầy Giáo, nhất là được đứng trên bục giảng của
 trường Đại Học Văn Khoa ngày xưa để giảng cho sinh viên. 
Thú thật, trước đây dù có nằm mơ tôi cũng không dám mơ 
được như thế! Và...

       Niềm VUI lớn nhất là cho đến trước mắt thì Thầy cũng như
 là bạn, bạn cũng như là Thầy, học trò mà cũng là bạn, và cũng 
là THẦY nữa! Đâu có nghề nào được như nghề nầy, đâu có 
nghề nào Vui hơn nghề nầy nữa đâu?!

       Trong niềm VUI đó, xin được HỌA VẬN bài GIÁO GIÀ 
TỰ TÌNH của Thầy PHẠM KHẮC TRÍ kính mến sau đây:

                GIÁO GIÀ TỰ TÌNH
           Bụi phấn suốt đời dù có khổ,
           Niềm vui chan chứa khắp bao trường.
           Tiểu Trung Đại học luôn ba cấp,
           Âu Á Mỹ Châu khắp bốn phương.
           Đồng học bạn bè tình mãi thắm,
           Thầy Cô anh chị nghĩa còn vương.
           Học Thầy, học Bạn, học... Trò nữa !
           Cầu học "Tam Nhân" ấy lẽ thường !!!                                                
                                                             kính bút.

                                 

                       Đỗ Chiêu Đức hiện nay

                                       *****


Thơ họa với bài Giáo Già Tình Tự của thầy Phạm Khắc Trí.
             
 GIÁO GIÀ NHỚ TRƯỜNG XƯA

Phục vụ quê nhà vui lẫn khổ
Bao năm tỉnh lẽ thiết tha trường.
Con đò áo trắng trò muôn nẻo
Lũ lụt mưa lầy gió bốn phương.
Tiếng trống sáng chiều lòng mãi luyến
Con đường cát bụi trí còn vương.
Dịu hiền nam nữ từng gương mặt
Vẫn quyện hồn ta nhớ lạ thường !
     Mailoc
Mar-05-2026


NGHỀ GIÁO

Giữa đời chen lẫn nhiều vui khổ
Nhà giáo an yên dưới mái trường
Đồng nghiệp chan hòa câu đạo lý
Học trò nhuần nhuyễn lẽ luân thường
Trau giồi kiến thức, tâm ngời sáng
Gắn bó tinh thần, dạ luyến vương
Tình nghĩa Thầy Trò luôn khắn khít
Dù qua năm tháng, cách muôn phương.

Phương Hà
( 06/03/2026 )



 


Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

Sao Rơi - Nguyễn Thị Châu

 


 Sao Rơi

Chợt thấy sao rơi ở cuối trời

Màng đêm mờ mịt thấy chơi vơi

Sương giăng lặng lẽ chờ ai đến?

Bâng khuâng lại nhớ áng mây trôi


Gởi chút hương tình theo gió mới

Hương xưa năm ấy có về chưa?

Nàng Xuân lạnh lùng trong nỗi nhớ

Mây buồn lơ lững kéo lưa thưa


Mùa Xuân còn lại tháng ngày qua

Giọt buồn đọng lại ở bên ta

Người đi để lại nhiều trăn trở

Để tôi thao thức với tình xa


Một ánh sao rơi khơi nỗi nhớ

Ngày người nằm xuống bỏ lại tôi

Một vì sao lạc rơi đi mất

Đêm đen mờ nhạt dưới chân trời…!!!


4-3-2026

Nguyễn thị Châu












TIẾNG NHẠC LÒNG - Thơ LAN và Thơ Họa

                              

TIẾNG NHẠC LÒNG 

Rạng rỡ ngoài sân những đóa hồng

Ta ngồi mơ mộng tựa bên song

Nhìn mây lờ lững đùa cùng gió

Ngắm nguyệt điệu đà giỡn với sông

Sương đọng long lanh trên phiến lá

Sao ngời lấp lánh giữa trời không

Tâm hồn thư thái quên sầu não

Dào dạt tâm tư tiếng nhạc lòng.

      LAN

(02/03/2026)


Thơ Họa:

       TỰ AN

Nghiên bút khai hoa thắm nụ hồng

Ả Hằng lấp ló ngó ngoài song"?"

Thừa khơi trào mộng bay Cung Quế

Thỏa khiến nao hồn trải Núi Sông!

Ngõ Trúc trăng soi ngời sắc tỏa

Chùa Làng chuông thỉnh vẳng thinh không!

Nhẹ buông sầu muộn đời thơi thảnh

Tấu khúc cầm rung đủ ấm lòng!

Nguyễn Huy Khôi

       2-3-2026

 

    NGÀY BUỒN

Nắng sa sân vuốt đóa hoa hồng,

Đơn độc ngồi buồn cạnh cửa song.

Lá lắt lơ bồng se thắt gió,

Thuyền trôi hờ hửng lướt trèo sông.

Chim kêu gọi bạn xa hiu hút,

Mây kéo lưng trời vút chốn không!

Tay mượn bút bồi dăm vận quyện,

Sao nghe tê tái buốt trong lòng!

                            *

Buồn này có phải một mình không?

Không!

HỒ NGUYỄN

  (02-3-2026)

 

  BÌNH MINH TRÊN SÔNG

Nắng mới vừa lên, lấp lánh hồng

Nhẹ nhàng, êm ái lướt qua song

Vươn vai đứng dậy vin màn cửa

Đưa mắt nhìn ra ngó bến sông

Mặt nước lung linh ngời ánh bạc

Chim trời chấp chới lượn tầng không

Ngọn lau lả lướt theo làn gió

Cảm giác lâng lâng sảng khoái lòng.

  Sông Thu

( 03/03/2026 )

 

NGƯỜI XƯA CẢNH CŨ

Tiếng nhạc vui tươi dưới nắng hồng

Cà phê thơm phúc ngồi bên song

Nhìn trời mây nước trôi theo gió

Những chiếc thuyền con đậu chật sông

Tấp nập bán buôn rao ới... ới...

Chợ phiên buổi sáng đồ ăn không...

Bún riêu, bún mộc, bún giò chả

Hủ tiếu, bánh mì, phở cháo lòng...

             xxx

Hồi tưởng Hồn tôi bao luyến nhớ...

Người xưa cảnh củ gợi hương nồng...

Mỹ Nga

  03/3/2026  ÂL, 16/01/ Bính Ngọ

 

  BÊN TRỜI THẢ MỘNG

Ta vẫn rong chơi Chốn Bụi Hồng

Từ khi biết được ở ngoài song

Khai xuân, hoa nở vàng trên núi

Vãn hạ, mây rơi trắng đáy sông

Sương giáng mùa buồn nghe mõ giục

Tiểu hàn tiết lạnh gọi thu không

Một trời hiu quạnh sầu miên viễn

Thi hứng đầy thêm mỗi tấc lòng …

Utah 3 - 3 – 2026

CAO MỴ NHÂN

 

    BÌNH MINH TRÊN CAO

Lầu cao lặng ngắm thái dương hồng

Vạt nắng đầu ngày lãng đãng song.

Ngan ngát hương đêm lùa tóc áo

Mơ hồ sương bạc phủ dòng sông.

Mây ngàn tan loảng lung linh núi

Đàn én liệng đùa ríu rít không.

Phút chốc thiên nhiên bừng sống dậy.

Trong ta rộn rã tiếng đàn lòng!

   Mailoc

03-03-2026

 

TIẾNG NHẠC LÒNG

      Họa hoán vận

Trăng ngà lặng lẽ chiếu qua song

Bàng bạc lung linh giữa khóm hồng

Hải giác xưa chờ nơi cuối bãi

Thiên nhai giờ đợi chốn đầu sông

Sinh ly kẻ sống buồn đau phận

Tử biệt người đi tức tưởi lòng

Bản nhạc Đêm Đông sầu thấm thía

Lời ca não nuột quyện tầng không

ThanhSong ntkp

 CA. 03/03/2026

 

          DẦN XA

Búp nụ lung linh dưới nắng hồng

Cây cành mơn mởn vắt qua song

Cưng tơ hoan hỉ bồng bềnh sóng

Cảm xúc dạt dào bảng lảng sông

Bàng bạc khung trời,vời ký ức

Bâng khuâng kỷ niệm,ới thinh không

Vàng son một thuở, vàng xuân sắc

Giờ đã dần xa, xuyến dạ lòng!.

PHƯỢNG HỒNG

    (03/03/2026)

 

        NGÀY MỚI

Tinh mơ rạng rỡ ánh dương hồng

Chim hót hòa đàn réo trước song

Hoa nở yêu kiều nằm sưởi nắng

Mây vờn lãng đãng lướt chơi sông

Nhìn trời sảng khoái vui tâm trí

Ngắm cảnh lâng lâng nhẹ cõi lòng

Vạn vật thiên nhiên đầy sức sống…

Hồn như bay bổng mấy tầng không.

CAO BỒI GIÀ

    3-3-2026

 

HOÀNG HÔN MIỀN THÔN DÃ

Đỉnh núi tà dương tỏa ánh hồng

Chim về ríu rít hót ngoài song

Đôi làn gió nhẹ lùa xuôi nước

Mấy cụm mây ngời rải ngược sông

Lãng đãng sương mờ giăng dưới lũng

Bồng bềnh nắng nhạt thả trên không

Bao hình ảnh buổi hoàng hôn ấy

Cảnh phối thành phim chiếu giữa lòng

Lý Đức Quỳnh

    3/3/2026 


      TIẾNG NHẠC LÒNG

Quá khứ hồn mơ lúc tuổi hồng

Đời như bóng ngựa thoáng qua song

Vô thường bác ái theo đầu gió

Vô ngã từ bi đến cuối sông

Cảnh đẹp hữu tình lan trí huệ

Người hiền hợp ý giác chơn không

Xuân hồi mã đáo cùng xuân sắc

Thi nhạc dư âm trải tấc lòng.

  (Phan Thượng Hải)

  3/4/26 


        XUÂN VỀ

Xuân về rực rỡ đóa hoa hồng

Chậu kiểng cúc vàng trước chấn song

Lả lướt chòm mây vờn với gió

Điệu đà chị Nguyệt lội qua sông

Ngôi chùa trầm mặc bên cây lá

Vách núi uy nghi giữa sắc không

Thong thả an nhàn tu dưỡng tánh

Vui mùi đạo hạnh góp chung lòng

Mai Xuân Thanh 


       NHẸ LÒNG

Ngồi ngắm chậu hoa nở nụ hồng

Niềm vui khi nắng rọi qua song

Nhớ  xưa bơi lội trên dòng nước

Tuổi trẻ quậy mù cả khúc sông

Quá khứ trôi về bao ký ức

Tương lai chỉ thấy một tầng không

Thôi thì cũng cứ vui mà sống

Khắc khoải làm chi, để nhẹ lòng !

THIÊN LÝ 


   THOẢI CÕI LÒNG

Gắn bó hoa thương cặp chậu hồng

Tết này hai đóa nở song song

Dịu dàng khoe sắc tươi gia cảnh

Nhỏ bé ghi phần rạng núi sông

Chín vía lâng lâng hư bái thực

Ba hồn lặng lặng có lườm không

Tâm can vang vọng nhiều ngôn kháo

Âm sắc du dương thoải cõi lòng.

     03 - 2026

Trần Như Tùng