Giai Thoại văn Chương :
Người
Chồng Khóc Vợ Chân Tình Nhất
NGUYÊN
CHẨN
NGUYÊN CHẨN 元 稹 (779-831) tự là
Vi Chi 微 之 , biệt hiệu là Uy Minh 威 明, người đất Lạc Dương Hà
Nam, là thi nhân, văn học gia và là đại thần của đời Đường. Ông thuộc bộ tộc
Phá Bạt của dòng dõi Tiên Ti, là cháu đời thứ 19 của Bắc Ngụy Chiêu Thành Đế,
con của Tỉ Bộ Lang Trung Nguyên Khoan. Từ nhỏ đã nổi tiếng về văn tài, năm
Trinh Nguyên thứ 9 (793), mới 15 tuổi đã thi đậu minh kinh, được phong chức Tả
Thập Di. Năm Trinh Nguyên thứ 18 (802) đời Đường Đức Tông mới cùng Bạch Cư Dị
đậu khoa Tiến sĩ bạt tụy để ra làm quan. Nguyên Chẩn đã từng bái tướng, làm
quan đến chức Thượng Thư Tả Thừa. Năm Thái Hòa thứ 4 (830) nhậm chức Võ Xương
Quân Tiết Độ Sứ. Năm Thái Hòa thứ 5 (831) qua đời lúc mới 53 tuổi, được truy
phong là Thượng Thư Hữu Bộc Xạ. Nguyên Chẩn là bạn cùng khoa với Bạch Cư Dị,
cùng kết thân là bạn thơ suốt đời, cùng đề xướng thể thơ Tân Nhạc Phủ mà người
đời gọi là "Nguyên Bạch 元 白", hình thành
"Nguyên Hòa Thể 元 和 體". Thành tựu về văn học của ông rất
lớn, nhất là về mặt thơ ca. Còn lưu lại hơn 830 bài thơ, từ phú, chiếu sách,
minh giản, luận nghị... hơn một trăm bài. Tất cả đều thu tập vào trong
"Nguyên Thị Trường Khánh Tập 元氏 長 慶 集".

Năm Trinh Nguyên thứ 18 (802) đời Đường Đức Tông, mặc dù
chưa ra làm quan, nhưng vẫn được quan Thái Tử Thiếu Bảo Vi Hạ Khanh 韋 夏 卿 biết đến tài và gả cho cô con gái út mà ông ta rất yêu thương
là Vi Tùng 韋 叢. Lúc đó, Vi Tùng chỉ mới 20 tuổi, còn Nguyên Chẩn thì đã 25
tuổi rồi. Sau khi kết hôn, họ sống đời sống
bần hàn đạm bạc. Vi Tùng mặc dù là tiểu thơ con quan nhưng lại rất chịu thương
chịu khó, cùng sống cảnh nhèo khổ với chồng mà không một lời oán than trách
móc, nên vợ chồng rất hòa hợp và thương yêu nhau. Bảy năm sau, tức năm Nguyên
Hòa thứ tư (809), khi Nguyên Chẩn nhậm chức Án Sát ngự Sử thì Vi Tùng nhuốm
bệnh và qua đời khi chỉ mới 27 tuổi. Nguyên Chẩn vô cùng đau xót tiếc thương,
ông đã làm rất nhiều thơ để khóc, điếu và truy điệu người vợ đã "cộng
khổ" mà không cùng được "đồng cam" nầy. Trong số thơ truy điệu
phải kể đến 3 bài KHIỂN BI HOÀI 遣 悲 懷 là "Giải bày hết nỗi lòng bi thương của mình" là nổi tiếng
và được nhiều người biết đến nhất.
Sau đây, ta sẽ lần lượt đọc lại 3 bài thơ bất hủ nầy :
遣悲懷·其一
KHIỂN BI HOÀI Kỳ 1
謝 公 最 小 偏 憐 女, Tạ công
tối tiểu thiên lân nữ,
自 嫁 黔 婁 百 事 乖。 Tự gía
Kiềm Lâu bách sự quai.
顧 我 無 衣 搜 藎 篋, Cố ngã vô
y sưu tẫn giáp,
泥 他 沽 酒 拔 金 釵。 Nệ tha cô
tửu bạt kim thoa.
野 蔬 充 膳 甘 長 藿, Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
落 葉 添 薪 仰 古 槐。 Lạc diệp
thiêm tân ngưỡng cổ hoài.
今 日 俸 錢 過 十 萬, Kim nhật
bổng tiền qúa thập vạn,
與 君 營 奠 復 營 齋。 Dữ quân
doanh điện phục doanh trai.
元 稹
Nguyên Chẩn
* Chú
Thích :
- Khiển Bi Hoài 遣 悲 懷 : Giải bày nỗi lòng sầu bi buồn thảm.
- Tạ Công 謝 公...: Lấy tích Tể Tướng Tạ An đời Đông Tấn rất thương cô cháu gái
là Tạ Đạo Uẩn.
- Kiềm Lâu 黔 婁 : là một hàn sĩ ở nước Tề thời Chiến Quốc.
- Tẫn Giáp 藎 篋 : là Rương, hòm, va-li đan bằng tre mây hoặc cỏ.
- Nệ 泥 : là Câu nệ, là Nằn nì, là Năn
nỉ ỉ ôi .
- Dã Sơ 野 蔬 : là Rau cải mọc hoang. Hoắc 藿 : là đọt đậu non. Câu nầy chỉ chung các loại rau dền, rau muống, rau lang, rau ngỗ...
- Tân 薪 : là củi. Cổ Hoài 古 槐 : là Cây Hòe cổ, là
cây hòe già.
- Bổng Tiền 俸 錢 : Tiền bổng lộc, Tiền lương.
- Doanh Điện 營 奠 : là Cúng tế; Doanh Trai 營 齋 : là làm tuần trai.
* Nghĩa
Bài Thơ :
Giống như là Tạ An đời Tấn rất thương cô con gái út của
mình, nhưng từ ngày lấy phải kẻ Kiềm Lâu hàn sĩ nầy thì trăm việc đều trớt quớt
không như ý. Thấy tôi không có áo mới để mặc nàng đã lục lọi hết các rương hòm
để tìm kiếm. Không tiền mua rượu uống tôi đã theo nài nĩ nàng, nàng cũng chịu
rút cây trâm vàng trên đầu mà đưa cho tôi. Ăn uống thì đạm bạc chỉ tìm các loại
rau rừng đọt đậu... Gom góp lá rụng phơi khô để làm củi nên thường ngóng trông
cây hòe lớn rụng lá xuống. Đến ngày hôm nay ta đã làm quan, bổng lộc đã hơn
mươì vạn hộc một năm, thì nàng đã mất rồi; nên chỉ còn có nước là vừa cúng tế
vừa làm tuần trai cho nàng mà thôi !
* Diễn
Nôm :
KHIỂN BI HOÀI (1)
Gái út Tạ công
được mến yêu,
Gã cho hàn sĩ khổ trăm
điều.
Lo ta áo cũ moi rương
nát,
Vì mỗ rượu ghiền bán
lược yêu.
Rau cháo đỡ lòng ăn xí
xóa,
Lá cây làm củi ước rơi
nhiều.
Nay ta bổng lộc hơn mười
vạn,
Phúng điếu mong nàng sớm
độ siêu !
Lục bát :
Tạ Công gái út
thương nhiều,
Lấy chàng hàn sĩ trăm
điều khổ thay.
Lo ta không áo tìm may,
Vì ta hết rượu rút ngay
trâm vàng.
Bửa ăn rau dại làm sang,
Lá khô làm củi nên nàng
ngóng cây.
Nay ta mười vạn bổng
đầy,
Chỉ còn phúng điếu làm
chay cho nàng.
Bài thơ hết lời ca ngợi người vợ hiền, trước tiên là đức tính tốt
của một tiểu thơ con nhà quan mà chịu khuất thân lấy người hàn sĩ để phải chịu
khổ trăm điều: Lo cái ăn cái mặc để giữ thể diện cho chồng, chìu cả những thói
ghiền rượu của chồng mà không ngần ngại bán cả trâm vàng, sống kham khổ bằng
các loại rau dại, chắc mót cả lá khô để làm củi đốt... Thế mà ngang trái thay,
khi đã làm quan, khi đã giàu sang vinh hiển, thì vợ đã mất rồi !... Dù cho có
cúng tế làm đám linh đình như thế nào cũng không bù đắp được tấm chân tình của
người vợ hiền đã khuất bóng.
遣 悲 懷·其 二
KHIỂN BI HOÀI Kỳ 2
昔 日 戲 言 身 後 事, Tích nhật
hí ngôn thân hậu sự,
今 朝 都 到 眼 前 來。 Kim triêu
đô đáo nhãn tiền lai.
衣 裳 已 施 行 看 盡, Y thường
dĩ thí hành khan tận,
針 線 猶 存 未 忍 開。 Châm
tuyến do tồn vị nhẫn khai.
尚 想 舊 情 憐 婢 僕, Thượng tưởng cựu tình lân tì bộc,
也 曾 因 夢 送 錢 財。 Dã tằng
nhân mộng tống tiền tài.
誠 知 此 恨 人 人 有, Thành tri
thử hận nhân nhân hữu,
貧 賤 夫 妻 百 事 哀。 Bần tiện
phu thê bách sự ai !
元 稹
Nguyên Chẩn
* Chú
Thích :
- Hí Ngôn 戲 言 : Lời nói chơi (giữa vợ chồng với nhau).
- Thân Hậu Sự 身 後 事 : Chuyện sau khi đã
chết, đã qua đời.
- Dĩ Thí 已 施 : Đã bố thí (cho người nghèo).
- Hành Khan Tận 行 看 盡 : là Đã gần hết.
- Do Tồn 猶 存 : Còn chừa lại, còn để lại.
- Tì Bộc 婢 僕 : TÌ là Tì nữ, hầu gái. BỘC là Gia bộc, người giúp việc trai.
- Bần Tiện Phu Thê 貧 賤 夫 妻 : là Vợ chồng nghèo khó với nhau.
* Nghĩa
bài thơ :
Ngày xưa vợ chồng thường nói chơi với nhau là: người nầy
chết thì người kia sẽ ra sao?... Đến hôm nay thì sự thực đó đều đã phơi bày
trước mắt. Quần áo của bà để lại tôi đã bố thí cho người nghèo gần hết rồi, chỉ
có kim chỉ ngày xưa của bà dùng để may vá thì tôi còn giữ lại cả mà không đành
lòng mở ra xem. Tôi luôn nhớ đến tình nghĩa của bà ngày xưa đối với nô tì gia
bộc, người ăn kẻ ở trong nhà mà càng yêu thương họ hơn; cũng thường nằm mơ thấy
bà nên luôn mua thêm vàng mã đốt xuống gởi cho bà. Vốn dĩ biết rằng cái hận
sinh ly tử biệt mọi người đều có, nhưng đối với vợ chồng xuất thân nghèo hèn
như chúng ta thì trăm việc đều bi ai buồn thãm.
* Diễn
Nôm :
KHIỂN BI HOÀI (2)
Ngày xưa cứ tưởng nói chơi thôi,
Nào biết hôm nay trước mắt rồi.
Bố thí áo quần cho sắp hết,
Vẫn còn kim chỉ chẳng đành coi.
Nhớ bà xưa vẫn thương người ở,
Vì mộng nay thường đốt bạc tơi.
Vẫn biết hận nầy ai tránh khỏi,
Vợ chồng nghèo khó khổ khôn vơi !
Lục bát :
Xưa kia cứ ngỡ nói chơi,
Nào ngờ nay đã phương trời âm dương.
Áo quần bố thí vẫn thường,
Chỉ kim còn đó chẳng buồn mở xem.
Vốn thương kẻ ở người quen,
Mã vàng thường đốt mấy phen mơ màng.
Vốn hay tử biệt hận tràn,
Vợ chồng nghèo khổ muôn vàn bi thương !
Thật
chí tình chí nghĩa, Nguyên Chẩn nhớ đến từng việc, từng việc một của vợ mình
khi còn sống, cho nên áo quần thì bố thí cho người nghèo gần hết, chớ kim chỉ
mà ngày thường vợ thường dùng để may vá thì không dám mở ra, sợ gợi lại hình
ảnh của vợ lúc còn sống; Vốn biết vợ có lòng nhân từ hay thương người ăn kẻ ở
trong nhà nên cũng đối xử với họ tốt hơn... và mặc dù bây giờ làm quan đã giàu
sang rồi, vẫn còn nhớ lúc vợ chồng thuở hàn vi trăm việc đều buồn thương sầu
thảm. Câu "貧 賤 夫 妻 百事 哀 Bần tiện phu thê
bách sự ai !" đã trở thành câu ngạn ngữ thông dụng rộng
rãi trong dân gian cho đến hiện nay.
遣 悲 懷. 其 三
KHIỂN BI HOÀI (3)
閒 坐 悲 君 亦 自 悲,
Nhàn tọa bi quân diệc tự bi,
百 年 都 是 幾 多 時?
Bách niên đô thị kỷ đa thì ?
鄧 攸 無 子 尋 知 命,
Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,
潘 岳 悼 亡 猶 費 詞。
Phan Nhạc điếu vong do phí từ.
同 穴 窅 冥 何 所 望?
Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng,
他 生 緣 會 更 難 期。
Tha sinh duyên hội cánh nan kỳ.
惟 將 終 夜 長 開 眼,
Duy tương chung dạ trường khai nhãn,
報 答 平 生 未 展 眉。
Báo đáp bình sinh vị chuyển mi.
元 稹
Nguyên Chẩn
* Chú
Thích :
- Đặng Du 鄧 攸 : Theo Tấn Thư ghi chép : ĐẶNG DU (?-326) người đời Tây Tấn, tự
là Bá Đạo, là quan Thái Thú đất Hà Tây. Cuối năm Vĩnh Gia trong chiến tranh
loạn lạc, Du đã bỏ con chết trong chiến
loạn mà cứu lấy cháu do em trai gởi gắm, với lý do mình còn có thể sanh con
khác được, chứ cháu mà chết rồi thì làm sao sanh được đứa cháu khác đây ? Cuối
cùng, vợ ông không còn khả năng mang thai nữa. Đành phải nạp thiếp, khi hỏi rõ
lý lịch thì biết cô thiếp mà mình định nạp là cháu gái con của em vợ mình, nên
thôi. Ông cho đó là số mạng của mình, nên từ đó không có ý định nạp thiếp nữa.
Rồi đành chịu cảnh vô hậu, không người nối dõi.
- Phan Nhạc 潘 岳 : Cũng theo Tấn Thư ghi chép : PHAN NHẠC (247-300) người đời Tây Tấn, tự
là An Nhân. Người đời thường gọi ông là PHAN AN 潘 安, là một văn học gia
nổi tiếng đẹp trai, là Huyện Lệnh của đất Hà Dương. Vợ là Dương Thị, chết trẻ.
Ông vô cùng thương nhớ vợ và làm rất nhiều thơ để phúng điếu, trong có 3 bài
"Điếu Vong Thi 悼 亡 詩" rất nổi tiếng, được nhiều người biết đến.
- Yểu Minh 窅 冥 : là Nơi xa xôi tăm tối, chỉ Âm Phủ.
- Hà Sở Vọng 何 所 望?: Còn kỳ vọng mong mỏi
gì nữa đây ?
- Duyên Hội 緣 會 : là Duyên hội ngộ, là cái nhân duyên gặp gỡ nhau.
- Cánh Nan Kỳ 更 難 期 : là Càng khó mà
trông mong hơn nữa.
- Khai Nhãn 開 眼 : Mở mắt, vì không ngủ được.
- Triển Mi 展 眉 : là Nở mày; ý chỉ Nở mày nở mặt.
* Nghĩa
Bài Thơ :
Rảnh rổi ngồi buồn nhớ thương bà mà cũng tự thương cho
thân tôi nữa. Người ta thường nói trăm năm tơ tóc, nhưng trăm năm có là bao
đâu? Đặng Du không có con nối dõi cũng do nơi mạng số; còn Phan An khóc điếu vợ
rồi thì lời điếu cũng thoảng qua thôi. Đã không còn trông mong chết cùng chung
một huyệt mộ, thì duyên hội ngộ ở kiếp sau cũng không dễ gì trông mong cho có
được đâu. Giờ chỉ còn biết nhớ thương bà mà "mở mắt" suốt đêm trường
không ngủ, để báo đáp lại lúc còn sống nghèo khổ bà chẳng "Nở mặt nở mày"
được! (Khi tôi đã làm quan lớn).
* Diễn
Nôm :
KHIỂN BI HOÀI (3)
Ngồi rảnh nhớ nàng dạ xót thay,
Bách niên giai
lão mất còn ai ?
Đặng Du vô tử
đành hiu hẩm,
Phan Nhạc điếu
vong những cảm hoài.
Chung huyệt chung
mồ thôi ngóng đợi,
Kiếp sau kiếp nữa
khó mong thay.
Suốt đêm mở mắt
tuôn dòng lệ,
Báo đáp nàng xưa
chẳng mở mày !
Lục bát :
Buồn nàng
rồi lại buồn ta,
Trăm năm tơ tóc
có là bao nhiêu ?
Đặng Du vô tử hẩm
hiu,
Phan An khóc vợ
nghe nhiều xót xa.
Hết mong chung
huyệt đôi ta,
Kiếp sau gặp gỡ
cũng là viễn vong.
Suốt đêm mở mắt
nhớ mong,
Vì nàng đến chết
vẫn không mở mày !
Thật chân tình, thật thực tế, và thực cảm động lòng người !
Ngồi buồn nhớ thương bà mà cũng tự thương cho thân tôi. Người ta nói trăm năm
hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thật sự có được bao nhiêu đâu? Tôi với bà không có
con, âu đó cũng là do số mạng ta phải thế; Tôi làm thơ thương khóc bà rồi cũng
chỉ như làn gió thoảng thôi, vì bà đâu còn nghe thấy được nữa đâu. Chúng ta
từng nguyện sống chung nhà và chết thì chung một huyệt mộ, nhưng đó cũng chỉ là
những chuyện viễn vông, cũng như hẹn sẽ cùng nhau gặp gỡ ở kiếp lai sinh đều là
những chuyện huyễn hoặc không thể nào có thật được. Việc thực tế nhất trước mắt
là tôi luôn "mở mắt" trao tráo thức trắng thâu đêm vì thương cho bà
lúc còn sống đã không được "mở mày mở mặt" với người đời !
Qua ba bài thơ vừa điếu tang, vừa bày tỏ nỗi lòng thương
nhớ vợ chẳng may mất sớm của Nguyên Chẩn, ta thấy ông đã sử dụng những chi tiết
rất nhỏ nhặt, rất tầm thường trong cuộc sống, như quần áo, trâm cài, rau dại,
lá khô... Sự hiền thục của vợ như mến thương người ăn kẻ ở trong nhà, sống kham
khổ với chồng mà chẳng chút oán than trách móc, vợ chồng cùng ước hẹn sống chết
có nhau, tái ngộ ở kiếp lai sinh... Chính những sự nhỏ nhặt tầm thường của các
mặt trong đời sống thực tế của vợ chồng đã được ông than van kể lể làm cảm động
lòng người đọc một cách chân thành như sự chân thành của ông trong những lời
thơ thương khóc vợ.
Ngoài ba bài thơ thương tiếc điếu tang vợ như trên, Nguyên
Chẩn còn có một hệ thống 5 bài thơ Tứ tuyệt "LY TỨ 離思" (Nỗi nhớ thương lúc phân ly) cũng rất nổi tiếng, nhất là
bài thứ tư trong 5 bài nêu trên đã trở thành bất hủ :
曾 經 滄 海 難 爲 水, Tằng kinh
thương hải nan vi thủy,
除 卻 巫 山 不 是 雲。 Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.
取 次 花 叢 懶 回 顧, Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,
半 緣 修 道 半 緣 君。 Bán duyên tu đạo bán duyên quân.
Có nghĩa :
Nếu không phải là nước của biển xanh mênh mông thì không
phải là nước. Ngoại trừ những mây mù trên đỉnh Vu Sơn ra, còn lại đều
không phải là mây. Đã lơ đễnh qua khỏi khóm hoa rồi thì cũng lười biếng quay
đầu nhìn lại, vì lòng đã trót theo tu đạo, và cũng vì trong lòng ta đã có hình
bóng của em rồi.
Diễn Nôm :
Chẳng là biển
rộng không là nước,
Trừ bỏ Vu Sơn chẳng phải
mây!
Trước khóm hoa tươi lười
biếng ngắm,
Nửa vì tu đạo nửa nàng
đây.
Lục bát :
Biển xanh mới
thật nước đây,
Chẳng Vu Sơn đó chẳng
mây trên trời.
Quay đầu biếng ngắm hoa
tươi,
Nửa vì đaọ hạnh nửa vui
vì nàng.
Ý của Nguyên Chẩn là :"Ngoại trừ vợ
ông ra, thì không có người đàn bà nào trên đời nầy đáng cho ông yêu nữa cả! Dù
có đi qua một "rừng hoa" trước mắt, ông cũng không buồn quay đầu lại
để nhìn ngắm, vì đạo hạnh và nhất là vì trong lòng ông đã có hình bóng của vợ
ông rồi. Không có bất cứ người đàn bà nào khác có thể thay thế được!
Bốn chữ đầu của câu thơ thứ nhất "TẰNG KINH THƯƠNG HẢI 曾 經 滄 海" đã trở thành
Thành Ngữ để chỉ khi "Một chàng trai yêu một cô gái nào đó mà cho rằng
ngoài nàng ra thì chẳng thể
nào yêu người khác được nữa", dùng bốn chữ TẰNG KINH THƯƠNG HẢI để tỏ tình
và để cho nàng biết là ngoài nàng ra chàng sẽ không còn yêu ai khác, nếu không
lấy được nàng thì chàng sẽ... "ở vậy nuôi con" cho đến hết đời!
Nên...
Khi viết câu thơ trên Nguyên Chẩn muốn cho mọi người biết mình là
người đàn ông chung tình, vợ chết rồi thì không còn yêu ai khác nữa và sẽ không
lấy ai khác nữa. Nhưng... khóc vợ chết thì nói thế, chứ đời sống thực tế của
ông thì ông là người "bạ đâu yêu đó, gặp người nào yêu người nấy và bỏ...
người kia" là.... KẺ BẠC TÌNH NHẤT trong tất cả những đàn ông bạc tình ở
trên đời nầy ! Mời đọc bài "BẠC TÌNH NỔI TIẾNG ĐƯỜNG THI" thì sẽ rõ !
Hẹn bài viết tới !
杜 紹 德
Đỗ Chiêu Đức