Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Đời Thủy Thủ 1 (Vũ Thất) / Chương 15: VỀ MIỀN TÂY (tiếp theo)

                                     

Đời Thủy Thủ 1 

 Chương 15: VỀ MIỀN TÂY (tiếp theo)

Hạm Trưởng ngồi vào ghế, ngả lưng thoải mái nhưng thỉnh thoảng vẫn cho lời nhắc nhở. Tôi hồi hộp theo dõi từng mệnh lệnh của Hạm Phó và phản ứng của con tàu.
Bất ngờ, Hạm Trưởng hỏi:
– Quê Thiếu Úy Bằng ở đâu?
Tôi giật mình:
– Dạ, Châu Đốc.
– À, vậy là láng giềng gần. Có câu ca dao này rất tình:
Ngó lên Châu Đốc,
Ngó xuống Vàm Nao,
Sóng bổ lao xao,
Anh thương em ruột thắt gan bào,
Biết em có thương lại chút nào hay không?

Ông ngừng một chút, rồi đọc tiếp:
Ở trên Châu Đốc,
Ngó xuống Vàm Nao,
Thấy con cá đao
Nó nhảy nhào vô lưới.
Anh ngồi chắc lưỡi,
Không biết chừng nào
Mới cưới đặng em.

Ông lại hỏi:
– Thiếu Úy Bằng có thương ai ở Vàm Nao không?
– Dạ không.
Tôi suýt thêm: “Thương toàn là dân miền Trung.” Nhưng kịp nghĩ không thích hợp.
Hạm Trưởng tiếp:
– Bà xã tôi dân Vàm Nao. Cũng nhờ vậy mà tôi biết một ít chuyện vùng này. Tôi kể, nhưng các anh không được phân tâm lái tàu.
Chúng tôi vẫn nhìn về phía trước, tai lắng nghe. Nhưng ông chưa kể ngay. Dường như ông đang sắp xếp chuyện trước chuyện sau. Rồi giọng ề à của ông vang lên:
–  Tôi cần nói trước. Những gì tôi sắp kể là nghe qua bà xã. Tam sao có thể thất bổn. Các anh nghe, có thắc mắc, coi lại sách vở.

Ông chậm rãi châm thuốc, rít vài hơi. Cái lối rề rà ấy làm tôi nổi cơn thèm thuốc. Tôi cũng châm một điếu.
– Rất xa xưa, con sông này chỉ là một con lạch. Người ta kể rằng những đàn voi đi qua, dẫm mãi làm con lạch lớn dần. Rồi mùa lũ, nước sông Tiền đổ qua sông Hậu, bờ sạt lở, lòng lạch mở rộng thêm. Dần dần trở thành thủy lộ huyết mạch. Ở đầu Vàm phía sông Tiền, nơi mình mắc cạn, nước xoáy mạnh nên nhiều cá lớn dữ dằn tụ về. Đó cũng chính là nơi ghe thuyền chở khẳm bị nước xoáy nhận chìm, ít ai sống sót. Mò tìm chỉ thấy xương cốt. Mỗi lần nghe tin, ai cũng nao lòng. Thuận miệng, người ta gọi luôn là Vàm Nao.
Ông ngưng khi Hạm Phó ban lệnh tránh một đợt ghe chài đi ngược chiều. Trên mui ghe, đèn hải hành hiện rõ, một bên đỏ, một bên xanh, trông như một hạm đội. Phía sau hạm đội là một thương thuyền bề thế. Hạm Phó cho lệnh giảm máy.

Chờ đoàn ghe chài và thương thuyền qua hết, Hạm Trưởng mới kể tiếp:
– Ông Bùi Hữu Nghĩa cũng có câu về nước xoáy:
Núi Sập sấm rền vang tiếng muỗi,
Vàm Nao nước chảy đứt đuôi xà.
Còn về cá thì có câu:
Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Đầu cù lao Ông Chưởng chính là vùng Vàm Nao này. Huyền thoại về cá thì nhiều lắm. Ngày xưa, người ta nói Vàm Nao có cá mập, cá sấu, bây giờ không còn thấy. Lại còn có cá nược biết nghe tiếng người, thường nổi lên bơi đua với lũ trẻ tắm sông. Ngày nay vẫn còn vài loài cá khổng lồ: cá vồ, cá tra dầu, có con nặng tới ba trăm ký. Loại trung bình hai trăm ký, gọi cá hô – chắc vì cái miệng hô quá cỡ – được dân nhà nghề mê lùng bắt. Bắt được một con là sống phây phả vài tháng. Thịt nó ngon, chuyên trị lẩu tả pín lù và món xào khóm. Đặc biệt cái bong bóng của nó, dân nhậu khó bỏ qua.

Ông hạ giọng, như đang nói về một báu vật:
– Nổi danh không thua cá hô là cá bông lau. Món canh chua cá bông lau thì khỏi nói. Ngon đến nỗi chúng bị đánh bắt gần tuyệt chủng. Loài này lớn nhất chừng mười lăm ký, đặc biệt không tanh mà lại có mùi thơm. Da trơn láng, lưng xanh xám, hai bên hông ánh bạc như bông cỏ lau phất phơ trong nắng, nên gọi là cá bông lau. Dân nhà nghề còn đồn rằng chưa ai bắt được con cá bông lau nào mang trứng, cũng chưa ai thấy trứng của chúng bao giờ. Thiệt hư thế nào thì tôi chịu.
Tôi không ngờ, ngoài tài làm thơ, ông còn có tài thu thập kiến thức miệt vườn. Tôi sinh trưởng không xa Vàm Nao, vậy mà giỏi lắm chỉ biết tên mấy con sông và vài loài cá. Và tôi bỗng thấy mừng. Từ nay tôi sẽ còn được ông cho biết thêm nhiều chuyện dân gian vùng sông nước Cửu Long.

Hạm Trưởng ngưng kể, chăm chú nhìn phía trước. Vành trăng vằng vặc giữa mấy đám mây đen chiếu xuống mặt sông, tạo một dải vàng rực như xuyên qua lớp nước phù sa, đủ soi hai bức tường cây đen thẫm chạy dọc hai bên bờ.
Các hàng đáy đã thưa dần. Hạm Phó cho lệnh tăng máy, rồi bảo tôi:
– Đoạn nguy hiểm qua rồi. Từ đây Thiếu Úy Bằng trách nhiệm.
– Đáp nhận.
Tôi lên tiếng mà lòng vẫn bất an. Hàng đáy thưa đi không có nghĩa là hết khó khăn. Tôi chưa có kinh nghiệm giang hành trên những dòng sông chộn rộn. Đáy cá thưa cũng có nghĩa ghe tàu chạy nhanh hơn, khó tránh nhau hơn. Tôi nhìn Hạm Trưởng và Hạm Phó, rồi tự trấn an. Cả hai trụ cột hàng hải hiện diện, lo chi cho mệt.

Mũi tàu đang hướng về phần cuối một hàng đáy từ bờ bên phải nhô quá nửa sông. Tôi cho lệnh hướng qua trái, dùng thêm độ nghiêng bánh lái để bù cho nước xuôi dòng. Con tàu từ từ vượt sát cột ngoài cùng, bỏ trọn hàng đáy về bên tay mặt. Tôi vừa bắt chước đúng cách lái của Hạm Trưởng lúc nãy.
Trong ánh trăng bàng bạc trên mặt nước, soi rõ một hàng đáy khác chiếm nửa sông bên trái. Tôi lại điều khiển con tàu vòng qua.
Giang hành ban đêm thật nhọc nhằn, nhưng đó là một trắc nghiệm sống động về khả năng hải nghiệp.

Nhìn chằm chằm qua ống dòm giữa bóng đêm mù mịt để tìm một thứ chưa biết là gì – quả là một cực hình. Chỉ một lúc, mắt mỏi đừ, đầu nhức như búa bổ. Nhưng không ai dám rời ống dòm. Để chiến hạm lâm nạn là hải nghiệp lâm đại nạn.
– Mình đang ở đâu, Thiếu Úy Bằng?
Câu hỏi bất ngờ của Hạm Phó làm tôi giật mình. Trong sông, lại giữa đêm, làm sao biết chắc mình đang ở đâu? Chỗ nào cũng lem nhem như chỗ nào. Không núi, không hải đăng, không mốc rõ ràng. Vậy chỉ còn cách phỏng định.
Căn cứ vào thời gian từ lúc rời chỗ mắc cạn đến giờ, gần một tiếng với tốc độ tiến hai, chắc cũng sắp đến cuối sông. Tôi nhìn phía mũi. Mặt sông vẫn mênh mang, tít mờ. Bỗng tôi để ý một vùng trời ửng sáng chếch sau tả hạm. Chắc chắn đó là ánh đèn quận lỵ Chợ Mới.
Tôi bước vội đến la bàn, lấy hướng vùng sáng, rồi kẻ lên giang đồ.
– Thưa Hạm Phó, còn một hải lý nữa sẽ gặp sông Hậu.
– Cám ơn anh.
Tôi thở nhẹ. Hạm Phó không chê là mừng rồi.

Mười phút sau, tôi cho lệnh quẹo trái vào sông Hậu. Khúc sông này rộng hơn Vàm Nao, cũng nhiều hàng đáy cá, nhưng phần lớn nằm gọn một bên, không lộn xộn như Vàm Nao hay Bồ Đề. Hạm Phó cho lệnh tăng tốc độ.
Những sợi thần kinh căng cứng trong tôi chùng xuống. Tôi bật đèn, đo khoảng cách, ước lượng tốc độ. Con tàu sẽ đến đúng hẹn. Không tệ. Máy chỉ mới tiến ba; nếu cần còn có thể tiến bốn. Nhưng sông đổi khúc thì trời cũng đổi thay. Mây đen bắt đầu kéo về, từng lúc che mờ ánh trăng.
Giọng Hạm Trưởng rề rà:
– Đừng có mưa nghe ông. Ông mà mưa là hại nhau đấy.
Tôi cố hiểu ngụ ý. Mưa lớn vừa che tầm nhìn vừa làm nhiễu radar. Trong sông mà mù cả hai con mắt thì chỉ còn nước neo lại. Mà neo lại thì trễ hẹn.
Tôi dò dẫm:
– Thưa Hạm Trưởng, nếu gặp mưa lớn chắc mình phải neo.
Ông lắc đầu:
– Cũng phải lết đến đâu hay đến đó. Tiền đồn Đại Ngãi đang chờ từng giờ. Neo tàu tránh mưa, mấy tay thiết giáp cười cho thúi đầu.

Ông ngồi thẳng người, hỏi to:
– Anh nào có thuốc lá cho tôi một điếu. Tôi hết thuốc mà làm biếng xuống phòng.
Không ai lên tiếng. Cực chẳng đã tôi móc gói thuốc, kéo nhô một điếu, đưa mời. Ông rút, đưa lên môi. Tôi quẹt diêm. Que diêm vừa áp vào đầu thuốc, ông đã la:
– Thuốc gì mà hôi dữ! Trả lại anh.
– Dạ, Bastos xanh Quân Tiếp Vụ. Tôi đã không dám mời, nhưng sợ Hạm Trưởng hiểu lầm.
– Xem ra anh ghiền nặng.
– Thưa không. Chẳng qua muốn tiết kiệm.
– Anh còn trẻ mà biết tiết kiệm là tốt. Anh tính chừng nào lập gia đình?
– Thưa, bốn năm nữa.
– Tốt. Đừng như tôi. Gặp hợp nhãn, cưới ngay. Cưới rồi mới thấy… kẹt. Còn quá trẻ, sau khi cưới một người vừa ý, thì lại thấy nhiều người khác vừa ý hơn.

Ông cất tiếng cười giòn tan, đôn hậu. Tôi cười cảm thông:
– Thưa Hạm Trưởng, trường hợp của tôi không biết có giống Hạm Trưởng không. Tôi gặp ba cô vừa ý, mà xem ra cô nào tôi cũng vừa ý hơn hai cô còn lại.
Hạm Trưởng lại cười giòn:
– Được, coi như nòi tình đồng điệu!
Tôi định đáp lời thì tiếng hét của quan sát viên làm tôi giật nẩy người:
– Báo cáo có một ghe ngay trước mũi tàu!
Hạm Phó nghiêng người ra ngoài, nói to:
– Tay lái hết bên trái. Tả ngưng, hữu tiến một.
Hạm Trưởng nhảy khỏi ghế, nâng ống dòm quan sát. Chiến hạm quay nhanh mũi, vừa kịp bỏ chiếc ghe bên hữu hạm.
Hạm Phó hối hả:
– Tay lái hết bên phải. Hai máy ngưng.
Chiếc ghe tròng trành dữ dội, lùi dọc theo hông tàu.

Tôi quay lui, nâng ống dòm, tim đập thình thịch. Chiếc ghe quá nhỏ, radar không thấy; ánh trăng lại quá mờ cho tầm nhìn xa. Hình như có hai hoặc ba người trên ghe. Họ vừa thoát chết hai lần trong đường tơ kẽ tóc. Tàu tránh kịp, chân vịt ngưng đúng lúc nên sóng không quậy chìm ghe.
Tôi nhìn sang Hạm Phó. Hai khẩu lệnh liên tiếp, không vấp một nhịp, không thừa một chữ. Cái biệt danh “hắc ám” bỗng nhẹ phần nào. Ông không chỉ khắt khe với kẻ khác mà còn khắt khe với chính mình.

Hạm Trưởng đích thân rọi đèn pha, chớp chớp ra hiệu ghe tiến gần tàu. Ông bảo tôi thủ khẩu đại liên. Khi chiếc ghe kè sát hông, ngay dưới đài chỉ huy, ông nói như quát:
– Bộ không muốn sống sao mà sấn ngay mũi tàu?
Luồng đèn pha quét xuống. Trước mũi ghe là một cụ già gầy gò, sau lái là một người đàn ông trung niên. Giữa khoang, một người đắp mền nằm bất động. Cụ già đứng khoanh tay, dáng khúm núm, ngước nhìn lên, miệng lắp bắp:
– Bẩm quan lớn thương tình… chúng tôi không thấy…
Giọng Hạm Trưởng bực bội:
– Giờ này ghe đi đâu? Làm giao liên hả?
Cụ già còng lưng, chắp tay xá lia lịa:
– Bẩm quan lớn. Con gái tôi đạp trúng lựu đạn. Tôi lo chạy hết ga đi nhà thương nên không thấy tàu…

Ông cụ nói xong, bảo người trung niên giở phần mền ở chân người nằm. Chiếc quần dài đen rách lỗ chỗ, dính đầy máu. Trong luồng đèn pha, tôi thấy một khuôn mặt người phụ nữ trắng bệch, tóc bê bết ướt, đôi mắt nhắm nghiền. Chắc cũng trạc tuổi chị tôi. Mùi dầu máy trộn mùi máu tanh thoảng lên đài chỉ huy. Trên boong, đám lính thiết giáp đang nhốn nháo nhìn xuống.
Hạm Trưởng lập tức gọi âm thoại ra lệnh mở cửa đổ bộ và toán y tế sẵn sàng. Ông chỉ thị Hạm Phó xuống trông coi việc cứu thương và báo cáo tình trạng thương tích. Rồi ông nói vọng xuống ghe, yêu cầu cập vào mũi tàu.
Hạm Phó rời đài chỉ huy. Hạm Trưởng quay sang tôi:
– Cố giữ tàu giữa sông.
– Nhận rõ.

Ông dõi mắt xuống cửa đổ bộ. Mũi tàu há ra, tấm sắt hạ xuống. Chiếc ghe nhanh chóng cập vào êm xuôi. Người bị thương được khiêng vào phòng cấp cứu.
Con tàu vẫn đang giữa dòng nhưng đã khá gần hàng đáy. Tôi nhẩm lại đặc tính vận chuyển: khi lùi, lái tàu lên hướng gió. Lá cờ cuốn tròn trên cột. Gió nhẹ, không ảnh hưởng. Tàu lùi thẳng khi cho hai máy lùi, tay lái số không. Tôi trình Hạm Trưởng ý định. Ông cộc lốc:
– Làm đi.
Tôi ra lệnh. Tiếng máy khởi động. Thân tàu hơi run. Chiến hạm lùi, giữ nguyên giữa dòng. Thấy đã đủ xa hàng đáy, tôi cho ngưng máy. Hạm Trưởng khen:
– Được lắm! Được lắm!

Một lúc sau, Hạm Phó trở lên trình Hạm Trưởng. Một bàn chân nạn nhân bị nát, hai ống chân nhiều vết thương. Y tá đã băng tạm, máu không còn chảy nhiều. Người bị thương vẫn tỉnh. Y tá cũng đã chích thuốc giảm đau và vô nước biển.
Hạm Trưởng trầm ngâm một lúc, rồi ra lệnh đưa người đàn ông trung niên lên đài chỉ huy. Ông ta là chồng nạn nhân.
Hạm Trưởng nói rõ ý định: chiến hạm sẽ ghé Long Xuyên, đưa người bị thương vào bệnh viện. Người chồng được đi theo. Anh mừng rỡ, chắp tay xá. Hạm Trưởng khoát tay, bảo anh xuống báo cụ già về nhà.
Vài phút sau, ông cho lệnh đóng cửa đổ bộ và tiến máy. Ông nói vọng xuống ghe:
– Cụ ơi! Cụ ở lại mạnh khỏe.
Cụ già xá ba xá:
– Đội ơn quan lớn! Đội ơn quan lớn!
Hạm Trưởng vẫy tay:
– Cụ làm ơn bỏ hai tiếng “quan lớn” đi. Tây nó về nước hết rồi!
Tôi không chắc cụ già có nghe được không. Riêng tôi, nghe thật rõ, cùng niềm cảm kích lặng lẽ dâng tràn.

Sông Hậu mở rộng dưới vầng trăng lúc tỏ lúc mờ. Trong lòng tàu, sáu xe thiết giáp nằm im như đàn cua trên ruộng.
Trên đài chỉ huy, giọng Hạm Trưởng vang lên, gọn và ấm:
– Hai máy tiến bốn!
Con tàu rùng mình lao tới. Hạm Trưởng cho lệnh mời vị Chi Đoàn Trưởng Thiết Giáp. Ông hỏi tình hình tiền đồn ở Đại Ngãi. Đại Úy Chi Đoàn Trưởng cho biết tiền đồn còn cầm cự dưới hỏa lực yểm trợ của trực thăng và phóng pháo cơ.
Tôi nghĩ tới quyết định cứu người của Hạm Trưởng. Ông không chỉ kịp đến giải tỏa áp lực cho tiền đồn mà còn cứu được một mạng người.

Con tàu lướt trên dòng sông Hậu thênh thang dưới ánh trăng. Tôi nhớ lời một bài ca ưa thích:
“Trăng về là nguồn sống yên lành
Của toàn dân yêu trăng thanh bình
”.

Vũ Thất

(Còn tiếp)