Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Đời Thủy Thủ 1 (Vũ Thất) Chương 15: VỀ MIỀN TÂY

 

                                                           

Đời Thủy Thủ 1 (Vũ Thất)

 Chương 15: VỀ MIỀN TÂY


Từ con đường tráng nhựa dẫn xuống bến bắc Cao Lãnh, chiếc thiết vận xa đầu tiên quay phải một phần tư vòng, hùng hổ lăn xích ngang qua thửa ruộng vừa gặt, rồi lại quay trái chín mươi độ, nhắm thẳng về phía chiếc hải vận hạm đang ủi bãi.
Nó chúc mũi xuống bờ sông, xông xáo chui vào đám lau sậy dày đặc. Nhưng chỉ được vài thước, nó nằm lỳ trong bùn.
Cái cửa đổ bộ của chiến hạm đang mở rộng, cách nó chỉ chừng mươi thước. Vậy mà mươi thước đó bỗng hóa thành một khoảng cách bất tận. Chiếc thiết vận xa vùng vẫy, xích sắt nghiến bùn nghe rào rạo, nhưng càng cố càng lún sâu thêm.
Cách chỗ chúng tôi hơn trăm rưỡi cây số đường sông, một tiền đồn ở Đại Ngãi đang bị vây. Chi đoàn thiết giáp nằm chờ trên bờ phải có mặt đúng hẹn để giải tỏa áp lực địch. Vậy mà chiếc xe mở đường mới lăn được vài trăm thước đã nằm bẹp trong bùn.
   Hạm Trưởng châm điếu thuốc, rít liền mấy hơi rồi khoanh tay nhìn dọc theo bờ sông. Suốt hơn một tiếng đồng hồ, ông đã cho chiến hạm lần lượt ủi vào nhiều chỗ để thám sát. Cả một đoạn bờ nhìn qua tưởng chắc ăn, nhưng nền đất lại quá mềm, không chịu nổi sức nặng của chiến xa. Chỗ trông lý tưởng nhất rốt cuộc cũng thành vô dụng.
Ông đã ngắm thêm những bãi xa hơn. Nhưng bên trên, chỗ thì vườn xoài, chỗ thì vườn mận, chỗ lại đầy những luống rau xanh tốt. Đưa thiết vận xa lên đó, chưa chắc đã dễ hơn; mà nếu có lên được, thì dân chịu thiệt hại nặng nề.
    Ngay từ trưa, khi hai bên gặp nhau, vị Chi Đoàn Trưởng thiết giáp đã đề nghị ông cho chiến hạm ủi vào cầu nổi đầu bến bắc. Ông từ chối. Một là chuyện chiến hạm ủi vào cầu nổi của bến bắc không hề đơn giản. Hai là làm xe đò và dân qua bắc phải chờ lâu. Nhưng với tình hình này, không còn chọn lựa khác.

   Hạm Trưởng nhìn sang chiếc cầu nổi của bến bắc, dõi mắt theo dòng nước, rồi ngước lên lá cờ phần phật trên cao. Rõ ràng ông đang ngần ngại.
    Tôi từng được ông huấn luyện về cách cập cầu khi nước ngược, cũng từng tập ủi bãi trong nhiều hướng gió khác nhau, nhưng chưa bao giờ được hướng dẫn cách ủi vào một chiếc cầu nổi nằm lơi khơi ngoài lòng sông. Tuy vậy, nhìn những chiếc bắc dềnh dàng, đều đặn vào ra, tôi thầm nghĩ: nếu cái bắc to bè kia làm được, thì một chiến hạm nhỏ hơn có gì phải ngại ngùng.
Đột nhiên, Hạm Trưởng quay lại, nói mấy chữ ngắn ngủi, nhưng đủ làm tôi ngạc nhiên:
– Đành liều vậy!
Sao lại “Đành liều vậy”? Tôi nhìn Hạm Phó Quá. Anh chỉ nhún vai, như một cách đồng tình với Hạm Trưởng.
Tôi không mến Hạm Phó Quá bằng cựu Hạm Phó. Quá cũng cởi mở nhưng nhiều phần khắt khe. Ai phạm lỗi cũng bị phạt, nặng nhẹ tùy lỗi, chớ không chỉ cảnh cáo suông. Biệt danh của anh là Hạm Phó “Hắc Ám”. Còn về nghề nghiệp, tôi chưa thấy anh trổ tài.

Hạm Trưởng ra lệnh toán vận chuyển sẵn sàng thả neo lái rồi hỏi Thiếu Úy Được:
– Sĩ quan đương phiên nghĩ sao?
Được lúng túng:
– Về việc gì, thưa Hạm Trưởng?
– Thì việc ủi vào cầu nổi bến bắc.
Được quan sát qua ống dòm một lúc rồi đáp:
– Thưa Hạm Trưởng, tôi thấy chiếc bắc ủi vào cầu nổi lần nào cũng đẹp.
Giọng ông hơi gắt:
– Dĩ nhiên là đẹp. Nghề của họ mà! Sở trường của họ mà! Hãy nghĩ sâu hơn. Chiến hạm không phải chiếc bắc, và cái cầu nổi ấy cũng không dành cho chiến hạm.
Thấy Được ngơ ngác, ông chép miệng:
– Chú tâm theo dõi, sẽ hiểu.

Ông ra lệnh đóng cửa đổ bộ, kéo neo và lùi tàu. Khi chiến hạm ra giữa sông, ông cho ngưng máy, rồi chậm rãi hỏi Được:
– Hãy nhìn dòng sông. Anh thấy sao?
– Thưa, nước ròng.
– Nước ròng thì ai cũng thấy. Tôi hỏi cường độ.
Được quay nhìn đám lục bình trôi lướt qua các thân cây trên bờ:
– Thưa, nước ròng mạnh.
– Đúng. Nước đang ròng mạnh. Còn gió?
– Thưa, gió cũng mạnh.
– Gió mạnh thì ai cũng thấy. Nhưng nói tới gió, ngoài cường độ, phải kèm với hướng. Nếu ta ủi vào cầu nổi, gió sẽ tác động vào đâu?

Tôi ngước nhìn chiều bay của lá cờ, so với hướng tàu khi tiến vào cầu nổi. Được trả lời như tôi thấy:
– Thưa, gió sẽ thổi ngang tả hạm.
Ông gật đầu:
– Nước đẩy mạn tả. Gió cũng đẩy mạn tả. Con tàu sẽ trượt ngang như chiếc lá.
Ông lẩm bẩm gì đó khi nhìn về phía bến bắc, rồi cho tàu tiến xuôi dòng. Khi gần ngang cầu nổi, ông quay sang Được, giọng có phần vui:
– Bây giờ nhìn lại cầu nổi, anh thấy sao?
Tôi cùng Được nâng ống dòm. Chiếc cầu nổi ban nãy nhìn ngang trông khá to, nay nhìn thẳng, bỗng nhỏ lại đến lạ lùng. Nếu không có nhịp cầu sơn đen nối liền, có lẽ tôi đã phải tìm nó ở một hướng khác.
Hạm Trưởng hỏi lại, nóng nảy hơn:
– Anh thấy sao?
Được rụt rè:
– Thưa, mục tiêu nhỏ, nằm lơi khơi, gió ngang hông, nước ròng mạnh, rất khó cho cửa đổ bộ gác lên đúng vào cầu nổi.
– Rất đúng. Nếu lần đầu ủi hụt thì sao?
– Thưa, tiếp tục cho đến khi thành công.
– Trong khi tiếp tục ủi vào cầu nổi, có gì khác cần quan tâm?
– Thưa, sau đó thì… nhận thiết vận xa.

Hạm Trưởng lắc đầu, bật cười:
– Được vậy thì còn gì bằng!
Vừa lúc Hạm Phó Quá xuất hiện. Ông hỏi:
– Nè, ông Hạm Trưởng tương lai, nếu ông đang chỉ huy, ông sợ nhất điều gì khi cho tàu ủi vào cầu nổi?
Quá ngắm nghía, đắn đo rồi nói:
– Thưa, chiến hạm có thể ủi sập cầu.
Hạm Trưởng reo lên:
– Đúng! Nếu ngưng máy không kịp, tàu sẽ ủi cầu nổi làm sập cầu sắt. Các sĩ quan nhớ kỹ. Lệnh tiến, lệnh lùi hay lệnh ngưng máy của tàu phải qua vài trung gian: lệnh ban ra, truyền cơ học xuống hầm máy, nhân viên thi hành. Hãy tưởng tượng, con tàu hùng hổ lao tới mà hầm máy phản ứng chậm.
Ông nhìn từng sĩ quan rồi hỏi:
– Ngoài ra còn gì đáng quan tâm nữa?
Tôi lục lọi trí nhớ mà chẳng ra. Không ai trả lời. Hạm Trưởng nghiêm giọng:
– Thêm một điểm quan trọng không kém: neo lái. Tùy tốc độ nước và gió, phải thả neo kịp thời. Thả chậm, hoặc neo không bám, lái tàu trôi giạt, mũi tàu bật khỏi cầu nổi, cả con tàu có thể trôi, va vào chiếc bắc gần đó. Vậy, đừng quá liều thành gây tai họa!
    Thực tế không bi quan như ông e ngại, dù phải làm đi làm lại đến ba lần. Lần đầu, ước tính sai: tàu tiến vào bị giạt ngoài cầu nổi. Lần thứ hai, neo sau không cắn đất, không giữ được lái tàu, làm lái bị đẩy trôi. Lần ba, thành công với nhiều hồi hộp.

Tổng cộng, phải mất gần hai tiếng. Hạm Trưởng thở hắt, xoa tay. Tôi gặt hái được một bài học vận chuyển quý báu.
Chiếc thiết vận xa sa lầy hồi trưa cũng đã được hai chiếc khác kéo lên, lấm lem bùn từ xích tới tháp súng. Nó lầm lũi bò qua nhịp cầu sơn đen, chui vào lòng tàu như một con trâu vừa được vớt khỏi vũng.
Sau bữa ăn chiều, chúng tôi rời Cao Lãnh lúc trời nhá nhem tối.
Sông Tiền khá rộng, nhưng so với đại dương thì chẳng khác gì một con rạch so với một dòng sông. Trời tối càng làm con sông hẹp hơn. Nhưng xét về mức độ nguy hiểm thì lại ít hơn. Ở biển, bị tấp vô đá ngầm coi như lủng tàu, thường là bỏ luôn con tàu. Còn ở sông, có lỡ tấp vào bờ thì cũng chỉ gặp đất bùn, hoặc băng ngang hàng đáy thì chỉ ngư dân lãnh đủ.

Đây là lần thứ hai tôi học hỏi giang hành. Lần trước là sông Bồ Đề. Lần này đi qua những ba con sông nuôi sống miền Tây: Tiền Giang, Vàm Nao, và Hậu Giang.
Thủy trình tuy dài hơn nhiều so với sông Bồ Đề, nhưng không nơi nào phải qua tử địa. Nhất là vùng Vàm Nao – thánh địa Phật Giáo Hòa Hảo – an ninh trăm phần trăm. Tín đồ nào dung tha cho kẻ hạ sát giáo chủ của mình! Dù vậy, Hạm Trưởng vẫn ra lệnh giang hành kín và sẵn sàng khẩu đại liên trên đài chỉ huy.
Một nghịch lý: giang hành vùng ít áp lực, nhưng Hạm Trưởng lại vô cùng vất vả.
Ở ngoài biển, khi chiến hạm đã vào hải trình an toàn, Hạm Trưởng rời đài chỉ huy, giao tàu cho sĩ quan đương phiên. Nhưng trong sông, ông hiện diện thường trực trên đài chỉ huy, đồng thời kéo theo Hạm Phó thường trực ở phòng radar để theo dõi, báo cáo đối vật từ xa.

Trời đã tối hẳn. Dòng sông trước mặt biến thành một khoảng đen mờ. Con tàu tiến tới như người mù dò đường. Lẫn trong bóng tối là các điểm sáng vàng úa của đèn dầu nấp trong bóng cây. Chỉ cần đếm những điểm sáng ấy cũng đoán được mật độ dân cư ven sông.
   Dù Hạm Trưởng hiện diện, sĩ quan đương phiên – Thiếu Úy Được – vẫn là người lo lắng nhất. Anh phải quan sát thật kỹ và nhận ra được những đối vật radar báo cáo là thương thuyền, ghe hay bè cá, để Hạm Trưởng kịp thời giảm máy, bật đèn hải hành, chuẩn bị cách tránh an toàn.
   Tuy tôi không có trách nhiệm trong phiên này, nhưng không muốn bỏ lỡ cơ hội học hỏi. Và đôi lúc tôi cũng đứng tim trong vài tình huống. Như giữa đêm thanh vắng, chợt vang tiếng la:
– Báo cáo có hàng đáy trước mũi!
Hạm Trưởng nâng ống dòm rồi vội ra lệnh giảm máy.
Chiến hạm khựng lại, tốc độ giảm hẳn. Hạm Trưởng hỏi, giọng như thách đố:
– Tránh thế nào đây, sĩ quan đương phiên?
Tôi nâng ống dòm trước cả sĩ quan đương phiên. Trong vùng ánh sáng lờ mờ từ các vì sao, một hàng đáy chặn ngang mũi tàu. Thật khó quyết định nên lách qua phải hay trái. Bên nào cũng có khoảng trống đủ cho chiến hạm băng qua, nhưng bên nào cạn bên nào sâu thì không còn thì giờ đọc giang đồ.

Mũi tàu đang hướng về nửa bên trái, nơi có vài ghe dân đậu gần bờ. Hạm Trưởng cho lệnh tàu hướng qua phải. Từ chiếc cọc cuối hàng đáy, ánh sáng chợt bật lên. Hạm Trưởng ra lệnh ép sát bờ. Chiếc ghe đáy neo cạnh hàng cọc tròng trành dữ dội. Những chòm cây hình thù kỳ dị vươn tay cố bám con tàu. Sóng đánh ì oạp vào mép đất.
Tôi buột miệng, giọng run run:
– Hạm Trưởng lái ghê quá!
Hạm Trưởng càm ràm:
– Sao không đợi tàu đụng chìm rồi hãy thắp đèn! Mấy ông làm nghề hạ bạc ông nào cũng như ông nào, thích giỡn với tử thần!
Tôi đánh bạo hỏi:
– Thưa Hạm Trưởng, tôi không dám lách như Hạm Trưởng, vậy cho tắt máy lướt qua hàng đáy, có được không?
Trời quá tối, tôi không thấy nét mặt ông. Chỉ nghe tiếng ông giải thích:
– Đó không phải là giải pháp hay. Đâm vào đáy cá, không chỉ làm thiệt hại cho dân mà chân vịt tàu cũng dễ bị quấn lưới, dù máy đã tắt. Tàu mắc cạn còn rút ra được, lưới còn tháo gỡ được. Nhưng làm rách lưới thì mất lòng dân.
– Thưa, tôi đã hiểu. Cám ơn Hạm Trưởng.
Giọng ông trầm ấm:
– Khoảng trống bên trái rộng hơn nhưng lại có ghe đậu. Qua đó, lỡ tay lái phản ứng chậm, có thể đụng chìm ghe. Tôi thà chọn mắc cạn hơn là làm ghe dân chìm.
Tôi mỉm cười, thầm cảm ơn một bài học đáng giá.

Hạm Trưởng cho lệnh tăng máy. Con tàu thong dong như chiếc du thuyền. Tôi hài lòng với quyết định bỏ dở đại học để gia nhập Hải Quân. Nếu không, làm sao hưởng được những phút thú vị, thơ mộng thế này.
Radar lại báo cáo có đối vật. Thiếu Úy Được xác nhận đó là đoàn tàu kéo nhiều xà lan. Hạm Trưởng cho giảm máy, ép chiến hạm gần bờ, nhường thủy đạo an toàn. Tiền Giang mang danh là con sông không bao giờ ngủ, là thủy trình cho hàng ngàn ghe chài ngày đêm chở thực phẩm tiếp tế Sài Gòn. Nó cũng là con sông đưa các đoàn thương thuyền ngoại quốc lên tận Nam Vang.
Mặt trăng tròn vành vạnh đã nhô lên khỏi rặng cây. Cùng là một cung Hằng mà hai hình ảnh hoàn toàn khác biệt.
Ở biển, ánh trăng chỉ tạo một vệt sáng lung linh chạy dài đến chiến hạm. Chung quanh vẫn là mênh mông đen tối. Vầng trăng trông xa thẳm, cô đơn.
Trăng trên sông gần gũi hơn. Nó làm dòng sông lung linh như có linh hồn, thắp sáng ruộng đồng nhà cửa. Nó loang loáng chạy giữa các vòm cây, làm mờ những hình thù quái dị ven bờ, tạo một không gian êm ả thanh bình.
“Thanh bình.”

Tôi nhắc thầm hai tiếng ấy mà nghe lòng chua xót. Mấy năm thanh bình của miền Nam đang dần tàn trước quyết tâm nhuộm đỏ đất nước bằng máu từ miền Bắc. Chỗ này, chỗ nọ thành mật khu. Nơi đây giấu súng, nơi kia giấu đạn. Đến bao giờ họ mới thức tỉnh, trả lại thanh bình cho đất nước? Lúc đó, liệu tôi có còn sống để tận hưởng?
Đột nhiên, thân tôi bị hất mạnh về phía trước. Ngực va vào một góc cạnh nào đó đau điếng. Tôi ôm lấy chỗ đau, nhìn quanh.
Tiếng Hạm Trưởng hét lớn:
– Hai máy ngưng!
Rồi ông lập tức cho máy lùi hết tốc lực. Chiến hạm khua động, run rẩy như một con vật khổng lồ mắc bẫy. Hai chân vịt quay cuồng, phát ra tiếng ào ào như thác đổ. Ông cho đổi máy tiến, máy lùi, sai biệt vòng quay. Hơn năm phút trôi qua, đáy tàu vẫn bám đất, bất tuân lệnh, nằm ì.
Sau cùng, Hạm Trưởng cho tắt máy. Ông quay sang nói với hai thiếu úy:
– Tôi cho quẹo hơi sớm, quên bẵng tàu đang chở đầy thiết vận xa. Lẽ ra phải chạy thêm một đoạn nữa. Thêm bài học cho tôi và cũng cho các anh.
Ông nghiêng người nhìn xuống dòng sông, rồi chợt reo lên:
– A, mình đang mùa nước nổi! Nước nổi, lại gặp trăng rằm, nhiều lắm mười lăm phút là ta đi tiếp được.

Mùa nước nổi thì tôi quá rành, nước tiếp tục lên một tháng nữa. Trăng rằm đúng là một yếu tố của thủy triều. Tôi tin ông. Giọng Hạm Trưởng lại vang lên, lần này có vẻ dịu hơn:
– Ai trách nhiệm phiên trực mười hai đến bốn?
Tôi lên tiếng:
– Thưa, Hạm Phó và tôi.
Giọng ông thân mật hơn:
– Sông Vàm Nao khó chơi lắm. Một là nước chảy xiết và xoáy, rất khó lái. Hai là đáy cá chằng chịt, dễ vướng vào. Phải hết sức cẩn thận. Bây giờ, nghỉ ngơi cho khỏe.
Căn dặn xong, ông ngả người lên chiếc ghế tựa êm ái của ông. Sĩ quan đương phiên và các quan sát viên cũng thả lỏng ống dòm, vận động tay chân.

Tôi bật đèn tìm vị trí chiến hạm trên giang đồ. Dấu chì tượng trưng cho con tàu đang nằm đúng bãi bồi ở ngã ba Vàm Nao. Tôi tắt đèn, nhìn về phía làng Hòa Hảo. Đất thánh địa im lìm dưới một vùng ánh sáng tỏa rộng. Thời còn tiểu học, tôi từng được nhà trường đưa đến viếng một lần, nhưng chỉ còn nhớ lối đi nhỏ trồng đủ loại cây kiểng dẫn vào Tổ Đình, một ngôi nhà gỗ rộng và khang trang. Phía bên kia Vàm Nao là quận lỵ Chợ Mới mà tôi chưa có dịp ghé thăm.
Tôi nhìn đồng hồ. Hai kim chỉ 23 giờ 15. Còn gần một tiếng nữa mới nhận phiên. Tôi thấy nên xuống kiếm gì dằn bụng và làm một ly cà phê cho tỉnh.
Tôi mở tủ tìm gói mì, rót nước sôi, rồi pha một bình cà phê mới. Hạm Phó đi ngang nhưng không ghé vào. Tôi ngồi bụm mặt định thần chờ mì chín.
No bụng, tôi hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày. Nhâm nhi chưa xong nửa tách cà phê thì nghe tiếng máy khởi động. Hạm Phó xuất hiện, ra dấu bảo tôi lên đài chỉ huy.
Tôi uống nốt ngụm cà phê cuối, rít thêm vài hơi thuốc. Vừa chạy lên các bậc thang, tôi vừa ngẫm nghĩ kinh nghiệm của Hạm Trưởng. Ông tính đúng. Nước vẫn chảy xuôi ra biển, nhưng mực nước dâng nhanh nhờ trăng rằm.

Tôi lên đến Đài Chỉ Huy đúng lúc con tàu bắt đầu rời bãi cạn. Phân đội tôi nhận phiên. Máy tiến hai.
Mùa nước nổi, nước sông Tiền đổ dồn vào Vàm Nao rồi tuôn ra sông Hậu. Mối nguy đeo đẳng là chiến hạm xuôi dòng, tay lái khó điều khiển. Hạm Trưởng đứng cánh phải, Hạm Phó đứng cánh trái. Tôi đứng gần ống truyền âm đến phòng radar.
Chẳng bao lâu, chúng tôi lạc vào một rừng đèn, rừng cọc, tưởng chừng không có lối ra. Các hàng đáy chăng ngang theo thế cài răng lược. Chiến hạm phải chạy zigzag, lúc né bên này, lúc lách bên kia.
Sông Vàm Nao ngắn, chưa đầy tám cây số, nhưng rộng và sâu. Có chỗ rộng gần cây số, sâu trung bình mười bảy thước. Nếu đi thẳng, tám cây số chỉ mất chừng nửa tiếng. Nhưng với ma trận đáy cá trước mặt, không chừng phải cần cả giờ.
Tiếng Hạm Trưởng vang lên, căng thẳng:
– Hạm Trưởng giao quyền chỉ huy cho Hạm Phó.
Giọng Quá khô khan:
– Đáp nhận.

Vũ Thất

(Còn tiếp)