Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2026

Bài 7: Ngư Ông Khúc Hành, thơ chữ Hán, Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều chú giải

 

                                                               

Bài 7: Ngư Ông Khúc Hành, thơ chữ Hán, Hồ Xuân Hương, trích trong Lưu Hương Ký; Ngân Triều chú giải


Bài số 7:
Ngư Ông khúc hành
Hồ Xuân Hương


Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:
漁 翁 曲 行
野 翁 淡 泊 亦 繁 花
錯 認 桃 源 是 薜 蘿
寄 語 挳 舟 從 釣 子
過 江 應 不 聽 琵 琶
*
過 江 莫 聽 琵 琶
高 聲 不 似 胡 笳 悽 涼
桃 源 水 闊 山 長
漁 翁 一 棹 仙 堂 半 開
萬 重 春 鎖 天 台
琴 聲 樂 角 聲 哀 不 同
寒 山 草 色 蔥 蔥
蘇 溪 幾 到 清 風 自 閑
*
Ngư Ông Khúc Hành
Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa,
Thác nhận Đào Nguyên thị bệ la.[1]
Ký ngữ khinh chu tòng điếu tử,
Quá giang ưng bất thính tỳ bà.
*
Quá giang mạc thính tỳ bà,
Cao thanh bất tự hồ già thê lương.
Đào nguyên thuỷ khoát sơn trường,
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai.
Vạn trùng xuân toả thiên thai,
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng.
Hàn sơn thảo sắc thông thông,
Tô khê kỷ đáo thanh phong tự nhàn.
*

Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp
Chú giải:
dã ông 野 翁, ông già ở chốn quê.
đạm bạc 淡 泊, nhạt nhẽo, vô vị.
diệc 亦 cũng, cũng thế.
Phồn hoa 繁 花, náo nhiệt, xinh đẹp.
Thác nhận 錯 認, tự nhận, đành lòng.
Đào Nguyên 桃 源, nguồn đào,chỗ tiên ở.
Trong bài Đào Hoa Nguyên Ký, Đào Tiềm nói có người đánh cá chèo thuyền lạc lối đến Đào Nguyên là chỗ động tiên. Do đó, đào nguyên thường dùng để chỉ động tiên:
Rước mừng đón hỏi dò la,
Đào nguyên lạc lối đâu mà tới đây?
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 191-192, bản Bùi Kỹ và Trần Trọng Kim
Ký ngữ 寄 語, gởi lời.
khinh chu 挳 舟, chiếc thuyền nhẹ.
tòng điếu tử 從 釣 子, theo người đi câu.
Quá giang 過 江, qua sông.
Ưng 應, nên, bằng lòng.
bất thính tỳ bà 不 聽 琵 琶, Không nghe tiếng đàn tỳ bà.
Mạc 莫, tuyệt nhiên, chẳng ai không
Quá giang ưng bất thính tỳ bà và Quá giang mạc thính tỳ bà: bất thính = mạc thính, ( không nghe= chẳng nghe), hai câu nầy sử dụng từ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Qua sông chớ đam mê, lụy, tiếng tỳ bà.
Cao thanh 高 聲, Tiếng ngân cao.
bất tự 不 似, không giống giống như thế. (à peu près semblable)
hồ già thê lương 胡 笳 悽 涼, cái kèn lá lạnh lẽo bi ai.
Thủy khoát: sơn trường 水 闊 山 長, biển rộng núi,
toả Thiên Thai 鎖 天 台,Thiên Thai đã khóa.
Thiên Thai 天 台, Một hòn núi ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu. Đời nhà Hán, có Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc và gặp tiên. Do đó, Thiên Thai dùng để chỉ cảnh tiên,
Xắn tay mở khóa động đào,
Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 391-392, bản Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.
giốc thanh ai 角 聲 哀, tiếng thổi sừng trâu nghe bi ai.
Bất đồng 不 同, không hòa quyện thuận thanh cùng nhau, chói tai.
thảo sắc thông thông 草 色 蔥 蔥, sắc cỏ xanh ngắt.
Tô khê 蘇 溪 khe suối chảy về sông Tô Châu bên Tàu.
kỷ đáo 幾 到 mỗi lần đến.
*
Ngân Triều dịch nghĩa:
Ông già ở quê nhạt nhẽo, cũng cảm thấy như ở nơi thành thị,
Cứ ngỡ chốn thần tiên, Đào Nguyên, là những bệ rêu xanh.
Nhắn gởi người đi câu trên chiếc thuyền nhẹ,
Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.
*
Chớ đam mê tiếng tỳ bà khi qua sông.
Tiếng ngân cao của đàn không giống tiếng kèn lá bi ai của người Mán.
Động tiên trên biển rộng, núi dài mênh mang.
Ngư ông chèo một mình tìm cửa tiên hé mở.
Vạn vạn năm, đường vào Thiên Thai đã khóa chặt,
Tiếng đàn rụng, tiếng tù và bi thảm, không hòa tấu cùng nhau.
Kìa trên núi lạnh, sắc cỏ xanh ngắt,
Mỗi lần đến sông Tô, hóng gió mát, tức là đã nhàn hạ rồi.
*
(1) Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Gửi bởi Vanachi ngày 23/08/2008

Già quê đạm bạc cũng phồn hoa
Lầm tưởng đào non là dây hờ
Nhắn nhủ người câu đò nhẹ lướt
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
*
Qua sông đừng lắng tỳ bà
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
Nguồn đào trời nước mênh mang
Nhà tiên hé mở, chèo buông đò chài
Muôn trùng xuân khoá Thiên Thai
Tiếng ốc buồn, tiếng đàn vui chả cùng
Cỏ bời lợp, núi lạnh lùng
Sông Tô hầu tới thung dung gió nhàn

*
(2) Ngân Triều dịch thơ:

Khúc hát Ngư ông
Già quê cảnh nhạt, vẫn nguy nga,
Ngỡ chốn thần tiên rêu bệ hoa.
Nhắn gởi ông câu, thuyền nhẹ lướt,
Sang sông, chớ lụy tiếng tỳ bà.
*
Sang sông, chớ lụy tiếng tỳ bà ,
Cung bổng lạc âm kèn xứ Hồ!
Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô!
Thiên Thai ngàn thuở then cài mãi,
Còi rúc, đàn kêu, trắc tiếng tơ.
Chỉ thấy cỏ xanh, ôm núi lạnh,
Sông Tô, gió mát, thú yên hà.[2]

*
[1] Đào yên thị hệ la: 桃 嫣 氏 係 纙, có họ với người chài lưới.[Theo bản của TS Phạm Trọng Chánh nhưng tôi dùng bản của Thi viện như trên: Đào Nguyên thị bệ la: 桃 源 是 薜 蘿, chốn Đào Nguyên là những bệ rêu xanh.]
[2] yên hà: 煙 霞 . khói và ráng (mây). Thú vui tự do, thanh thản, không bị ràng buộc như mây và khói, thú vui của người ẩn sĩ.
Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen
Ca dao
Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn?
Nước trong rửa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Sớm doi tối vịnh vui vầy,
Ngày dài hứng gió đêm chầy chơi trăng.
Tháng ngày thong thả làm ăn,
Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.
Nghêu ngao nay chích mai đầm,
Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu

***
Ảnh minh họa:
Biển rộng núi cao tiên chẳng thấy,
Đào Nguyên đá dựng, biết tìm mô! Ngân Triều

                                                              









Hàm Răng Giả - Anh Khờ

 Hàm Răng Giả

     (về anh K.)

Răng thật bao năm đã hỏng rồi
Thay hàm răng giả cũng vừa thôi
Tuy nhai chẳng gọn… nhưng cười đẹp
Trắng nuột long lanh lại chẳng… hôi

Nói dại… lỡ gì… chỉ lấy ra
Cháu con cất giữ... "nhớ ông bà"
Trăm năm kỷ vật còn nguyên vẹn
"Đồ cổ" nghìn đời… được giá nha!

Ngẫm kỹ… kể như "cũng thấy buồn"
Đêm nằm tiếc ngẩn lệ trào tuôn
Công ơn cha mẹ cho từng chiếc
Chẳng giữ cho ngay để... chúng "chuồn"

Khá trách kẹo gương lẫn mạch nha!
Ngọt thơm nhai riết… nghiện mau mà?
Đánh răng thỉnh thoảng lười quên mất
Dại thế… hai hàm giả cả ra!

Huýt gió cùng lần với đánh răng
Nghe, trông vui sướng có chi bằng!
Thời gian tiết kiệm…. "mần" việc khác…
"Cao kiến"... ai người góp ý chăng?

       Anh Khờ