Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

Góc Việt Thi : Nữ sĩ Ngô Chi Lan (1) (Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Việt Thi :  

                       Nữ sĩ  Ngô Chi Lan (1)
                         
                                     Ảnh minh họa Ngô Chi Lan

          Ngô Chi Lan 吳 芝 蘭 (1434-1497) còn có tên là Nguyn H Huệ 阮 夏 慧, t là Qunh Hương 瓊 香, tên tc là Ngô Th Hĩm 吳 氏 險; là mt n sĩ dưới triu vua Lê Thánh Tông trong lch s Vit Nam. Theo Toàn Vit Thi Lc là người làng Phù L (nay thuc huyn Kim Anh, Phúc Yên), v ông Phù Thúc Hoành 苻 儵 閎 (người làng Phù Xá cũng thuộc huyện ấy, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ). Bà thiên tư thông minh, có tài văn chương, được vua Lê Thánh Tông phong làm Phù Gia Nữ Học Sĩ 苻 家 女 學 士, ban hiệu là Kim Hoa Nữ Học Sĩ 金 華 女  學 士, dạy các cung nữ học. Mỗi khi yến tiệc, vua thường sai làm thơ, chỉ thoắt chốc là bà làm xong ngay, không cần phải sửa chửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi bà mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa Nữ Học Sĩ  金 華 女 學 士”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.
         Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai Trang Tập 梅 莊 集 (Tp thơ Vườn Mai). Dướđây là nhng bài T THI THI rt đặc bit và độđáo ca bà. 

         * ĐẶC BIỆT vì 4 bài đều là Thất Ngôn Bát Cú, nhưng lại không phải là thơ Đường Luật.  
         * ĐỘC ĐÁO vì 4 bài đều chia làm hai VẬN: 4 câu đầu gieo vần TRẮC, 4 câu sau gieo vần BẰNG. 

         Đỗ Chiêu Đức đã tôn trọng theo ý của nữ sĩ, nên trừ bài diễn Nôm bằng Lục bát ra; Tất cả đều được Diễn Nôm 4 câu đầu gieo vần TRẮC; và 4 câu sau gieo vần BẰNG.

     
                             
                                      Ảnh minh họa Ngô Chi Lan

 1. Tứ Thời Thi : XUÂN TỪ.

    春 詞                             XUÂN T

初 晴 薰 人 天 似 醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,
艷 陽 樓 臺 浮 暖 氣。    Dim dương lâđài phù noãn khí.
隔 簾 柳 絮 度 鶯 梭,    Cách liêm liu nh độ oanh thoa,
繞 檻 花 鬚 穿 蝶 翅。    Nhiu hm hoa tu xuyêđip xí.
階 前 紅 線 日 添 長,    Giai tin hng tuyến nht thiêm trường.
粉 汗 微 微 沁 綠 裳。    Phn hn vi vi tm lc thường.
小 子 不 知 春 思 苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,
傾 身 含 笑 過 牙 牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.
 
  
 

* Chú Thích :

   - Sơ Tình 初 晴 : là nng mi, ch nng ca mùa Xuân sau ba tháng mùa Đông lnh lo.
   - Huân Nhân 薰 人 : là Hanh người, là Làm cho con người cm tháp.
   - Diễm Dương 艷 陽 : là Ánh nng đẹp, tri nng rt đẹđẽ.
   - Oanh Thoa 鶯 梭 : Các con chim oanh len li trong cành liu như con thoi.
   - Nhiễu Hạm 繞 檻 : là Lòng vòng  dưới mái hiên.
   - Giai Tiền 階 前 : là Trước thm.
   - Phấn Hạn 粉 汗...câu 6 : M hôi rn ra phn di thm nhè nh vào tà áo xanh.

  * Nghĩa Bài Thơ :

                                     Thơ  Mùa Xuân   

      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,
      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.
      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.
      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.
      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.
      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.
      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa Xuân là khổ tâm như thế nào (mùa Xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...
      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra!). 
         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa Xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhớ đến nàng thiếu phụ có chồng làm quan to, nên mỗi buổi sáng mùa Xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau: 

 Vị hữu vân bình vô hạn kiều,               爲 有 雲 屏 無 限 嬌,
 Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳 城 寒 盡 怕 春 宵.
 Vô đoan giá đắc kim qui tế,                  無 端 嫁 得 金 亀 婿,
 Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜 負 香 衾 事 早 朝 . 

Có nghĩa :
                  Vì có bình phong đẹp lắm mầu
                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu
                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn
                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !
   Lục Bát :
                  Bình phong đẹp đẽ yêu kiều
                  Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài
                  Vô duyên lấy phải quan ngài
                  Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !  

   
                                      

* Diễn Nôm :

                               THƠ XUÂN

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,
                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.
                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,
                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.
                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,
                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.
                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,
                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !
    Lục bát :
                  Hanh người nắng mới trời say,
               Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.
                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,
             Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.
                  Trước thềm vệt nắng dài ra,
              Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.
                  Trẻ trung nào biết xuân tình,
           Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !

                                                                     

2. Tứ Thời Thi : HẠ TỪ. 

      夏 詞                               H TỪ  

風 吹 柳 花 紅 片 片,    Phong xuy liu hoa hng phiến phiến,
佳 人 閒 打 鞦 韆 院。    Giai nhân nhàđả thu thiên vin.
傷 春 背 立 一 黄 鶯,    Thương xuân bi lp nht hoàng oanh,
惜 景 哀 啼 雙 紫 燕。    Tích cnh ai đề song t yến.
停 針 無 語 翠 眉 低,    Đình châm vô ng thúy mi đê,
倦 倚 紗 窗 夢 欲 迷。    Quy sa song mng dục mê.
却 怪 捲 簾 人 喚 起,    Khước quái quyn liêm nhân hoán khi,
香 魂 終 不 到 遼 西。    Hương hn chung bđáo LiêuTê (Tây)
 
               
             

* Chú Thích :

    - Thu Thiên 鞦 韆 : là CáĐu; nêĐẢ THU THIÊ打 鞦 韆 là Đánh Đu. 
    - Thương Xuân 傷 春 : là Đau xót vì mùa xuân đã đi qua.
    - Bối Lập 背 立 : là Đứng xây lưng li.
    - Tích Cảnh 惜 景 : là Tiếc cnh xuâđà hết.
    - Ai Đề 哀 啼 : là Tiếng chim hót bi ai, bun thm. Nếu t ny dùng cho người thì có nghĩa là "Khóc lóc mt cách thm thiết".  
    - Quyện Ỷ 倦 倚 : Mõi mt mà va vào... SA SONG 紗窗 : là Ca s có màn che.  
    - Khước Quái 却 怪 : Li trách rng....QUÁI là Động t có nghĩa: Trách móc. 
    - Hương hồn 香 魂 : là cái Hn thơm, ch Hn ca phái n. Ca phái n thì CÁI GÌ cũng thơm c, k cả hồn phách. (Mời đọc bài Tạp ghi và Phiếm luận : "HƯƠNG trong Truyện Kiều" sẽ rõ.) 
    - Liêu Tây 遼 西 : Tên mt qun xưa n phía tây ca Liêu Hà thuc tnh Liêu Ninh hin nay, nhưng li là vùng biên tái ngày xưa.  

* Nghĩa Bài Thơ :

                                         THƠ  MÙA HÈ

       Gió thổi hoa liễu từng mảnh từng mảnh đo đỏ bay bay. Người đẹp rảnh rỗi nên chơi đánh đu ở trong sân nhà. Vì thương xót cho mùa Xuân đã đi qua nên một con oanh còn kêu trên cành liễu và hai con én tía còn tiếc cảnh Xuân mà cất tiếng líu lo buồn bã. Nàng ngừng mũi kim thêu đôi mày biếc cúi thấp xuống, mõi mệt vựa vào màn nhiễu của song cửa chập chờn trong giấc mộng. Chỉ trách ai đó đã đến cuốn rèm làm cho nàng giật mình tỉnh giấc, nên mộng hồn rốt cuộc vẫn không thể đến được xứ Liêu Tây nữa rồi.

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài kệ của Thiền sư Thích Trung Nhân đời Tống 释 中 仁 là :

  二 八 佳 人 刺 繡 遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,
  紫 荊 花 下 囀 黃 鸝。   T kinh hoa h chuyn hoàng li.
  可 憐 無 限 傷 春 意,   Kh lân vô hn thương xuâý,
  盡 在 停 針 不 語 時。   Tn tđình châm bt ng thì !

Có nghĩa :

                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,
                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.
                Thương thay xuân sắc dạt dào,
                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình ! 

       Hai câu chót của bài thơ lại làm cho ta nhớ đến bài "Y Châu Ca 伊 州 歌" ca Kim Xương T 金 昌 绪(Có bn cho là Xuân Oán 春 怨 ca Cáp Gia V蓋 嘉 運)đờĐường:
 
           打 起 黃 鶯 兒,    Đả khởi hoàng oanh nhi,
           莫 教 枝 上 啼。    Mc giao chi thượng đề.
           啼 時 驚 妾 夢,    Đề thi kinh thiếp mng,
           不 得 到 遼 西。    Bđắđáo Liêu Tê (Tây).           
 Có nghĩa :
                 Đuổi đi con chim hoàng oanh,
                 Đừng để trên cành cất tiếng hót vang.
                Giật mình thiếp tỉnh mộng vàng,
                Liêu Tây khó đến thăm chàng đêm nay!
           
                                   

      Ngồi ở cảnh mùa Hè, mà lại cứ nhớ tiếc cảnh mùa Xuân. Bài thơ có tựa là HẠ TỪ (Thơ mùa Hạ) nhưng đúng ra là một bài thơ THƯƠNG XUÂN (Thương cảm cho mùa Xuân) thì đúng hơn.

*Diễn Nôm :

                                    HẠ TỪ   

                   Lấm chấm liễu hồng bay phất phới
                   Người đẹp đánh đu lòng phơi phới.
                   Thương cảm oanh vàng một tiếng kêu,
                   Đôi chim én liệng buồn hè tới..
                   Dừng kim nín lặng nhíu mày xanh,
                   Tựa màn song cửa mộng hồn quanh.
                   Trách kẻ kéo rèm làm tỉnh giấc,
                   Liêu Tây chẳng thể đến cùng anh.

    Lục bát :

                   Liễu hồng bay rụng phất phơ,
               Đánh đu người đẹp vẩn vơ vườn nhà. 
                   Thương Xuân một chú oanh già,
                 Một đôi chim én la đà tiếc Xuân.
                   Dừng kim nín lặng tần ngần,
              Tựa song hồn mông lâng lâng cõi nào.
                   Trách ai kéo tỉnh giấc đào,
             Liêu Tây rốt cũng không sao gặp chàng !   

                                                        

3. Tứ Thời Thi : THU TỪ.           

    秋 詞                                      THU T

清 商 浮 空 澄 霽 景,Thanh thương phù không trng t cnh,
霜 信 遙 將 孤 雁 影。   Sương tín diêu tương cô nhnh.
十 丈 蓮 殘 玉 井 香,   Thp trượng liên tàn ngọc tỉnh hương,
三 更 楓 落 吳 江 冷。   Tam canh phong lc Ngô giang lãnh.
飛 螢 夜 度 碧 闌 干,   Phi hunh d độ bích lan can,
衣 薄 難 禁 剪 剪 寒。   Y bc nan câm tin tin hàn.
聲 斷 洞 簫 凝 立 久,   Thanh đođộng tiêu ngưng lp cu,
瑤 臺 何 處 覓 驂 鸞 ?    Dao đài hà x mch tham loan ?
        
                          

* Chú Thích :

    - Thanh Thương 清 商 : THANH là Trong, THƯƠNG là Mt trong Ngũ Âm: Cung, Thương, Gic, Try, vũ. THƯƠNG có ging thê lương bi thiết, nên gi là Thanh Thương.  trong bài mượđể ch tiếng gió thu hiu ht. 

    - Trừng Tể 澄 霽 : TRNG là trong vắt. TỂ là Trời vừa tạnh mưa, nên TRỪNG TỄ là Trời quang mây tạnh.
    - Sương Tín 霜 信 : là Tin Sương. Mi năm c gđến tiết Sương giáng thì có chim nhn bay đến trướđể báo tin, nên thy nhn bay đến là biết sp có sương rơi. Lâu dn, Tin Sương còn có nghĩa chỉ "Tin Tức" mà thôi. Như trong Truyện Kiều tả cô Kiều nhớ nhà lúc ở lầu Ngưng Bích: "Tin Sương luống những rày trông mai chờ".
    - Cô Nhạn 孤 雁 : là Con nhn cô độc.
    - Ngọc Tỉnh 玉井 : là Giếng Ngc. Theo truyn thuyết, trên núi Thái Hoa có giến g ngọc, trong giếng có bạch liên ngàn cánh. Người nào ăn được hoa sen trắng ngàn cánh nầy có thể lên tiên. Trong bài thơ CỔ Ý của Hàn Dũ đời Đường có câu: "Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên, Hoa khai thập trượng ngẫu như thuyền 太 华 峰 头 玉 井 莲花 开 十 丈 藕 如 船", vì thế NGỌC TỈNH còn gọi là BẠCH LIÊN TRÌ 白 莲 池 là "Giếng hoa sen trng".
    - Phi Huỳnh 飛 螢 : là Nhng con đom đóm lp lòđêm thu.
    - Nan Câm 難 禁 : Khó mà cm, Khó tránh khi, Không ngăđược...
    - Tiễn Tiễn Hàn 剪 剪 寒 : Tng trn tng trn gió lnh.
    - Ngưng Lập 凝 立 : là Ngưng đọng li. Đứng mt ch.
    - Dao Đài 瑤 臺 : là Lu cao được dát ngc, thường dùng để ch ch tiê..
    - Tham Loan 驂 鸞 : THAM là Xe ba nga kéo. LOAN là Chim Loan. THAM LOAN có nghĩa Ci Chim Loan lên tiên do chơi. 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            THƠ MÙA THU
     Tiếng gió Thu se sắt như cung thương rít trong cảnh từng không trong vắt khi trời quang mây tạnh. Nhìn bóng nhạn cô đơn mà mong ngóng tin sương. Hoa sen trắng đã tàn nhưng củ sen mười trượng trong giếng ngọc vẫn tỏa hương. Canh điểm ba nửa đêm lá cây phong rụng xuống làm cho nước sông Ngô chợt lạnh thêm. Những con đom đóm ban đêm bay vào lan can bằng đá xanh biếc. Áo mỏng nên không ngăn nổi từng trận từng trận gió lạnh. Tiếng tiêu ngọc đà chấm dứt hèn lâu mà người vẫn còn tần ngần đứng đó. Biết chim tham loan ở đâu mà tìm để cởi về Dao Đài cho đây ?
  
                                                              
* Diễn Nôm :

                             THU TỪ
               Gió Thu se sắt tầng xanh ngắt,
               Cánh nhạn tin sương trời trong vắt.
               Mười trượng sen tàn giếng tỏa hương,
               Ba canh phong rụng sông lạnh ngắt.
               Đêm về đom đóm lượn lan can,
               Gió thổi áo the rét ngập tràn.
               Lặng ngắt tiêu thiều thanh đứt đoạn,
               Dao đài tìm chốn cởi tham loan.
   Lục bát :
               Gío Thu hiu hắt trời quang,
               Tin sương cô nhạn vút ngang lưng trời.
               Sen tàn hương tỏa nơi nơi,
               Ngô giang phong rụng nước trôi lạnh lùng.
               Lan can đóm lượn đêm nhung,
               Áo the từng trận lạnh cùng gió thu.
               Tiêu thiều lặng ngắt từ lâu,
               Dao Đài muốn đến phải cầu tham loan.
                                      

4. Tứ Thời Thi : ĐÔNG TỪ.

    冬詞                                       ĐÔNG T

寶 爐 撥 火 銀 瓶 小,    Bo lô bát ha ngân bình tiu,
一 杯 羅 浮 破 清 曉。    Nht bôi La Phù phá thanh hiu.
雪 將 冷 意 透 疎 簾,    Tuyết tương lãnh ý thu sơ liêm,
風 遞 輕 冰 落 寒 沼。    Phong đệ khinh băng lạc hàn chiểu.
美 人 金 帳 掩 流 蘇,    M nhân kim trướng ym lưu tô,
紙 護 雲 窗 片 片 糊。    Ch h vân song phiến phiến h.
暗 裏 挽 回 春 世 界,    Ám lý vãn hi xuân thế gii,
一 株 芳 信 小 山 孤.       Nht chu phương tín tiu sơn cô. 

 
                                 

           
* Chú Thích :
    - Bảo Lô Bát Hỏa 寶 爐 撥 火 : là Bươi la (than) trong cáo lò nh (qúy).
    - Nhất Bôi La Phù 一 杯 羅 浮 : Mt ly rượu La Phù.
    - Thanh Hiểu 清 曉 : Bui sáng trong lành.
    - Sơ Liêm 疎 簾 : là Bc rèm thưa.
    - Hàn Chiểu 寒 沼 : Đầm (ao) nước lnh.
    - Kim Trướng 金 帳 : là Cái mùng bằng chỉ kim tuyến.
    - Lưu Tô 流 蘇 : Cái vin mùng có tua đẹp.
    - Ám lý 暗 裏 : Trong âm thm. Trong lng l.
    - Nhất Chu Phương Tín 一 株 芳 信 : là do câu thơ ca Tô Đông Pha đời Tng: "Niên niên phương tín ph hng mai 年 年 芳 信 负 红 梅" có nghĩa: Mi năm cái cây mang lại tin thơm là đều dựa vào hồng mai cả. Ý chỉ mỗi năm báo tin thơm (tin của mùa Xuân sắp đến) đều là nhờ vào hồng mai cả! Còn dân miền Nam Việt Nam ta thì chỉ biết có mai vàng báo tin Xuân mà thôi, cũng như dân Miền Bắc, hễ cứ "Mỗi năm hoa đào nở" là biết Xuân về Tết đến ngay!

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                               Thơ Mùa Đông
        Khều lửa trong lò qúy để cho cái bình bằng bạc nho nhỏ ở trên, hâm lên một chung rượu La Phù để phá tan cái lạnh của một buổi sớm mai trong lành. Tuyết đem ý lạnh thấm qua bức màn thưa bên song của và gió lạnh đã đưa những làn băng mỏng rơi trên mặt ao lạnh. Cái màn bằng kim tuyến của người đẹp có tua viền đẹp đẽ phủ quanh. Trong khi bên cửa sổ chỉ che đậy bằng những mảnh giấy dán bằng hồ. Trong âm thầm cái thế giới của mùa Xuân đang được vãn hồi, khi tin thơm của cây hồng mai đang trổ bông trên ngọn núi cô đơn nho nhỏ.

     
                

    

* Diễn Nôm :
                           ĐÔNG TỪ
               Bình bạc than hồng bên lò nhỏ,
               La Phù một chén trời sáng tỏ.
               Tuyết đem hơi lạnh thấm rèm thưa,
               Gió bấc đưa băng ao đóng bó.
               Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,
               Bên song cản gió giấy thoa hồ.
               Âm thầm thế giới Xuân hồi phục,
               Một cội mai hồng nở núi cô.
   Lục bát :
               Lò hồng bình bạc lửa reo,
            La phù một chén sáng theo nhau về.
               Tuyết rơi lạnh thấm màn the,
            Gió đưa băng mỏng phủ che mặt hồ.
               Trướng vàng người đẹp nhiễu tô,
             Giấy hoa chắn gió song hồ căm căm.
               Hồi Xuân thế giới âm thầm,
            Một cành mai đỏ trổ bông báo điềm !
 

       Trên đây là TỨ THỜI THI đủ bốn mùa XUÂN HẠ THU ĐÔNG của nữ sĩ Ngô Chi Lan, một nữ tài danh thi nhân Việt nam dưới thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn.

       Xin được giới thiệu cùng tất cả các Thầy Cô, Các Thân Hữu trong Vườn Thơ Thẩn cùng tất cả các em học sinh thân mến; nếu có cảm hứng, xin cùng dịch cho vui!
                                                                                                                                                                                                                                                                                       杜 紹 德
                                                    Đỗ Chiêu Đức



























Không có nhận xét nào: