Sau giấc ngủ nhiều mộng mị, Võ Bằng dậy khá trễ.
Vừa ăn sáng anh vừa nghe Hạm Phó trình bày công việc trong ngày. Thi hài thủy thủ Trịnh Cương đã được căn cứ đưa ra phi trường. Phòng Xã Hội Hải Quân ở Sài Gòn sẽ phối hợp cùng gia đình lo hậu sự. Hai thủy thủ bị thương đang được săn sóc tại bệnh xá Tiên Sa.
Riêng chiến hạm, các ban ngành đang lo phần vụ thường nhật. Ngoài chi đội trực, hai chi đội còn lại đã được phép đi bờ.
Sau khi cùng Hạm Phó và ban Nội Vụ vào bệnh xá thăm thương binh, Võ Bằng dặn:
– Nếu có việc gì cần, tìm tôi ở bãi Tiên Sa.
Bãi biển chỉ cách nơi tàu cập cầu chưa đầy một cây số. Anh quyết định đi bộ. Trong quá khứ, anh đã nhiều lần đến đây. Bãi nằm trong khu quân sự nên vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ, tĩnh lặng. Cảnh sắc không khác gì một bức thủy mặc: giản dị mà sâu lắng.
Bãi biển hình cánh cung, cát trắng mịn, chạy dài gần cả cây số. Ở hai đầu bãi, những ghềnh đá nhấp nhô đủ hình thù, khoác lên mình lớp rêu phong của thời gian, in bóng xuống mặt nước lặng như gương.
Khác với những bãi biển ở các quần đảo quanh Phú Quốc, đáy biển nơi đây hoàn toàn không có san hô. Chỉ là lớp cát mịn, long lanh. Nước trong lạ lùng. Gần bờ thì màu ngọc bích, có thể thấy từng gợn cát. Xa hơn là màu xanh thẫm. Và tận phía chân trời, màu nước chuyển sang tím biếc.
Những con sóng hiền hòa vỗ nhẹ lên bờ rồi rút xuống, để lại trên cát những bọt sóng trắng xóa, tựa viền ren cho tấm thảm xanh khổng lồ.
Xa xa, vài chiếc tàu đánh cá lắc lư theo nhịp sóng.
Võ Bằng cởi bỏ quần áo ngoài, chỉ còn quần tắm. Anh chậm rãi bước xuống nước. Nước biển mát lạnh, dâng dần lên thân thể. Từng tế bào như được thả lỏng. Mọi âu lo, căng thẳng của những ngày chiến trận dường như tan ra theo làn nước.
Anh ngửa người bơi ếch dọc theo bãi ba trăm mét, rồi thư thả bơi sải trở lại.
Đã mấy năm rồi anh không bơi xa như thế. Khi chạm bờ, anh mệt gần đứt hơi.
Anh nằm ngửa trên cát, thở một lúc rồi nằm sấp, gác đầu lên cánh tay. Mặt trời và gió xuân vừa đủ mát đưa anh thiếp ngủ.
Tiếng động khẽ làm anh hé mắt. Trên mặt biển óng ánh nắng trưa, một vật tròn đen đang nhấp nhô theo sóng.
Anh ngồi bật dậy, nhìn kỹ hơn. Đó là một… đầu người. Người ấy đang vẫy tay, bơi dần vào bờ.
Rồi bất chợt… hình bóng đó biến mất. Khi nổi lên, khuôn mặt hiện ra khiến anh sững sờ.
Như Oanh.
Mắt anh mở to. Đúng là Như Oanh. Sao nàng lại ở đây?
Giờ này đáng lẽ nàng đang đứng trên bục giảng. Một người cá mượn hình? Hay chính anh nằm mơ?
Thân hình nàng dần dần hiện rõ khỏi mặt nước. Những giọt nước lấp lánh trên làn da. Mái tóc đen dài bám vào cổ và bờ vai.
Trong bộ đồ bơi ôm sát thân thể, nàng hiện lên như một hình ảnh vừa thực vừa mộng.
Võ Bằng vụt đứng dậy, chạy vội đến đón. Nàng cười, chìa tay:
– Còn nhớ không? Huỳnh Như Oanh đây.
Anh nắm chặt tay nàng:
– Võ Bằng.
Cả hai ôm nhau cười giòn… Võ Bằng rối rít:
– Sao em biết anh ở đây?
– Anh ở đâu… em đều biết.
Anh nhìn sâu vào mắt nàng, như để chắc rằng nàng đang thực sự hiện hữu. Một cảm giác lạ lùng dâng lên trong lòng anh.
Hai người đứng ở mép nước. Sóng vờn bàn chân như ngày mới quen ở An Thới. Anh bóp tay nàng:
– Nếu bãi biển này chưa có tên thì anh sẽ đặt là Tiên Sa.
Như Oanh bật cười:
– Nó vốn mang tên Tiên Sa mà.
– Phải chi ngày xưa tiên không xuống tắm thì anh đặt tên bây giờ càng thích hợp.
– Đừng có nịnh.
Nàng nắm chặt tay anh, kéo ra biển.
Nước dâng lên đến cổ, rồi bất chợt nàng buông tay…
***
– Dậy đi! Nắng thế này mà cứ mộng mơ!
Tiếng quát làm Võ Bằng choàng tỉnh. Anh mở mắt. Trước mặt là hai thằng bạn cùng khóa đang cười hề hề.
Lâm nói:
– Mau lên đi ăn rồi đi chơi với tụi tao.
Đường tiếp lời:
– Về tàu thay quần áo. Hôm nay tụi tao đưa mày đi du hí, coi như mừng còn gặp nhau.
Chiếc xe Jeep quân sự phóng bon bon trên con đường đất đỏ ven sông Hàn. Gió biển thổi vào mặt, mang theo hương vị đặc trưng quen thuộc. Hai bên đường, những rặng dương xanh rì nghiêng ngả trong nắng.
Xe qua cầu Trình Minh Thế, thẳng tới chợ Cồn. Tô bún bò Huế nóng hổi, nhiều thịt, đầy hương vị. Bia 33 ngon hơn thường lệ. Võ Bằng nhởn nhơ thưởng thức thêm một tô nữa, bù cho ba ngày sóng gió ăn uống cầm hơi.
Xong bữa ăn, Lâm bảo tài xế đưa về đường Độc Lập rồi cho xe về sở. Anh căn dặn trở lại rước lúc mười giờ ở nhà hàng Ánh Trăng.
Cả ba vào một con hẻm nhỏ tráng xi măng, quanh co, hai bên là những căn nhà quét vôi bong tróc với những cửa ngõ khác màu. Mùi thơm các loài hoa từ dãy hàng rào tỏa ra man mác.
Lâm dừng trước một cánh cửa gỗ cũ kỹ, bên trên treo một chiếc đèn lồng mang hàng chữ Quán Câm. Võ Bằng nhìn Lâm, ngạc nhiên. Lâm chỉ cười, đẩy cửa bước vào.
Bên trong là một khoảng sân nhỏ, lát gạch đỏ. Bên trên một giàn hoa ti-gôn màu hồng che kín cả khoảng trời. Dưới giàn hoa, hai dãy bàn, mỗi bên năm, được kê trước một sân khấu. Bảy bàn đã đầy khách, đang thì thầm trò chuyện.
Một người đàn ông trạc năm mươi, mặc áo dài the đen, đội khăn xếp, bước ra đón họ. Ông có khuôn mặt hiền từ, đôi mắt sâu hoắm như chứa đựng cả một trời ký ức.
Ông nói, giọng trầm ấm:
– Chào các cháu. Có đặt bàn trước không?
Lâm đáp:
– Dạ rồi, cháu tên Lâm.
Ông già gật đầu, dẫn ba người vào bàn chỉ định. Giàn hoa màu hồng đang nở rộ. Võ Bằng thích thú ngẩn ngơ đứng nhìn. Hoa ti-gôn màu hồng thật đúng ý, đang tỏa tâm tư của anh: khao khát, nhớ nhung, mong ngày đoàn tụ.
Võ Bằng hỏi:
– Hết tên đặt, sao lại chọn “Quán Câm”?
Đường thì thầm:
– Chủ quán là một nghệ sĩ cải lương nổi tiếng Sài Gòn. Sau một cơn bệnh, ông bị mất tiếng, ra đây mở quán này. Tụi tao thường đến sau mỗi công tác. Ông có những màn trình diễn rất nghệ thuật. Những động tác mộc mạc, những câu chuyện đầy ý nghĩa giúp chóng xua đuổi các ám ảnh, căng thẳng. Đặc biệt, những câu chuyện được kể bằng… tay.
Võ Bằng ngạc nhiên kêu khẽ:
– Bằng tay?
Lâm mỉm cười:
– Đừng nghĩ bậy! Ở đây không có các tiếp viên như ở snack bar. Kể chuyện bằng tay là kể qua nghệ thuật múa rối.
Võ Bằng nhìn sân khấu với bức màn nhung đã bạc màu. Anh đã có kịp xem vài màn múa rối trên truyền hình, nay xem tận mắt hẳn càng thú vị.
Ông chủ quán đến, một tay nâng khay đựng ấm trà và ba chung nhỏ in họa tiết hoa lài, tay kia dĩa mè xửng và bánh in nhân đậu. Ông rót trà, mỗi chung vừa đủ một ngụm. Nước trà vàng óng, thơm mùi sen.
Giọng ông khàn khàn phát ra tiếng độc nhất, khó nghe:
– Mời.
Cả ba nâng chén trà lên môi. Trà nóng, hơi chát nhưng sau đó ngọt, thơm lắng sâu ở cuống họng. Võ Bằng cảm thấy như có một luồng khí ấm áp lan tỏa khắp cơ thể. Những sợi thần kinh chùng xuống.
Bỗng nhiên, tiếng đàn tranh từ sân khấu vang lên. Nhẹ nhàng, da diết. Tấm màn từ từ kéo ra. Đôi tay ông chủ quán thoăn thoắt điều khiển những con rối bằng vải màu, biến chúng thành những nhân vật có hồn. Võ Bằng mê mẩn theo dõi câu chuyện về một chàng ngư phủ cứu nàng tiên cá thoát khỏi cá mập, được nàng tặng viên ngọc quý. Nhưng rồi chàng bị kẻ gian hãm hại lấy mất viên ngọc. Nàng tự nguyện thay thế. Cả hai tìm thấy hạnh phúc bên nhau.
Tiếng đàn tranh lúc trầm lúc bổng, lúc nhanh lúc chậm, hòa quyện với từng động tác của những con rối. Cả khoảng sân chìm trong nhạc âm và tiếng gió thổi qua giàn hoa ti-gôn.
Anh nghĩ tới Như Oanh. Phải chi không là giấc mơ mà nàng đến thật bên anh, chắc cũng thích thú như anh.
Kết thúc màn múa rối, ông chủ quán bước ra, cúi chào mọi người. Tiếng vỗ tay vang lên. Ông chỉ cúi đầu cảm tạ, không nói một lời.
Võ Bằng nói to:
– Hay quá! Cám ơn bác.
Chủ quán mang thêm ấm trà mới… Cả ba kể chuyện buồn vui sau ngày ra trường cho đến gần giờ trình diễn suất kế tiếp.
Quán không đề giá. Lâm trả theo hảo tâm. Võ Bằng tặng thêm một ít tiền thưởng.
Cả ba đi bộ đến nhà hàng Đồng Vinh nằm khoảng giữa đường Độc Lập. Võ Bằng cũng từng vào các nhà hàng lẫn các quán cà phê nhạc trên con đường nhộn nhịp nhất của thành phố này nhưng chưa vào Đồng Vinh. Ở đây có những món ăn miền Trung lạ miệng, rất ngon. Anh lại thêm một lần no bụng thỏa thuê.
Khi rời Đồng Vinh, phố đã lên đèn. Những dãy đèn vàng vọt đủ soi sáng mặt đường tráng nhựa còn mới. Thỉnh thoảng, một chiếc xe lam chạy qua, tiếng nổ bình bịch vang góc phố.
Mười lăm phút sau, cả ba vào đường Bạch Đằng. Quang cảnh không còn thơ mộng như những lần tàu anh ủi bãi gần Viện Cổ Chàm. Con đường tình tự dọc sông Hàn giờ mọc lên vô số snack bar. Nhạc rock ồn ào tràn ra đường. Những cô gái mặc áo dài, áo đầm đứng mời gọi lính Mỹ.
Đà Nẵng đổi thay. Chiến tranh đi tới đâu, phố xá đổi khác tới đó.
Đường chỉ ngôi biệt thự tường trắng cửa xanh bên tay phải hướng về núi Sơn Trà:
– Giang sơn của Thị Trưởng Đà Nẵng đó, cùng quân chủng.
Nhà hàng Ánh Trăng nằm ở cuối, chếch nhà vị Thị Trưởng, khá đông khách. Cũng như Đồng Quê quán, tiếng nhạc êm dịu bàng bạc không gian.
Lâm chọn bàn bên ngoài, vừa nhìn trăng sao vừa ngắm dòng sông lấp lánh. Gió biển từ cửa sông Hàn thổi vào mát rượi.
Một phụ nữ trạc bốn mươi, mặc quần jeans xanh, áo sơ mi trắng, tóc búi cao, bước ra tiếp đón. Chị có khuôn mặt khả ái, đôi mắt buồn xa xăm, nhưng nụ cười thì rất tươi.
Chị hỏi, giọng nhẹ nhàng:
– Quý khách dùng chi?
Đường nói:
– Chị cho một chai rượu thuốc và vài món nhậu.
Chị hỏi:
– Rượu thuốc ngâm rắn hổ?
– Đúng trăm phần trăm.
Chị quay vào trong. Võ Bằng có hơi ngạc nhiên. Anh cứ tưởng thứ rượu thuốc này chỉ có ở miền Tây.
Lâm nhìn Võ Bằng, cười:
– Hôm nay, đặc biệt dành cho miệt cò bay thẳng cánh của mày.
Võ Bằng bóp bàn tay hai bạn tỏ ý cám ơn. Lâm sinh quán ở Huế, Đường ở Đà Nẵng, nhưng không ngờ họ vẫn nhớ gốc gác của anh.
Chị chủ mang ra dĩa mực nướng và dĩa đậu phộng. Mực tươi, nướng trên than hồng, chấm với muối tiêu chanh. Võ Bằng tách một sợi râu, bỏ vào miệng nhai. Thịt dai, ngọt, thơm không thua mực vùng Phú Quốc.
Nguyên con rắn cuộn tròn lên tới miệng chai rượu thuốc có màu vàng óng như mật ong. Rót rượu ra ba ly thủy tinh nhỏ, Đường nói:
– Uống đi mày. Ly này mừng cho ba thằng mình còn sống sót.
Họ cụng ly. Rượu vào cổ họng, nóng ran, thơm mùi thuốc bắc. Nhưng sau đó là cảm giác ấm áp lan tỏa khắp cơ thể, như thêm sức mạnh. Cả ba lặng thinh nhâm nhi mồi. Giọng Chế Linh qua Hận Đồ Bàn nghe não nuột. Thỉnh thoảng tiếng sóng ầm ì vọng đến. Trăng lưỡi liềm lơ lửng hướng đông, soi sáng một khúc sông.
Lâm rót rượu cho cả ba rồi nâng ly:
– Ly này để tưởng nhớ các bạn ta đã nằm xuống, cho những người đã nằm xuống.
Đường nói, giọng buồn buồn:
– Sau tám năm từ ngày ra trường, khóa mình đã có sáu thằng đền nợ nước. Gần như mỗi năm một thằng. Năm nay tới ai? Và năm tới sẽ là ai?
Đường ngừng lại, rót thêm rượu. Im lặng bao trùm. Võ Bằng nhìn ra sông. Hình ảnh người bạn đồng khóa tử thương đầu tiên ở trận Ba Rài năm 1965 lờ mờ hiện ra. Hai người kế tiếp cùng năm 66, ở miền Trung. Người thứ tư, trên sông Hàm Luông năm 1967…
Võ Bằng ực cạn ly. Rượu cay xè cổ họng, hòa với nỗi xót đau trong lòng.
Chị chủ quán lặng lẽ đặt lên bàn thêm một dĩa mực nướng và một dĩa đậu phộng. Chị nhìn Võ Bằng, nói nhẹ nhàng:
– Hai món này chị mời chú em, khách mới. Không tính tiền. Chỉ mong tái ngộ.
Võ Bằng cảm ơn chị. Chị cười, rồi xoay bước.
Bỗng nhiên, từ bờ sông, một giọng hò Huế êm ái, da diết, ngọt ngào vọng đến:
Khoan ơi khoan hò ơi ơi…
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng.
Cả ba nhìn ra bờ sông. Một chiếc thuyền nhỏ đang trôi lững lờ, trên thuyền có một người con gái mặc áo dài trắng, tóc xõa lung linh dưới ánh trăng.
Đường nhìn đồng hồ, mỉm cười:
– Người đẹp đúng hẹn.
Cô gái lại hò tiếp:
Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Đường nói nhỏ với Võ Bằng:
– Cô bé đó tên Mai Chi. Nghe đâu cha mất trong một cuộc đụng độ. Ban ngày học Sao Mai, tối lên ghe hát hò kiếm tiền nuôi mẹ già và em nhỏ. Thấy thì tội nghiệp nhưng giữa thời buổi nhiễu nhương… thực hư khó biết.
Chiếc thuyền từ từ tiến vào bờ. Cô gái bước lên, nhẹ nhàng, uyển chuyển. Dưới ánh trăng, Võ Bằng thấy rõ khuôn mặt cô. Một khuôn mặt thanh tú, với đôi mắt to, đen, ẩn chứa một nỗi buồn xa xăm. Mái tóc dài thả xuống bờ vai, phất phơ trong gió. Anh chợt nhớ thiết tha mái tóc của Như Oanh.
Cô vào quán, nhìn quanh, rồi tiến lại bàn Võ Bằng, cúi chào:
– Chào anh Đạt, anh Thành. Và chào anh…
Đường lên tiếng:
– Lê Cung, bạn tụi này, ở Sài Gòn. Đây là Mai Chi.
Võ Bằng không ngạc nhiên khi bạn tự đổi tên của mình. Anh đã được biết tất cả mọi người trong Sở Phòng Vệ đều mang tên giả.
Võ Bằng vui vẻ:
– Chào Mai Chi.
– Anh cũng… lính?
– Trông tôi không giống lính sao?
Lâm nhanh nhảu kéo ghế:
– Mời ngồi. Mai Chi uống gì?
– Dạ, em xin một chai nước lọc.
Võ Bằng thân mật nói:
– Anh mời một ly nước dừa, làm quen.
– Cám ơn anh Cung.
Anh gọi tiếp viên. Cô gái uống từng ngụm nhỏ. Đôi tay cô thon dài, trắng ngần, khiến anh liên tưởng đến bàn tay Như Oanh – bàn tay của một người không phải làm lụng nặng nhọc.
Anh khen:
– Giọng hò của cô thật ngọt ngào, tình cảm. Nếu cô hát sẽ rất thành công, mau giàu…
Mai Chi cười buồn, nhỏ nhẹ:
– Em đã đi hát nhưng rồi sợ không gian phòng trà…
– Ban đêm một mình trên sông, đáng sợ hơn chứ?
– Nhà em bên kia sông. Cũng chỉ quanh quẩn khúc sông có đông hàng quán này.
– Cô hò trên sông thì làm sao kiếm tiền?
– Có ai gọi thì ghé vào. Hoặc có hẹn trước như anh Đường, anh Lâm.
Võ Bằng thật thà:
– Nhan sắc của cô thế này, đâu khó để chọn một người xây dựng mái ấm.
Cô nhìn Võ Bằng, đôi mắt bỗng sâu thẳm:
– Có chắc là ấm không anh? Hay càng lạnh, càng buồn đau? Đã hai người đeo đuổi em, cả hai lần lượt đi hành quân, không thấy về!
Mai Chi nói với giọng bình thản, không than vãn, không oán trách. Võ Bằng lòng dâng lên một niềm xót thương. Giữa cuộc chiến tranh khốc liệt này, cô vẫn cố giữ cho mình một nhân cách, một tâm hồn.
Võ Bằng vui vẻ nói:
– Tôi đâm thích giọng hò Huế, khác hẳn giọng hò miền Tây. Cô vui lòng cho tôi thưởng thức chứ?
Không chần chừ, Mai Chi mỉm cười cất tiếng. Dù đã quen nghe giọng Huế, nhưng giọng hò nhỏ nhẹ, thánh thót, ngâm nga phần lớn chỉ được Võ Bằng thưởng thức qua cảm nhận:
Ờ hơ ớ hơ…
Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời không thấy người thương.
Thương chi cho uổng công trình,
Bạn về xứ bạn bỏ mình bơ vơ.
Lên chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy Mẹ công phu chưa đền.
Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng,
Nhớ cha thương mẹ quá chừng bạn ơi!
Cô say sưa hò khoảng nửa giờ, uống cạn trái dừa rồi đứng lên từ giã.
Võ Bằng vội vàng ngăn lại:
– Mới chín giờ, ở thêm chút nữa.
– Như anh thấy, vì vấn đề an ninh.
– Chờ một chút.
Anh rút bóp, lấy một số tiền khá khẳm đưa cho Mai Chi:
– Mong có ngày gặp lại.
Mai Chi nhận tiền, cúi đầu:
– Cảm ơn anh Lê Cung. Em cũng rất mong được gặp lại.
Cô bước xuống thuyền, nhẹ nhàng chèo ra xa. Võ Bằng ngồi nhìn theo cho đến khi chiếc thuyền chìm hẳn trong bóng đêm.
Khi quay lại, Võ Bằng bắt gặp hai nụ cười hóm hỉnh của Lâm và Đường.
Võ Bằng hỏi:
– Tụi mày cười gì?
Lâm trêu chọc:
– Tương tư rồi chăng?
– Không được sao?
Đường úp mở:
– Trong chiến tranh… nhiều người sống giữa hai thế giới. Cẩn thận là hơn.
Võ Bằng nhớ lại ánh mắt của Mai Chi. Ánh mắt linh động thường hướng về hai thằng bạn của mình. Anh đáp trả:
– Tao tương tư thì tụi mày hẳn… tương tri!
Lâm cười:
– Tương tri chỉ để dò xét.
Đường tiếp lời:
– Phòng tình báo Sở Phòng Vệ lâu lâu bắt một người đẹp hoạt động lấy tin cho địch. Vui Xuân, đừng quên Tết Mậu Thân.
Võ Bằng đâu dễ quên kinh nghiệm đắng cay của mình. Chẳng qua chỉ là một cảm thông thường tình trước người gặp hoàn cảnh khó khăn. Tuy vậy, anh cũng nói nhỏ “tụi mày có lý” rồi chậm rãi nâng ly rượu, ra dấu cùng uống cạn.
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét