Đời Thủy Thủ 1
Chương 6: KHÁCH KHÔNG MỜI
Từ đầu hạm kiều, anh lính gác chỉ người con gái đứng tựa lan can cầu:
– Cô đó đó!
Tôi nói cám ơn, tim đập mạnh, ngẩn ngơ. Không phải Tuyết. Đó là Hiền.
Trong một thoáng, tôi đứng chết lặng. Ngay từ lúc nghe báo có người tìm, tôi đã tìm lý do tránh né, giao Tuyết cho Tâm. Thế nhưng người đến lại là Hiền. Như thể số phận cố tình trêu tôi: mỗi lần tôi tưởng mình sắp gỡ được một nút thắt thì nó lại buộc thêm một nút khác.
Tôi không muốn gặp, nhưng bị vào thế chẳng đặng đừng. Tôi chầm chậm bước xuống. Được nửa cầu thang, Hiền quay lại, mỉm cười, vẫy tay. Nụ cười ấy — vẫn nụ cười tôi từng thuộc lòng, từng thấy mỗi ngày khi ở trọ nhà ba mẹ nàng — bây giờ chỉ làm tôi thấy nhói. Tôi tiếp tục đi. Hiền tiến đến chân hạm kiều. Tôi đưa tay kéo nàng bước lên.
Hiền lặng lẽ theo tôi lên tàu, rồi quanh co xuống các bậc thang. Chiếc áo dài trắng vướng víu khiến nàng một tay nắm hai vạt áo, một tay bám vào vai tôi. Chỉ nhẹ thôi, nhưng tôi cảm được hơi ấm truyền qua lớp vải. Cử chỉ thân mật đến nỗi tôi thấy lòng mình chao động — và lập tức tự trách mình đã để nó chao động.
Tâm trố mắt nhìn Hiền.
Tôi nói:
– Thất vọng quá hả? Giới thiệu với Hiền, đây là Thiếu Úy Tâm, người xúi anh bỏ học đi Hải quân.
Tâm cười thật tươi, xăng xái:
– Đâu có ngờ ông Bằng quen được một người đẹp đến thế này. Vậy mà cứ giấu anh em.
Hiền ngắm Tâm một lúc rồi nói:
– Hiền còn nhớ anh Tâm.
Tâm kêu to:
– Chết tôi rồi! Hóa ra tôi quá vô tình. Xin cho một chút gợi ý.
Tôi cười:
– Mày không nhận ra hả? Em gái thằng Dũng.
Tâm nhìn kỹ hơn, rồi vẫn lắc đầu:
– Tao biết Dũng có em gái, nhưng chịu thua. Không nhớ ra.
Anh chiêu đãi xuất hiện đúng lúc. Tôi hỏi Hiền:
– Hiền uống cà phê hay nước ngọt?
– Xin anh một ly nước lạnh.
Anh chiêu đãi sốt sắng mang đến. Tâm đứng lên:
– Lần sau nhớ mang thêm một người đẹp như cô Hiền để giới thiệu cho tôi. Đến một mình là không công bằng.
– Cho Hiền hỏi, sao anh Bằng nói thấy Hiền thì anh thất vọng?
Tâm nhìn tôi. Tôi cười:
– Khi anh lính gác báo có một cô muốn gặp anh, anh Tâm cứ ngỡ là người yêu của ảnh.
Hiền càng thắc mắc:
– Hiền xin gặp anh, sao anh Tâm lại nghĩ là người yêu của ảnh?
Tâm giả lả:
– Tại tôi quá tương tư người tôi yêu nên… tưởng lầm.
Nói xong, anh lủi đi ngay.
Hiền ngồi im, dáng vẻ chưa hài lòng. Căn phòng bỗng trở nên quá rộng và ngột ngạt.
Tôi biết Hiền vừa cảm nhận được điều gì đó. Nàng không hỏi thẳng, nhưng cái im lặng của nàng còn nặng hơn mọi câu chất vấn.
Nàng uống nửa ly nước, rồi cao giọng:
– Anh Dũng có hỏi sao không thấy anh về nhà. Anh nhất định… đi luôn?
Tôi nói đẩy đưa:
– Hiền tìm ra tàu anh thật tài. Anh đâu có nói anh đi tàu nào.
Hiền cười buồn:
– Thì tàu nào Hiền cũng hỏi.
Tôi im lặng. Một nỗi xúc động nhẹ lan. Tôi hình dung Hiền lủi thủi đi từ cầu tàu này sang cầu tàu kia giữa cái nắng gay gắt ban trưa, rồi lại hỏi hết người lính gác này đến người lính gác nọ, phải chịu đựng những ánh mắt tò mò, có khi cả những lời chọc ghẹo, chỉ để tìm một người đã cố tình lánh mặt nàng. Hiền hẳn phải thật lòng yêu tôi mới chịu dẹp tự ái, dẹp kiêu kỳ của một người con gái đẹp. Nghĩ đến đó, tôi thấy cổ mình nghẹn lại. Tôi nên nói gì để nàng vui?
Có nên không? Đã nói chia tay rồi, không khéo chỉ thêm dây dưa.
Trong tình yêu, chia tay là để tìm quên nhưng người yêu lại hiện trước mặt. Lời lẽ, cử chỉ vồn vã làm tôi ngột ngạt. Tôi thử cố vùng thoát nhưng càng cảm thấy bị siết chặt hơn.
Hiền nhìn vào mắt tôi:
– Phòng làm việc dễ thương quá. Mát mẻ nữa. Vì vậy mà anh quên Hiền chăng?
Tôi không biết đáp thế nào. Câu hỏi nửa đùa nửa thật ấy chạm đúng chỗ tôi đang muốn né tránh.
Tôi những mong việc gặp lại Tuyết là cơ hội xoa dịu nỗi đau phải xa Hiền. Tuyết là tình đầu, dư âm còn đó. Nhưng có thật giải pháp mượn người này để quên người kia sẽ đưa đến hiệu quả hay rốt cuộc rồi như vá một vết rách này bằng cách xé rách mảnh vải khác. Vả lại, Tuyết đâu phải tấm bình phong để tôi núp sau đó mà trốn Hiền. Tôi cũng đang muốn xa Tuyết.
Xa Tuyết là phải lẽ. Ngày xưa, Tâm đến với Tuyết trước tôi và mất Tuyết. Bây giờ, Tâm cũng lại đến với Tuyết trước tôi. Lần này, tôi nên rút lui. Tuyết cũng đã nói thẳng nàng cần một người chồng, cần một mái nhà để thôi cô độc. Tôi hy vọng Tâm sẵn sàng. Tôi tự hứa, ngay khi gặp lại Tâm, tôi sẽ báo cho anh biết quyết định của mình.
Thật ra, tôi quá mỏi mòn với thương yêu. Hình ảnh này cứ chồng lên hình ảnh kia — hình ảnh này chưa mờ đã hiện một hình ảnh khác. Có lẽ khuyết điểm lớn nhất của tôi không phải là yêu nhiều, mà là không đủ can đảm để yêu cho dứt khoát, hoặc buông cho dứt khoát. Tôi đang như con tàu giữa dòng, bờ bên nào cũng muốn ghé nhưng không bờ nào mang tên hạnh phúc.
– Cái huy hiệu đẹp quá!
Tiếng reo của Hiền kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ.
Nàng đang say sưa ngắm chiếc huy hiệu gắn ở vị trí trang trọng nhất trên vách, ngay sau chỗ ngồi của Hạm Trưởng. Đó là huy hiệu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa: hình tròn, lá cờ vàng ba sọc đỏ tạo thành đường viền. Hai chữ Tổ Quốc và Đại Dương màu đen nằm ở đỉnh và đáy. Trên nền nửa biển xanh thẫm, nửa trời xanh lơ, có bản đồ Việt Nam, chiếc mỏ neo và ngôi sao Bắc Đẩu định hướng.
Tôi nhớ huy hiệu ấy được khắc nổi trên một bức tường nhỏ biệt lập trước sân cờ quân trường. Ngày nào chúng tôi cũng đi ngang, hoặc chạy ngang qua. Nó nhắc rằng người lính biển phải đặt Tổ Quốc và Đại Dương lên trên hết, thậm chí trên cả sinh mạng mình.
Vì đã quá quen mắt, tôi không còn để ý nó đẹp hay không. Nhưng qua ánh mắt Hiền, biểu tượng ấy bỗng trở lại nguyên vẻ trang nghiêm ban đầu. Và lạ thay, nhìn chiếc huy hiệu lúc này, tôi thấy lòng mình dịu lại. Có một điều gì đó lớn hơn những bối rối tình ái hiện tại của tôi — thứ tình ái mà tôi cứ tưởng là quan trọng nhất đời. Hai chữ Tổ Quốc và Đại Dương nằm đó lặng lẽ, như thầm nhắc tôi đã chọn một con đường, và con đường ấy buộc tôi phải trưởng thành.
Nàng nói tiếp:
– Ngày mai thứ Bảy, anh đến nhà Hiền chơi. Hiền sẽ đích thân nấu cơm đãi anh.
Tôi cố lấy giọng thân mật:
– Hiền à, anh muốn lắm. Nhưng tiếc là ngày mai anh bị cấm trại.
– Cấm trại?
– Biểu tình tùm lum, tụi anh bị ảnh hưởng.
– Còn ngày mốt?
– Ngày mốt anh đi công tác.
Hiền nhìn tôi, ánh mắt thoáng ngờ vực:
– Công tác thật, hay tại anh không muốn đến?
– Công tác thật. Nếu không tin, mười giờ sáng Chủ Nhật Hiền đến đây tiễn anh.
– Anh đi bao lâu?
– Độ mười ngày.
– Anh đi đâu?
– Chưa biết.
Hiền nhăn mặt:
– Không muốn nói thì thôi.
Tôi đổ quạu nhưng giữ giọng bình thường:
– Hiền nên hiểu, có biết anh cũng không thể nói. Thật sự chưa biết.
– Chưa biết mà biết đi mười ngày?
Sẵn đang bực, tôi xẵng giọng:
– Chuyện nhà binh. Xin đừng hạch sách.
Tôi thấy đôi vai Hiền khẽ rụt lại, mắt chớp nhanh. Tôi hối hận nhưng Hiền đã dịu giọng:
– Vậy sau mười ngày, Hiền chờ anh ở nhà. Bây giờ Hiền phải về, có lớp buổi chiều.
Tôi lặng thinh đứng lên. Chúng tôi rời phòng ăn.
Tôi không muốn giữ Hiền lại, cũng không muốn hứa mình sẽ tới. Mấy ngày qua, chừng như Hiền đã thoát khỏi tâm trí tôi, và tôi đã thấy nhẹ nhõm vì điều đó.
Tôi đưa Hiền rời tàu. Chúng tôi đứng chờ tắc xi ở góc đường Cường Để – Bạch Đằng. Hiền thỉnh thoảng nhìn tôi âu yếm, không giấu được nét hân hoan. Có lẽ với nàng, chỉ cần gặp được tôi, rồi lại được tôi đưa ra tận đường, là đã đủ cho một niềm vui mang về nâng niu đến khi gặp lại. Còn tôi chỉ gượng gạo giữ một nụ cười xã giao.
Cuối cùng, một chiếc tắc xi ghé lại. Hiền bước lên, quay ra nói với tôi:
– Thôi, Hiền về. Nhớ là Hiền mong chờ ngày anh trở lại.
Tôi đứng im như một người vô cảm.
Không nói gì. Cũng không buồn vẫy tay.
Chiếc xe lăn bánh, mang theo tà áo trắng của Hiền xa dần. Trong khoảnh khắc cuối, tôi thấy nàng còn ngoái lại, đôi mắt tìm tôi qua khung kính sau. Tôi vẫn đứng yên, lòng trống rỗng một cách kỳ lạ — cái trống rỗng của người vừa mừng vừa tiếc khi cố đẩy thần tượng rời khỏi cuộc đời.
Tôi quay về tàu, đứng nhìn về bờ Thủ Thiêm. Những mái nhà tôn dưới ngọn dừa đang nhuộm nắng chiều. Gió nhẹ thổi mang theo hơi nóng. Tôi nghĩ đến chuyến công tác sắp tới. Ngoài sinh quán, Sài Gòn và Nha Trang, nơi nào cũng là bến lạ bờ xa, mặc sức lướt sóng, vẫy vùng. Với những người xưa, với tất cả yêu thương lần cuối, từ nay tôi trân trọng xếp vào hồ sơ dĩ vãng.
Tôi biết, nghĩ thì dễ nhưng xếp một con người vào dĩ vãng không giống như xếp một tờ công văn vào ngăn tủ. Tờ công văn chịu nằm chết dí. Còn với những người từng thương yêu, chắc chắn lúc nào cũng chực sống dậy.
Tôi nghĩ, giá mà lòng tôi cũng có hải đồ vạch sẵn con đường hạnh phúc, sẽ dễ dàng biết bao! Không như hiện giờ, con tàu tôi lạc hướng, cứ lao vào những vùng nước lạ, để rồi mắc cạn hết lần này đến lần khác.
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét