Đởi Thủy Thủ III (Vũ Thất )
CHƯƠNG 44: EM VẪN ĐỢI
Ngày thứ ba sau khi được đưa vào Tổng Y Viện Cộng Hòa, các chỉ dấu trên những máy đo đều thuận lợi, Võ Bằng được rời phòng cấp cứu, chuyển đến phòng điều trị yên tĩnh hơn. Anh nằm chung với một thương binh khác đã hồi tỉnh. Nhưng anh thì chưa. Và thân nhân cũng chưa ai hay biết.
Vào ba giờ chiều, Tư Lệnh Hải Quân, Trưởng Phòng Xã Hội vào thăm.
Ông đứng bên giường, nhìn người sĩ quan trẻ mà ông quý mến.
Võ Bằng nằm thiêm thiếp. Khăn trắng phủ lên tận cổ. Đầu anh quấn một mảng băng phủ gần nửa vầng trán. Gương mặt sạm nắng nhợt nhạt, đôi môi khô ngậm ống thở, bất động. Cái dáng người vốn quen đứng thẳng trên đài chỉ huy, quen đưa ống dòm nhìn ra biển, quen ban khẩu lệnh dứt khoát giữa tiếng gió và tiếng máy, giờ nằm im giữa mùi thuốc sát trùng và ánh đèn bệnh viện lạnh lẽo.
Tư Lệnh khẽ thở dài. Ông cúi xuống nắm bàn tay Võ Bằng đang đặt xuôi theo giường như muốn truyền nghị lực. Ông nói nhỏ:
– Tôi đến thăm anh đây, Võ Bằng. Và mang đến anh tin vui.
Bà Trưởng Phòng nâng chiếc khay nhỏ phủ nhung vàng. Trên đó trang trọng đặt một cặp cầu vai mới và cuống huy chương long lanh.
Tư Lệnh cầm cặp cầu vai, giọng chậm rãi:
– Anh được thăng cấp tại mặt trận kể từ hôm nay. Chúc mừng Hải Quân Thiếu Tá Võ Bằng.
Ông đặt cặp cầu vai hai vạch kim tuyến kẹp một vạch nhỏ đặt lên ngực Võ Bằng. Rồi ông lấy cuống huy chương óng ánh ba ngôi sao bạc, vàng, và nhành dương liễu. Ông nói nhỏ:
– Quân đội cũng ân thưởng anh huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.
Ông đặt huy chương lên ngực trái.
Trong đời binh nghiệp, không phải lần đầu ông gắn huy chương cho thuộc cấp. Nhưng hiếm khi một buổi tưởng thưởng lại không có tiếng kèn, không có hàng quân danh dự, không có lời hô nghiêm, không có tiếng vỗ tay như lần này. Chỉ có tiếng máy đo nhịp tim đều đều, hơi thở nhọc nhằn. Nhưng ông lại hãnh diện nhất.
Ông cúi xuống gần hơn:
– Hải Quân Thiếu Tá Võ Bằng, tôi rất hãnh diện vì anh, Hải Quân hãnh diện vì anh. Chiếc Rạch Gầm cũng được thưởng Anh Dũng Bội Tinh và vẫn tiếp tục công tác dưới quyền một Hạm Trưởng tạm thời. Anh hãy yên tâm dưỡng thương.
Ông ngừng một chút. Giọng ông bỗng dịu xuống, không còn là giọng của một vị chỉ huy nữa, mà là lời của một người thân:
– Tôi vẫn đang chờ làm chủ lễ tiệc cưới của anh.
Bà Trưởng Phòng Xã Hội quay mặt đi, rơm rớm nước mắt. Bà đã chứng kiến bao nhiêu buổi lễ tưởng thưởng nhưng vẫn không sao ngăn được xúc động.
Tư Lệnh quay sang vị y sĩ vừa bước vào:
– Theo bác sĩ, chừng nào Thiếu Tá Bằng hồi tỉnh?
Y Sĩ Đại Úy nhìn màn hình các máy đo rồi đáp:
– Thưa Đề Đốc, tất cả chỉ dấu cho thấy Thiếu Tá Bằng đang ở tình trạng ổn định. Việc hồi tỉnh chỉ còn là vấn đề thời gian.
– Nhưng… chừng nào?
Vị y sĩ ngập ngừng:
– Thưa khó thể xác định. Nhưng rất nhiều hy vọng.
– Vết thương ở đầu…
Vị y sĩ gật đầu:
– Thiếu Tá may mắn. Mảnh đạn chưa chạm vào não. Tình trạng hôn mê phần lớn do tiếng nổ quá gần và chấn động não. Anh ấy có thể tỉnh lại bất cứ lúc nào.
Đề Đốc đưa tay ra bắt tay vị bác sĩ:
– Sĩ quan ưu tú của tôi. Trăm sự nhờ bác sĩ.
– Thưa Đề Đốc, chúng tôi sẽ tận lực.
Tư Lệnh nhìn Võ Bằng thêm một lần nữa. Ông tin một người năng nổ như thế không dễ gì chịu nằm yên lâu.
Ông khẽ nói:
– Biển luôn cần anh. Và một người đang tha thiết chờ anh.
Phái đoàn của Đô Đốc vừa khuất ở cuối hành lang, khoảng lặng trước cửa phòng bệnh chưa kịp trở lại, thì một nhóm người với vẻ mặt hớt hải xuất hiện.
Đó là ông bà Hảo và các anh chị của Võ Bằng. Bà Hảo khư khư xách cái giỏ nhỏ như thể trong đó có tất cả những gì một người mẹ có thể đem theo để cứu con mình.
Dừng lại trước cửa phòng, ông Hảo nhìn sững người nằm trên giường.
Một lúc lâu, ông không bước nổi. Người ta đã nói với ông đó là con trai ông. Nhưng ông vẫn không tin ngay ở mắt mình. Hình ảnh thằng con xăng xái mới gặp tháng trước, giờ đây nằm im, dưới lớp chăn trắng toát, đầu quấn băng, mặt hốc hác như một người xa lạ.
Ông rón rén bước, đôi bàn tay chai sạn nắm chặt thành giường. Ông nhìn khuôn mặt vàng vọt của con rồi dừng lại ở cặp cầu vai ba vạch và cuống huy chương.
Ông hỏi vị bác sĩ:
– Sao… sao có những thứ này trên ngực con tôi?
Vị bác sĩ nhỏ nhẹ:
– Thưa bác, đó là cấp bậc Thiếu Tá và Anh Dũng Bội Tinh. Tư Lệnh Hải Quân vừa đến thăm và ban thưởng anh ấy.
Ông Hảo ngẩn ngơ: “Không lẽ cấp bậc của nó bây giờ ngang với ông quận trưởng quê mình?”
Một tia sáng tự hào vụt qua đôi mắt mờ đục. Nhưng rồi nó vụt tắt. Ông sợ, sợ những thứ lấp lánh ấy được đánh đổi bằng mạng sống của con trai mình.
Bà Hảo thì chẳng thấy gì ngoài khuôn mặt xanh xao của Võ Bằng. Bà lặng lẽ mở giỏ xách, lấy chai dầu cù là, nhẹ nhàng xoa lên lòng bàn chân lạnh ngắt của con. Bà vừa xoa vừa khóc: “Con ơi mau tỉnh lại. Ba má anh chị lên thăm con đây.”
Vị y sĩ nhìn hành động đầy mê tín. Trong y khoa, chẳng có phương thuốc nào tên là dầu cù là có thể đánh thức người đang hôn mê. Nhưng nhìn cử chỉ xoa bóp đầy tình mẫu tử, ông quay mặt đi không ngăn cản.
Anh chị của Võ Bằng bước gần nắm tay đứa em. Người chị thút thít:
– Chị mang bánh ít bánh tét em thích. Ngờ đâu em ra nông nỗi này.
Cả căn phòng chìm trong tiếng khóc nhỏ, tiếng máy thở đều đều và mùi dầu cù là cay nồng lẫn với mùi bệnh viện.
Đúng lúc đó, Như Oanh xuất hiện ở ngưỡng cửa.
Nàng mặc áo dài màu xanh nhạt, dáng người thanh mảnh hơn sau mấy ngày mất ngủ. Khuôn mặt hằn rõ vẻ mệt mỏi, lo âu. Đôi mắt nàng đỏ, nhưng không còn vẻ hoảng hốt của ngày đầu.
Nàng bước vào, cúi đầu chào ba má Võ Bằng và anh chị. Bà Hảo gật đầu, tay vẫn xoa dầu. Cảnh tượng khiến nàng rơi nước mắt.
Nàng bước đến bên giường.
Đầu anh vẫn quấn băng trắng, gần kín nửa trán, bên trên có một đốm đỏ nhạt. Gò má sạm, đôi môi khô, cánh tay nằm ngoài chăn gầy hơn trước. Cái dáng người vốn quen đứng thẳng trên boong tàu, quen đưa ống dòm nhìn vùng biển xanh, giờ nằm bất động suốt ngày đêm.
Trong trí nàng, Võ Bằng đang ở đâu đó ngoài khơi, trên một vùng biển xa. Và con tàu đã đi quá tầm mắt, chưa chịu quay về. Có thể đang đụng trận. Cũng có thể đang truy kích. Nhưng nàng biết, dưới quyền chỉ huy của anh, Rạch Gầm không bao giờ trôi giạt vô định…
Nàng cúi xuống, thì thầm vào tai anh:
– Em biết anh nghe được. Anh đi xa quá rồi đó. Nhớ quay về, em đang đợi.
Rồi nàng chăm chăm nhìn các ngón tay của anh.
Nàng ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường, đặt bàn tay nàng lên bàn tay anh. Bàn tay ấy mới ngày nào từng nắm tay nàng trên bãi biển An Thới. Và cũng chính bàn tay ấy từng viết cho nàng những lá thư tình từ biển.
Vậy mà giờ đây nó nằm bất động trong tay nàng. Một ý nghĩ đen tối khiến nàng không ngăn nổi nước mắt đầm đìa tuôn.
***
Một tháng trôi qua, từ hôm Võ Bằng nhập viện.
Cũng từ ngày đó, chương trình mỗi ngày của Như Oanh thay đổi. Sau giờ dạy học, nàng bỏ cơm chiều với ba mẹ để đến với anh.
Nàng không nói gì nhiều. Có ngày nàng kể chuyện trong lớp. Có ngày nàng đọc lại một đoạn thư cũ của anh. Có ngày nàng thẫn thờ nhớ quán Sóng, Đồng Quê quán, Có ngày nàng chỉ ngồi yên, nhìn ngực anh lên xuống khẽ khàng.
Nhưng chiều hôm nay, khi Như Oanh từ trường về nhà, chuẩn bị thay áo để vào bệnh viện thì người giúp việc báo ba mẹ muốn gặp nàng.
Nàng khựng lại. Một linh cảm không lành báo động. Nàng muốn rời nhà, muốn đến với Võ Bằng đang chờ, nhưng không thể chối từ.
Khi nàng bước vào phòng gia đình, ông Đạo đã ngồi sẵn trên chiếc ghế bành gần cửa sổ. Bà Đạo ngồi bên cạnh, hai bàn tay đan vào nhau. Trên bàn, tách trà của ông Đạo đang bốc hơi.
Như Oanh vừa ngồi lên ghế, ông Đạo lên tiếng:
– Sáng nay, ba với mẹ vào thăm Võ Bằng.
Nàng ngẩng lên rất nhanh, chờ đợi.
Ông Đạo nhìn con gái một lúc, rồi nói tiếp:
– Nó vẫn vậy. Vẫn mê man bất tỉnh.
Chữ “mê man” làm Như Oanh nhói lên. Nàng đau vì sự thật, nhưng còn đau hơn vì cách cha nàng nói sự thật ấy như nói về một món hàng chỉ còn đáng bỏ đi.
Nàng giữ giọng bình thản:
– Bác sĩ có nói gì khác không, thưa ba?
– Ông ấy vẫn chỉ vắn tắt: có thể hồi tỉnh bất cứ lúc nào, mà cũng có thể là chẳng bao giờ.
Bầu không khí nặng nề. Như Oanh bỗng thấy mình như đang đứng trên một bờ vực mà ba mẹ nàng đã quay lui, còn nàng thì vẫn bước tiếp. Ông Đạo lại nói, từng chữ gọn và chắc:
– Ba mẹ không phải người vô tình. Ba mẹ đã bằng lòng cho hai đứa thành hôn. Nhưng ở đời, có những việc phút chót phải xét lại.
Như Oanh mở to mắt, lắng nghe. Bà Đạo chen vào, giọng mềm hơn:
– Con đừng nghĩ ba mẹ nhẫn tâm. Chỉ là hôm nay nhìn cậu Bằng như vậy… ai cũng xót thương.
Như Oanh cười rất nhẹ. Gần như chỉ là một cử động ở khóe môi:
– Mẹ! Mẹ xót thương, mà sao vẫn muốn… xét lại?
Bà Đạo lặng im. Ông Đạo không né tránh:
– Phải. Ba mẹ muốn con bình tâm suy xét. Sự thật không thể chối cãi: nó bất tỉnh. Con đã đợi một tháng. Nó vẫn bất tỉnh. Con có thể đợi một năm, hai năm. Nhưng nếu là mười năm?
Như Oanh cúi mặt, lơ đãng nhìn sàn nhà. Nàng không muốn nói mà cũng không muốn nghe thêm.
Thấy con lặng thinh, bà Đạo nghẹn ngào:
– Mẹ chỉ sợ… nó tỉnh dậy mà không còn là người con yêu nữa.
Như Oanh hít một hơi, thở ra, giọng nhỏ nhẹ:
– Thưa ba mẹ, trước khi ngỏ ý muốn tiến tới hôn nhân, anh Bằng ân cần khuyên con nên đắn đo suy xét. Anh báo một sự thật hiển nhiên: lấy chồng lính, coi như khăn tang đã may sẵn. Hoặc nếu không tử thương thì cũng về với tấm thân tàn phế. Con đã trả lời: “Nếu anh chết em chịu tang. Nếu anh tàn phế, em sẽ là đôi chân của anh.”
Ông Đạo cười nhạt, tung đòn quyết định:
– Lãng mạn! Hãy thực tế con ạ!
Như Oanh bình thản tiếp:
– Hôm gia đình Võ Bằng đến dùng cơm, khi con tiễn ra về, ông Hảo nói với con, rằng trước tương lai mịt mù của Võ Bằng, ông bà hoàn toàn thông cảm nếu con rút lui. Và con đã trả lời, con muốn cùng Võ Bằng bước qua những ngày hoạn nạn.
Ông Đạo to tiếng:
– Ba má thằng Bằng cho con quyền chọn lựa, sao lại chọn ngõ cụt?
Như Oanh lặng thinh. Nàng biết có nói nữa cũng chỉ làm ba nàng thêm nổi nóng.
Bà Đạo dịu dàng lên tiếng:
– Con à, không phải ba mẹ không thương cậu Bằng. Nhưng như ba con nói… thời thế đổi thay. Nói thẳng ra là con nên rút lui từ bây giờ. Cha mẹ Võ Bằng cũng đã đồng ý.
Nàng vẫn lặng thinh. Bà Đạo hăng hái tiếp:
– Thằng Vinh nó vẫn hỏi thăm con, vẫn mong con trở lại. Nó nói với mẹ, nếu con chịu làm vợ, nó sẽ đưa con qua Mỹ ở.
Tiếng thằng Vinh, tiếng qua Mỹ ở rơi vào căn phòng như những vật lạ. Rồi biến nhanh.
Như Oanh bước chậm về phía cửa sổ. Sài Gòn đã lên đèn. Ánh sáng đô thành không giống ánh sáng ngoài biển. Ánh sáng ngoài biển như dát kim cương, long lanh, êm đềm.
Nàng trở lui, đứng khoanh tay, giọng nhỏ nhẹ:
– Thưa ba mẹ, với anh Vinh, tuy bên nhau bốn năm, không lúc nào con cảm thấy tha thiết làm vợ anh ấy. Cho nên việc ở Sài Gòn làm bà bộ trưởng hay ở Mỹ sống đời ấm no, con sẽ mãi như một cái bóng dật dờ. Con nghĩ ba mẹ đâu muốn con gái út của ba mẹ phải trải qua cuộc đời dở khóc dở cười như thế.
Ông Đạo gằn giọng:
– Nhưng mà… còn đỡ hơn với thằng dở sống dở chết!
Như Oanh như không nghe, tiếp giọng trầm buồn:
– Con ước gì ba mẹ nhận ra con mình đã trưởng thành, đã có thừa khôn ngoan để tự định đoạt đời mình.
Ông Đạo quát to:
– Hỗn hào!
Nhìn mặt con gái trắng bệch, đôi mắt long lanh, bà Đạo vội lên tiếng:
– Oanh, đừng giận ba con. Chỉ vì tương lai của con…
Nàng rớm nước mắt, nghẹn ngào:
– Con ước gì ba mẹ dành chút cảm thương cho người con yêu bị bắn thập tử nhất sinh! Và ước gì ba mẹ tìm thấy câu trả lời: vì sao mà bị bắn?
Bà Đạo ôm con:
– Con, đừng quá xúc động!
Nàng tức tưởi:
– Mẹ bảo con đừng xúc động? Anh ấy nằm đó, sống chết phó mặc số trời. Lại còn phải nghe khuyên bảo… bỏ nó đi!
Ông Đạo hằn học:
– Con đã bỏ thằng Vinh được thì với thằng Bằng có khó gì!
Như Oanh thở hắt, lắc đầu:
– Thưa ba, nói ra thì lại bị mắng là hỗn hào. Nhưng cho con nói hết ý: ba thì lúc nào cũng xét về mặt có lợi hay không lợi. Còn con, con chỉ xét về mặt hạnh phúc hay không hạnh phúc.
Ông Đạo quắc mắt, mỉa mai:
– Hạnh phúc gì với một thằng…
Nhìn con cúi mặt, nước mắt rơi thành dòng, ông Đạo đổi giọng, giảm gay bớt gắt:
– Ba hiểu con thương xót nó. Nhưng thương xót cũng đâu phải là nền móng của hạnh phúc.
– Con không thương xót mà con yêu anh ấy. Con yêu trước khi anh ấy… bị thương. Xin phép được hỏi. Ba yêu mẹ. Mẹ đau, ba thương thêm hay bỏ rơi?
Căn phòng lặng đi. Bà Đạo khẽ thở dài. Ông Đạo nâng tách trà, uống như để nhâm nhi lời của con gái. Rồi đặt tách trà xuống, giọng trầm:
– Oanh con, hãy tưởng tượng, trường hợp Võ Bằng mất trí, hoặc tê liệt. Chừng đó, con không còn là vợ, mà là một y tá, một điều dưỡng viên. Là giáo sư trường Gia Long danh tiếng, lẽ nào hằng ngày lại chôn vùi tuổi xuân trong mùi thuốc sát trùng và những lời lảm nhảm vô hồn? Ba mẹ chỉ muốn con có một chỗ dựa vững chãi, khi còn kịp…
Như Oanh ngước mắt lên, giọng rắn rỏi:
– Thưa ba mẹ, con từng dạy học sinh nhân phẩm không nằm ở địa vị. Nếu chính con chạy theo địa vị, bỏ người hoạn nạn, thì con còn đáng là giáo sư?
Căn phòng im lặng đến nghẹt thở.
Ông Đạo đứng dậy, bước ra ban công. Trong vùng sáng tỏa lên bầu trời âm u, ông chợt nhớ ngày ông cưới bà. Bà là giáo sư, gia đình khá giả. Ông chỉ là một công chức nghèo. Cha mẹ vợ ngày ấy cũng chê bai: “Thằng này không có tương lai.” Và bà đã nói: “Nếu ba mẹ cấm cản, tụi con tự làm đám cưới.”
Bây giờ, con gái ông cũng khăng khăng bám lấy một thằng không tương lai.
Ông quay vào, mắt đỏ:
– Ba mẹ đã hết lời.
Ông dừng lại, đổi giọng ngọt ngào:
– Tùy con.
Như Oanh òa khóc, chạy đến ôm cha. Bà Đạo cũng bước tới, ôm cả hai cha con.
Trở về buồng riêng, Như Oanh mở ngăn kéo lấy ra lá thư cuối cùng Võ Bằng viết từ Trường Sa. Nàng nằm lên giường, ép lá thư lên trái tim. Những dòng chữ thuộc làu hiện ra. Nước mắt tuôn rơi tới dòng cuối cùng: “Từ ngày gặp em, anh không còn thấy cô đơn. Đại dương mênh mông, đâu đâu cũng là hình dáng em…”
Nàng lặng yên nghe tiếng chuông chùa Xá Lợi vọng đến, môi mấp máy những lời khấn nguyện.
Rồi nàng nói rất khẽ, như nói với người đang nằm mê man trong bệnh viện:
– Anh yên tâm tịnh dưỡng. Em vẫn đợi…
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét