Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Cô Đơn - Trầm Vân


Cô Đơn

Cô đơn về trắng sương đêm
Phòng không gối lẻ đắp mền cô đơn
Thèm nghe em tiếng dỗi hờn
U hoài rơi ánh mắt buồn bay ngang

Nhớ chiều hai đứa lang thang
Tiếng chim ríu rít hân hoan gọi ngày
Bàn tay ve vuốt bàn tay
Chiều trôi chếnh choáng ngất ngây qua lòng

Cô đơn về tím nhớ mong
Chạm vào mái tóc bềnh bồng phiêu du
Nụ hôn mê đắm cơn mơ
Tình anh từ ấy ở tù môi em

Cô đơn về lạc cánh chim
Bay về đâu gió nổi chìm phong ba
Tình anh từ độ em xa
Chỉ còn nỗi nhớ thương nhòa ngày trôi

Bên tai thoảng tiếng em cười
Quán khuya tiếng nhạc rối bời thanh âm
Hỏi đêm, đêm mãi lặng câm
Hỏi tình, tình chỉ lặng thầm xót đau

 Trầm Vân




Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Thơ Thiền Việt Nam: (Đỗ Chiêu Đức)

                           Thơ Thiền Việt Nam

1. Vạn Hạnh Thiền Sư   行 禪 師

        Thiền sư VẠN HẠNH 萬行禪師 (?-1018) Nguyên họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam Phương Tì Ni Đa Lưu Chi. Ông học thông tam giáo (NHO - THÍCH- ĐẠO), đã từng hết sức giúp vua Lê Đại Hành chống ngoại xâm, dựng xây đất nước, sau lại khuôn phò Lý Công Uẩn lên ngôi nên rất được kính trọng. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh (1337), Ông còn để lại một số bài thơ, trong đó đặc biệt có bài THỊ ĐỆ TỬ (Bày tỏ với đệ tử) - Nhan đề nầy là do người đời sau đặt ra. Sách Thiền Uyển Tập Anh chép rằn: "Ngày 15 tháng 5 , năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), sư không bệnh, gọi chúng tăng đệ tử đến, rồi đọc bài kệ:
              
                      示 弟 子
              身 如 電 影 有 還 無
              萬 木 春 榮 秋 又 枯
              任 運 盛 衰 無 怖 畏
              盛 衰 如 草 頭 舖

                    THỊ ĐỆ TỬ
         Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
         Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
         Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
         Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

      Sư lại bảo với các đệ tử rằng: "Các ngươi muốn đi về đâu? Ta không lấy chỗ trụ để mà trụ, cũng chẳng dựa vào chỗ vô trụ để mà trụ."  Ý muốn bảo ƯNG VÔ SỞ TRỤ... Một lát sau thì Sư qua đời. Vua cùng các quan làm lễ hỏa táng cho Sư, xây tháp Xá Lợi để hương khói phụng thờ...


             Chú thích bài kệ trên:

      THỊ ĐỆ T: THỊ có 2 nghĩa : CHỈ THỊ là Chỉ điểm, Chỉ vẽ, Ra lệnh. BIỂU THỊ là Bày tỏ, Tỏ Vẻ, Tượng Trưng nên THỊ ĐỆ TỬ có thể hiểu là: CHỈ ĐIỂM cho đệ tử, cũng có thể hiểu là BÀY TỎ lòng mình với đệ tử.
       ĐIỆN ẢNH: ĐIỆN là Tia Chớp, ẢNH là Cái bóng. Cái Bóng có được nhờ tia Chớp nên rất mong manh, thoáng cái thì đã mất.
       ĐIỆN ẢNH: Ngày nay ta gọi là Chớp Bóng, là Chiếu Bóng, là nghệ thuật thứ 7 của hiện đại.
       NHẬM: Ở đây là Phó Từ, có nghĩa: Mặc cho... là Phó mặc.
       VẬN là Thời Vận, là Vận Hạn.
       BỐ ÚY 怖 畏 : BỐ là chữ Hài Thanh, gồm bộ TÂM bên trái chỉ Ý, chữ BỐ là Vải Vóc bên phải chỉ Âm, nên BỐ là KHỦNG BỐ, là Sợ Hãi. ÚY là chữ Hội Ý, theo Giáp Cốt Văn thì phần trên là Cái đầu của chữ QUỶ, phần dưới là QUỶ cầm cây gậy để đánh người, nên ÚY là ÚY KỴ, là Sợ Sệt, là E Ngại.
       BỐ ÚY là từ kép chỉ sự Sợ Hãi, E Ngại. Nghĩa trong câu thơ BỐ ÚY là LO LẮNG.
       LỘ 露 : Chữ hài thanh, phần trên bộ VŨ là Mưa chỉ Ý, phần dưới là chữ LỘ chỉ ÂM, nên LỘ có nghĩa là HẠT MÓC, là GIỌT SƯƠNG.
       PHÔ 舖 : Chữ hài thanh, phần trái là chữ XÁ là Nhà chỉ Ý, phần phải là chữ PHỐ chỉ Âm. PHÔ là Cái ngạch cửa nằm ngang bên dưới, nghĩa rộng là TRÃI RA, là PHÔ TRƯƠNG, là bày ra cho người ta thấy. Trong câu thơ có nghĩa:... như giọt sương bày ra trên đầu ngọn cỏ (Sẽ biến mất ngay khi tia nắng đầu tiên chiếu rọi!)

Nghiã bài kệ:
      Cái xác thân của ta hiện diện trên đời nầy giống như là cái bóng của tia chớp, có cũng như không, thoắt hiện đó rồi liền mất đó! Muôn loài cây cỏ mùa Xuân thì xanh um tươi tốt, đến khi mùa Thu thì héo úa vàng khô!  Mặc cho thời vận của cuộc đời thịnh hay suy gì cũng đừng nên lo lắng mà chi. Vì việc thịnh suy như là giọt sương phủ ở trên đầu ngọn cỏ vậy, chóng đến chóng tàn đổi thay liên tục và rất nhanh!

Diễn Nôm:
             Thân có tựa không như ánh chớp,
             Lá xanh thu úa ấy lẽ thường.
             Thịnh suy tùy vận không lo lắng,
             Suy thịnh như đầu cỏ nhuốm sương!
                               Đỗ Chiêu Đức
 
2. Mãn Giác Thiền Sư  滿覺禪師
           Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) là một Thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 8 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sư nối pháp Thiền của sư Quảng Trí và truyền tâm ấn lại cho đệ tử là Bản Tịnh. Với bài kệ "CÁO TẬT THỊ CHÚNG 告疾示眾 ", ông được nhiều người coi là một nhà thơ đại biểu của dòng văn thơ đời Lý-Trần.
     Năm 1096, cuối tháng 11, Sư gọi chúng đệ tử đến, đọc bài kệ "Cáo tật thị chúng" như sau:
Kệ rằng:

        春去百花落,            Xuân khứ bách hoa lạc,
        春到百花開.            Xuân đáo bách hoa khai.
        事逐眼前過,            Sự trục nhãn tiền quá,
        老從頭上來.            Lão tòng đầu thượng lai !
        莫謂春殘花落尽,      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
        庭前昨夜一枝梅 !     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
             Image result for 梅花     maivang-010130
Chú thích:
     CÁO TẬT THỊ CHÚNG 告疾示眾 : Bố cáo cho mọi người biết là mình bị bệnh.
     TRỤC 逐 : Chữ thuộc dạng HỘi Ý, gồm chữ THỈ là Loài heo ở bên trong trên và bộ Xước là Bước đi bên trái dưới. Ý là Đuổi Theo. Chữ TRỤC có 2 nghĩa chính :
     a). Đuổi, là Cưởng bức ai đó rời đi. Như Trục Xuất, Trục Khách.
     b). Lần lượt theo thứ tự. Như Trục Bộ là Bước từng bước một. Trục Niên là Hằng năm, hết năm nầy đến năm khác.
     VỊ 謂 : Chữ thuộc dạng Hài Thanh, gồm bên trái bộ Ngôn là lời nói chỉ Ý, bên phải là chữ VỊ chỉ âm nên Vị có nghĩa là Nói Rằng, Bảo Rằng.
     MẠC VỊ : Đừng bảo rằng, Chớ nói rằng.

Nghiã bài kệ:
       Mùa Xuân đã đi qua thì trăm hoa rơi rụng,
       Khi mùa Xuân đến thì trăm hoa lại đua nở.
       Sự đời lần lượt đi qua diễn ra trước mắt.
       Tuổi già thì lại đến từ trên đầu già xuống. (Ý chỉ tuổi già trước tiên được thể hiện qua mái tóc bạc đập vào mắt mọi người trước nhất! Ta cũng thường hay nói: Già từ trên đầu già xuống!)
       Chớ bảo rằng Xuân tàn thì trăm hoa rụng hết.
       Đêm qua, trước sân, một cành mai đã nở rộ (trong tiết Đông lạnh lẽo). Ý muốn nói: Không phải chỉ có mùa Xuân trăm hoa mới đua nở, trong mùa Đông giá lạnh cũng vẫn có những loại hoa nở rộ như thường! 

Diễn Nôm:

           Xuân tàn trăm hoa rụng,
           Xuân đến trăm hoa tươi.
           Việc đời qua trước mắt,
           Già đến trên đầu người.
           Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
           Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

                      Đỗ Chiêu Đức

3. Hương Hải Thiền Sư  香海禪師
       Hương Hải Thiền Sư 香海禪師 (1628 - 1715), không rõ họ tên thật, tục gọi là Tổ Cầu, là một thiền sư Việt Nam ở thời Hậu Lê. Sư và Thiền sư Chân Nguyên là hai người đi đầu trong công cuộc phục hưng phái thiền Trúc Lâm đã có từ thời nhà Trần.
      "Vô tâm" là danh từ và phương châm rất đắc ý của Hương Hải. Hình ảnh đẹp nhất về vô tâm là hình ảnh mà ông đã trình bày cho vua Dụ Tông nghe, khi nhà vua hỏi về thâm ý của đạo Phật:

             Nhạn quá trường không,        
             鴈 過 長 空
             Ảnh trầm hàn thủy                    
             影 沉 寒 水
             Nhạn vô di tích chi ý                  
             鴈   無   遺   跡   之   意
             Thủy vô lưu ảnh chi tâm            
             水   無   留   影   之   心
          wildgeese3    
Chú thích:
     TRƯỜNG KHÔNG 長 空 : TRƯỜNG là Dài, KHÔNG là Không gian. TRƯỜNG KHÔNG là Từ Ghép chỉ BẦU TRỜI, chớ không phải Trời dài Trời ngắn gì cả!
     DI TÍCH 遺 跡 : DI là Để lại. TÍCH là Dấu Vết. DI TÍCH là Để lại Vết Tích.
     LƯU ẢNH 留 影 : LƯU là Giữ lại. ẢNH là Hình Bóng. LƯU ẢNH là Giữ lại Hình bóng.

Nghĩa bài kệ:
      Con chim nhạn bay ngang qua bầu trời, cái bóng của nó in xuống dưới dòng nước lạnh. Con nhạn đó không có Ý để lại vết tích của mình dưới nước, mà nước cũng không có lòng giữ lại hình bóng của chim nhạn. Tất cả đều là lẽ tự nhiên của VÔ TÂM, của TÂM VÔ SỞ TRỤ 心無所住 !

Diễn Nôm:

            Nhạn bay cao vút trên không,
            Bóng chìm dưới nước lạnh căm vô tình.
            Nhạn không có Ý để hình,
            Nước không lòng giữ bóng hình nhạn đâu !
                                 Đỗ Chiêu Đức

4. Huyền Quang Thiền Sư  玄光禪 師 .
         Huyền Quang Thiền Sư (1254-1344) tên thật là Lý Đạo Tái người châu Nam Sách. Từ nhỏ, ông có khiếu văn chương, năm 21 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hương, được bổ làm quan ở Hàn Lâm Viện và nhận mệnh vua tiếp sứ Trung Quốc. Khi ông theo vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phượng Nhãn để nghe sư Pháp Loa giảng kinh, liền có ý muốn xuất gia. Sau đó mấy lần ông xin từ chức để đi tu, được vua Trần Anh Tông chấp nhận và giao cho sư Pháp Loa hướng dẫn. Ông trở thành vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm.
         Mời đọc một bài thơ có Ý Thiền của ông sau đây:

      Image result for 泛舟的意思     Image result for 泛舟的意思
     

       泛舟
小艇乘風泛渺汒,
山青水綠又秋光。
數聲漁笛蘆花外,
月落波心江滿霜。

            Phiếm Chu 
Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang,
Sơn thanh thuỷ lục hựu thu quang.
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.

Chú thích:
       PHIẾM CHU 泛舟 : PHIẾM có 3 chấm thủy một bên, nên có nghĩa là TRÔI NỔI. CHU là Ghe Xuồng. PHIẾM CHU là Để mặc cho chiếc Thuyền trôi nổi trên sông. Trong bài TIỀN XÍCH BÍCH PHÚ mở đầu bằng câu : "Nhâm Tuất chi thu, thất nguyệt kí vọng, Tô Tử dữ khách PHIẾM CHU..." là chữ PHIẾM CHU nầy đó.

       CÂU 1 : Tiểu đỉnh thừa phong phiếm diểu mang.
TIỂU ĐĨNH : là Chiếc Thuyền nhỏ. THỪA PHONG: là Cỡi gió, là Đón gió. PHIẾM là Trôi nổi. DIỂU MANG: là Mênh mông Vô tận. Câu 1 có nghĩa :
     "Chiếc thuyền con trôi nổi theo chiều gió trên dòng nước mênh mông vô tận."

       CÂU 2 : Sơn thanh thuỷ lục hựu thu quang.
SƠN THANH : là Núi Xanh. THỦY LỤC : là Nước Xanh. HỰU là Lại. THU QUANG : là Quang cảnh Mùa Thu. Câu 2 có nghĩa :
     "Lại cũng quang cảnh của mùa Thu với núi xanh nước biếc."

       CÂU 3 : Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
SỔ THANH : SỔ là Một Vài. SỔ THANH là Một vài âm thanh, là Một vài tiếng. NGƯ 漁 nầy có 3 chấm Thủy, có nghĩa : Thuộc Về Cá, nên NGƯ ĐỊCH : là Tiếng Sáo của những người đánh cá. LÔ HOA : là Hoa Lau Hoa Sậy. NGOẠI : là bên ngoài, phía ngoài. Câu 3 có nghĩa:
    "Ngoài xa của đám hoa lau là tiếng sáo vẳng đưa của các dân chài." (Tiếng sáo không thể đếm được, nên không thể nói là MỘT VÀI tiếng sáo. Vì tiếng sáo trên sông vẳng đưa theo gió nên nghe khi được khi mất. Chớ không phải có NHIỀU NGƯỜI thổi sáo! Chữ SỔ được thoáng dịch là Văng Vẳng là vì thế!)
       CÂU 4 : Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.
NGUYỆT LẠC : là Trăng lặn. BA TÂM : là Giữa lòng sóng. GIANG MÃN SƯƠNG : là Sông đầy cả sương. Câu 4 có nghĩa :
     Khi trăng lặn xuống giữa lòng sóng nhấp nhô  ở tận chân trời) thì sương cũng xuống tràn ngập cả dòng sông.

Diễn Nôm: 

              Thả Thuyền
Thuyền con trôi nổi gió xuôi dòng,
Nước biếc núi xanh thu mênh mông.
Tiếng sáo vẳng đưa bờ lau sậy,
Sóng dìm trăng lặn móc đầy sông!

        Ai bảo thơ thiền Việt Nam không nên thơ và không có Ý Thiền chứ?!

                         Đỗ Chiêu Đức

************
Comments:
Quên Đi xin góp ý về tác giả bài kệ" Nhạn Quá Trường Không":

Bài kệ "Nhạn quá trường không..." không phải của Hương Hải Thiền sư.
Vua Lê Dụ Tông mời Thiền sư Hương Hải vào triều hỏi về Phật Pháp, khi nhà vua hỏi "Thế nào là Phật?". Thiền sư Hương Hải đã mượn bài kệ trên để giải thích.
Thực sự tác giả bài kệ này là của Thiền sư Nghĩa Hoài Thiên vào thời Bắc Tống, Thiền sư xuất gia năm 1023 tại chùa Cảnh Đức Khai Phong ( kinh đô thời Bắc Tống tức tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay).

****************
QUÊN ĐI thân mến,

      Anh nói rất đúng ! Nhưng...
      Tôi đang trình bày về thơ THIỀN Việt Nam mà ! Ý THIỀN tuy giống nhau nhưng diễn đạt thì mỗi người có khác ! Hãy xem các tài liệu trên internet sau đây :

   1. 【出處】宋·釋普濟《五燈會元》卷十四:“僧問:'雁過長空,影沉寒水。雁無遺踪之意,水無沉影之心。還端的也無?'師曰:'蘆花兩岸雪,江水一天秋。'
   1.( XUẤT XỨ ) TỐNG. Thích Phổ Tế " Ngũ Đăng Hội Nguyên " quyển thập tứ : " Tăng Vấn :' Nhạn quá trường không, ảnh trầm hàn thủy. Nhạn vô di tung chi Ý, thủy vô trầm ảnh chi tâm. Hoàn đoan đích dã vô ?' Sư Viết :' Lô hoa lưỡng ngạn tuyết, Giang thủy nhất thiên thu'.
    
   2. 禅宗大师天衣义怀所讲
    秋雁滑过长空,影子沉于寒水。大雁并没有留下踪迹的意思,而水其实也没有沉影的心思。
   2. Thiền tông Đại sư THIÊN Y NGHĨA HOÀI sở giảng
        Thu nhạn hoạt quá trường không, ảnh tử trầm vu hàn thủy. Đại nhạn tịnh một hữu lưu hạ tung tích để Ý tứ. Nhi thủy kỲ thực dã một hữu trầm ảnh để tâm tư.

    Và... Còn nhiều tài liệu khác nữa !

       Nhưng, điều muốn nói là tôi đang trình bày thơ Thiền Việt Nam, nên tôi nói theo cách nói của Hương Hải Thiền Sư, chứ không nói theo ông THIÊN Y NGHĨA HOÀI ở đời Bắc Tống tuốt bên Tàu của anh đâu, và cũng không nói theo cái ông " TỐNG. Thích Phổ Tế " gì đó ở Tài liệu 1 nêu trên. Xin thông cảm !

     Dù sao thì cũng xin cám ơn anh đã góp Ý !
                                                         Thân mến,
                                                       Đỗ Chiêu Đức

Tài liệu bổ sung :
    真州长芦妙觉慧悟禅师,上堂:“尽大地是个解脱门,把手拽不肯入。雪峰老汉抑逼人作么?既到这里,为甚么鼻孔在别人手里?”良久曰:“贪观天上月,失却手中桡。”僧问:“雁过长空,影沉寒水。雁无遗踪之意,水无沉影之心。还端的也无?”师曰:“芦花两岸雪,江水一天秋。”曰:“便恁么去时如何?”师曰:“雁过长空聻!”僧拟议,师曰;“灵利衲子。”
...Và còn nhiều nhiều nữa !!!...

 

Bách Niên Vạn Thọ - Như Phương


               BÁCH NIÊN VẠN THỌ

              (Thân tặng anh Thạc và Thoa)

          Vạn thọ Bách niên cảnh sum vầy
          Trăm năm khỏe vui, dễ mấy ai

          Mẹ cười bên con cháu hội ngộ,
         Áo đỏ khăn vành rực rỡ thay.

          Cuộc sống thăng trầm Mẹ trải qua
          Một tay đảm đương mọi việc nhà

          Xoay xở trong ngoài, nuôi con lớn
          Đạt điều mong ước nơi xứ xa.

         Ngày đêm, hình bóng Mẹ trong tâm
         Cầu nguyện Mẹ an vui mọi phần

         Niềm vui của con là còn Mẹ
         Không gì bằng nghĩa trọng tình thâm.

         Dâng Mẹ chén trà chúng con vui

         Âm vang tiếng pháo, giọng Mẹ cười
         Mẹ cho con món quà vô giá
         Là đóa hoa vạn thọ thắm tươi.

         Con cứ muốn thời gian chậm trôi,
         Như cảm giác bên Mẹ một thời,
         Cùng vui với Mẹ ăn quà vặt
         Chiều chiều, ra ngồi ngoài hiên chơi.

         Là nếp một, là chuối ba hương....
         Mía lau nướng thơm ngọt hơn đường ,
         Tình Mẹ mát hơn dòng suối ngọt,
         Lòng Mẹ ấm nồng, tận muôn phương.

               Như Phương

               June 25, 15


Có Phải Em Là.... (Trầm Vân)


Có Phải Em Là...

Bình minh mới tinh khôi
Áo em bay nghiêng trời
Mùa thu về qua ngõ
Ngập ngừng chiếc lá rơi

Nắng hồng đậu bờ môi
Ngát thơm lên nụ cười
Dòng me rơi rất vội
Chải tóc rẽ đường ngôi

Có phải em là mưa
Hàng cây nhẹ đong đưa
Cho tình anh sũng ướt
Đẫm nhớ lối hẹn chờ

Có phải em là mây
Dìu nhẹ tiếng thơ bay
Ru xanh lời chim hót
Nụ hôn đầu ngất ngây

Có phải em nắng hồng
Đỏ lên cánh hoa rung
Chiều trôi qua bến hẹn
Sóng nhớ tím dòng sông

Có phải em cánh diều
Gió lồng lộng tin yêu
Cho tình anh tắm mát
Ngút ngàn tiếng suối reo

Có phải tình hẹn hò
Từ muôn kiếp xa xưa
Vòng tay ôm sao đủ
Tình đắm đuối cơn mơ
 Trầm Vân

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Thử Tưởng Tượng. Ngâm Thơ (Quách Như Nguyệt)

Thử Tưởng Tượng
Thơ:  Quách Như Nguyệt
Giọng ngâm Bích Vương 
PPS: Trần Ngọc




  
Thử Tưởng Tượng 

Thử tưởng tượng anh không đang hiện hữu
Em bước vào vùng trống rổng mông mênh
Em dám chứ vì không thêm chẳng bớt
Sẽ yêu anh dù tim có bồng bềnh

Thử tưởng tượng thời gian quay ngược lại
Em gặp anh ở một cõi mơ hồ
Em dám chứ cùng ngửa tay hứng mộng
Mộng, thật - thơ, người; người mộng trong thơ

Thử tưởng tượng anh chẳng là thi sĩ
Nhưng ôm thơ chạy khắp quả địa cầu
Thử tưởng tượng em làm sao đuổi kịp
Sao níu cùng run rẫy một chiêm bao?
 
Thử tưởng tượng anh là một vì sao
Em là trăng, trăng sao là một cặp   
Trăng và sao… tưởng gần, nhưng xa lắm!
Giữa chúng ta là vũ trụ tinh cầu
 
Hãy cứ nghĩ đời sống này nhiệm mầu
Và tình yêu của chúng mình bất diệt
Mình tin tưởng sẽ không còn ly biệt
Sẽ không còn sầu não với tối tăm!
 
Thử tưởng tượng –anh- dòng sông xa xăm
Trăng nhấp nhô ẩn hiện ánh trăng rằm
Sông và trăng tưởng có nhau, nào phải…
Trăng âm thầm đi vắng chỉ còn sông!
 
Thử tưởng tượng em là mây, anh gió
Gió đưa mây đi mất hút phương nào?
Thử tưởng tượng, nhắm mắt, ta tưởng tượng
Người thương ơi, mong tình không gió bão
 
Hãy tưởng tượng mình sống ngoài hải đảo
Chỉ hai người, có hai đứa mình thôi
Mình yêu nhau… ta có cặp có đôi  
Ở bên nhau, sống tròn đầy hạnh phúc!
 
Thử tưởng tượng nếu anh sa địa ngục
Sao biết em đang ở chốn thiên đường?
Em tội lỗi tầng sâu hơn một bực
Vĩnh viễn mình chẳng thể gặp nhau đâu!

Quách Như Nguyệt
  




* Họa Thơ: Nhân Tài Nước Việt - Mai X Thanh và Hồ Nguyễn

Nhân Tài Nước Việt

Lịch sử vẻ vang của Việt Nam,
Anh hùng dân tộc mấy ngàn năm...
Ngày nay thắp đuốc tìm không thấy,
Quá khứ trăng sao tráng sĩ thăm !
Đất nước đông dân hơn thuở trước,
Non sông chữ S nhớ xa xăm.
"Sơn hà xã tắc" minh quân vắng,   (thiếu)
Trời đất mênh mông chẳng tiếng tăm...

                       Mai Xuân Thanh
                     ******
Bài họa
Ngàn năm lịch sử nước nhà Nam,
Chẳng phải xa gần mấy chục năm.
Đất nước quê nhà danh một cõi,
Năm châu vạn quốc tiếng vang thăm.
Lúc nào chẳng thiếu nhân tài giỏi,
Khắp chốn vang lừng chống ngoại xăm.
Nếu bảo nhân tài dân Việt thiếu,
Thì ai khen ngợi tiếng cùng tăm??

                        Hồ Nguyễn



Sài Gòn Vào Hạ Tìm Em - Mai X Thanh