Đời Thủy Thủ 1
Chương 7:ĐI QUA TỬ ĐỊA
Chín giờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1963. Trên Hải Vận Hạm Hàm Luông đang ủi bãi tại Thành Tuy Hạ, Hạm Trưởng Hảo mở cuộc họp sĩ quan. Ông ngồi đầu bàn dài, mỗi bên ba người; ở cuối là tôi.
Đảo mắt một lượt thấy đông đủ, nét mặt ông thoáng vẻ hài lòng. Giọng trầm ấm cất lên:
– Ai từng công tác Năm Căn?
Không lời đáp. Ông hỏi tiếp:
– Có nghe nói Chiến dịch Sóng Tình Thương?
Cả bàn đồng thanh:
– Thưa có.
Hạm Trưởng quay sang sĩ quan phụ tá:
– Hạm Phó, nói xem đã biết được những gì.
Hạm Phó Đắc đáp rành rọt:
– Chiến dịch khai diễn từ đầu năm, nhằm bình định vùng cực Nam Cà Mau, ven sông Bồ Đề. Vùng ấy bị bỏ hoang từ sau Hiệp Định Genève. Nghe nói con sông hiểm trở, dễ bị phục kích. Ngay cả Bệnh viện hạm mang dấu hiệu Hồng Thập Tự to tướng cũng bị bắn, chẳng nể nang.
Hạm Trưởng gật đầu:
– Đúng, nhưng chưa đủ. Tôi từng chỉ huy Giang Pháo Hạm Tầm Sét ở đó từ ngày đầu, từng nếm mùi phục kích. Nhưng tôi không bận tâm nhiều về địch. Cái hiểm nguy chết người thật sự nằm ở con sông.
Căn phòng chìm vào im lặng. Ông tiếp:
– Ba tháng trước, tôi rời chiến dịch để nhận chiếc Hàm Luông này. Tình hình khi đó tạm ổn. Nhưng theo thuyết trình của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội sáng nay, Năm Căn vẫn bị bắn quấy phá, đường ra vào sông Bồ Đề vẫn thường xuyên bị phục kích. Vì vậy chiến dịch còn tiếp diễn.
Ông dừng lại, nhâm nhi ngụm cà phê. Thấy mọi người lắng nghe, ông cao giọng:
– Nhiệm vụ của ta hôm nay là chở đạn dược, lương khô tiếp tế cho chiến dịch, đồng thời triệt thoái quân dụng hư hỏng về hậu cứ.
Ông ngừng lời, đưa mắt nhìn từng người. Không khí nặng dần. Mấy tiếng Năm Căn, Bồ Đề, phục kích khiến mọi người thở khó.
Hạm Trưởng đặt cốc xuống, nghiêm giọng:
– Bồ Đề – cái tên nghe từ bi, an lành, mà thực chất chứa lắm thứ… chết người.
Trung Úy Quá, ngồi đối diện Hạm Phó, nôn nóng:
– Xin Hạm Trưởng nói rõ hơn.
– Thứ nhất là cửa sông, một cửa ải trần ai. Phù sa bồi lấp không ngừng nên nó thường rất cạn. Lại thêm phao hướng dẫn thủy đạo hay bị đánh cắp. Hải đồ ghi rõ tọa độ phao, nhưng tàu đến nơi thì chỉ thấy nước với nước.
Trung Úy Quá hỏi dồn.
– Thưa, chắc có ai lấy cắp?
Hạm Trưởng cười:
– Còn ai trồng khoai đất này. Địch đâu muốn ta vào “giải phóng” chúng.
Thiếu Úy Tâm nóng nảy:
– Thưa, còn sông Bồ Đề thì sao?
Hạm Trưởng lại nâng cốc, uống từng ngụm nhỏ như thể cà phê giúp ông thêm lưu loát:
– Bồ Đề thực ra chỉ là một khúc của con sông dài năm mươi tám cây số. Con sông ấy mang tới ba tên, tùy vùng đất nó chảy qua. Dân gian có câu: “Ba sông làm một tam giang, Bồ Đề, Cửa Lớn, Ông Trang một dòng”.
Hạm Phó Đắc sốt ruột:
– Thưa, sông mang ba tên thì có gì đến đỗi… chết người?
Một tia vui lóe lên trong mắt Hạm Trưởng:
– Nước ta rất nên hãnh diện. Đây là con sông có một không hai trên thế giới: không thượng nguồn, cũng chẳng hạ nguồn.
Thiếu Úy Được kêu lên:
– Sông không nguồn? Lạ thật!
Rồi anh bật cười:
– Uống nước không nguồn thì làm sao nhớ!
Hạm Trưởng mỉm cười, tiếp:
– Khác mọi con sông, nó không từ núi cao đổ ra biển. Cả hai đầu con sông này đều là cửa biển: cửa Bồ Đề thông ra Biển Đông, cửa Ông Trang thông ra Vịnh Thái Lan. Bởi thế nước sông mặn chát, không ai uống.
Đang tươi, gương mặt ông bỗng đượm ưu tư:
– Chính cái độc đáo ấy sinh ra rắc rối… chết người. Như các anh đều biết, thủy triều do sức hút của mặt trăng và mặt trời mà thành. Ở Biển Đông, nước lên xuống hai lần một ngày. Còn ở Vịnh Thái Lan, chỉ một lần.
Ông dừng, nhấp cà phê. Trung Úy Tùng thắc mắc:
– Thưa, cùng một Thái Bình Dương, sao hai vùng biển lại sai biệt trăm phần trăm như vậy?
– Vì Biển Đông rộng và sâu, giữ nguyên chu kỳ tự nhiên là bán nhật triều. Còn Vịnh Thái Lan – như Vịnh Bắc Việt – nhỏ, nông, lắm đảo, sinh ma sát, cộng hưởng rồi triệt tiêu lẫn nhau, hóa thành nhật triều. Cũng vì thế, biên độ hai nơi chênh nhau rất lớn: Biển Đông trên ba mét, Vịnh Thái Lan chưa đầy một.
Ông ngừng, để những con số thấm vào từng người. Trung Úy Tùng lại sốt ruột:
– Thưa, Hạm Trưởng vẫn chưa nêu rõ cái “chết người”.
Hạm Trưởng liếc đồng hồ treo tường:
– Do chênh lệch biên độ ấy, khi Biển Đông dâng cao mà Vịnh Thái Lan đang cạn, một khối nước khổng lồ sẽ ồ ạt tràn qua cửa Bồ Đề, thành dòng cuồng lưu lao thẳng về Vịnh Thái Lan. Ngược lại, Biển Đông rút mà Vịnh Thái Lan dâng, nước chảy giật lùi. Các anh thử hình dung: một chiếc tàu dài hơn bảy mươi mét, mớn nước sâu, đáy lại bằng, bị dòng chảy cuồn cuộn ấy đẩy tạt vào những khúc quanh gắt. Giữ được con tàu trong thủy đạo an toàn là cả một mission impossible. Rủi tàu tấp vào bờ lúc nước ròng, thì đành phơi mình ngay tử địa, chờ nước lớn.
Mọi người lặng thinh. Ông chắt lưỡi, giọng chua chát:
– Rắc rối thứ hai cũng dễ chết chẳng kém. Dòng nước ấy khoét bờ sạt lở không ngừng. Đước, cổ thụ đổ gục xuống lòng sông, trôi lang thang. Tàu đâm phải thì hoặc bẹp cửa đổ bộ, hoặc thủng vỏ, gãy chân vịt. Nhắc đến thôi đã thấy ớn.
Ông lại nhìn đồng hồ, giọng dứt khoát:
– Tới giờ rồi. Tách bến.
Trung Úy Hải bỗng giơ tay:
– Thưa, xin hỏi một câu cuối. Vì đâu con sông mang tên Bồ Đề? Có phải trên bờ có cây bồ đề?
– Trước tôi cũng nghĩ vậy, nhưng dọc hai bờ chỉ toàn đước với cổ thụ, chẳng một cây bồ đề nào. Theo một tài liệu cổ, tên này vốn do người Miên đặt: Tuk Bô Đê, nghĩa là vùng đất có con sông sâu. Người mình về sau đến khai hoang, đọc trại thành Bồ Đề.
Ông vừa dợm đứng, Thiếu Úy Được lại níu:
– Xin thêm một câu chót. Thưa, còn cái tên Năm Căn?
Hạm Trưởng đứng thẳng, tay chống bàn, vui vẻ:
– Tôi thích tính tò mò của các anh. Cũng theo tài liệu ấy, thuở khai hoang có một gia đình người Hoa đến lập nghiệp, dựng năm căn nhà vừa để ở vừa chứa hàng. Dân tứ xứ đổ về buôn bán, hẹn nhau ở chỗ “năm căn nhà”. Lâu ngày thành Năm Căn.
Ông nhìn quanh, cười tủm tỉm:
– Có ai hỏi câu kết?
***
Sau hai tiếng ủi bãi, chiếc Hàm Luông chất đầy đạn dược và lương khô, lừng lững rời bến Thành Tuy Hạ. Còi tàu rú lên một hồi dài, như nhắc tôi ghi nhớ chuyến thực tập hải nghiệp đầu tiên.
Tôi chưa được chỉ định vào nhiệm sở nào, chỉ có mặt trên đài chỉ huy để quan sát, học hỏi. Vậy mà tim vẫn đập nhanh hơn thường lệ. Trong niềm tự hào, tôi hít thật sâu hương thanh khiết của dòng Đồng Nai.
Rồi sông Nhà Bè hiện ra, mặt nước thênh thang long lanh dưới nắng chiều. Phía xa, những bồn xăng Shell khổng lồ vươn mình. Bộ Chỉ huy Đặc Khu Rừng Sát nấp dưới rừng cây, những gian nhà tôn nhà ngói lẫn trong bóng lá; lá cờ vàng ba sọc đỏ phần phật trên trụ cao.
Mũi tàu hướng vào sông Soài Rạp mênh mông, hiền hòa. Hai bên bờ, tán cây đan nhau chằng chịt thành một rừng xanh vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Gió mát lành lùa qua đài chỉ huy, đưa hồn tôi vào bức tranh thiên nhiên yên bình chưa từng biết đến.
Nhưng tàu vừa gần cửa biển, mọi thứ liền đổi tính. Dòng phù sa vàng đục nhường chỗ cho làn nước xám. Rừng xanh lùi lại nhường biển xanh. Gió nhẹ hóa thành luồng mạnh, mang theo vị mặn của đại dương.
Con tàu không còn lướt băng băng như một tấm ván trượt. Nó chồm lên, dập xuống dữ dội theo từng con sóng. Những ngọn sóng đầu tiên hất mũi tàu lên cao rồi buông cho đổ ụp xuống. Nước bị xé toạc, bọt trắng xóa hai bên mạn. Mặt tôi bị tạt ướt đẫm; đồ vật rời rạc lăn long lóc trên sàn.
Thoạt đầu, tôi còn thấy thích thú với cảm giác mới lạ. Nhưng chỉ vài phút, khi mũi tàu dăm lần lao xuống như thang máy đứt cáp, khoang bụng tôi cũng nôn nao rớt theo. Có cái gì nhen lên từ đáy dạ dày, bò ngược lên cổ họng. Tôi nuốt khan một ngụm đắng ngắt.
Rồi lệnh đổi hướng phát ra. Sóng dồn đến từ phía khác, mạnh hơn. Tàu nghiêng hẳn sang phải, rồi ngả mạnh sang trái. Đường chân trời chao đảo, như có bàn tay khổng lồ nắm lắc bầu trời.
Cổ họng nghẹn đắng, vị chua nồng dâng tận cuống lưỡi. Mặt tôi hẳn đã tái nhợt, không còn giọt máu. Tôi nghiến răng thầm nhủ: Không được. Sĩ quan mà nôn ọe trước mặt binh lính thì còn ra thể thống gì. Tôi gồng cứng cả người, các ngón tay bấu chặt thành đài, nổi gân xanh.
Anh Trung Sĩ giám lộ đứng gần liếc nhìn tôi, khóe miệng thoáng nụ cười cảm thông:
– Ai mới đi biển lần đầu cũng ói hết, Thiếu Úy ơi! Cái xô để ở góc kia. Cứ tự nhiên ói cho khỏe.
Tôi định mở miệng cảm ơn, nhưng vừa hé môi thì thứ dịch vị đáng ghét lại cuộn trào. Tôi chỉ kịp gật thật nhanh rồi gục mặt xuống. Cả bữa ăn sáng tuôn xối xả vào lòng xô.
Vừa gượng đứng dậy, con tàu lại hứng trọn một con sóng lớn. Mũi tàu hếch ngược lên trời, treo lơ lửng một khoảnh khắc đứng tim, rồi đổ sầm xuống. Tôi quay mặt đi, nén hơi. Vô ích. Mắt hoa, tai ù, bụng quặn từng cơn. Toàn thân rũ xuống như tàu lá chuối khô. Lần này tôi nôn tận lực, ra cả mật xanh lẫn mật vàng, đắng ngắt.
Anh giám lộ ân cần đưa tôi một xấp khăn giấy. Tôi lí nhí cảm ơn, vội lau mồ hôi trán và chùi vệt dơ bên mép.
Trong cơn say sóng vật vã, tôi ngước nhìn Hạm Trưởng — và lần đầu tiên, tôi thật sự cảm phục. Ông đứng hiên ngang, hai chân dạng rộng như hai chiếc đinh đóng sâu vào sàn tàu. Thân mình nghiêng đều, nhịp nhàng theo từng nhịp lắc, như ông và con tàu là một khối. Ông đăm đăm nhìn ra khơi, gương mặt bình thản, đôi mắt nheo lại như đang đọc những tín hiệu của sóng gió.
Giọng ông vang lên, trầm ấm mà ân cần:
– Thiếu Úy Bằng, xuống thay quần áo rồi nghỉ đi. Tám giờ tối lên trực phụ tá trưởng phiên, cho tới nửa đêm.
Tôi cố đứng thẳng, buột lời cảm ơn nhưng vẫn chôn chân tại chỗ. Một lúc sau, khi cơn nôn nao dịu bớt, tôi lảo đảo bước xuống thang, lần mò về giường. Tôi nằm bẹp như kẻ bất tỉnh, bỏ luôn bữa cơm chiều.
***
Phiên trực từ tám giờ đến nửa đêm do Trung Úy Quá phụ trách. Anh giao tôi việc định vị con tàu bằng radar, mười lăm phút một lần. Lý thuyết đã học ở trường nên tôi thực hành trơn tru. Hải trình từ Vũng Tàu đi Cà Mau chỉ cần hai bước: trước, dùng la bàn đo hướng ngọn hải đăng – một chấm sáng trắng lóe đều ở đông-bắc; sau, đo khoảng cách đến mũi Nghinh Phong bằng radar. Giao điểm hai đường kẻ trên hải đồ chính là vị trí của tàu.
Khi hải đăng khuất tầm sáng, tôi chuyển sang lấy các cửa sông làm mốc, cũng phương cách ấy. Qua cửa Tiểu đến cửa Đại, cửa Hàm Luông. Sóng dịu dần theo đêm, nên đến cuối phiên tôi chỉ còn thấy mỏi mệt, hết nôn nao.
Từ nửa đêm, tôi ngủ một mạch tới bảy giờ sáng. Rửa mặt tỉnh người, tôi nhởn nhơ điểm tâm bánh mì trứng chiên với ly cà phê thơm lừng. Tám giờ, tôi lại lên đài chỉ huy gặp Trung Úy Quá. Sóng gió đã êm nhiều. Tôi lại lãnh phần định vị chiến hạm.
Gần mãn phiên, đúng ngọ, con tàu bắt đầu chuyển hướng vào cửa Bồ Đề. Trung Úy Quá điện thoại báo Hạm Trưởng. Chưa đầy một phút, bóng dáng thân thuộc của ông đã hiện trên đài, cùng Trung Úy Tùng, nhận thay phiên.
Mọi người chào sau tiếng hô “nghiêm” của Trung Uy Quá. Hạm Trưởng ra dấu nghỉ, rồi bước thẳng đến bàn hải đồ. Lát sau, ông vẫy tôi:
– Thiếu Úy Bằng, đến đây.
Tôi bước tới. Ông chỉ tấm hải đồ trải rộng, nơi những đường nét nguệch ngoạc và ký hiệu chằng chịt như một thứ mật mã.
– Hải đồ sông Bồ Đề ghi nhiều ký hiệu hàng hải, chỉ đường ra vào và giang hành an toàn. Anh cần phải biết. Xuống ăn cơm cho nhanh rồi lên đây.
Tôi mạnh dạn:
– Thưa Hạm Trưởng, tôi chưa thấy đói.
– Tốt. Giám lộ có sách, anh tự học sau. Tôi chỉ nói sơ, gợi cho anh khái niệm.
Ông chỉ hình trụ đỏ:
– Phao trụ, toàn thân màu đỏ, đêm chớp đèn đỏ: đi vào cửa sông thì phải giữ nó bên mạn trái.
Ông chỉ hình gần cửa hơn:
– Phao này hình nón, toàn thân xanh, đêm chớp đèn xanh: giữ bên mạn phải. Đi sai là ra ngoài thủy đạo, là mắc cạn. Cửa Bồ Đề là cái bẫy bùn, va vào thì dính cứng.
Ông lướt ngón tay sang những ký hiệu khác:
– Đây là các phao cảnh báo vị trí nguy hiểm. Tùy hình dạng, màu sắc, chúng bảo tàu phải né sang đông, tây, nam hay bắc. Chi tiết anh nghiên cứu sau.
Ông chỉ thêm mấy chữ gần đó:
– Wk là wreck / xác tàu chìm. PD là position doubtful / vị trí khả nghi. M là mud / bùn, S là sand / cát, St là stone / đá; những con số chỉ độ sâu và dòng chảy. Nói chung, mỗi hình dạng, mỗi màu sắc đều mang một ý nghĩa riêng. Ban đầu khó nhớ, rồi quen. Nhưng chớ quên điều quan trọng: an toàn của con tàu nằm cả trong mấy ký hiệu này.
Ông đặt ống dòm lên mắt, nhìn quanh, rồi càu nhàu:
– Chúng nó lại lấy cắp. Chỉ toàn nước với nước.
Ông nói vào loa dẫn xuống phòng chiến báo:
– Máy đo chiều sâu. Cho tôi chiều sâu từng phút một. Nhắc lại: từng phút một. Hoặc mỗi khi có thay đổi bất thường.
– Đáp nhận.
Cửa Bồ Đề hiện dần trong tầm mắt. Hai bờ thu hẹp lại thành một hành lang nước hun hút. Dải rừng đước đen sẫm, dày đặc, sừng sững hai bên; thân cây thẳng tắp như những ngọn giáo từ lòng đất chĩa lên trời. Sông đục ngầu phù sa, mặt phẳng lặng đến mức đáng ngờ – không một gợn sóng, trời không một hơi gió. Không khí Cà Mau đặc quánh một thứ mùi tôi chưa từng nếm: mùi sình lầy quyện phù sa và cả tanh nồng của thủy sản rữa. Nó bám vào quần áo, dính vào da, thấm vào thịt như một con đỉa không chịu buông.
Bầu không khí trên tàu bỗng đặc lại. Những ánh mắt bắt đầu dõi vào hai bờ, theo từng gốc đước, từng cổ thụ.
Rồi mệnh lệnh đanh thép của Hạm Trưởng vang lên, xé toạc tĩnh mịch:
– Còi nhiệm sở tác chiến!
Phút chốc, tiếng còi báo động rú khắp các khoang. Bước chân rầm rập trên boong sắt. Đạn lên nòng lách cách. Tôi đứng chôn chân nơi góc đài, lồng ngực thắt lại, tim đập như trống trận.
Tôi bàng hoàng nhận ra mình đang sợ, và thầm giận mình: mới nghe còi đã sợ. Tôi cũng hiểu, sợ không chỉ vô dụng mà còn nguy đến tính mạng. Tôi hít vài hơi sâu để trấn tĩnh, cố tưởng tượng đây chỉ là buổi tập ở quân trường. Rồi tôi nhớ tờ đơn tình nguyện nhập ngũ. Ký vào đó, há chẳng phải đã lặng lẽ chấp nhận một ngày nào đó được… Tổ Quốc Ghi Ơn.
Hạm Trưởng đứng ở cánh hữu. Gương mặt rắn rỏi của ông giờ như phủ một lớp băng. Đôi mắt sắc liên tục rà quét, soi mói từng gốc cây, từng mô đất, từng chùm rễ trồi lên mặt nước.
Tôi thầm ngạc nhiên: một thi sĩ đầy chữ nghĩa, một con người lãng mạn với những vần thơ ca ngợi trùng dương, lại cũng là vị chỉ huy can trường, coi nhẹ hiểm nguy sống chết.
Ông bất ngờ quay sang tôi, giọng khô khốc:
– Thiếu Úy Bằng, xuống hữu hạm phía mũi, chỉ huy khẩu đại bác hai mươi ly. Thi hành ngay!
– Thưa rõ!
Tôi chào ông, rời đài với bước chân nặng. Ổ súng đã sẵn một Hạ Sĩ xạ thủ và một thủy thủ tiếp đạn. Tôi đeo điện thoại nội bộ – đường dây trực tiếp với đài chỉ huy.
Chiếc Hàm Luông lừng lững như một tòa nhà di động trên mặt nước. Hai bờ, rừng đước san sát, những thân cây dựng thành hai bức tường câm lặng. Không tiếng chim, không bóng người, không một dấu hiệu của sự sống. Không gian im lìm như mặt biển trước bão.
Tim tôi khựng lại khi bắt gặp một tấm biển sơn đen cắm ngay sát mép bờ, hai chữ đỏ tươi như máu: TỬ ĐỊA.
Chỉ hai chữ, giản dị, trần trụi mà tôi rợn cả người.
Đúng lúc con tàu giảm tốc để ôm một khúc quanh ngặt, cánh cửa Tử Địa mở ra.
“Coong!”
Một tiếng kêu khô khốc, đanh lạnh, vang ngay sát chỗ tôi đứng. Tôi giật bắn, vô thức thụp đầu xuống. Một viên đạn vừa găm vào tấm chắn thép của khẩu đại bác, cách đầu tôi chỉ gang tấc.
Tôi hối hả nói vào ống liên hợp:
– Đài chỉ huy, địch bắn tỉa!
Chưa kịp hoàn hồn, phát thứ hai, thứ ba nối theo. Đạn nện vào thành tàu, tóe lửa.
Giọng Hạm Trưởng sắc lạnh vang bên tai:
– Tất cả phản pháo!
Tôi tức tốc hét với xạ thủ:
– Phản pháo!
Ngay lập tức, khẩu hai mươi ly của tôi gầm lên cùng với tiếng súng cả tàu. Tiếng xé gió vang liên hồi: Đùng! Đùng! Đùng! Nòng súng rung bần bật, vỏ đạn vàng óng tung ra tứ phía như mưa. Luồng hỏa lực dữ dội trút vào hai bờ. Đước ngã đổ, nước bắn tung tóe, hòa vào khói súng. Bầu không khí trong lành của miền sông nước bỗng sặc mùi thuốc súng khét lẹt.
Vừa qua khỏi khúc quanh, con tàu tăng tốc. Động cơ gầm rú. Hai luồng sóng cuồn cuộn đua nhau tạt vào bờ. Đúng lúc ấy, Hạm Trưởng cho ngưng bắn. Im lặng đột ngột. Nhưng cái im lặng đó chưa đầy mười giây.
Một bè nuôi cá bất ngờ hiện ra ngay trước mũi. Trên bè, mấy người huơ tay la hét.
Tôi nghe Hạm Trưởng ban lệnh đổi hướng. Nhưng nước quá mạnh, con tàu quá nặng, quá to, chẳng chịu nghe lời.
Rầm!
Cả hông tàu cạ mạnh vào thành bè. Ống tre nổ giòn tan. Cá trong bè bung ra tung tóe. Hạm Trưởng hét:
– Tay lái hết bên trái!
Hông tàu rời bè, mũi quay vào bờ. Ông lại hét:
– Hết bên mặt!
Con tàu bướng bỉnh, trườn mũi lên bãi cạn rồi khựng lại như con trâu sa lầy.
– Hai máy lùi!
Máy rú to, chân vịt khuấy nước trắng xóa. Con tàu vẫn lì lợm nằm yên, bất lực.
Lại tiếng coong, coong rền vang. Một tràng trung liên địch ghim vào đài chỉ huy. Hạm Trưởng gầm lên:
– Phản pháo! Tối đa hỏa lực!
Súng lớn, súng nhỏ, đại liên, súng cối – tất cả nổ dồn như sấm rền. Hai bờ bùng cháy trong khói lửa. Đất đá văng lên trời. Cành cây rơi lả tả. Trên đài chỉ huy, tôi thấy hai nhân viên đội nón sắt in dấu hiệu Hồng Thập Tự đang leo lên khẩu bốn mươi ly. Họ đỡ một người máu thấm đỏ cả vạt quần nơi bắp đùi, dìu xuống lòng tàu, rồi lại chạy ra sau săn sóc một thương binh khác.
Trong máy nghe, Hạm Trưởng liên tục ra lệnh hầm máy:
– Tả tiến, hữu lùi!
Một phút sau:
– Tả lùi, hữu tiến!
Hệ thống chân vịt quay cuồng. Con tàu lồng lên như mãnh thú trúng bẫy, giãy giụa, rung lắc, rồi vặn mình rút khỏi bãi cạn.
Ngay khi thân tàu vừa thoát ra giữa dòng, ông lại hét:
– Hai máy tiến một. Ngưng bắn!
Tiếng súng tắt ngấm. Chỉ còn tiếng máy gầm và tiếng nước vỗ mạn.
Mãi đến khi chiến hạm vào được khúc sông rộng hơn, cơ thể tôi mới thả lỏng. Cùng lúc, hai chân rã rời như muốn quỵ xuống sàn. Tôi thở dốc; và trong hơi thở ấy, tôi thầm mừng: tử địa đã không chạm được tới mạng sống của cả con tàu.
***
Đúng ba giờ chiều, chiếc Hàm Luông cập mạn Bệnh Viện Hạm Hát Giang. Hai thương binh nhanh chóng được cáng sang phòng cấp cứu.
Thấy Hạm Trưởng bước qua Bệnh Viện Hạm, tôi lặng lẽ theo sau. Bệnh viện là hai dãy phòng rộng nối tiếp, chiếm trọn lòng tàu.
Anh thương binh thứ nhất – tôi chưa kịp biết tên – đang nằm trên giường, bả vai băng bó gọn gàng, nhưng máu vẫn thấm qua lớp băng trắng. Mặt anh tái nhợt, đôi mắt vẫn mở to, tỉnh táo. Cạnh anh là ba thương binh khác, có người còn mê man.
Bác sĩ đang bận rộn với họ.
Hạm Trưởng bước tới, đặt bàn tay rắn rỏi lên trán anh, cúi xuống thì thầm. Gương mặt đau đớn của anh bỗng giãn ra, khóe môi hé một nụ cười.
Tôi đứng nép bên cửa, không dám bước hẳn vào. Nỗi xót thương dâng lên khi tôi nhận ra anh trạc tuổi mình — mới hôm qua còn đứng bên tôi trong buổi lễ chào cờ. Do đâu viên đạn tìm anh, mà không phải tôi? Nhờ che chở nào tôi vẫn lành lặn đứng đây, nhìn anh với vết thương còn rỉ máu?
Hạm Trưởng bước sang giường thứ hai. Tôi không rõ anh này bị thương chỗ nào, chỉ thấy anh mê man, lồng ngực phập phồng yếu ớt dưới tấm ra trắng. Một chai nước biển treo cao, nhỏ từng giọt xuống ống dẫn vào cánh tay. Anh như đang chênh vênh giữa lằn ranh sống chết. Tôi chợt nhận ra mình cũng vừa đi qua lằn ranh ấy – nếu không có tấm thép chắn đạn, chưa chắc tôi còn được nằm mê man như thế.
Anh bỗng mở mắt. Môi mấp máy như muốn nói. Hạm Trưởng lại cúi xuống lắng nghe, rồi thì thầm một hồi. Ông vừa dứt lời, anh khẽ gật. Rồi đôi mắt thẫn thờ của anh bỗng chiếu vào tôi.
Như bị một lực hút, tôi bước đến bên anh. Hóa ra là Trung Sĩ Quân, người phụ tá ẩm thực của tôi trong tương lai gần. Tôi gật đầu tỏ dấu đã nhận ra anh, rồi nắm chặt bàn tay. Bàn tay lạnh, da khô ráp; nhưng cái siết của anh – dù rất nhẹ – lại vô cùng ấm áp.
Tôi mỉm cười:
– Chúc anh chóng bình phục.
Anh gật đầu, khó nhọc. Đôi mắt sáng lên một giây, rồi khép lại.
Tôi bước ra ngoài, lòng như vừa có điều gì vỡ vụn.
Hạm Trưởng trở về tàu, tập họp toàn thể thủy thủ đoàn. Ông ngợi khen mọi người đã đưa con tàu an toàn tới bến, rồi thông báo tình trạng hai nhân viên bị thương. Ông cho phép ai không phải trực được lên bờ, nhưng cấm ra khỏi vòng rào.
Tôi và Tâm cũng thăm dân cho biết sự tình. Đó là một vùng đất mang dáng dấp chi khu hơn là quận. Nhà cửa – cả trụ sở lẫn nhà dân – đều là nhà tiền chế, nằm gọn trong vòng rào quân sự; chỉ vài con đường đất nhỏ hẹp nối những khu nhà với nhau.
Tâm rủ tôi ghé một quán nhỏ ven rào. Chủ quán, người đàn bà trạc bốn mươi, niềm nở giới thiệu hai món ngon nhất: tôm và cua. Tôm vừa nướng lên đã dậy mùi ngọt ngào, thịt giòn và ngọt lịm. Cua thì đầy gạch, thịt chắc, thơm lừng – quả thực không đâu sánh bằng. Tôi ăn thả ga, bù cho những bữa cơm bỏ lỡ. Đến khi tính tiền, chỉ bằng nửa giá Sài Gòn.
Tám giờ tối, việc tiếp tế hoàn tất. Đạn dược, lương khô đã chuyển hết lên kho; quân dụng hư hỏng đã đưa xuống tàu. Hạm Trưởng ra lệnh tập họp sĩ quan.
Câu đầu tiên của ông làm tôi ớn lạnh:
– Như các anh đã thấy, việc ta đi vào, với địch, chẳng khác một lời hứa chắc chắn sẽ trở ra. Có lẽ chúng đang gắng tập trung thêm quân phục kích. Nghĩa là trận đánh lúc ra sẽ nặng gấp bội.
Ông châm thuốc, một làn khói mỏng bay lên trần:
– Ta có hai lựa chọn, tôi muốn các anh cân nhắc. Một, khởi hành ngay. Địch chưa kịp dồn quân, nhưng ta bất lợi: nước đang xuôi, khó lái, tàu dễ bị đẩy khỏi thủy đạo. Mắc cạn là thành bia cho chúng bắn. Hai, đợi đến ba giờ sáng, nước lớn. Lúc ấy dễ lái, khó mắc cạn — nhưng hỏa lực địch sẽ mạnh hơn.
Ông dừng lại, thả khói. Căn phòng im đến nghe rõ tiếng rù rù của máy điện.
Hạm Phó Đắc chậm rãi góp ý:
– Tôi có nhận xét thế này. Cả hai trường hợp, ta đều hơn địch về hỏa lực và tầm quan sát ban đêm. Trời tối, địch không thấy ta, nhưng ta thấy chúng — chúng nổ súng là lộ vị trí, hỏa lực ta diệt được ngay. Tôi chọn đi ba giờ sáng, khi nước lớn, để bảo đảm an toàn giang hành.
Hạm Trưởng nhìn quanh:
– Ý các anh?
Lần lượt, từng người tán thành Hạm Phó. Tất nhiên tôi cũng gật đầu theo số đông.
Hạm Trưởng dập tàn thuốc, nụ cười hài lòng nở trên môi:
– Tôi mừng thấy các anh cùng chọn giải pháp tối ưu. Kỳ này về bến, tôi sẽ đề cử Hạm Phó Đắc lên chỉ huy chiếc tuần duyên hạm.
Tiếng vỗ tay nổi lên. Hạm Phó cười, cúi đầu khiêm tốn.
***
Ba giờ sáng. Con tàu lại vào Tử Địa — nhưng lần này, không gian nặng hơn, đen đặc hơn.
Đúng như dự đoán, tàu vừa tiến vào khúc quanh chữ V, trận phục kích thứ hai bùng nổ. Lần này tiếng súng địch giòn giã hơn: Pằng! Pằng! Pằng!
Tàu đáp trả không chút chậm trễ. Khẩu bốn mươi ly ở mũi, hai khẩu hai mươi ly hai bên mạn, khẩu đại liên năm mươi trên đài chỉ huy — tất cả nhả đạn như mưa bão. Từng nhịp giật của nòng hai mươi ly truyền thẳng vào lồng ngực tôi như một nhịp tim thứ hai.
Bỗng những tiếng kêu hốt hoảng vang lên phía sau lái. Một xạ thủ khẩu hai mươi ly hữu hạm vừa trúng đạn, ngã xuống. Người đồng đội gào gọi y tá. Bóng hai người khiêng cáng thương xuất hiện.
Hai bàn tay tôi run run. Tôi chẳng biết chúng run từ bao giờ. Mọi cố gắng ra lệnh cho chúng ngừng đều vô ích. Chúng cứ run, run như thân cây trước bão. Cơ thể rã rời, mắt cay sè, chỉ ước được nằm xuống. Nhưng hai người lính dưới quyền vẫn đứng vững, bám chặt vị trí. Tôi gắng giữ tỉnh táo, cố không để họ thấy sự yếu đuối của mình.
Trong máy nghe, giọng Hạm Trưởng vang lên:
– Hạm Phó, cho biết tình trạng nhân viên bị thương.
Tiếng Hạm Phó:
– Nhận rõ.
Một lúc sau, giọng Hạm Trưởng lại nổi lên:
– Ngưng bắn.
Lập tức, vạn vật chìm vào tĩnh lặng. Con tàu lặng lẽ chầm chậm tiến trong bóng đêm. Tiếng ban lệnh đổi hướng vang không dứt. Cũng có lúc cành cây quét qua đài chỉ huy.
Ba tiếng sau, trời lờ mờ sáng, còi giải tán nhiệm sở tác chiến vang lên. Tôi thở phào. Nhưng chưa kịp nhúc nhích, một mệnh lệnh vọng vào tai:
– Thiếu Úy Võ Bằng, lên gặp Hạm Trưởng!
Vừa mệt, vừa lo bị khiển trách, tôi lê bước nặng nề lên đài chỉ huy.
Hạm Trưởng ngồi trên chiếc ghế sắt dành riêng cho ông, thư thả rít thuốc. Gió biển thổi lồng lộng, cuốn phăng cái nóng hầm hập và mùi sình lầy của dòng sông tử địa. Khói thuốc quyện vào sương sớm, đẹp tựa một bức thủy mặc – cái đẹp kỳ ảo sau bao ồn ào chết chóc.
Tôi chào ông, đứng yên chờ đợi, tim thình thịch đập. Tôi xét xem mình đã phạm lỗi nào. Qua hai trận, có làm gì sai chăng?
Ông rít vài hơi, nhả khói, rồi mỉm cười – nụ cười mệt mỏi mà thân thiện:
– Thiếu Úy Bằng thấy sao?
Tôi thành thật:
– Rất sợ, thưa Hạm Trưởng.
Ông gật đầu, không chút chế giễu:
– Những lần đầu tôi cũng thế. Rồi anh sẽ quen.
Ông rít một hơi thật sâu, đắm nhìn ra khơi. Rồi quay lại, chậm rãi:
– Tôi gọi anh lên, chỉ để cùng xem bình minh.
Tôi ngước nhìn. Quả thật, bình minh trên biển đẹp lạ thường. Mặt nước như dát một lớp bạc, gợn lăn tăn óng ánh vàng. Phía chân trời, vầng thái dương từ từ nhô lên khỏi lòng biển, đỏ au và tinh khôi, như thể đêm qua chưa từng có tiếng súng.
Tôi chợt hiểu lý do ông gọi tôi lên. Không phải để khen, cũng chẳng phải để phạt. Ông muốn điều cuối cùng đọng lại trong tôi, sau chuyến đi đầu đời qua tử địa, không phải là máu, là khói, là hai bàn tay run — mà là hình ảnh một bình minh.
Tôi đứng lặng bên ông, để nắng sớm rửa sạch một đêm dài. Và lần đầu tiên kể từ khi rời bến, tôi thấy lòng mình bình yên.
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét