Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Đời Thủy Thủ 1 (Vũ Thất) / Chương 10: NGHIÊNG NÓN

 

                                                     

Tôi điện thoại Hạm Trưởng theo đúng tiêu lệnh, rồi đo hướng ba đối vật cố định, kẻ giao điểm định vị chiến hạm trên hải đồ.
Mở quyển Nhật ký hải hành, tôi ghi:
“0730H. Vị trí: ngang mũi Nghinh Phong. Hướng lái 240. Hai máy tiến 4. Biển động nhẹ. Gió nhẹ. Trời trong. Đã báo Hạm Trưởng.”
Tôi gấp sổ, cất vào ngăn bàn hải đồ, rồi trèo lên ngồi trên bệ vành tròn của thành đài chỉ huy. Chỗ ấy thiếu an toàn khi biển động, nhưng vào một ngày quang đãng thế này, đó lại là nơi lý tưởng để hứng gió mát và bao quát cả biển trời lẫn thuộc cấp – vừa gần gũi vừa kín đáo.
Trong chuyến đi Hoàng Sa, tôi đi phiên chung với Hạm Phó. Một công điện đến bất ngờ:
“Hải Quân Đại Úy Lê Vĩnh Đắc được chỉ định giữ chức vụ Hạm Trưởng Tuần Duyên Hạm An Bang. Hiệu lực kể từ 10/7/1963.”
Hạm Trưởng muốn đích thân Hạm Phó truyền nghề cho tôi trước khi rời tàu. Ông đã chỉ dẫn tôi tận tình, nói theo bình dân là truyền hết nghề.
Suốt hai ngày đêm từ Đà Nẵng vào, tôi vẫn đi phiên với ông nhưng thực tế ông coi tôi như đệ tử đã thành tài, hoàn toàn giao đứt cho tôi trực phiên. Ông tỉnh bơ ngồi bất động trên chiếc ghế tựa thành đài chỉ huy. Tôi không rõ ông đang ngủ, hay đang nhớ người vợ mới cưới, hoặc cô nàng trường Sao Mai.
Thú thật, tôi lo lắm. Nhất là về đêm. Mưa gió hay không, cái tối mịt mùng ngoài khơi lúc nào cũng phảng phất một vẻ đe dọa. Chốc chốc tôi lại ngờ con tàu sắp tông phải ghe thuyền, hoặc đang lừ lừ trôi vào vùng nước cạn, đá ngầm.

Tôi nhớ mãi một đêm không trăng, tàu còn xa ngoài khơi. Đằng mũi hiện một chấm sáng nhập nhòe. Rồi thành hai chấm — một đỏ, một xanh — cùng lớn dần. Cả hai đèn cùng sáng tỏ nghĩa là con tàu trước mặt đang ngược chiều trên cùng thủy trình. Trong đầu tôi lập tức vang lên bài học vỡ lòng: xanh đối xanh, đỏ đối đỏ – ai nấy tránh về mạn phải của mình. Nhưng khi nó cứ nhắm ngay giữa mũi mà lao tới thì bẻ lái đằng nào cho phải?
Tim tôi đập dồn, lòng bàn tay đặt trên thành đài rịn mồ hôi. Tôi liếc vòng la bàn, ước lượng khoảng cách bằng con mắt còn non, rồi nghiến răng hô bẻ lái sang phải – phó cho bài học chưa kiểm chứng. Con tàu nghiêng mình, gằn máy. Mấy giây sau, dài như một quãng đời, cái khối đen khổng lồ ấy lừng lững như tòa nhà nổi, trườn qua sát đến mức tôi thấy rõ hàng đèn hành lang của nó hắt loang xuống mặt nước sủi bọt, nghe cả tiếng máy nó rền dưới chân. Tôi vừa run vừa chửi thầm: “Bộ đui chắc!”
Hết phiên, tay tôi vẫn chưa thôi run. Nhưng cũng nhờ những phen hú vía như thế, mỗi phiên trôi qua lại giúp tôi bình tĩnh hơn, vững dạ hơn, dày dạn hơn.

Hạm Trưởng lên đài chỉ huy, theo sau là Trung Úy Quá và Thiếu Úy Tâm. Quá sẽ lên Hạm Phó thay Đắc. Thường ngày, Quá cũng xuề xòa như Đắc, nhưng trong kỷ luật thì nghiêm khắc hơn.
Hạm Phó Đắc giao phiên tám giờ đến mười hai giờ cho Quá. Lập tức tôi thấy nhẹ hẳn người khi cái gánh “trưởng phiên” rời khỏi vai. Thèm một ly cà phê, bụng cũng đã đói, vậy mà tôi vẫn nấn ná ở lại để học cách đưa con tàu an toàn vào cửa sông Lòng Tào.
Lần đi Năm Căn và trở về, tôi đã học cách vào cửa sông Bồ Đề và Soài Rạp. Cả hai cửa đều cạn nhưng ít chướng ngại vật. Còn cửa Lòng Tào, thủy đạo sâu nhưng hẹp, nhiều đáy cá, cần theo hướng dẫn của hải tiêu.

Mặt biển vịnh Gành Rái đục ngầu, sủi bọt. Lớp lớp sóng bạc đầu đẩy con tàu lướt êm như xe chạy trên xa lộ. Nửa vầng mặt trời thẫm đỏ vắt trên đường viền dãy núi. Ngọn hải đăng trắng vươn lên nền trời xanh. Lưng chừng là dăm nóc nhà mái đỏ. Bên dưới, phố xá và hàng quán phơi mình trong nắng. Bãi Trước với những cây dù xám lấm tấm trên nền cát vàng.
Dăm chiếc thương thuyền bề thế rải rác buông neo, mỗi chiếc một màu. Kiến trúc thượng tầng cũng chẳng chiếc nào giống chiếc nào, như để phân biệt tàu chở hàng với tàu chở dầu.
Những hình ảnh ấy mờ dần khi hai bờ cửa sông hiện rõ. Một chiếc phao xanh nhô lên cùng dãy hàng đáy cá bên phải.
Chỉ hơn bốn tiếng nữa, sông Lòng Tào sẽ đưa tôi vào sông Nhà Bè, rồi sông Sài Gòn. Dù cập bất cứ cầu tàu nào – kể cả cầu R mãi tận Thị Nghè – thế nào tôi cũng phải ghé thăm Linda Sờ Nách. Ít ra nàng cũng giúp tôi một quãng thời gian khỏi vấn vương bóng dáng cả Tuyết lẫn Hiền.
    Đời thủy thủ của tôi, tính đến hôm nay, vừa tròn một tháng với hai chuyến đi đáng đồng tiền bát gạo. Chuyến Năm Căn nếm mùi khói lửa. Chuyến Hoàng Sa dài ngày, sóng gió. Chính chuyến này đã hun trong tôi nỗi khát khao trở lại Sài Gòn. Tôi khẽ hát: “Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!”

Hạm Trưởng quay sang tôi, giọng vui vẻ:
— Đêm qua nhớ Sài Gòn, tôi làm được bài thơ mới.
Nói xong, ông hứng khởi đọc luôn:
Anh về biển hé môi cười,
Gió lên vang động, khắp trời mây bay.
Giao thừa dường thể hôm nay,
Hồn anh rạo rực: Tết đầy trong tim.
Tôi buột miệng khen:
— Bốn câu hay quá, thưa Hạm Trưởng. “Tết đầy trong tim” là một ý lạ mà súc tích – vừa tả con tim rộn rã như tiếng pháo, vừa cho thấy niềm hân hoan gặp lại em chẳng khác nào gặp… tiền lì xì!
Mọi người bật cười. Tôi chợt lo, sợ mình lỡ miệng buông mấy lời thiếu nhã nhặn.
Giọng Hạm Trưởng vẫn bình thản:
— Nhận xét nhạy bén, sắc sảo! Võ Bằng mà làm thơ thì khỏi ai chê!
Thấy ông không giận, tôi mừng húm, nhưng vẫn tự nhủ từ nay nhất định phải cố ngậm miệng. Bởi thế, những đoạn sau ông đọc, tôi chỉ gật gù thay lời khen.
Thật ra Hạm Phó Đắc còn bạo miệng hơn tôi mà ông cũng chẳng giận. Mới rồi Đắc kể, có lần nghe Hạm Trưởng đọc thơ, ông buông lời phê: “Thưa Hạm Trưởng, nghe thơ Hạm Trưởng, tôi hứng chí muốn bắt chước. Tiếc là nghèo thi tứ, nên đành viết các mẫu tự bỏ vào nón, bốc thăm ráp lại. Không ngờ nhờ thế lại ra được một bài chẳng kém bài này!”
Dường như ông chỉ cần có người nghe, còn khen chê thì để ngoài tai. Nhưng tôi nghĩ, dù sao, trước tin Hạm Phó thuyên chuyển, hẳn ông cũng mừng.

— Thưa Hạm Trưởng, có thương thuyền ngược chiều.
Tôi nhìn về mũi tàu. Nó còn khá xa, một vệt khói nhả thành áng mây xám xịt. Gần hơn, rải rác đôi ba chiếc ghe câu.
Hạm Trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy. Cả Quá lẫn Tâm đều hớn hở: trách nhiệm nặng nề bỗng thu lại thành mỗi việc quan sát.
Hạm Trưởng hỏi tôi:
— Cái phao phía trước có ý nghĩa gì?
Tôi giật mình, nhìn kỹ. Phao hình nón, toàn thân màu xanh. Tôi đáp:
— Thưa Hạm Trưởng, mình đang vào cửa sông, nên phải bỏ phao bên tay phải.
Ông gật gù:
— Khá lắm. Nhưng nếu chiếc thương thuyền đang đi ra mà thủy đạo chỉ có một, ta phải làm sao?
— Thưa, ta chỉ cần chạy sát phao.
— Rất đúng.
Chiếc thương thuyền hẳn lớn gấp bốn lần chiến hạm. Khi nó lướt ngang, từ trên cao nhiều bàn tay vẫy chào, mấy đôi môi mấp máy như lời cảm ơn. Chúng tôi vẫy đáp lễ. Một phần chân vịt con tàu buôn quay chầm chậm trên mặt nước – xem chừng chuyến về nó chở chẳng bao nhiêu hàng.

Mặt trời đã vượt khỏi ngọn hải đăng, treo chơ vơ trên nền trời xanh dịu lất phất vài áng mây trắng. Dáng phố nhòa dần. Các chiếc thương thuyền buông neo cũng nhỏ lại. Chỉ những ngọn sóng bạc đầu vẫn sủi bọt, đuổi theo chiến hạm như còn luyến tiếc.
Tôi vươn vai, hít sâu một làn gió thơm mát, lòng bỗng sảng khoái lạ thường.
Hạm Trưởng và Hạm Phó cười vang sau một câu chuyện. Hạm Trưởng hay kể chuyện tiếu lâm thời một năm tu nghiệp ở Mỹ. Tôi cũng bỏ túi được khối chuyện vui từ hai tháng thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội, nhưng vẫn ngại – mình kể mà không ai cười thì chỉ có nước độn thổ.
Tâm bước sang đứng cạnh, tựa lưng vào thành trái đài chỉ huy. Tôi nhìn theo hướng ống dòm của anh. Chếch bên tả hạm là những hàng đáy cá chăng ngang. Cửa sông hẹp lại. Bờ đất rõ dần. Nhưng mãi sau nửa tiếng con tàu mới thật sự giã từ biển cả.
Quay nhìn phía lái, dòng sông chia hẳn ba phần: giữa là luồng nước bị chân vịt khuấy sôi, hai bên sóng giạt đều, lấp lánh. Hương rừng thoang thoảng đưa ra từ những vòm tràm, đước dọc bờ.
Một chiếc ghe vừa vượt qua mũi tàu để sang bờ trái. Đi sông thường hay bị cảnh này. Dân quê tin rằng vượt mũi tàu sẽ mang lại nhiều may mắn. Cô gái ngưng tay chèo, ngoảnh nhìn con tàu lướt ngang, rồi ngước lên đài chỉ huy. Bắt gặp những cặp ống dòm chĩa thẳng vào mình, cô cúi mặt, nghiêng vành nón lá như muốn che cả tấm thân.

Mấy câu thơ bất chợt hiện về:
Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón,
Trời mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt
Còn tia mắt anh…
Có sao đâu mà em cúi đầu từ khước?
Và mấy câu thơ ấy gợi tôi nhớ một bóng hình ngỡ đã phai mờ: Tôn Nữ Thụy Hồng.
Nàng từng đọc tôi nghe trọn bài thơ đó – bài “Nghiêng Nón” của Trần Quang Long – rồi bắt tôi học thuộc lòng, dù dài đến ba mươi câu.
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Sao mười ngón tay em bỗng cuống quýt đan nhau
Nửa vành má em thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước anh nghe chừng sai nhịp
Gió níu tà áo em bảo rằng anh đi không kịp
Nhà không xa, sao em bỗng nhanh chân?
Sao loanh quanh chẳng chịu chọn đường gần…
Tôi có tệ lắm không, khi từ ngày ra trường, suốt hai tháng chẳng viết cho nàng lấy một dòng?

Hơn hai năm trước, sau ba tháng huấn nhục, hôm ấy là lần đầu tôi được ra phố Nha Trang. Đang háo hức gặp lại Bạch Tuyết, tôi chết sững khi người chủ mới của căn nhà một mực bảo nàng đã bán nhà, dọn đi, không để lại địa chỉ. Tôi thất vọng nhưng chưa tuyệt vọng, cứ đinh ninh Tuyết vẫn quanh quẩn đâu đó trong thành phố này, trong nhà một người thân nào đó.
Cuối tuần nào tôi cũng lang thang qua con đường nhà nàng và phố Độc Lập đông người. Một hôm, tim tôi nhảy dựng khi bắt gặp phía trước một dáng đi quen thuộc – mái tóc thề óng ả buông ngang vai, cái dáng hơi hấp tấp mà vẫn uyển chuyển ấy.
Tôi rảo bước đến gần, reo lên:
— Tuyết!
Cô gái sựng lại, quay sang. Đôi mắt mở to, nửa ngỡ ngàng nửa phiền trách, đủ cho tôi biết mình đã nhầm – trước cả khi cô xoay người bước tiếp. Tôi quýnh quáng theo sau, miệng rối rít xin lỗi, mắt vẫn không rời nổi dáng người.

Cô vào nhà, đóng cửa, cài then. Tôi thu hết can đảm đưa tay nhấn chuông. May thay, bộ quân phục trắng chững chạc đã nói giúp tôi. Ba nàng cho phép tôi vào nhà. Từ đó, cuối tuần nào tôi cũng ghé, nhâm nhi chén trà sen, nghe ba  nàng – vốn là cựu dân biểu – luận bàn thế sự, và lén thu vào trí nhớ khuôn mặt hài hòa, kiêu sa của nàng.
Khuôn mặt ấy cứ thế lấn dần, xóa đi khuôn mặt tươi vui, hiền hậu của Tuyết.
Nhưng Hồng chẳng cùng Tuyết “một nòi tình đồng điệu” hồng hồng tuyết tuyết. Tuyết chiều tôi, tôi thích đi đâu nàng theo đó. Còn Hồng, tôi rủ gì cũng một mực chối từ; tuần nào cũng chỉ lặng lẽ châm trà, thỉnh thoảng tặng tôi một nụ cười bằng ánh mắt, cho đến lúc tôi cáo từ. Họa hoằn, khi ba nàng vắng mặt, chúng tôi mới nói với nhau đôi câu chuyện văn chương – và mỗi lần đọc thơ, giọng Huế của nàng lại trầm xuống ở cuối câu, nghe như một tiếng thở dài.
Chỉ chừng ấy thôi mà nàng giữ được chân tôi. Cũng nhờ vậy, suốt hai năm thụ huấn, tôi nắm thời sự thế giới vững đến mức nếu có thua, họa chăng chỉ thua… ba nàng.
Giờ nghĩ tới Hồng, tự dưng bên tai tôi vẳng lại cái giọng Huế trầm trầm ấy, và thoảng đâu đây mùi trà sen trong phòng khách lặng lẽ có nàng ngồi xoay nhẹ chén trà. Đến bao giờ tàu mới có dịp ghé lại Nha Trang? Và đến bao giờ tôi mới hết lu bu để rảnh trí thảo cho nàng một bức thư ngọt ngào? Cũng đã đến lúc không nên quá tệ bạc…

Tâm hạ ống dòm, nghiêng mặt nói khẽ:
— Lúc ăn sáng, Hạm Trưởng thông báo có công điện cấm trại một trăm phần trăm. Nhưng ông chỉ thị Hạm Phó chia quân làm hai phân đội, mỗi phân đội đi bờ một ngày; hai hôm sau, tùy tình hình ông tính tiếp. Hôm nay thứ Ba, tao đã nài nỉ ỉ ôi Hạm Phó cho hai đứa mình vào phân đội đi bờ.
Tôi còn mải mơ màng bóng dáng Thụy Hồng nên chưa bắt kịp hàm ý của Tâm. Thứ Ba hay cuối tuần thì can hệ gì đến cấm trại? Cấm trại thì ngày nào tôi cũng ôm con tàu, còn tệ hơn đi biển – đi biển ít ra còn biết chắc mình đang thật sự xa Sài Gòn.
Thấy tôi lặng thinh, Tâm tiếp:
— Thứ Ba, Tuyết đợi tụi mình.
Tôi nói khẽ như năn nỉ:
— Mày chịu khó đi một mình. Tao phải gặp Hiền. Bữa Hiền xuống tận tàu mời, vậy mà đến nay tao vẫn chưa tới
Nhắc tên nàng, trước mắt tôi hiện ngay cái dáng Hiền hôm xuống bến: tà áo dài màu trắng tươi mát, khuôn mặt nhí nhảnh ửng hồng.
Tâm trố mắt:
— Chưa tới? Lần về bến vừa rồi, chẳng phải mày bảo không thể đến chỗ Tuyết vì phải sang nhà Hiền ăn cơm tối là gì?
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi buông lời dứt khoát:
— Tâm này, có điều tao định nói với mày từ lâu, từ cái lần mày đưa tao đến nhà Tuyết. Lẽ ra hôm đó tao đã phải từ chối. Nhưng tao tò mò, muốn nhìn lại Tuyết một lần. Và đã nhìn rồi, trong lòng chẳng còn gì vương vấn nữa. Vì vậy lâu nay hễ mày rủ là tao thoái thác.

Tâm đăm đăm nhìn tôi:
— Nói thẳng đi. Mày biết tao ghét quanh co. Mày giận tao chuyện gì?
— Tuyệt đối không. Chỉ là tối thứ Ba vốn là của riêng hai đứa mày, có trước khi tao xen vào. Tao đã một lần không phải với mày, giờ không muốn thêm lần nữa.
Tâm im lặng, mấy ngón tay siết lấy cái ống dòm, mắt nhìn ra khúc sông loang nắng. Một lúc, anh mới lên tiếng, giọng dò xét:
— Nhưng Tuyết yêu mày.
Tôi nhìn thẳng vào mắt bạn:
— Tao không còn yêu Tuyết.
Nói xong, chính tôi cũng nghe câu ấy vang lên hơi rỗng, như một điều mình đang cố tin hơn là đã tin. Tôi nói tiếp, nhanh hơn:
— Tao đang túi bụi vì Hiền. Vả lại, cứ như lời Tuyết lần gặp rồi, nàng sẽ yêu người nào cưới nàng làm vợ. Nàng cần một mái ấm. Mày ra trường trước tao, mày dựng được cái mái ấm ấy cho nàng.
Tâm lại lặng đi. Anh đưa tay vịn thành đài, rồi thở hắt:
— Thú thật, gặp lại Tuyết, tao đã tính chuyện cưới. Nhưng gặp lại mày, tao bỏ ý định đó. Thiếu gì người, việc gì phải cưới người bạn mình yêu, hay người yêu bạn mình.
Tôi mỉm cười:
— Vậy tao nói lần cuối. Tao không còn yêu Tuyết. Mày cứ yên lòng mà cưới nàng.
Tâm nhìn tôi thêm một thoáng, như để chắc chắn, rồi khẽ gật. Anh cười, nhẹ nhõm:
— Ừ. Tao cũng mệt cảnh ăn ngủ triền miên trên tàu rồi. Có một tổ ấm thật sự vẫn… ấm hơn.
Tâm vừa cười vừa nhìn con tàu không giảm tốc, lượn theo một khúc quanh khá gắt. Sóng dồn dập vỗ ven bờ khi phần lái tạt sát hàng cây. Tôi đoán Hạm Trưởng hẳn đang nôn nóng về với gia đình.

Liếc sang ông, tôi bắt gặp đôi mắt ông đang chiếu tướng vào mái tóc bờm xờm của tôi. Đã đôi lần trong bữa ăn, ông cũng nhìn tóc tôi y như vậy. Phúc cho đời tôi là gặp được một ông Hạm Trưởng mang tâm hồn thi sĩ: tóc ông thường để dài, chỉ vừa quá mức ấn định cho quân nhân một chút. Còn tóc tôi thì lẽ ra phải hớt từ tháng trước.
Tôi không cố tình bê bối, nhưng công việc dồn dập khiến tôi quên cả chăm chút bản thân. Cái nhìn của ông lần này khá nghiêm, như một lời nhắc cuối cùng. Tôi đành đi tìm ngay anh nhân viên hớt tóc, cốt để ông kịp thấy – trước khi rời tàu – rằng tôi đã đón nhận ánh mắt ấy rõ ràng như đã thấm thơ ông.
Con tàu bỏ lại sau lưng cả một vùng cửa biển: cô gái nghiêng nón, những hàng đáy cá, mùi tràm đước. Lạ thay, giữa lúc sắp gặp lại Sài Gòn, lòng tôi lại vấn vương chính cái vành nón nghiêng của một người dưng, hay đúng hơn, của một người tôi đã bỏ quên suốt hai tháng nơi Nha Trang. Tôi tự hứa, chuyến này lên bờ, việc đầu tiên là viết thật dài cho Thụy Hồng.

Mặc xong bộ tiểu lễ, tôi trèo lên tả hạm, đứng dàn chào cùng toàn thể thủy thủ đoàn. Chiến hạm vừa qua khỏi thương cảng, bắt đầu tiến về cột cờ Thủ Ngữ.
Tiếng còi từ đài chỉ huy ré lên một hồi dài.
Chúng tôi đồng loạt đưa tay chào thủ đô Sài Gòn yêu dấu.
Đường Nguyễn Huệ nhộn nhịp, lao xao tận tòa Đô Chính. Đường Tự Do thân thiết của tôi. Tượng đài Hai Bà Trưng vẫn sừng sững nhắc nhớ công đức tiền nhân, mặc những lời xầm xì. Bộ Tư lệnh Hải quân uy nghiêm, sân cờ trấn bốn khẩu súng đồng; trên cao, lá đại kỳ Việt Nam Cộng Hòa phất phới. Những đôi tình nhân thì thầm bên ghế đá công viên càng tô thêm vẻ mộng mơ cho dãy biệt thự sang trọng bên kia đường Bạch Đằng. Hai hàng cây dọc đại lộ Cường Để giao cành thành một mái cung hun hút.
Tất cả vẫn còn nguyên vẹn như hình ảnh của ngày đi.

Vũ Thất

(Còn tiếp)






Không có nhận xét nào: