Trên đường từ Năm Căn về Sài Gòn, bóng hình Tuyết và Hiền cứ cặp kè nhau trong tâm trí tôi. Hễ nhớ người này, người kia lại hiện ra, như hai bóng cây đổ chung một mặt hồ – chập chờn, đan xen, không phân biệt. Vậy mà khi chiếc Hàm Luông vừa cập bến Bạch Đằng, dòng hoài niệm ấy liền vỡ tan.
Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!
Chỉ cần bước lên lề đường Tự Do, thế giới của những giai nhân dập dìu mở ra, kéo dài tận đại lộ Lê Lợi. Nhưng hôm nay, tôi chẳng thiết tha ngắm nhìn. Sau bốn ngày say sóng, ói mửa, tôi đâm thèm một tô hủ tiếu Thanh Xuân – nước trong vắt, thịt thái mỏng, tôm cua với trứng non – và một ly cà phê sữa đá đậm màu.
Lòng đường rực nắng, bóng cây đổ chập chờn xuống dòng xe cộ xuôi ngược. Lề rộng lát xi măng ô vuông, mát rượi nhờ những ban công kéo dài suốt phố. Dù đang giữa ban ngày, những bảng hiệu của nhà hàng, khách sạn, vũ trường vẫn nhấp nháy đủ màu, như những con mắt không bao giờ ngủ.
Tôi bước chậm, cảnh vật đong đưa nhẹ như khi còn trên tàu. Đã chín năm từ ngày Pháp rời đi, nhưng con đường này vẫn giữ dáng vẻ của một thuộc địa cũ – lịch lãm, sang trọng và đầy xa cách. Còn người cùng trang phục đã đổi thay. Những chiếc áo dài truyền thống và áo đầm dạ hội trang nhã dần biến mất. Giờ đây là những tấm áo khoét cổ sâu, váy ngắn hơn cả tuổi người mặc. Các nàng vẫn đẹp – thậm chí rực rỡ hơn – nhưng đó là thứ đẹp pha trộn, không còn là Sài Gòn nguyên vẹn.
Được nửa đường, một tấm biển huỳnh quang xanh đỏ chớp tắt đập vào mắt tôi – “Hollywood Snack Bar”.
Tôi biết mùi vị của những quán bar này. Hai tháng trước, trên chiếc USS Procyon thực tập hải nghiệp, chúng tôi ghé hải cảng Sasebo của Nhật. Dọc con đường từ cổng quân sự kéo dài đến trung tâm thành phố, snack bar mọc san sát, đèn nhấp nháy, những cô gái kimono xinh đẹp vẫy gọi.
Người bạn Mỹ giải thích: lương của chiêu đãi viên chỉ là tượng trưng, “Japanese tea” mới là nguồn thu chính. Nghĩa là ngoài việc chuốc khách uống nhiều rượu cho chủ quán, họ phải nâng niu khách để được nhiều “tea“. Nâng niu có nghĩa là bạo dạn, cho phép khách cọ quẹt nhưng không bao giờ vượt qua một giới hạn bất thành văn: các cô chỉ tiếp chứ không đi. Chuyện đó, nếu có, là từ tình cảm. Nơi chốn khách chọn, tiền bạc tùy hảo tâm. Lẽ thường, muốn chiếm cảm tình thì cần nhiều thì giờ, nghĩa là phải chi Japanese tea dài dài.
Tôi nhìn kỹ hai bên đường. Hollywood Snack Bar là quán rượu độc nhất trên trục đường. Chừng như nó sinh ra là để đón lính Mỹ từ khu cư xá Brinks cùng dãy Hôtel Continental, và từ Tòa Đại sứ Mỹ ở Chợ Cũ đổ về. Từ ngạc nhiên tôi chuyển sang thán phục: Việt Nam mình quả thức thời! Đâu có thua gì Nhật…
Dưới bóng một cây sao vỏ sần sùi, tôi ngước nhìn tấm biển nhấp nháy, như đang vẫy gọi riêng tôi. Snack Bar ở Sài Gòn hẳn chẳng khác gì ở Sasebo – cũng ánh đèn mờ, cũng mùi khói thuốc và cũng các nàng xinh đẹp nhưng trong áo dài.
Tôi chợt có ý nghĩ táo bạo. Biết đâu một cô gái dễ thương nào đó cảm thông với đời lính biển, tặng tôi một đêm không ngủ? Tốn vài trăm bạc lẻ cũng là món hời. Tôi mặc cả với lương tâm. Và như mọi cuộc thương lượng chốn trần ai, phần thắng luôn nghiêng về phía những ánh đèn màu.
Tôi đẩy cửa bước vào.
Cảm giác ngột ngạt y lần đầu tôi vào snack bar ở Nhật: lờ mờ, bí bách, ngộp mùi khói thuốc, nước hoa, và một thứ hương vị đặc trưng của chốn ăn chơi. Điệu nhạc Blue mơ hồ rỉ ra từ trần nhà, lan tỏa trong không gian mát lạnh. Ở quầy bar tỏa ánh sáng vàng ấm, hai gã lính Mỹ đang tán tỉnh một cô gái. Những dãy bàn dọc tường chìm trong bóng tối, nơi tiếng cười đàn bà lẳng lơ lấn át cả tiếng đàn ông.
Tôi leo ngồi lên chiếc ghế cao đầu quầy, gần cửa, xa hai tên Mỹ. Cô gái bỏ khách bước đến, nở một nụ cười duyên dáng:
– Hello, my dear! What can I do for you?
Tôi ngắm cô gái trẻ đẹp, nhỏ nhắn, khuôn mặt trái xoan, đôi môi son đỏ hình trái tim, đáp bằng tiếng Việt:
– Bộ tôi giống tụi Yankee lắm sao?
Cô nàng nhìn tôi, tỉnh bơ tiếp tục tiếng Mỹ:
– Ninety-nine per cent!
Tôi nhăn mặt. Mỹ, Việt một trời một vực! Muốn đuổi khéo chăng? Chê người bản xứ ít tiền? Còn đang tìm một câu thâm thúy để xỉa xói thì cô nàng bật cười khúc khích:
– Không có ý gì đâu. Tại em thấy anh giống tên Mỹ hay đến tán tỉnh em. Tóc húi cua, mắt sắc, da rám nắng – y chang.
Tôi nhìn kỹ hơn. Phấn son khéo, nhưng không giấu được những nét mặn mà hơn tuổi hai mươi ba của tôi. Tiếng “em” ngọt ngào làm tôi mát dạ. Bộ đồ đầm một mảnh màu trứng gà khoét cổ sâu, vạt váy chỉ qua nửa đùi – đáng đồng tiền bát gạo.
Cô nàng nghiêng đầu, giọng nhỏ nhẹ như rót mật:
– Anh uống chi?
– Để xem em có chi.
Tôi đảo mắt lên kệ rượu. Cách bày biện y hệt bên Nhật: những ô kính hình chữ nhật, mỗi ô một loại rượu mạnh, chai đặt cạnh chai mời mọc.
Tôi còn nhìn hàng thấp nhất, dành cho bia các loại, thì giọng cô nàng ngọt lịm:
– Thưa anh, tụi Mỹ hay gọi Budweiser, người Việt mình thì thường chọn VSOP. Anh thích loại nào?
VSOP là rượu mạnh đắt đỏ, quá sức túi tiền. Nhưng để đáp lễ câu tiếng Mỹ, tôi tỏ vẻ sành điệu:
– A ‘Bud’, please!
Mắt cô nàng bỗng sáng lên:
– Ôi, em mê cái tiếng “please” của anh. Nghe thật ngọt ngào, chứ không thô kệch như tụi Mỹ. Lại còn gọi Bud thay Budweiser nữa! Anh đích thị là bậc cao thủ. Tiểu muội xin bái kiến… đại ca!
Hai chữ “đại ca” thốt ra từ bờ môi mọng đỏ, nghe mát lòng. Tôi ngây ngất:
– Trên chốn giang hồ, chưa có bậc đại ca nào lại không biết mỹ danh tiểu muội của mình.
Cô nàng cúi xuống nhặt chai bia, môi bặm lại để giấu nụ cười. Tiếng “tách” vang giòn, nàng đẩy chai bia lạnh về phía tôi, trịnh trọng:
– Vô Danh đại ca! Khách giang hồ quen gọi tiểu muội là… Linda Sờ Nách!
Nàng bật cười ngặt nghẽo. Tôi cố nén, chắp tay:
– Vạn hạnh! Vạn hạnh!
Một lính Mỹ gọi Linda. Nàng quay mặt vào khoảng tối cuối phòng:
– Mai Liên ơi, ra tiếp đại ca của chị!
Từ bóng tối, một hình dáng mảnh mai bước ra.
Em còn rất trẻ, chừng mười bảy mười tám. Dưới lớp phấn son vụng về, nét mộc mạc quê mùa còn hiện rõ trên gương mặt thanh tú. Bộ đồ đầm ngắn cũn cỡn khoác trên thân hình mảnh dẻ trông tội nghiệp như một nhánh cây non chưa từng quen dông bão. Em rụt rè ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi, hai tay đặt ngay ngắn trên đùi, mắt hướng nhìn kệ rượu. Cái dáng vẻ khép nép, thánh thiện ấy hoàn toàn lạc lõng giữa chốn trần gian ô trọc này.
Em khẽ nghiêng mặt, thanh âm nhỏ nhẹ, mang theo chất giọng miền Tây đặc sệt:
– Anh Hai khỏe hôn?
– Cám ơn em. Em làm ở đây lâu chưa?
– Dạ, nửa tháng.
– Sao nghỉ học sớm vậy?
Mai Liên lặng đi một lúc, giọng thật thà đến xót xa:
– Anh là bạn chị Linda nên em mới nói. Nhà em ở Bến Tre, có mấy mẫu ruộng. Ba em không chịu đóng thuế cho Việt Cộng nên năm ngoái bị họ xử tử. Má em sợ, dắt tụi em trốn lên đây. May có chị Linda là hàng xóm, giúp em đi làm.
Lời kể nghẹn ngào thắt lại trong tim tôi. Chiến tranh không chỉ bắt người cầm súng, nó còn hất văng những gia đình lương thiện ra khỏi đất đai, đẩy những cô gái tuổi đời còn quá trẻ vào quán bar đầy cạm bẫy. Tôi nhìn Mai Liên, và chợt thấy ngượng – mình đến đây tìm vui trên nỗi đau của một cô bé đáng lẽ còn cắp sách đến trường.
Tôi nhấp một ngụm bia đắng, nuốt trôi niềm xấu hổ.
Mai Liên ngập ngừng:
– Anh cho em xin một Saigon tea, nghen?
Tôi gật đầu. Mai Liên báo Linda. Nàng nhanh nhẹn bước về phía cuối quầy, pha chế một thứ thức uống mà tôi đoán cùng công thức với “Japanese tea“: trà loãng pha si-rô, đựng trong một chiếc ly thủy tinh lấp lánh, giá một loại rượu quý. Nàng đặt ly trà trước mặt Mai Liên, nháy mắt với tôi như một người chị gửi gắm đứa em thơ:
– Con nhỏ này hiền khô hà, đại ca thương nó nghen. Nó mới lên thành phố, còn ngơ ngác như nai vàng.
Lời dặn dò buông lơi nhưng thẳng vào tim tôi. Ở Nhật, những cô gái bar giữ được cái kiêu hãnh: tiếp nhưng không đi. Còn ở đây, những người con gái bị chiến tranh bứng rễ như Mai Liên, cái thế chủ động có thể sụp đổ hoàn toàn. Bơ vơ giữa đô thị, hoặc sống còn hoặc chết đói. Sự lựa chọn với họ, đã thành một xa xỉ phẩm.
Tôi quay sang Linda:
– Còn tiểu muội, lưu lạc chốn giang hồ này bao lâu rồi?
Linda cười giòn – tiếng cười của một người đã quá quen với câu hỏi ấy:
– Lâu rồi, đại ca ơi. Lâu đến nỗi tiểu muội quên mất mình từng có cái tên Việt.
– Tiểu muội là chủ nhân tửu điếm này?
– Phải. Mấy năm trước em làm bồi bàn cho nhà hàng Continental, gặp một gã đại úy Mỹ. Hắn bỏ tiền mướn nơi này cho em đứng tên. Thu nhập chia hai.
– Còn tình cảm… có chia hai?
Linda nhún vai, giọng chùng xuống:
– Thì hai bên cùng có lợi. Có điều, làm nghề này, tuyệt đối không được thương ai thật lòng. Phải luôn nhớ lính Mỹ đến rồi đi. Hết hạn là bay về nước. Có đứa ngây thơ tin lời hứa cưới, để rồi mòn mỏi trông ngóng một kẻ biệt tăm. Có đứa mang bầu, chỉ biết ngồi khóc trên chiếc ghế đại ca đang ngồi.
Tôi nhìn xuống ghế mình, bất giác xót xa.
– Còn tiểu muội, nếu tên Mỹ về nước?
– Đến nay em mua được căn nhà cho ba mẹ, để dành được chút đỉnh. Hắn hứa: khi về nước, không đòi lại tiền đặt cọc căn phố này.
Nàng dừng lại, đăm đăm nhìn tôi:
– Nhờ vậy, hôm nay tiểu muội mới được gặp đại ca…
Tôi bật cười:
– Nghĩa là…
Linda gật đầu, tiếng cười khô khốc:
– Nghĩa là Linda vẫn là Linda. Hôm nay vui, đại ca là người đầu tiên tiểu muội tâm sự.
Phía đầu quầy, một gã lính Mỹ ra dấu gọi thêm rượu. Linda vội bước sang. Tôi quay sang Mai Liên. Em vẫn lặng lẽ nhấp từng ngụm “Saigon tea“. Ánh đèn từ biển hiệu ngoài đường xuyên qua ô kính, loang loáng trên khuôn mặt non nớt, lúc nhuộm xanh, khi phủ đỏ bầm. Mai Liên có nét dễ thương, thánh thiện, kiểu gì rồi cũng sẽ có khối lính Mỹ si mê. Tôi cầu mong em đủ cứng cỏi để chống lại những lời đường mật, và Linda sẽ truyền cho em chút “nghề” để tự bảo vệ mình.
Định hỏi thêm thì cánh cửa bật mở. Một toán bốn gã lính Mỹ ồn ào kéo vào, mang theo mùi mồ hôi và nước hoa cạo râu. Bầu không khí lập tức thay đổi. Mấy cô chiêu đãi viên từ các góc tối hiện ra, nụ cười bật sáng như bóng đèn. Những tiếng “hello” lảnh lót, tiếng “you’re number one” cùng những tràng cười vang. Một cô sà vào lòng gã lính to con nhất, nhận lấy nụ hôn nhiệt thành. Trong tiếng nhạc êm dịu, cái guồng máy mưu sinh trở nên sôi động, trơn tru, thuần thục và chuyên nghiệp đến giật mình – hơn cả Nhật.
Tôi quay sang Mai Liên, hỏi nhỏ:
– Tên Mỹ của em là gì?
Em cười:
– Cũng Mai Liên. Chị Linda bảo tên em dễ gọi với tụi Mỹ nên khỏi đổi.
– Em nên đến với họ.
Mai Liên vẫn ngồi yên, hai tay đan vào nhau:
– Chị Linda dặn em tiếp anh.
Tôi buông một câu nhẹ tênh:
– Cám ơn em, nhưng anh về bây giờ.
Mai Liên đứng dậy, hai tay vuốt lại vạt áo. Nụ cười gượng gạo thoáng qua, em bước về phía toán lính. Tôi nhìn theo, thấy dáng đi chông chênh trên đôi giày cao gót chưa quen, lắc lư như chiếc Hàm Luông giữa sóng lớn. Trước khi khuất hẳn vào vùng tối, em chợt ngoái lại nhìn tôi lần cuối – cái nhìn yếu ớt và tuyệt vọng của một người sắp lặn xuống dòng nước thẳm, cố ngoái lại nhìn bờ lần chót. Rồi bóng tối ập đến, nuốt chửng dáng hình nhỏ bé.
Tôi dốc chai bia, uống một hơi. Vị đắng và ngọt buồn lan ra. Tôi ngoắc Linda tính tiền. Nàng vội đến, nhìn chai bia còn một nửa, ngạc nhiên:
– Giận hả? Mai Liên có gì không vừa lòng đại ca?
– Không. Mai Liên dễ thương lắm.
Linda nhìn tôi đăm đăm:
– Bia cũng chưa cạn, thậm chí tiểu muội cũng chưa biết đại ca là nhân vật nào trong chốn giang hồ.
Trong nghề của nàng, một khách bỏ đi khi rượu chưa cạn là có nghĩa không trở lại. Nhưng tôi đã hết muốn uống. Tô hủ tiếu Thanh Xuân hấp dẫn hơn. Tôi nhìn bảng giá, đặt tiền lên quầy, rồi nhảy khỏi ghế.
– Đại ca nhất định về?
– Đến lúc phải về rồi, tiểu muội.
Linda đưa trả tôi xấp tiền:
– Cho đại ca thiếu, hôm nào trở lại tính luôn.
Tôi cười, không nhận:
– Sẽ trở lại. Số tiền đó tặng Mai Liên. Chúc tiểu muội gặp nhiều may mắn.
Tôi ra cửa. Linda theo sau, vẫy tay:
– Tái kiến! Đêm đêm đại ca đừng quên nhớ tiểu muội.
Cánh cửa khép lại, luồng nắng chiều gay gắt của Sài Gòn đập thẳng vào mắt tôi, chói lòa. Tôi đứng lặng dưới hiên, nheo mắt chờ thích nghi với ánh sáng thật của cuộc đời.
Sải bước theo phố, tôi nghĩ về Linda. Nàng khéo léo, biết điều. Dù đó có thể là một cái bẫy giữ khách, tôi cũng chẳng ngại bước vào bẫy khi thấy cô đơn. Vài chai bia, đấu láo cùng tiểu muội, hẳn đủ lãng quên nỗi quạnh hiu của đời lính biển.
Tôi bỗng hướng về Mai Liên, về câu chuyện của em. Cha bị xử tử, mẹ dắt díu con trốn chạy. Cô gái tuổi đời mười tám đang bước vào chốn phù hoa với đôi giày cao gót chưa quen. Tôi chẳng giúp được gì ngoài ly Saigon tea. Tưởng vào snack bar giải buồn, rồi lại thêm buồn!
Tôi quẹo qua đường Tôn Thất Thiệp, tiếp tục sải bước. Nắng chiều Sài Gòn phủ trên các mái ngói. Hình ảnh tô hủ tiếu Thanh Xuân bốc khói với quả trứng non cùng ly cà phê sữa đá lại hiện ra.
Cùng lúc, một câu hỏi chợt đến: tôi về đâu cho qua đêm nay?
Vũ Thất
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét