BIỆN ĐẠO (BÀI 7) ĐẠO KHỔNG: HỌC VỚI MỤC TIÊU GIÚP ÍCH XÃ HỘI GIÚP NGƯỜI HỌC THÀNH TỰU TÀI NĂNG VÀ ĐỨC HẠNH
Tác giả: Ogyu Sorai Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
***
Lời thưa trước
Bài này có nội dung dài
thứ 2 sau bài 22 trong 25 bài của Biện Đạo. Ngoài ra, giáo thụ Nishida Taichirô đã chịu khó nghiên cứu các tài liệu mà Sorai trích dẫn hoặc có thể
đã tham khảo. Người dịch cho rằng đây là thông tin đáng quý nên đã cố gắng tìm
đến nguyên văn và biên dịch lại để cung cấp đến quý độc giả cơ hội khi muốn tìm
hiểu thêm chi tiết, đồng thời để thấy mức độ học rộng hiểu nhiều của Sorai. Do
đó, số trang cho bài này trở nên rất dài, mong được thông cảm.
Ở đây người dịch thử dùng cách diễn
tả của toán học để tóm tắt ngắn gọn ý chính của mỗi đoạn để quý độc giả có
thể nhanh chóng nhớ lại nội dung mà không phải mất thời giờ đọc.
BÀI 7
Đạo
Khổng xem đức nhân (= biết lo việc an
dân) quan trọng nhất
Đạo Khổng lấy đức nhân làm to lớn (quan trọng) nhất. Tại
sao vậy? Bởi vì đức nhân thể hiện ra (cho thấy cụ thể) hết nội dung của đạo tiên vương. Đạo tiên vương là đạo
an dân (an thiên
hạ) (tạo cho dân cuộc sống hạnh
phúc, hòa bình và thịnh vượng). Mặc dù nội dung đạo tiên
vương bao gồm rất nhiều lĩnh vực nhưng mục đích quy tụ lại của đạo là chỉ để thực
hiện việc an dân (= nhân).
Cơ
sở của đạo Khổng là kính thiên mệnh
(=nhiệm vụ an dân của trời giao phó)
Cơ sở của đạo Khổng (tức đạo an dân) là
kính thiên mệnh (tôn trọng việc trời bảo phải làm mà việc trọng yếu nhất là an
dân). Nếu như thiên mệnh bảo ta làm thiên tử (vua
cả nước), hoặc làm chư hầu
(vua nước nhỏ, người đứng đầu của 1 vùng) , hoặc làm đại phu (chức quan lớn của cả nước, như bộ trưởng ngày nay)
thì trời cho ta có bề tôi (cấp dưới cùng phụ giúp thực
hiện nhiệm vụ) và dân (ý nói trời cho ta chào đời
trong các gia tộc của vua, chư hầu và quan đại phu).
Nếu như mệnh trời bảo ta làm người sĩ (chức
quan nhỏ hơn đại phu hoặc người có học thức để phục vụ xã hội) thì trời cho ta dòng họ (tôn tộc) và vợ con. Tất cả đều chờ ta lo cho họ được sống an vui
hạnh phúc. Ngoài ra, người sĩ, đại phu (nguyên văn không viết nhưng bao gồm cả chư hầu)
là những người được trời giao phó giúp vua thực hiện thiên chức an dân (phục vụ xã hội) (1). Do đó, đức nhân
(phục vụ xã hội) phải là đức cao nhất đối với đạo
của người quân tử (tức là đạo của những người được giao cho thiên chức an dân). Hơn nữa, gần gũi trông nom nhau (tương thân), thương yêu nhau (tương ái), giúp nhau cùng phát triển (tương sinh), giúp nhau đạt được mục đích (tương thành), giúp đỡ nhau làm việc cho tốt (tương phụ), nuôi dưỡng bồi đắp nhau (tương dưỡng) , chỉnh sửa nhau (tương khuôn) , giúp nhau khi hoạn nạn (tương cứu) là bản tính bẩm sinh của con người
(a). (Chúng ta nên nhớ rằng nhờ có bản tính
này mà con người còn tồn tại đến ngày nay trong điều kiện khắc nghiệt của tự
nhiên. Ngày nay sự tiến bộ của khoa học và kỹ
thuật đã làm cho con người có khuynh hướng quên đi điều căn bản này nhưng ngẫm
nghĩ kỹ lại sẽ thấy không sai.)
Nhân là đức để đủ tư cách làm người
(giải thích của Mạnh tử)
Do đó, Mạnh tử nói: “Nhân仁 là đức để đủ tư cách làm người (nhân dã giả nhân dã仁也者人也). Kết hợp con người và đức nhân lại với nhau là đạo
làm người.” (2) . Tuân tử
nói “Quân君 (vua) là quần 群” là người giỏi tụ họp được số đông người
(quần) (Quân
giả quần dã 君者群也)
(3). Vì vậy, đạo làm người
không phải chỉ nói về 1 cá nhân của con người mà chắc chắn là nói cho tập hợp của
hàng vạn ức con người hợp nhau lại. Bây giờ hãy nhìn xem trong xã hội có ai sống
riêng rẻ mà không sống chung với người khác không?
Đạo
tiên vương kết hợp và phát huy được bản tính con người là thân yêu nhau cùng
giúp nhau sinh sống và phát triển
Sĩ, nông, công, thương đều tương trợ nhau để sinh
sống. Nếu không tương trợ nhau thì không thể nào sinh tồn được. Mặc dù là hạng
người trộm cắp nhưng chắc chắn họ cũng phải có đồng bọn. Bởi vì nếu không có đồng
bọn (không tụ họp chung lại như vậy) thì
họ không thể nào sinh tồn được. Người có khả năng kết hợp, thống lãnh được hàng
vạn ức con người là vua (quân). Đạo mà có thể kết hợp được hàng vạn ức con người
và phát
huy được bản tính thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển
là đạo
tiên vương.
Học đạo
tiên vương là để có được đức trong con người của mình (thành đức ư ngã). Có được đức bằng việc học đạo tiên vương là người có đức nhân (nhân nhân) (Nên lưu ý, có được đức của đạo tiên vương mới là nhân
nhân, chứ không phải có loại đức nào khác cũng là nhân nhân, bởi vì nội dung của đạo tiên vương là đào tạo, hình
thành đức nhân ở người học. Thí dụ có
tài đức nhưng chỉ phục vụ cho bản thân thì không phải là nhân nhân. Do đó đạo tiên vương xem nhân là chí đại).
Học
với mục tiêu giúp ích xã hội giúp người học thành tựu được tài năng và đức hạnh (Nhân (= giúp đời) → Tài + Đức)
Người sĩ (người học để phục vụ xã hội) muốn học đạo tiên vương để có được đức nhưng đạo tiên vương lại bao
trùm nhiều lĩnh vực. Trong khi đó bản tính bẩm sinh (hoặc năng khiếu) của con người lại đa dạng có
nhiều loại. Do đó, nếu như người học
biết nhận thức rõ rằng đạo tiên vương cốt yếu hướng về việc xây dựng xã hội được
an vui mà để hết sức lực khả năng của bản thân hướng về nhân (tức là học với mục đích giúp ích xã
hội) (4) thì ai cũng có thể thành tựu được 1 hay
vài lĩnh vực trong đạo tiên vương mà lĩnh
vực đó gần với bản tính bẩm sinh (hoặc năng khiếu) của mình (5). Thí dụ,
trong các đệ tử của Khổng tử, Trọng Do (tự là Tử
Lộ) thì dũng cảm (dũng), Đoạn Mộc Tứ (tự là Tử
Cống) thì thông thái (đạt), Nhiễm Cầu (tự là Tử Hữu) thì giỏi nhiều kỹ năng (nghệ) (6). Mỗi
người đều thành tựu 1 loại tài năng,
đủ để gia nhập vào nhóm của người có đức nhân (b), và khả năng của
họ đủ để phục vụ cho việc an dân. Về việc thành tựu đức thì giống như (đức) thanh bạch của Bá Di và Thúc Tề, (đức) ôn hòa của Liễu Hạ Huệ, (đức) chịu đựng được trọng trách của
Y Doãn (7). Tất cả đều không cần phải thay đổi bản tính của mình mà
không có trở ngại để trở thành người có đức nhân (nhân nhân). Nếu như người học không biết dùng tâm sức học hướng về nhân
(tức là học mà
không có mục đích để giúp ích xã hội) thì cả tài
và đức
đều không thành tựu. Đó là trường hợp của các học phái khác. Do lý do này mà học
phái của Khổng tử xem trọng và truyền dạy (đức) nhân.
Đức nhân, ngoài yêu thương (ái) cần phải có ơn huệ (trạch) cụ thể đi kèm (nhân≈ ái + trạch)
Lòng trắc ẩn (không
nở lòng bỏ qua người đang bị hoạn nạn) (8) là
tình thương yêu mà Mạnh tử dùng để
giải thích đức nhân. Bởi vì thuyết tính thiện (Mạnh
tử chủ trương bản tính bẩm sinh con người là thiện)
phải căn cứ vào tâm nên ông phải dùng tình thương yêu mà giải thích đức nhân.
Tuy nhiên dù có lòng tương yêu nhưng không thể đem ơn huệ đến được cho người hoặc vật (nghĩa
là giúp ích cụ thể) thì có thể gọi nhân (có đức nhân)
không? Do lý do này, Mạnh tử mới phải chủ trương thêm việc quản trị dân chúng bằng
đức nhân (nhân chính) (9).
Các hậu Nho không phát hiện ra
việc Mạnh tử chủ trương tính thiện là để khích lệ con người,
và họ lại cho rằng ở mặt nỗ lực hướng về nhân, không có học thuyết (chủ trương) nào thích hợp hơn của Mạnh tử (Ý Sorai ám chỉ Chu Hy và Itô jinsai) (10).
Cho nên họ chủ trương làm cho lòng trắc ẩn mạnh lớn thêm để hoàn thành đức nhân
của thánh nhân. Phải nói chủ trương này là ý tưởng hoang đường, không biết phận
mình (bởi vì để có được đức nhân trong con người của
mình không phải dễ dàng như vậy). Người đưa ra chủ trương
trên (tức Jinsai) lại nói thêm rằng Phật
giáo có nhân nhưng không có nghĩa (11). Tuy nhiên, Phật
giáo không có đạo an dân thì làm sao có thể nói là có đức nhân?
Mặc tử (12) lại cho rằng ở đạo tiên vương không có gì cao hơn đức nhân,
và nghĩ rằng nhân có thể thay thế hết được mọi thứ khác. Đúng là “Đức
vĩ đại của trời đất là (đức) sinh”
(cho ra đời , cho sống) (13),
và nhân
cũng là đức vĩ đại của thánh nhân nhưng Mặc tử không hiểu rằng mặc dù nhân
là đức vĩ đại nhưng cũng chỉ là 1 thứ đức. Nếu như đức của trời đất chỉ tóm thu về đức sinh thì
tại sao là có thêm mùa hạ, mùa thu và mùa đông (tức
2 mùa gây khó khăn cho sự sống). Nếu đức của thánh nhân chỉ tóm thu vào đức nhân thì tại sao lại có các thứ đức như dũng, trí, tín, nghĩa (b)…Mạnh tử đưa ra nhân và nghĩa
để đả phá chủ trương của Mặc tử là đúng (14). Tuy nhiên, bởi
vì đem nghĩa nói chung ngang hàng với nhân nên đức nhân
từ đó trở thành thứ đức nhỏ! Chủ trương
đức
nhân là to lớn của khi xưa đã đi đâu rồi! (Có
lẽ vì lý do này mà người đời sau quên đi đạo Khổng là đạo an dân, chỉ hạn định
đạo Khổng như đạo tu thân của cá nhân. Thật đáng tiếc!)
Tống
Nho bỏ qua mục đích thực tiễn của đạo tiên vương mà chỉ chú trọng lý lẽ khi giải
thích ý nghĩa của nhân仁
Tống Nho lại muốn kết hợp cả 2 trường hợp “lớn” và “nhỏ” nói trên của
đức
nhân nên đặt ra phân loại bằng 2 từ vựng chuyên ngôn 専言(hoặc thống ngôn統言) và thiên ngôn偏言
(15) Chuyên ngôn dùng để chỉ trường hợp đức nhân
bao gồm hết tất cả các đức khác như nghĩa,
lễ
(theo Sorai lễ
và nghĩa không phải là đức), trí.
Thiên
ngôn dùng để chỉ trường hợp nhân đi chung với các đức khác (thí
dụ, khi nói nhân nghĩa). Họ mong rằng bằng cách
này có thể tránh sự đối nghịch lẫn nhau khi sắp xếp lời dạy của Khổng tử và lời
dạy của Mạnh tử chung với nhau. Đó là chủ
trương của phái Lý học (tức học phái của Trình tử và Chu tử, của Tống Nho) (16).
Họ bỏ qua cái thực tiễn mà các tiên vương dùng để an dân, họ chỉ muốn sự rõ
ràng ý nghĩa ở mặt ngôn ngữ! Việc làm của họ đủ để người đời hiểu rõ đạo tiên
vương, đạo Khổng hay sao?
Đạo tiên vương bao quát nhiều lĩnh vực. Ở đây thử nêu ra giải thích vài nội
dung đặc biệt (đặc
dị). Trong việc
quản trị dân chúng việc cấm bạo động, quân sự và hình
phạt là việc đưa đến giết người,
những nội dung này có thể gọi là (đức) nhân không? Tuy nhiên, những việc
này cần để an dân (d).
Cần
chọn thứ đức thích ứng với bản tính mà tu dưỡng cho thành đạt với mục
đích phục vụ xã hội được an vui = “Cứ ư đức,
y ư nhân”
Nội dung dạy của đạo tiên vương trải rộng trong nhiều lĩnh vực. Trí
tự nó để chỉ sự thông minh, sáng suốt (trí), dũng tự nó là để chỉ sự
can cảm, không sợ sệt (dũng), nghĩa tự nó để chỉ sự thỏa đáng của
đạo làm người (nghĩa), nhân tự nó để chỉ sự lo an vui của xã hội (nhân), chắc chắn không thể trộn lẫn với nhau.
Tuy nhiên, với điều kiện tiên quyết (tiền đề) tuyệt đối không đối nghịch, chống đối
lại đạo tiên vương thì có thể nói là trí,
dũng và nghĩa chung với nhân. Thí dụ, Khổng tử nói “Hãy nắm
giữ vững đức gần với bản tính của
mình làm cơ sở nền tảng (cứ ư đức拠於德) để tu tập bồi dưỡng, đồng
thời lấy mục tiêu phục vụ xã hội cho xã hội được an vui mà điều chỉnh nội dung
tu tập, bồi dưỡng của bản thân (y ư nhân依於仁)” (17) (e).
Mỗi người cứ vào (nắm giữ vững chắc)
bản tính bẩm sinh của mình và không để mất thứ đức thích ứng (với bản tính của bản thân). Đức của bản tính bẩm sinh
của con người thì có nhiều thứ (đa đoan), tất cả các thứ đức này đều không gây ra trở ngại cho (đức) nhân. Chỉ bởi vì không
nuôi dưỡng thứ đức thích ứng với bản tính cho
đến mức trọn vẹn nên đức thích ứng với bản tính đó chống chọi, đối lập với đạo.
(Bởi vì mục tiêu của đạo là an dân, nên nếu không
nuôi dưỡng đức tương ứng với bản tính vì mục tiêu này mà chỉ vì lợi ích riêng tư cho mình thì đức
này sẽ đối lập với đạo).
Phương pháp nuôi dưỡng đức thích ứng với bản tính là y vào
nhân
(y ư nhân) và vui chơi (du)
(f) với nghệ. (Nên nhớ lục nghệ gồm có: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số; trong đó lễ, nhạc là
trọng yếu). Ý nghĩa của y 依 giống ý nghĩa của y
trong câu thanh y ư vịnh (âm thanh nương tựa vào sự ngân dài) (18). Âm
thanh của tiếng hát cùng âm thanh của nhạc cụ và sự ngân dài của lời hát chắc
chắn phải nương tựa, phối hợp (y)
lẫn nhau. Tương quan của trong đục, của nhịp điệu (tiết
tấu)
cũng vậy, và tương quan này gọi y. Y ư nhân cũng giống như vậy.
Mặc dù mỗi người cứ vào đức (thích ứng với bản tính) của mỗi người nhưng tu
dưỡng đức đó theo đạo an dân của tiên vương mà không
nghĩ đến việc vi phạm thì mỗi người có thể hoàn thành được đức thích ứng với bản tính bẩm sinh của mình. Cách dạy của đạo Khổng
là như vậy.
Giải thích nhân của Tống Nho chẳng khác gì với Phật
giáo
Thông thường đạo tiên vương tức đạo Khổng đều có thể dùng hoặc để quản lý, vận hành cho mọi sự việc
nhưng phương châm quan trọng là nuôi dưỡng để trưởng thành và phát triển lớn
lên (g). Tuy nhiên, người đời sau (ám chỉ Tống Nho), bằng hiểu biết trước mắt
của họ, mọi việc đều muốn giải quyết nhanh chóng bằng đức nhân. Do đó, họ phải cấp
tốc nhảy vọt lên tầng cấp giải thích sự việc bằng lý lẽ (lý) (19). Suy
xét đến cùng thì học thuyết lý này (tức lý học) không khác gì với lý luận
pháp
thân (chân
lý vĩnh cửu bất diệt) của Phật giáo (20). Thật đáng buồn làm sao!
Tóm
tắt ý quan trọng
- Đạo Khổng xem đức nhân (= biết lo việc an dân) to lớn
nhất.
- Cơ sở của đạo Khổng là kính thiên mệnh (=lo việc
an dân).
- Nhân là đức để đủ tư cách làm người (giải thích của Mạnh
tử).
- Quân (vua,
lãnh tụ) là người có năng lực tụ hợp (quần) số đông người (giải
thích của Tuân tử).
- Đạo tiên vương kết
hợp và phát huy được bản tính con người là thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh
sống và phát triển của con người.
- Học với mục tiêu giúp ích xã hội giúp người học
thành tựu được tài năng và đức hạnh
(Nhân (= giúp đời) → Tài + Đức).
- Đức nhân, ngoài yêu thương (ái) cần
phải có ơn huệ (trạch) cụ thể đi kèm (nhân≈
ái + trạch).
- Tống Nho bỏ qua
mục đích thực tiễn của đạo tiên
vương mà chỉ chú trọng lý lẽ khi giải
thích ý nghĩa của nhân仁.
- Cần chọn thứ đức thích ứng với bản tính mà
tu dưỡng cho thành đạt với mục đích phục
vụ xã hội được an vui = “Cứ ư đức, y
ư nhân”.
- Giải thích nhân của Tống Nho chẳng khác gì với Phật giáo.
Nguyễn
Sơn Hùng
Dịch
xong ngày 10/5/2026
Xem lại và bổ sung ngày 13/6/2026, 26/7/2026
Nhận
xét
(a) Vào thời điểm hiện
nay, tức thời điểm mà khoa học và kỹ thuật cùng với khả năng sinh kế của con người
tương đối cao, người dịch nghĩ rằng ít người nghĩ rằng những đặc tính Sorai nêu
ra ở đây là bản tính bẩm sinh của con người. Nhưng nếu trở lại thời mà tổ tiên
con người khi còn sơ khai nếu con người không có bản tính này thì liệu con người
còn có thể sống tồn tại đến ngày nay không? Chắc chắn là không. Thêm vào đó, nếu
xem xét những việc làm của Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, vua Nghiêu, vua Thuấn
chúng ta sẽ hiểu thêm điều này. Những vị vua này chịu khó truyền dạy con người
những tài năng hiểu biết của họ với mục đích gì? Chẳng phải để giúp xã hội con
người có thế sống ấm no và tiếp tục tồn tại sao?
Nội dung giải thích nhân của Mạnh tử và quân của
Tuân tử quá ngắn gọn nên khó hiểu nhưng người dịch nghĩ rằng điều 2 ông muốn
nói đến là các tiên vương căn cứ trên các bản tính con người mà đặt ra đạo, và
truyền dạy cách sinh hoạt và giáo dục người dân để xã hội con người sống an
vui.
(b) Nên lưu ý ở đây chỉ nói các đệ tử của Khổng tử đủ tư
cách gia nhập vào nhóm của người có đức nhân chứ không nói họ đã có đức nhân.
Bởi vì khi có người hỏi Khổng tử các học trò ông như Nhiễm Ung (Trọng Cung)
(chương 4), Tử Lộ, Nhiễm Cầu, Công Tây Xích (chương 7 thiên 5 Công Dã Tràng, Luận
Ngữ).có đức nhân không, ông trả lời: “không biết”.
(c) Sorai chủ trương lễ và nghĩa không phải là đức
nhưng không hiểu tại sao lại liệt kê
nghĩa vào đây!
(d) Sorai không trả
lời trực tiếp nhưng viết “nhiên然” (tuy nhiên) nên người dịch cho rằng câu trả lời là “không phải là nhân” nhưng các việc này là điều cần thiết để an dân.
(e) Câu này rất khó hiểu. Căn cứ vào nội dung thu thập được
khi đọc và suy nghĩ các bài viết của Sorai, người dịch nghĩ rằng phải hiểu như
sau mới hợp lý.
Trước hết cần nên nhớ rằng nhân cũng là đức, thế tại sao Khổng tử
nói “cứ
vào đức, y vào nhân”. Ý nghĩa của cứ và y khác
nhau như thế nào? Thú thật người dịch vẫn chưa hiểu rõ điểm khác nhau của 2 từ
này. Chữ Hán của cứ viết bằng bộ thủ (tay) để chỉ sự nắm bắt. Chữ Hán của y viết bằng bộ nhân (con người). Ở thời điểm này, người dịch cho rằng cứ
cũng có nghĩa là nắm bắt để làm điểm tựa nhưng chỉ có 1 chiều, đó là con người nắm bắt loại đức gần với bản tính của
mình. Trong khi y có nghĩa 2 chiều: đức gần với bản tính (giả sử là trí)
phải tu tập sao cho có lợi ích cho xã hội, nghĩa là căn cứ vào nhân,
đồng thời nhân cũng phải nhờ trí mới đạt được mục đích an dân của nhân,
đó là chiều thứ 2.
(f) Tại sao đối với nghệ phải du游 (vui chơi)? Ở thời điểm hiện tại người dịch vẫn chưa có tự tin là
hiểu đúng nhưng nghĩ rằng có thích thú vui chơi và nhờ thích thú mới tự
nhiên bền bỉ chịu cực tập luyện nhiều lần và lâu dài đồng thời tìm hiểu
làm thế nào để có thể thực hiện tốt hơn, nhờ đó nghệ (kỹ năng, kỹ thuật) càng
ngày càng cao, càng điêu luyện hơn.
(g) Nên lưu ý đây là phương châm giáo dục trọng yếu của đạo
tiên vương tức đạo Khổng. Do đó, đạo tiên vương tích cực dùng người
tài đức và không dùng người bất nhân (chương 3 thiên 4 Lý
Nhân sách Luận Ngữ) mà không giết hại họ, chờ cho họ tự ý thức tu sửa.
Nhận
xét tổng thể
(1) Người dịch nghĩ
rằng trong bài này Sorai đã nêu ra được các đặc điểm rất quan trọng sau đây của
đạo tiên vương, tức đạo Khổng:
- Mục đích của đạo là để an dân nên lấy nhân làm đầu.
- An dân là thiên chức của những người lãnh đạo
bao gồm người sĩ (giới trí thức) hướng dẫn người dân thông thường, đó cũng là
mệnh lệnh của trời giao phó cho họ (thiên mệnh).
- Học là chọn lĩnh vực thích hợp với
bản tính mà học tập tu luyện nhưng phải nhắm tới mục tiêu phải học tập, tu
tập như thế nào để có thể phục vụ ích lợi
cho xã hội con người thì mới có thể thành tựu tài đức thật sự. Do đó
câu cứ
ư đức, y ư nhân rất quan trọng cho việc học. Đạo Khổng tôn trọng việc phát triển bản tính, năng khiếu chứ
không cưỡng ép người học như thường bị hiểu lầm!
- Phương châm chủ yếu của đạo là
nuôi dưỡng để trưởng thành và phát triển thêm lên, chứ không phải diệt trừ
những gì đối nghịch với đạo.
- Mục đích an dân (nhân) cần các thứ đức khác hiệp lực
mới đạt được mục đích nhưng đồng thời các
thứ đức phải có mục đích là an
dân thì mới thành tựu thật sự đúng với ý nghĩa. Bởi gì đức
mà gây tổn hại cho con người không phải đức.
- Đạo Khổng cho rằng sự đa dạng của đức là cần thiết không như Mặc tử hoặc Tống Nho muốn tóm tắt vào 1 thứ đức duy nhất để dễ hiểu rồi
đưa tới việc các học phái tranh luận chống đối hoặc bài trừ lẫn nhau, từ lúc
nào cũng không hay biết!
(2) Chủ trương của Sorai cho rằng: “Bản tính con người là tương thân, tương ái, tương sinh, tương phụ,
tương dưỡng, tương khuông, tương cứu” đáng để chúng ta suy ngẫm để thực hiện
với mục đích xây dựng xã hội hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng (từ vựng của Matsushita Kônosuke) ngay cả trong thời đại hiện
nay.
Ghi
chú
(1)
Trong chương 3 thiên 10 Vạn Chương hạ sách Mạnh Tử
viết:
“Nhiên chung ư thử
nhi dĩ hỹ. Phất dữ cộng thiên vị dã, phất dữ trị thiên chức dã, phất dữ thực thiên lộc dã. Sĩ chi tôn hiền giả dã,
phi vương công chi tôn hiền dã.”
然終於此而已矣,弗與共天位也,弗與治天職也,弗與食天祿 也。士之尊賢者也,非王公之尊賢也。
Tạm
dịch
(Trong nội dung trả lời của Mạnh tử đối với câu hỏi của học trò tên Vạn
Chương về cách ứng xử với bạn, sau khi kể lại cách ứng xử của vua Bình Công của
nước Tấn (nước lớn) đối với bạn ông tên Hợi
Đường, phần kế tiếp như sau) Thái độ của Bình Công đối với bạn như người hiền (người có tài đức) thì không xấu nhưng tiếc là cách ứng
xử này chỉ có vậy thôi. Bình Công không
dùng Hợi Đường để cùng có địa vị mà trời ban cho, không cùng phân chia nhau nhiệm vụ mà trời giao phó, không cùng
phân chia nhau bổng lộc mà trời cho. Cách ứng xử của Định Công đối với Hợi Đường
chỉ là cách tôn kính của người sĩ đối với người hiền chứ không phải cách tôn
trọng của vương công đối với người hiền. (Phần còn lại của chương, Mạnh
tử bình phẩm cách ứng xử của vua Nghiêu đối với ông Thuấn mới là cách tôn trọng
của vị vua đối với người hiền)
Trong Mạnh Tử Chú Sớ của Triệu Kỳ趙 岐(~201, chính trị gia, học giả đời hậu
Hán) và Tôn Thích孫奭(962-1033, kinh học gia thời
Bắc Tống) chú thích: “Vương công tôn hiền,
đương dự cộng thiên chức hỹ” 王公尊賢,當與共天職矣。(Vua và chư hầu tôn trọng người hiền thì phải cùng với
người hiền chia sẻ nhiệm vụ an dân mà
trời giao phó)
(2)
Chương 16 thiên 14 Tận Tâm hạ, sách Mạnh Tử viết:
孟子曰:仁也者,人也;合而言之,道也。
Mạnh Tử viết: “Nhân dã giả,
nhân dã. Hợp nhi ngôn chi, đạo dã.”
Tạm
dịch
Mạnh Tử nói “Nhân là đức để đủ tư cách làm người. Kết hợp
con người và đức nhân lại với nhau là đạo làm người.”
Trong Mạnh Tử Chú Sớ của Triệu Kỳ
và Tôn Thích chú thích:
“Năng hành nhân ân giả, nhân dã. Nhân dự
nhân hợp nhi ngôn chi, khả dĩ vị chi hữu đạo dã.”
能行仁恩者,人也。人與仁合而言之,可以謂之有道也。
Tạm
dịch
“Ai có thể thực hiện được nhân và ân thì
có tư cách làm người.”
Sách Ngụy Tôn Thích Sớ viết:
Cái nhân phi nhân bất lập,
nhân phi nhân bất hành, hợp nhân dự nhân ngôn chi, tắc nhân đạo tận hỹ.
蓋人非仁不立、仁非人不行、合仁与人言之、則人道尽矣。
Tạm
dịch
Con người mà không có (đức) nhân thì không đủ tư cách là con người,
nhân
mà không có con người thì không thực hành được. Do đó, kết hợp con người và nhân
thì mới đúng là đạo.
Giải thích của Mạnh Tử Chú Sớ giống
như chủ trương của Sorai, đức nhân cần phải có ơn huệ cụ thể đi kèm. Giải thích
của Ngụy Tôn Thích Sớ giải thích lý
do kết hợp giữa nhân và con người. Theo Nishida Taichirô, khi giải thích nhân giả nhân dã仁者人也 trong sách Trung Dung, Sorai viết:
人生有相親相愛之心、而以合群為其道、故孟子釈此言曰、合而言之道也。
Nhân sinh hữu tương thân
tương ái chi tâm, nhi dĩ hợp quần vi
kỳ đạo, cố Mạnh tử thích thư ngôn viết, hợp nhi ngôn chi đạo dã.
Tạm
dịch
Trời sinh ra con người có tấm lòng tương thân tương ái, và lấy sự hợp quần
sống chung làm đạo làm người. Do đó, để giải thích ý nghĩa này Mạnh tử nói hợp
là đạo. Giải thích này nhất trí với nội dung giải thích trong bài.
Người dịch cho rằng giải thích của Sorai là thỏa đáng hơn hết nếu chúng ta
nhớ lại thời con người còn sơ khai như thời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế nếu
con người không hợp quần để sống chung
thì làm sao còn có thể tồn tại đến ngày nay.
Giải thích như Ngụy Tôn Thích Sớ là đúng theo lý luận nhưng không đủ bởi vì
nào chỉ phải đối với nhân, đối với những thứ đức khác như trí,
dũng, tín...nếu không có con người
thì còn có ý nghĩa gì để luận bàn!
(3)
Thiên 9 Vương
Chế sách Tuân Tử viết:
君者,善群也。群道當,則萬物皆得其宜。
“Quân giả, thiện quần dã.
Quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi.
Tạm
dịch
“Vua là người giỏi tụ họp (thống lãnh) được nhiều người. Đạo thống lãnh người thỏa đáng thì mọi vật đều được thích
đáng (nghi)”
Trong
thiên 12 Quân Đạo sách Tuân Tử cũng viết:
君者,何也?曰:能群也。
“Quân giả, hà dã? Viết: năng quần dã.”
Tạm
dịch
“Vua là gì? Đáp: Là giỏi thống lãnh”.
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
(4)
Chương 6 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:
子曰:我未見好仁者,惡不仁者。好仁者,無以尚之;惡不仁者,其為仁矣,不使不仁者加乎其身。 有能一日用其力於仁矣乎?我未見力不足者。蓋有之矣,我未之見也!
Tử viết: “Ngã vị kiến hiếu nhân giả, ố bất nhân
giả. Hiếu nhân giả, vô dĩ thượng chi. Ố bất nhân giả, kỳ vi nhân hỹ, bất sử bất
nhân giả gia hồ kỳ thân. Hữu năng nhất nhật dụng kỳ lực ư nhân hỹ hồ? Ngã vị kiến lực bất túc giả. Cái hữu
chi hỹ, ngã vị chi kiến dã.”
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Ta chưa thấy ai thật ham điều nhân và ai thật ghét điều bất
nhân. Người thật ham điều nhân thì không cho điều gì hơn điều nhân; người thật
ghét điều bất nhân thì khi làm điều nhân không để cho điều bất nhân vướng vào
mình. Có ai trọn ngày tận lực làm điều nhân chăng? Ta chưa thấy ai không đủ sức làm điều nhân cả. Hoặc có chăng mà ta chưa
thấy.”
(5)
Trong Tựa
(序)Tiển
Vương Tú Tài, Hàn Dũ viết:
吾常以為孔子之道,大而能博,門弟子不能遍觀而盡識也,故學焉而皆得其性之所近;其後離散分處諸侯之國,又各以所能授弟子,原遠而末益分。
Ngô thường dĩ vi Khổng
tử chi đạo, đại nhi năng bác, môn đệ tử bất năng biến quan nhi tận thức dã, cố
học yên nhi giai đắc kỳ tính chi sở cận;
kỳ hậu ly tán phân xử chư hầu chi quốc, hựu các dĩ sở năng thụ đệ tử, nguyên viễn
nhi mạt ích phần.
Tạm
dịch
“Tôi luôn luôn cho rằng đạo Khổng to lớn mà bao trùm phạm vi rộng. Các đệ tử
không thể nào có thể thấy hết nội dung hiểu biết của ông. Do đó, các đệ tử ông
học được nội dung gần với bản tính bẩm
sinh (năng khiếu) của họ. Sau đó, các đệ tử này ly tán phân chia đến các nước
của chư hầu và truyền thụ sở trường của họ cho các đệ tử của họ. Gốc khởi đầu vốn
đã cách xa nên khi truyền đến đời sau lại càng cách xa hơn.”
(6)
Chương 6 thiên 7 Ung Dã sách Luận Ngữ viết:
季康子問:仲由可使從政也與? 子曰:由也果,於從政乎何有?曰:賜也可使從政也與?曰:賜也達,於從政乎何有?曰:求也可使從政也與?曰:求也藝,於從政乎何有?
Quý Khang Tử vấn:
“Trọng Do khả sử tùng chính dã dư?” Tử viết: “Do dã quả, ư tùng chính hồ hà hữu?” Viết: “Tứ dã, khả sử tùng chính dã
dư?” Viết: “Tứ dã đạt, ư tùng chính
hồ hà hữu?” Viết: “Cầu dã, khả sử
tùng chính dã dư?” Viết: “Cầu dã nghệ,
ư tùng chính hồ hà hữu?”
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
Quý Khang tử hỏi: “Thầy Trọng Do (Tử Lộ) có thể tòng sự chính trị (tức làm
quan đại phu) được không?” Khổng tử đáp: “Trọng Do là người quyết đoán, tòng sự
chính trị có gì mà không được?” Hỏi: “Thầy Tứ (Tử Cống) có thể tòng sự chính trị
được không?” Khổng tử đáp: “Tứ thông hiểu sự lý, tòng sự chính trị có gì mà
không được?” Hỏi: “Thầy Cầu (Nhiễm Hữu) có thể tòng sự chính trị được không?”
Đáp: “Cầu tài nghệ, tòng sự chính trị có gì mà không được?”
Trong chương 6 thiên 5 Công Dã Tràng
sách Luận Ngữ viết:
子曰:道不行,乘桴浮於海,從我者,其由與?子 路聞之喜。 子曰:由也,好勇過我,無所取材。
Tử viết: “Đạo bất hành. Thừa
phu phù vu hải, tòng ngã giả, kỳ Do dư?” Tử Lộ văn chi hỷ. Tử viết: “Do dã, hiếu dũng quá ngã, vô sở thủ tài.”
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Đạo của ta không thi hành được, ta sẽ cưỡi bè vượt biển (đi
nước ngoài, có thể trỏ Triều Tiên) người theo ta có lẽ là anh Do chăng? Tử Lộ
nghe vậy mừng. Khổng tử nói tiếp: “Anh Do hiếu dũng hơn ta, nhưng ta
chưa có tài liệu (gỗ) để làm bè.”
(7)
Chương 1 thiên 10 Vạn Chương hạ sách Mạnh Tử viết:
孟子曰:伯夷,聖之清者也;伊尹,聖之任者也; 柳下惠,聖之和者也;孔子,聖之時者也。孔子之謂集大成。
Mạnh Tử viết: “Bá Di thánh
chi thanh giả dã. Y Doãn thánh chi nhiệm giả dã. Liễu Hạ Huệ thánh chi hoà giả dã. Khổng Tử thánh chi thời giả dã. Khổng Tử chi vị tập đại thành.
Tạm
dịch
Mạnh tử nói: “Bá Di là người đặc
biệt trong sạch liêm khiết trong các thánh nhân. Y Doãn là có tinh thần
trách nhiệm mạnh mẽ trong các thánh nhân. Liễu Hạ Huệ là người có tinh
thần hài hòa với người đời trong các thánh nhân. Khổng tử là người không
thiên lệch, sống chính đáng theo những cái tốt của đương thời trong các
thánh nhân. Do đó ông là người tập hợp được mọi thứ đức.
(8)
Chương 6 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh
Tử viết:
惻隱之心,仁之端也;羞惡之心,義之端也;辭讓 之心,禮之端也;是非之心,智之端也。人之有是四端也,猶其有四體也。有是四端而自謂不能者,自賊者也。
“Trắc ẩn chi tâm,
nhân chi đoan dã, tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi
đoan dã; thị phi chi tâm, trí chi đoan dã. Nhân chi hữu thị tứ đoan dã, do kỳ hữu tứ thể dã. Hữu thị tứ đoan, nhi tự vị
bất năng giả, tự tặc giả dã.
Tạm
dịch
(Mạnh tử nói) “Lòng (tinh thần) trắc ẩn là đầu mối (mầm mống) của nhân.
Lòng biết xấu hổ là đầu mối của nghĩa. Lòng biết nhường nhịn là đầu
mối của lễ. Lòng biết phân biệt phải trái là đầu mối của trí.
Con người có 4 đầu mối này giống như thân thể có 2 tay và 2 chân. Có 4 đầu mối
này mà tự cho mình không thể thực hiện được nhân, nghĩa, lễ, trí là tự hại mình vậy.
Nhận
xét của người dịch
Đọc kỹ câu trên chúng ta thấy rõ ràng Mạnh tử có ý khuyến khích người đời cố
gắng có được nhân, nghĩa, lễ, trí chứ người
bình thường làm sao có đủ được 4 thứ trên.
Trong chương 6 thiên 11 Cáo Tử thượng
sách Mạnh Tử viết:
惻隱之心,仁也;羞惡之心,義也;恭敬之心,禮也;是非之心,智也。仁義禮智,非由外鑠我也,我固有之也,弗思耳矣。故曰:求則得之,舍則失之。
Trắc ẩn chi tâm, nhân dã; tu ố chi tâm, nghĩa dã; cung kính
chi tâm, lễ dã; thị phi chi tâm, trí dã. Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước
ngã dã; ngã cố hữu chi dã. Phất tư nhĩ hỹ. Cố viết:
“Cầu, tắc đắc chi; xả, tắc thất chi.”
Tạm
dịch
Lòng trắc ẩn là nhân, lòng biết hổ
thẹn là nghĩa, lòng biết cẩn trọng,
tôn trọng đối tượng là lễ, lòng biết
đúng sai là trí. Nhân, nghĩa, lễ, trí không phải do sự rèn luyện từ bên ngoài mà vốn
có sẵn trong con người. Chỉ là do con người không nghĩ đến thôi. Do đó mới nói “Tìm
đến thì chắc chắn được, bỏ qua không tìm thì mất đi.”
Nhận
xét của người dịch
Rõ ràng vì muốn thắng tranh luận với Cáo tử mà Mạnh tử đi quá trớn làm cho
người thường có thể hiểu rằng chỉ cần nghĩ đến là có thể có được nhân, nghĩa, lễ, trí! Làm gì có việc dễ
dàng như vậy. Ở điểm này Mạnh tử không đáng là bậc á thánh! Khi tranh luận nên
lưu tâm điều này!
(9)
Trong chương 1 thiên 7 Ly Lâu thượng
sách Mạnh Tử viết:
堯舜之道,不以仁政,不能平治天下。 今有仁心仁聞而民不被其澤,不可法於後世者,不行先王之道也。
Nghiêu, Thuấn chi đạo, bất
dĩ nhân chính, bất năng bình trị thiên hạ. Kim hữu nhân tâm, nhân văn, nhi dân
bất bị kỳ trạch, bất khả pháp ư hậu thế giả, bất hành tiên vương chi đạo dã.
Tạm
dịch
Đạo Nghiêu Thuấn nếu không phải là chính
sách vì dân thì không thể quản trị xã hội được an vui. Ngày nay trong các chư
hầu có người được cho là người nhân
hoặc là người có lòng nhân
nhưng dân chúng không có được ơn huệ
của họ. Do đó chính sách quản trị của họ không thành mẫu mực cho đời sau, là bởi
vì họ không thực hiện đạo tiên vương.
Nhận
xét của người dịch
Ở phần trước của chương Sorai có nói chỉ có lòng nhân mà không có ơn huệ cụ thể (trạch) thì không phải là nhân
có thể ông căn cứ vào nội dung này và chú thích trong Mạnh Tử Chú Sớ của Triệu Kỳ và Tôn Thích (Xem hạng mục (2) của Ghi Chú).
(10) Trong Chu Tử
Ngữ Loại quyển 53 viết:
嘗思之:孟子發明四端,乃孔子所未發。人只道孟子有闢楊墨之功,殊不知他就人心上發明大功如此。
“Thường tư chi: Mạnh tử phát minh tứ
đoan, nãi Khổng tử sở vị phát. Nhân huống chỉ đạo Mạnh tử hữu tịch Dương Mặc
chi công, thù bất tri tha tựu nhân tâm thượng phát minh đại công như thư.
(Khi Chu Hy trả lời câu hỏi của học trò tên Diệp Hạ Tôn về tâm tứ đoan, ông
nói) “Ta thường nghĩ như sau: Mạnh tử phát minh tứ đoan, điều mà Khổng tử
chưa phát minh ra. Người đời chỉ nghĩ rằng công lao của Mạnh tử là đả phá
được học thuyết của Dương tử (thuyết vi
ngã (bản thân trên hết) và Mặc tử (thuyết kiêm ái (bác ái) nhưng họ không biết công
lao rất to lớn của Mạnh tử là làm tỏ rõ chân lý nói về tâm của con người)
Nhận
xét của người dịch
Đúng như Sorai nói, người đời sau, ngay cả Trình tử, Chu Hy cũng tin Mạnh tử
giỏi hơn Khổng tử và các tiên vương. Đoạn sau Chu Hy đánh giá công lao của Mạnh
tử như công lao của 1 vị tướng thắng địch bảo vệ quốc gia!
(11) Itô Jinsai viết nội dung này trong chương 27 của Đồng Tử Vấn quyển hạ. Sẽ giới thiệu
vào dịp khác.
(12) Do Mặc tử chủ trương kiêm ái và giao
lợi nên Sorai nói như trong bài. Kiêm ái: tất cả mọi người đều bình
đẳng và thương yêu nhau không có sự phân biệt, thí dụ yêu thương như nhau đối với
con của mình và con của người khác. Giao lợi 交利: phân chia lợi ích với nhau.
(13) Trong chương 1 Hệ
Từ Truyện hạ kinh Dịch viết:
天地之大德曰生,聖人之大寶曰位,何以守位曰仁,何以聚人曰財,理財正辭,禁民為非曰義。
Thiên địa chi đại đức viết sinh, thánh nhân chi đại bảo
viết vị, hà dĩ thủ vị viết nhân, hà dĩ chúng viết tài, lý tài chính từ, cấm dân vi phi viết
nghĩa.
Tạm
dịch
Đức to lớn của trời đất là sinh, tạo ra vạn vật và nuôi lớn . Điều
quý giá to lớn của thánh nhân là vị (địa vị = chỗ đứng được mọi người
chấp nhận). Để giữ được vị là nhân. Cái tập hợp được
dân là của cải (tài). Quản lý của cải (lý tài) và quản trị người dân một
cách chính đáng (chính từ), không cho người dân làm điều bậy là
nghĩa.
Nhận
xét của người dịch
Đáng tiếc ở đây không có đề cập cụ thể thế nào là nhân, chỉ nói là thứ mà
thánh nhân cần phải giữ để xứng đáng là thánh nhân. Về điịnh nghĩa của nghĩa
thì có lẽ nên hiểu chỉ là 1 trường hợp quan trọng của nghĩa. Tổng kết nội dung
của ngũ kinh để xem các tiên vương xem thế nào nghĩa có lẽ không phải là việc dễ!
Bởi vì mỗi sách cổ điển chỉ đề cập 1 khía cạnh và rất khó phân biệt nội dung
nào trong ngũ kinh là do người đời sau thêm vào!
(14) Trong chương 9 thiên 6 Đằng Văn Công hạ sách Mạnh
Tử viết:
聖王不作,諸侯放恣,處士橫議。楊朱,墨翟之言
盈天下。天下之言,不歸楊則歸墨。楊氏為我,是無君也。墨氏兼愛,是無父也。無父無君,是禽獸也。 公明儀曰:“庖有肥肉,廄有肥馬,民有饑色,野有餓莩,此率獸而食人也。”楊墨之道不息,孔子之道不著,是邪說誣民,充塞仁義也。仁義充塞,則率獸食人,人將相食。
“Thánh Vương bất tác, chư hầu phóng tứ, xử sĩ hoành nghị. Dương Chu, Mặc
Địch chi ngôn doanh thiên hạ. Thiên hạ chi ngôn, bất quy Dương, tắc qui Mặc.
Dương thị vị ngã, thị vô quân dã. Mặc thị kiêm ái, thị vô phụ dã. Vô phụ, vô
quân, thị cầm thú dã. “Công Minh Nghi viết: ‘Bào hữu phì nhục, cứu hữu phì mã.
Dân hữu cơ sắc, dã hữu ngạ biểu: thử xuất thú nhi thực nhân dã.’ Dương, Mặc chi
đạo bất tức, Khổng Tử chi đạo bất trứ, thị tà thuyết vu dân, sung tắc nhân
nghĩa dã. Nhân nghĩa sung tắc, tắc suất thú thực nhân, nhân tương tương thực…”
Tạm
dịch
(Mạnh tử nói tiếp) “(Sau khi Khổng tử mất), thánh vương không xuất hiện nữa,
các chư hầu thì muốn làm gì thì làm. Các học giả dân sự muốn nói gì thì nói. Học
thuyết của Dương Chu và Mặc Địch lan tràn khắp nơi. Nếu không theo họ Dương thì
theo họ Mặc. Học thuyết họ Dương chủ trương vi ngã cực đoan, như thể
không có vua. Học thuyết của họ Mặc chủ trương kiêm ái cực đoan, như thể
không có cha mẹ mà cũng không có vua giống như cầm thú. Ông Công Minh Nghĩa
nói: “Ở nhà bếp của vua thì đầy thịt ngon béo, ở chuồng ngựa của vua thì đầy ngựa
béo nhưng dân chúng thì không đủ ăn, ngoài đường có người chết đói. Tình trạng
chẳng khác gì với việc dẫn thú dữ đến ăn thịt người”. Nếu ta không làm học thuyết
của họ Dương và họ Mặc ngừng lại thì học thuyết chính đáng của Khổng tử sẽ
không xuất hiện. Hiện nay học thuyết của họ Dương và họ Mặc đang làm mê hoặc
người đời, làm cho người đời không biết thế nào là nhân nghĩa. Không hiểu thế
nào là nhân nghĩa chẳng khác nào dẫn thú dữ đến ăn thịt người, để rồi
kế tiếp là con người ăn thịt lẫn nhau…”
(15) Trong Chu Tử
Ngữ Loại quyển 20, khi trả lời học trò ông về “Nhân giả, ái chi lý, tâm chi đức dã” (Nhân là lý
của
ái (yêu thương) , là đức của tâm) ông nói như sau:
愛之理,是偏言則一事;心之德,是專言則包四者。故合而言之,則四者皆心之德,而仁為之主;分而言之,則仁是愛之理,義是宜之理,禮是恭敬、辭遜之理,知是分別是非之理也。
“Ái chi lý, thị thiên ngôn tắc nhất sự; tâm
chi đức, thị chuyên ngôn tắc bao tứ giả. Cố hợp nhi ngôn chi, tắc tứ giả giai
tâm chi đức, nhi nhân vi chi chủ; phân nh ngôn chi, tắc nhân thị ái chi lý,
nghĩa thị nghi chi lý, lễ thị cung kính, từ tốn chi lý, trí thị phân biệt thị
phi chi lý dã….”
Tạm
dịch
“Khi nói nhân là lý lẽ của thương yêu (ái chi lý) là cách nói riêng rẻ (thiên ngôn), có nghĩa là chỉ nói về 1 sự việc. Khi nói nhân là đức của tâm (tâm chi đức) là cách nói gọp chung (chuyên ngôn), có nghĩa là nói
bao gồm cả 4 thứ (nhân, nghĩa, lễ, trí).
Do đó, nói gộp lại tức là nói đức của tâm bao gồm 4 thứ (nhân, nghĩa, lễ, trí), trong đó nhân là chính yếu. Nói
phân chia ra tức là nói: nhân là lý của ái; nghĩa là lý của nghi,
lễ
là cung kính, là lý của từ tốn, trí là lý của phân
biệt thị phi (biết rõ đâu là đúng đâu là sai).
Nhận
xét của người dịch
Ngày nay thường nói 5 thứ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Không biết tại sao Mạnh
tử chỉ nêu ra 4 thứ. Theo Tuân tử, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín tương ứng với
ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) là Tử Tư và Mạnh tử (nhưng không có dẫn chứng
cụ thể. Ngày nay có thuyết cho là do Đổng Trọng Thư). Chẳng lẽ để ví với thân
thể có tứ chi (2 tay, 2 chân) mà Mạnh tử chỉ đưa ra tứ đoan. Chu Hy lại cố chấp
vào 4 thứ trên! Xem ra lời phê phán của Sorai đối với Tống Nho không phải vô
lý.
Không hiểu tại sao Chu Hy đặt ra từ chuyên
ngôn rất khó hiểu ý muốn nói chung với các thứ đức, từ thống
ngôn dễ hiểu ý này hơn!
(16) Học thuyết của Trình tử và Chu tử (Tống Nho) lấy thiên lý (lẽ trời), nhân tính (bản tính con người), và lý khí (lý lẽ và khí chất con người) làm chính yếu nên học thuyết này thường được gọi là Lý học
hoặc Tính
Lý học hoặc Lý Khí học.
(17) Chương
6 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ viết:
子曰:志於道,據於德,依於仁,游於藝。
Tử viết: “Chí ư đạo, cứ ư đức,
y ư nhân, du ư nghệ.”
Dịch
(Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Để tâm chí vào đạo, giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân,
vui vẻ lục nghệ (tức lễ, nhạc, xạ, ngự,
thư – viết chữ, số – toán pháp).
(18) Trong Nghiêu
Điển (phiên bản nguỵ cổ văn Thượng Thư chia phần này thành Thuấn Điển trong khi kim cổ văn để chung trong Nghiêu Điển) của kinh Thư viết:
“Thi ngôn chí, ca vịnh ngôn, luật hòa
thanh”
詩言志,歌永言,聲依永,律和聲。
(Trong khi vua Thuấn ra lệnh cho ông Quỳ夔 phụ trách âm nhạc, vua Thuấn nói ) “Thơ(thi) là dùng lời nói (ngôn) để cho biết điều con người nghĩ hướng đến (chí);
hát (ca)
dùng ngân (kéo) dài (vịnh) lời nói ra bằng âm thanh; âm thanh nương tựa vào sự ngân dài; quy
định về sắp xếp âm thanh (luật) thì làm cho âm thanh ăn khớp
nhịp điệu với nhau (hòa).
(19) Trong Tựa (序) tặng Lý Vu Lân
李于鱗 (Vu Lân là tự của Lý Phàn
Long李 攀竜,1514~1570) của Vương Nguyên Mỹ 王元美 (trong Yểm Châu Tứ Bộ Cảo弇州四部稿 quyển 57, Vương Thế Trinh王世貞 (1526-1590) tự là Nguyên Mỹ hiệu là Phụng Châu và Yểm Châu Sơn Nhân)
viết:
古之為辭者、理苞塞、不喻叚之辭。今之為辭者、辭不勝、跳而匿諸理。
Cổ chi vi từ giả, lý bao tắc,
bất dụ giả chi từ. Kim chi vi từ giả, từ bất thắng, khiêu nhi nặc chư lý.
Tạm
dịch
Lời nói của người cổ đại nội dung chứa đầy lẽ phải (đạo lý) bên trong nên không dùng cách diễn tả khoa trương khó hiểu. Lời nói của
người đời nay không căn cứ trên lẽ phải (đạo lý) nên lập luận của họ nhảy
vọt, trừu tượng sinh ra càng thêm khó hiểu.
(20) Pháp thân là 1 trong tam thân: pháp thân法身, báo thân報身(hình dáng phật hiện ra do kết quả tu hành), ứng thân応身 (hình
dáng phật xuất hiện ra ở đời để cứu độ chúng sinh. Thí dụ như Thích Ca).
Nguyên
văn
孔門之教。仁為至大。何也。能拳先王之道而体之者仁也。先王之道。安天下之道也。其道雖多端。要帰於安天下焉。其本在敬天命。天命我為天子為諸侯為大夫。則有臣民在焉。為士則有宗族妻子在焉。皆待我而後安者也。且也士大夫皆与其君共天職者也。故君子之道。唯仁為大焉。且也相親相愛相生相成相輔相養相匡相救者。人之性為然。故孟子曰。仁也者人也。合而言之道也。荀子称。君者群也。故人之道。非以一人言也。必合億万人而為言者也。今試觀天下。孰能孤立不群者。士農工商。相助而食者也。不若是則不能存矣。雖盗賊必有党類。不若是則亦不能存矣。故能合億万人者君也。能合億万人。而使遂其親愛生養之性者。先王之道也。学先王之道而成德於我者。仁人也。雖然。士欲学先王之道以成徳於我。而先王之道亦多端矣。人之性亦多類矣。苟能識先王之道要帰於安天下。而用力於仁。則人各随其性所近。以得道一端。如由之勇。赐之達。求之藝。皆能成一材。足以為仁人之徒。共諸安天下之用焉。而其徳之成。如夷斉之清。恵之和。尹之任。皆不必变其性。亦不害為仁人焉。若或不識用力於仁。則其材与德。皆不能成。而諸子百家由此興焉。此孔門所以教仁也。
孟子惻隱以愛語仁。是其性善之說。必本諸人心。故不得不以愛言之耳。雖有愛人之心。而沢不及物。豈足以為仁哉。故雖孟子亦有仁政之説矣。後儒逎不識孟子実為勧世之言。而謂用力於仁。莫切於孟子也。則輒欲推其惻隱之心以成聖人之仁。可謂妄意不自揣之甚已。主張其学者。遂至謂仏有仁無義也。夫仏無安天下之道。豈足以為仁哉。墨子乃有見先王之道。仁莫以尚焉。遂謂仁足以尽一切矣。殊不知天地大德曰生。仁亦聖人大德也。雖然。亦一德也。若天地一於生。則何以有夏秋冬乎。聖人一於仁。則何以有勇智信義乎。孟子挙義折之者是矣。然仁義並言。而仁由是小矣。安在其為大徳乎。宋儒又欲合二者之異。乃造專言偏言之目。専言足以尽一切。偏言足以与案徳対立。庶足以孔孟之教並行而不相悖也。是其理学之說。欲瞭然於言語之間者已。安足以知先王孔子之道乎。
先王之道多端矣。且挙其尤者言之。政禁暴。兵刑殺人。謂之仁而可乎。然要帰於安天下已。先王之教多端矣。智自智。勇自勇。義自義。仁自仁。豈可混合乎。然必不与安天下之道相悖。而後謂之智勇与義已。如孔子曰。拠於德。依於仁。人各拠其性之德而不失之。性之德雖多端。皆不害於仁。祇未能養而成之。故悖於道。養之道。在依於仁游於藝。依者如声依永之依也。楽声必与詠歌相依。清濁以之。節奏以之。依之謂也。依於仁亦爾。人雖各拠其德。亦必和順於先王安天下之道。不敢違之。然後足以各成其德。此孔門之教也。大氐先王孔子之道。皆有所運用営為。而其要在養以成焉。然後人迫切之見。急欲以仁尽一切。是以不得不跳而之理。而究其說。乃不過浮屠法身偏一切之帰。悲哉。
Âm
Hán Việt của nguyên văn
Khổng tử chi giáo. Dĩ nhân chí đại. Hà dã. Năng cử tiên vương chi đạo nhi
thể chi giả nhân dã. Tiên
vương chi đạo. An thiên hạ chi đạo dã. Kỳ đạo tuy đa đoan. Yếu quy ư an thiên hạ
yên. Kỳ bản tại kính thiên mệnh. Thiên mệnh ngã vi thiên tử vi chư hầu vi đại
phu. Tắc hữu thần dân tại yên. Vi sĩ tắc hữu tôn tộc thê tử tại yên. Giai đãi
ngã nhi hậu an giả dã. Thả dã sĩ đại phu giai dự kỳ quân cộng thiên chức giả dã.
Cố quân tử chi đạo. Duy nhân vi đại yên. Thả dã tương thân tương ái tương sinh
tương thành tương phụ tương dưỡng tương khuông tương cứu giả. Nhân chi tính vi
nhiên. Cố Mạnh tử viết. Nhân dã giả nhân dã. Hợp nhi ngôn chi đạo dã. Tuân tử xứng.
Quân giả quần dã. Cố nhân chi đạo. Phi dĩ nhất nhân ngôn dã. Tất hợp ức vạn nhân
nhi vi ngôn giả dã. Kim thí quan thiên hạ. Thục năng độc lập bất quần giả. Sĩ nông
công thương. Tương trợ nhi thực giả dã. Bất nhược thị tắc bất năng tồn hỹ. Tuy
đạo tắc tất hữu đảng loại, Bất nhược thị tắc diệc bất năng tồn hỹ. Cố năng hợp ức
vạn nhân giả quân dã. Năng hợp ức vạn nhân. Nhi sử toại kỳ thân ái sinh dưỡng
chi tính giả. Tiên vương chi đạo dã. Học tiên vương chi đạo nhi thành đức ư ngã
nhân nhân giả dã. Tuy nhiên. Sĩ dục học tiên vương chi đạo dĩ thành đức ư ngã. Nhi
tiên vương chi đạo diệc đa đoan hỹ. Nhân chi tính diệc đa loại hỹ. Cẩu năng thức
tiên vương chi đạo yếu quy ư an thiên hạ. Nhi dụng lực ư nhân. Tắc nhân các tùy
kỳ tính sở cận. Dĩ đắc đạo nhất đoan. Như Do chi dũng, Tứ chi đạt. Cầu chi nghệ.
Giai năng thành nhất tài. Túc dĩ vi nhân giả chi đồ. Cộng chư an thiên hạ chi dụng
yên. Nhi kỳ đức chi thành. Như Di Tề chi thanh. Huệ chi hòa. Doãn chi nhiệm. Giai
bất tất biến kỳ tính. Diệc bất hại vi nhân nhân yên.Nhược hoặc bất thức dụng lực
ư nhân. Tắc kỳ tài dự đức. Giai bất năng thành. Nhi chư tử bách gia do thử hưng
yên. Thử Khổng môn sở dĩ giáo nhân dã.
Mạnh tử trắc ẩn dĩ ái ngữ
nhân. Thị kỳ tính thiện chi thuyết. Tất bản chư nhân tâm. Cố bất đắc bất dĩ ái
ngôn chi nhĩ. Tuy hữu ái nhân chi tâm. Nhi trạch bất cập vật. Khởi túc dĩ vi
nhân tai. Cố tuy Mạnh tử diệc hữu nhân chính chi thuyết hỹ. Hậu Nho tù bất thức Mạnh tử thật vi
khuyến thế chi ngôn. Nhi vị dụng lực ư nhân. Mạc thiết ư Mạnh tử dã. Tắc triếp dục
thôi kỳ trắc ẩn chi tâm dĩ thành thánh nhân chi nhân. Khả vị vọng ý bất tự sủy
chi thậm dĩ. Chủ trương kỳ học giả. Toại chí vị Phật hữu nhân vô nghĩa
dã. Phù Phật vô an thiên hạ chi đạo. Khởi túc dĩ vi nhân tai. Mặc tử nãi hữu kiến
tiên vương chi đạo. Nhân mạc dĩ thượng yên. Toại vị nhân túc dĩ tận nhất
thiết hỹ. Thù bất tri thiên địa đại đức viết sinh. Nhân diệc thánh nhân đại đức
dã. Tuy nhiên. Diệc nhất đức dã. Nhược thiên địa nhất ư sinh. Tắc khả dĩ hữu hạ
thu đông hồ. Thánh nhân nhất ư nhân. Tắc hà dĩ hữu dũng trí tín nghĩa hồ. Mạnh
tử cử nghĩa chiết chi giả thị hỹ. Nhiên nhân nghĩa tịnh ngôn. Nhi nhân do thị
tiểu hỹ. An tại kỳ vi đại đức hồ. Tống Nho hựu dục hợp nhị giả chi dị. Nãi tạo
chuyên ngôn thiên ngôn chi mục. Chuyên ngôn túc dĩ tận nhất thiết. Thiên ngôn
túc dự chúng đức đối lập. Thứ túc dĩ Khổng Mạnh chi giáo tịnh hành nhi bất
tương bội dã. Thị kỳ lý học chi thuyết. Dục liệu nhiên ư ngôn ngữ chi gian giả
dĩ. An túc dĩ tri tiên vương Khổng tử chi đạo hồ.
Tiên vương chi đạo đa đoan
hỹ. Thả cử kỳ vưu giả ngôn chi. Chính cấm bạo. Bình hình sát nhân. Vị chi nhân nhi
khả hồ. Nhiên yếu quy ư an thiên hạ dĩ. Tiên vương chi đạo đa đoan hỹ. Trí tự
trí. Dũng tự dũng. Nghĩa tự nghĩa, Nhân tự nhân. Khởi khả hỗn hợp hồ. Nhiên tất
bất dự an thiên hạ chi đạo tương bội. Nhi hậu vị chi trí dũng dự nghĩa dĩ. Như Khổng
tử viết. Cứ ư đức. Y ư nhân. Nhân các cứ kỳ tính chi đức nhi bất thất chi. Tính
chi đức tuy đa đoan. Giai bất hại ư nhân. Chi vi năng dưỡng nhi thành chi. Cố bội
ư đạo. Dưỡng chi đạo. Tại y ư nhân. Du ư nghệ. Y giả. Như thanh y vịnh chi y
dã. Nhạc thanh tất dự vịnh ca tương y. Thanh đục dĩ chi. Tiết tấu dĩ chi. Y chi
vi dã. Y ư nhân diệc nhĩ. Nhân tuy các cứ kỳ đức. Diệc tất hòa thuận ư tiên
vương an thiên hạ chi đạo. Bất cảm vi chi. Nhiên hậu túc dĩ các thành kỳ đức. Thử
Khổng môn chi giáo dã. Đại để tiên vương Khổng tử chỉ đạo. Giai hữu sở vận dụng
doanh vi. Nhi kỳ yếu tại dưỡng dĩ thành yên. Nhiên hậu nhân bách thiết chi kiến.
Cấp dục dĩ nhân tận nhất thiết. Thị dĩ bất đắc bất khiêu nhi chỉ lý. Nhi cứu kỳ
thuyết. Nãi bất quá phù đồ pháp thân thiên nhất thiết chi quy. Bi tai!
Tài
liệu tham khảo
(1)
Trách nhiệm biên tập Bitô
Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
(2)
Nhiều dịch giả/tác giả Nishida Taichirô (1973):
Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.
(3)
Nonaka Netarô: Mạnh Tử
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét