Giai Thoại Văn Chương :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ (tiếp theo 2)
*****
Sau đây là bài thơ của Ngu Hi 虞 羲, môt thi nhân của buổi Tề Lương, khi thơ ngũ ngôn bát cú vừa mới manh nha thành hình :
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hỉ,
楊 柳 正 依 依。 Dương liễu chính y y.
君 去 無 消 息, Quân khứ vô tiêu tức,
唯 見 黃 鶴 飛。 Duy kiến hoàng hạc phi.
關 山 多 險 阻, Quan sơn đa hiễm trở,
士 馬 少 光 輝。 Sĩ mã thiểu quang huy.
流 年 無 止 極, Lưu niên vô chỉ cực,
君 去 何 時 歸。 Quân khứ hà thời quy ?!
* Chú thích :
- 依 依 Y Y : Y là dựa dẵm. Y Y là Lưu luyến, nắm níu không nở rời nhau.
- Tiêu Tức 消 息 : là Tin tức; những việc xảy ra mà mình muốn biết.
- Quan Sơn 關 山 : QUAN là Cửa ải; Sơn là Núi non, nên QUAN SƠN là nơi quan ải với núi non hiểm trở.
- Sĩ Mã 士 馬 : Lính và Ngựa; chỉ quân đội ngày xưa.
- Quang Huy 光 輝 : là Sáng sủa. Trong bài là THIỂU QUANG HUY 少 光 輝 Không phải là "Thiếu sáng sủa"; mà chỉ "Rất vất vả, lao nhọc".
- Lưu Niên 流 年 : là Suốt năm, cũng có nghĩa là "Hết năm nầy qua năm khác".
- Chỉ Cực 止 極 : CHỈ là ngừng; CỰC là Hết mức, nên CHỈ CỰC là Hết mức rồi nên dừng lại. VÔ CHỈ CỰC 無 止 極 là "Không có điểm để dừng lại", có nghĩa là "Cứ tiếp tục mãi như thế".
- Hà Thời 何 時 : là Chừng nào, lúc nào, khi nào...
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì cũng chính là lúc thiếp như nhành dương liễu cứ nắm níu lưu luyến mãi không nở rời xa.
Chàng ra đi rồi thì bặt tin bặt tức (không có chim nhạn đưa thư gì cả!) chỉ thấy có những con hạc vàng bay vút tận chân trời.
Trên con đường quan ải núi non trùng điệp nhiều hiễm trở khó đi; Chắc binh sĩ và ngựa chiến cũng rất là gian nan vất vả.
Suốt năm nầy qua năm kia đều không có điểm dừng chân ngừng nghỉ; Thế thì chàng ra đi biết đến khi nào mới được trở lại đây ?!
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng lên đường,
Liễu rũ cũng vấn vương.
Tin nhạn đâu không thấy,
Hạc vàng bay tứ phương.
Ải núi nhiều hiễm trở,
Binh mã cũng thê lương.
Hết năm nầy năm khác,
Khi nào về quê hương ?!
Lục bát :
Từ ngày chàng bước lên đường,
Thiếp như liễu rũ vấn vương khác nào...
Chàng đi biệt tích âm hao,
Trông trời chỉ thấy bay cao hạc vàng.
Quan sơn hiễm trở muôn vàng,
Lính ngựa vất vả ngổn ngang núi rừng.
Năm nầy năm, nữa chẳng dừng...
Ngày nào chàng mới trùng phùng hồi quê ?!
Đột phá nhất là Tể Tướng Vương An Thạch 王 安 石 đời Tống, ông làm thơ TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ theo vần Trắc để tưởng nhớ bạn bè chớ không phải tình yêu của người cô phụ trông chồng. Ta cùng đọc bài "Hoài Nguyên Độ 懷 元 度"(Nhớ đến nhà sư Nguyên Độ) sau đây :
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hĩ,
何 其 掛 懷 抱。 Hà kỳ quải hoài bão.
孤 坐 屢 窮 辰, Cô tọa lũ cùng thần,
山 林 跡 如 掃。 Sơn lâm tích như tảo.
數 枝 石 榴 發, Sổ chi thạch lựu phát,
豈 無 一 時 好。 Khởi vô nhất thời hảo ?
不 可 持 寄 君, Bất khả trì ký quân,
思 君 令 人 老。 Tư quân lệnh nhân lão !
* Chú thích :
- Hà Kỳ 何 其 : là Cái gì đó, Cái nào đó...
- Hoài Bão 懷 抱 : Cái mà người ta ôm ấp, ấp ủ ở trong lòng.
- Cùng Thần 窮 辰 : là Hết giờ giấc; có nghĩa là suốt ngày suốt buổi.
- Thạch Lựu 石 榴 : là cây lựu, trái lựu.
- Khởi Vô 豈 無 : Chả lẽ không...
- Trì 持 : là Cầm, nắm, níu.
- Lệnh 令 : là Làm cho, Khiến cho...
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày bạn ra đi rồi, thì như có cái gì đó cứ vương vấn mãi ở trong lòng tôi.
Tôi ngồi một mình suốt cả mấy ngày liền, trong rừng núi sạch sẽ như được quét dọn đến không một vết tích nào cả.
Có mấy cây lựu đang trổ hoa kết trái; Chả lẽ không có một đôi lúc nào tốt hay sao ?
Không thể đem được cái nỗi lòng nầy của tôi để gởi đến bạn; Nhớ đến bạn lại làm cho con nguời ta cảm thấy như già hơn ra.
Vì là thơ nhớ đến một nhà sư (Nguyên Độ) nên có vẻ cao siêu, như có một ý Thiền ẩn hiện đâu đây trong bài thơ...
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày bạn ra đi,
Như có vấn vương gì.
Mấy ngày ngồi ngơ ngẩn,
Rừng núi được quét đi.
Mấy cành hoa lựu nở,
Tốt lành cũng có khi ?
Không thể gởi gan ruột,
Nhớ bạn người già đi !
Lục bát :
Từ ngày bạn rời chân đi,
Lòng tôi như có chút gì vấn vương.
Một mình ngồi suốt mấy hôm,
Núi rừng được quét sạch trơn ai ngờ.
Mấy cành lựu trổ hoa mơ,
Tốt lành đâu hẵn phải chờ có khi ?
Khó đem gan ruột gởi đi,
Nhớ bạn lại khiến người thì già thêm !
Đến Lư Long Vân 盧 龍 雲 đời Minh thì phá cách hẵn; Chẳng còn lối phủ định ở câu 2 và lối Tỉ giảo với từ NHƯ 如 ở câu 3 nữa. Ta đọc bài thơ sau đây của ông :
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hĩ,
時 序 速 如 梭。 Thời tự tốc như thoa.
雪 裡 春 將 動, Tuyết lý xuân tương động,
流 光 一 歲 過。 Lưu quang nhất tuế qua !
* Chú thích :
- Thời Tự 時 序 : là sự Tuần tự của thời gian; là Thời gian lần lượt...
- Tốc Như Thoa 速 如 梭 : là Nhanh như con thoi (trong khung cưởi).
- Tương 將 : là Sắp, là Sẽ...
- Lưu Quang 流 光 : là Thiều quang qua đi như nước chảy; Ý chỉ Thời gian qua nhanh.
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi; thì thời gian cũng tuần tự qua nhanh như là thoi đưa vậy. Trong cảnh tuyết rơi, thì mùa xuân cũng đã khởi động rồi; và thời gian nhanh đến nỗi môt năm cũng sắp qua đi rồi !
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi rồi,
Thời gian tựa như thoi.
Trong tuyết xuân đà bén,
Một năm sắp qua rồi !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Thời gian tuần tự thua gì con thoi.
Tuyết rơi xuân cũng đến nơi,
Một năm một tuổi qua rồi một năm !
Cuối cùng là chủ nhân của "Tài Tử Đa Cùng Phú" của ta là Cao Bá Quát cũng góp phần "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" với một bài Ngũ ngôn Luật thi hẵn hoi, như sau :
自 君 之 出 矣, Tự quân chi xuất hỹ,
夜 夜 守 空 床. Dạ dạ thủ không sàng.
海 月 照 孤 夢, Hải nguyệt chiếu cô mộng,
江 風 生 暮 涼. Giang phong sinh mộ lương.
小 鏡 寄 遠 篋, Tiểu kính ký viễn khiếp,
寒 衣 留 故 房. Hàn y lưu cố phòng.
持 此 各 自 慰, Trì thử các tự ủy,
不 遣 兩 相 忘! Bất khiển lưỡng tương vong!
* Chú thích :
- Cô Mộng 孤 夢 : là Giấc mộng cô đơn, lẻ loi chỉ có một mình.
- Mộ Lương 暮 涼 : Cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
- Viễn Khiếp 遠 篋 : KHIẾP là cái Rương, cái Tráp, cái "Va-ly" nhỏ, nên VIỄN KHIẾP là "Cái tráp của người đi xa".
- Cố Phòng 故 房 : là "Cái phòng cố hữu", là cái phòng xưa nay vẫn ở đó.
- Trì Thử 持 此 : TRÌ là Cầm, là nắm; nên TRÌ THỬ là "Giữ những thứ nầy".
- Tự Ủy 自 慰 : là Tự mình an ủi mình.
- Bất Khiển 不 遣 : là "Chẳng khiến cho...; Chẳng làm cho...".
- Lưỡng Tương Vong 兩 相 忘 : là "Cả hai cùng quên nhau".
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân đi rồi, đêm đêm em vẫn giữ lấy chiếc giường trống không nầy.
Ánh trăng trên biển đêm đêm vẫn chiếu vào giấc mộng cô đơn lẻ loi của em; và gió trên sông thổi đến làm tăng thêm lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
Chiếc gương nhỏ thì đã gởi vào cái tráp của người đi xa rồi, còn chiếc áo lạnh vẫn hãy còn ở phòng cũ đây.
Giữ những thứ nầy để hai ta tự an ủi nhau khi nhìn thấy nó; và để "chẳng làm cho hai ta cùng quên nhau được!"(có nghĩa là : Sẽ mãi mãi nhớ nhau !).
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi rồi,
Đêm đêm giường không thôi.
Trăng biển soi mộng lẻ,
Gió sông thổi lạnh người.
Gương nhỏ theo tráp mất,
Áo lạnh giữ phòng côi.
Cùng giữ để yên ủi,
Cùng không quên bạn đời !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Giường không thiếp giữ xá gì đêm đêm.
Trăng soi bể vắng cô miên,
Gió sông thổi lạnh màn đêm xuống rồi.
Gương nhỏ theo tráp xa xôi,
Hàn y giữ lại phòng côi một mình.
Cùng giữ để cùng ngắm nhìn,
Cùng yên ủy chẳng quên tình đôi ta !
Đó là tất cả xuất xứ và lịch sử của quá trình diễn tiến hình thành của thể Nhạc Phủ có tên rất nên thơ và đượm chút u buồn là TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自 君 之 出 矣, có nghĩa là : Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi !...
Hẹn bài viết tới !
杜 紹 德
Đỗ Chiêu Đức
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét