Góp ý bổ sung về bài viết :
VỀ BỨC THƯ PHÁP LƯƠNG MINH GẶP Ở MỸ
Đó là bức thư pháp của nhà thư pháp nổi tiếng đương đại của Trung Quốc là Phùng Kiến Ngô 馮 建 吳 (1910–1989) viết vào tháng 6 năm 1982 tại Trùng Khánh Quốc Họa Viện 重 慶 國 畫 院 (Viện Họa Quốc Gia của TP Trùng Khánh thuộc tỉnh Tứ Xuyên). Bức thư pháp đó chép lại bài thơ Ngũ ngôn Luật thi của Thi Thánh Đỗ Phủ 杜 甫 có tựa là "Du Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há hiệp 渝 州 候 嚴 六 侍 御 不 到, 先 下 峽". có nghĩa: "Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước".
Năm Vĩnh Thái nguyên niên đời Đường (756), Đỗ Phủ rời đất Thục hướng về đông, trên đường phiêu bạc ngang qua đất Du Châu định đợi bạn là Nghiêm Lục Thị Ngự để cùng đến Qùy Châu, nhưng đợi mãi mà vẫn không thấy bạn đến, nên bèn xuống eo Tam Hiệp trước; Vì thế mà làm bài thơ nầy; Bài thơ tiêu biểu cho sự phiêu bạc của Đỗ Phủ lúc về già.
渝 州 候 嚴 六 侍 御 不 到, 先 下 峽
Di Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há Hiệp.
聞 道 乘 驄 發, Văn đạo thừa thông phát,
沙 邊 待 至 今。 Sa biên đãi chí câm (kim).
不 知 雲 雨 散, Bất tri vân vũ tán,
虛 費 短 長 吟。 Hư phí đoản trường ngâm.
山 帶 烏 蠻 闊, Sơn đới Ô Man khoát,
江 連 白 帝 深。 Giang liên Bạch Đế thâm.
船 經 一 柱 觀, Thuyền kinh Nhất Trụ Quán,
留 眼 共 登 臨。 Lưu nhỡn cộng đăng lâm !
* Chú thích :
- Du Châu 渝 州 : là tên của đất Ba Thục xưa; Nay là Phủ Trùng Khánh.
- Hậu 候 : là Đẵng Hậu 等 候 có nghĩa là Chờ đợi, là Chực chờ.
- Há 下 : Vốn là chữ HẠ , Hình dung từ là "Bên dưới, phía dưới". Khi là Động từ thì đọc là HÁ (dấu sắc) có nghĩa là "Đi Xuống".
- Hiệp 峽 : là Eo đất hay Eo núi, như Trường Giang Tam Hiệp 長 江 三 峽 chẳng hạn; Chữ nầy còn được đọc là HẠP, là GIÁP, như Vu sơn Vu giáp 巫 山 巫 峽...
- Thông 驄 : là con ngựa xám (lông có màu trắng xanh lẫn lộn); THỪA THÔNG 乘 驄 là Cưởi con ngựa màu xám.
- Sa Biên 沙 邊 : là Bên bờ cát ven sông.
- Đãi 待 : là ĐẲNG ĐÃI 等 待 có nghĩa là "Chờ đợi", giống như từ Đẵng Hậu 等 候 ở trên. KIM 今 đọc là CÂM cho Ăn với các Vận khác trong bài thơ.
- Vân Vũ Tán 雲 雨 散 : là "Mây mưa tan", lấy ý trong thơ của Vương Xán đời Đông Hán là "Phong lưu vân tán, nhất biệt như vũ 風 流 雲散,一 别 如 雨" Có nghĩa : "Chia tay nhau như sau cơn mưa, gió đã thổi qua và mây cũng đã trôi đi"; Ý nói : Không biết đâu mà lường được !
- Đoản Trường Ngâm 短 長 吟 : là đão ngữ tên một khúc ngâm trong Cổ thi là "Trường Đoản Ngâm 長 短 吟". Ý nói : Trong khi chờ đợi ai đó thì ngâm dài ngâm ngắn cho đỡ thấy lâu.
- Ô Man 烏 蠻 : Theo "Đường Thư, Nam Man Truyện 唐 書· 南 蠻 傳" chỉ các bộ tộc ở phía nam của đất Nam Chiếu rộng lớn, có các bộ tộc như Bạch Man, Ô Man...
Thành Bạch Đế và Nhất Trụ Quán
- Bạch Đế 白 帝 : là Thành Bạch Đế ở cách Qùy Châu năm dặm, đưa đến eo núi Tây lăng với nước sông cuồn cuộn từ trên đổ xuống với khí thế hùng vĩ, là yết hầu của đất Thục Sở.
- Nhất Trụ Quán 一 柱 觀 : QUÁN là ĐẠO QUÁN 道 觀 là nơi tu tập của các đạo sĩ. NHẤT TRỤ QUÁN là một di tích ở huyện Tòng Tư tỉnh Hồ Bắc, do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh thời Nam bắc Triều xây dựng nên; Vì to lớn và chỉ như một cột trụ lớn, nên được gọi là NHẤT TRỤ QUÁN.
- Lưu Nhỡn 留 眼 : Không phải là "để con mắt lại", mà là muốn lưu cái tầm nhìn lại để với bạn cùng nhau ngắm cảnh trên cao nhìn xuống.
* Nghĩa bài thơ :
Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước.
Nghe nói rằng bạn sẽ cưởi con ngựa màu xám đến để cùng đi với ta; nên ta đợi mãi ở bãi cát ven sông mãi cho đến tận bây giờ. Nhưng bạn thì như gió cuốn mây trôi không biết đâu là tung tích, làm cho ta cứ ngâm thơ dài thơ vắn mà chờ đợi uổng công (Hư Phí 虛 費 thời gian một cách vô ích). Ở đây núi non trùng điệp trải dài đến các bộ tộc Ô Man rộng lớn và sông Trường giang hùng vĩ nồi liền với thành Bạch Đế xa xa. Khi thuyền đi ngang qua Nhất Trụ Quán cao ngất ở Giang Lăng, ta muốn lưu lại cái tầm nhìn để được cùng bạn lên cao mà ngắm xuống cảnh núi non nước sông hùng vĩ nầy !
* Diễn Nôm :
Du Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há hiệp.
Nghe anh cởi ngựa thông,
Bờ biển mãi ngóng trông.
Như mây tan gió thổi,
Uổng vài vắn thơ ngâm.
Núi nối Ô Man rộng,
Sông liền Bạch Đế thâm.
Thuyền qua Nhất Trụ Quán,
Ước cùng ngắm nhìn chung !
Lục bát :
Nghe tin anh cưởi ngựa thông,
Thẩn thơ bờ cát ngóng trông đến giờ.
Mây trôi gió cuốn ơ hờ,
Mất công dài vắn vần thơ ngâm vùi.
Ô Man liền núi ngút trời,
Bạch Đế sóng cuộn tơi bời Trường giang.
Thuyền đi qua Nhất Đạo Quan,
Ước cùng bạn ngắm bạt ngàn trên cao !
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)
Góp ý :
Bức "thư pháp" được viết cách điệu với nhiều thể loại chữ, thiếu nghiêm chỉnh và không đâu ra đâu cả! Này nhé :
- Từ Văn đạo, Sa biên, Lưu nhởn được viết theo lối chữ Lệ (LỆ THƯ 隸 書), nhưng phép "Tàm đầu yến vĩ" không rõ ràng.
- Chữ Phát có phần đầu theo lối chữ Triện; phần dưới theo chữ Lệ.
- Chữ Giang phần "Ba chấm Thủy" bên trái, được viết theo lối Giáp Cốt Văn của chữ Thủy.
- Chữ Ngâm, Sơn, Cộng được viết theo lối chữ Đại Tiểu Triện, nhưng nét bút không nghiêm cẩn, tùy tiện.
- Từ Thuyền kinh được viết theo lối chữ Hành (HÀNH THƯ 行書), bỏ bớt nét cho gọn chữ.
- Từ Bất tri được viết theo lối chữ Thảo (THẢO THƯ 草 書), nhưng nét bút không bay bướm.
................
Tóm lại : là một nhà Thư pháp nỗi tiếng, nhưng bức thư pháp nầy của Phùng Kiến Ngô 馮 建 吳 được viết một cách tùy tiện, bát nháo. Tác giả cố ý khoa trương những hiểu biết của mình về "Thư pháp" hơn là muốn thực hiện một bản thư pháp đẹp.
Về Tác giả bài viết Đào Tiến Dũng đã đọc nhầm hai câu thơ cuối của bài thơ :
一 柱 觀 留 眼, Nhất trụ quán lưu nhỡn,
莽(共) 登 臨。 Mãng (cộng) đăng lâm.
Lẽ ra phải là :
船 經 一 柱 觀, Thuyền kinh Nhất Trụ Quán,
留 眼 共 登 臨。 Lưu nhỡn cộng đăng lâm !
và đã đọc nhầm từ "Nghiêm Lục Thị Ngự 嚴 六 侍 御" thành "Nghiêm Đại thị ngự ".
và... "Tháng 6 năm 1982" thành "Tháng 5 năm 1982, "
và... "Thành phố Trùng Khánh 重 慶" thành "Trọng Khánh."
........
Chân thành góp ý, chỉ với ý muốn chỉnh lại cho chính xác với nguyên bản mà thôi. Nếu có gì thất thố, kính xin rộng lòng hỉ xả cho.
Chân thành Cảm Tạ !
杜 紹 德
Đỗ Chiêu Đức
* Nguyên bản bài viết theo link sau đây :
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét