Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

[1] Tụng Tây Hồ Phú, Nguyễn Huy Lượng / Ngân Triều dịch thơ và chú giải.

                                                  


[1] Tụng Tây Hồ Phú, Nguyễn Huy Lượng.                               
Ngân Triều dịch thơ và chú giải.
*
1N (1-4), 4 liên; Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu, Nguồn gốc Hồ Tây.
Hồ Tây cảnh rất lạ lùng, (1)
Nhớ thời lập quốc đã từng hiển danh.
Thời chín cõi, gò đất lành,
Có loài bạch hổ tung hoành làm hang.
Đầm rộng lớn, tay Long Vương; (5)
Chuông chùa ông Khổng, ngân vang rất mầu,
Trâu vàng nhớ mẹ, Bên Tàu,
Chạy qua tìm mẹ ghềnh hào ngày nay.
Sợ nước Nam lắm nhân tài,
Cao Biền yểm huyệt triệt bài long tâm. (10)
Dâm Đàm tên gọi đầm râm,
Cỏ hoa, sương khói quanh năm đón chờ,
Lãng Bạc, sóng bạc như mơ,
Bến bờ tinh khiết, nước hồ trong veo.
***
2N-(5-8), 4 liên; Ngân Triều cảm đề: 12 câu, Hình thể của Hồ Tây.
[…trong veo]
- Sắc xanh nhuộm sóng lam chiều, (15)
Như hình Động Bích tỏa nhiều hào quang.
Hình cong uốn lượn đêm trăng,
Sóng xô ánh bạc sông Ngân bóng lồng.
Nước trời, nghìn mẫu mênh mông,
Bốn bờ hoa cỏ biếc hồng điểm trang. (20)
Gò Mỏ Phượng hay đài trăng,
Bên dòng nước xoáy hàm rồng chẳng vơi.
Phải chăng là chén rượu mời,
Kìa tòa Thạch Tháp của trời, kho tiên.
Gò đất nọ, tít ngoài biên, (25)
Kìa ai mê tín cầu duyên, chôn bùa.
***
3N-(9-13), 5 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 16 câu: Các đền chùa chung quanh Hồ Tây.
[…chôn bùa]
Quanh hồ thắng cảnh đền chùa,
Mục lang lưới hổ cứu vua lâm nàn.
Tích gươm Trấn Võ rùa mang.
Hình cây như quán, hàng hàng ngàn xưa, (30)
Sóng ghềnh lấp lánh trưng đưa,
Ngàn kho châu báu trời trưa tỏ tường.
Kim Liên sóng nhuộm mùi hương,
Kế bên Trấn Quốc Tây phương cảnh mầu.
Gió rung cổ thụ nghiêng đầu, (35)
Phụng Thiên nơi ấy tìm cầu cõi âm.
Rêu phong nền cũ âm thầm,
Đại Vương Bố Cái ngàn năm chẳng lòa.
Bà Đanh cổng ủ lá hoa,
Mơ màng đỉnh Thứu, vang ca thước nào. (40)
Ngẩn ngơ tưởng đến Động Đào,
Bồi hồi xóm nhỏ, gà chào ó o.
***
4N-( 14-27), 14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Các thắng cảnh chung quanh Hồ Tây.
[…ó o]
Nung vôi Thạch khối mấy lò,
Khói bay nghi ngút ỳ ồ Nhật Chiêu.
Lô nhô cuối bãi Đuôi Nheo, (45)
Phất phơ thuyền khách buồm treo bướm bầy.
Hồ Cổ Ngựa, lặng như tờ,
Tháp tăng hé cửa tò vò mười phương.
Nhịp chày Yên Thái nện sương,
Nghi Tàm lưới cá thả đường quanh co. (50)
Liễu bờ kia, phất phơ tơ,
Thoi oanh ghẹo cả gấm tơ hai phường.
Đó đây sen biếc cao giương,
Lửa huỳnh ghen tức lò vương năm làng.
Đàn ve ánh ỏi lầu ran, (55)
Bên bàn mõ cuốc còn than quốc hoài.
Châu Long gió nhẹ vèo bay,
Vẳng đưa trống thú dội ngoài trúc hiên.
Vầng trăng hé, Phục Tượng biên,
Sông Tô nghe nện nỗi phiền chày khuya. (60)
Thẫn thờ mấy nỗi phiêu du,
Khách nhàn lai láng từng khu dặm trường.
Áo tơi lớp xớp mưa buồn,
Đàn trâu gã Nịnh tham nguồn cỏ non.
Khuất Nguyên tuẩn tiết, Thương Lang, (65)
Thuyền nan trước gió nhớ chàng tiều Chu.
Cuộc vui ngày tháng lãng du,
Thiếu gì “bốn bạn” chăm lo đủ bề.
Khán Sơn cảnh cũ đời Lê,
Thơ ban trăng lạnh ngẩn ngơ bồi hồi. (70)
Vọng Thị tiệc rượu còn vui,
Ngày tàn đàn đã bùi ngùi niềm tư.
Khách Tàu san sát chợ Tây,
Đào Tiềm tái thế men say ngủ vùi.
Giặt tơ bến nước khuya trời, (75)
Ánh trăng lấp lánh đầy vơi tay người.
Trong sương hái nhị trà tươi,
Túi hương rớt xuống, thơm mười ngón chân.
Thị thành vui thú trí nhân,
Phố phường phong nguyệt trời ban vô cùng. (80)
Hắt hiu Nhị Thủy gió lừng,
Cho vui khóm trúc cho mừng khóm hoa.
Tam Sơn vằng vặc trăng ngà,
Đàn cò đớp cá, đớp lòa bóng chân.
***
5N-(28-32), 4 liên, Ngân Triều cảm đề NHL, 14 câu: Hồ Tây trải qua các triều đại.
[…bóng chân]
Cảnh xưa thắng lãm tần ngần, (85)
Hưng vong mấy lớp thăng trầm mấy phen.
Quan Ngư xem cá đưa duyên,
Niên hiệu Long Khánh còn truyền lập công.
Đường Dụ Tượng, Lý Thái Tông,
Đê đè sóng biếc voi rừng thẳng lên. (90)
Đời Trần xe ngựa như nen,
Triều Lê thịnh trị chật lèn tán ô.
Nhớ thiên bát vịnh du hồ,
Chở đạo ẩn ngữ, qui mô dạy đời.
Liên ngâm thưởng nguyệt mấy người, (95)
Văn chương tiên tục cũng thời tri âm.
Họa thơ tòa đá chữ hằn.
Nước kia dường sót rượu mừng nổi trôi.
***
6N-(33-46) 14 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: 42 câu, Hồ Tây trong thời Lê mạt.
[…nổi trôi]
Đất trời gió bụi muôn nơi,
Nước hờn cau mặt, tơi bời bợn nhơ. (100)
Sáu năm biến động nào ngờ,
Cảnh xưa mưa gió bơ phờ, tan hoang.
Sương mù mây phủ, chim ngàn
Mặt hồ còn chút xanh lam, mơ màng.
Để cho nòng nọc từng đàn… (105)
Chùa thiêng cửa nắng, đầy màn “bát tiên”.
Dọc ngang mạng nhện giữ miền,
Lửa hương cổ miếu im lìm, quạnh hiu.
Tù mù ngọn lửa, xóm nghèo.
Kênh đâu đưa nước tưới vào trung sa, (110)
Lầu chim ngủ sớm, gió ca,
Ngàn sen ngao ngán bay về, Tây phương.
Nước hồ đen thối cá ươn,
Cuốc kêu trị loạn thảm thương, đau lòng.
Ễnh ương gào khóc tư công, (115)
Sá gì lộc hậu là xong phất cờ.
Cầu vồng đâu, lũ cày mơ,
Bài thơ thất nguyệt thờ ơ mục đồng.
Trời đêm câu cá khó lòng,
Kế hay giúp nước chỉ toàn tiều phu. (120)
Xóm kia ve nhặng rì rù,
Ghềnh xa thấp thoáng trai cò gấu nhau.
Thượng lưu mâu thuẩn cao trào,
Những người trí thức gió nào thuận che.
Yên thân gượng chén bạn bè, (125)
Thu rồi gác bút, gia phì thế thôi.
Dẫu rằng phong vị đãi bôi,
Đồ thư chi nữa lôi thôi mơ màng.
Dưới cầu nước chảy miên man,
Đường xưa giờ đã thành đàng ngựa đua. (130)
Đá xây thành trĩ ý vua,
Chỉ là bến vắng người thưa đợi đò.
Cố cung nửa mảnh gương mờ,
Vầng trăng sẻ nửa, gương chờ bóng loan.
Chiến binh cổ tự gởi thân, (135)
Sè sè nấm đất cỏ hoang lù rù.
Dân canh man mác thẫn thờ,
Cảnh xưa diễm lệ bây giờ còn đâu.
Thế thời thời thế mặc dầu,
Nước trời trăng sáng nao nao lòng người. (140)
***
7N-(47-59), 12 liên, Ngân Triều cảm đề NHL: Hồ Tây trong thời Tây Sơn.
[…lòng người]
Trăng đầy theo luật trăng vơi,
Nước nông nước hoắm là đời nước sâu.
Mậu Thân xưng đế điềm mầu,
Sử ghi quét sạch giặc Tàu xâm lăng.
Canh Tuất tế nhị cầu phong, (145)
Lấy dân làm gốc, anh hùng nước Nam.
Mặt hồ đổi sắc xanh lam.
Đền đài rực thắm chen vàng ngàn hoa.
Bảy cây còn mấy cây già,
Đua chen tùng bách, ngọn rà nóc mây. (150)
Bến kia đông kẻ vui vầy,
Lao xao đùa nước như bầy uyên ương.
Đá hoa ngoạn mục tỏ tường,
Tiếng chim tiếng ngọc, tiếng trùng vàng khua.
Bãi non trâu ngựa cho lùa, (155)
Giã từ vũ khí, đến mùa yên dân.
Nước trong kình ngạc mất tăm,
Tắm vui trẻ nhỏ ầm ầm hò reo.
Được mùa rau thóc, thoát nghèo,
Tưng bừng trăm họ về theo bóng cờ. (160)
Còn ai nhắc chuyện Di Tề,
Chiêu hiền đãi sĩ nước về phì nhiêu.
Cây kia trở gió đổi chiều,
Mán khoe công đức ánh thiều sáng soi.
Sen về chùa nọ thật rồi, (165)
Tù binh tha chết lũ Tàu nam mô.
Dấu linh vẫn sáng cơ đồ,
Nguồn nhân đức đã tưới vô khắp miền.
Mặt thành xưa thế kim thang,
Đất xây bằng phẳng định an, trường tồn. (170)
Cánh hàn chỉ trụ sửa đồn,
Đá đem sắp xếp bảo tồn nơi nơi.
Ghé vùng trọng điểm một thời,
Cảnh tuy là nhỏ đấp bồi sửa sang.
Đăng sơn là thú người nhân, (175)
Thủy du người trí, cảnh còn bao la.
Bóng tàn xanh, mấy thu qua,
Chính danh vũ trụ đã lòa bóng dương.
Xa xôi cách trở dặm trường,
Còn xa bệ tía ở vùng biên khu. (180)
Nỗi niềm xin tỏ mặc dù,
Thanh dung cao sĩ nhiệt tình sửa cho.
***
8N-(60-83) 24 liên, Ngân Triều cảm đề: Ca ngợi công đức Nhà Tây Sơn.
[ … sửa cho]
Nay mừng đất mở hoành mô,
Trời phù chính thống, sơn hà vĩnh an.
Vận nước tái lập vững vàng, (185)
Vua tôi những đấng minh lương chí hùng.
Long Biên đích thị hoàng thành,
Ngắm sao Bắc Đẩu dân tình thủy chung.
Hồ Tây kế cận Bắc cung,
Cảnh hồ trăm thức, lục hồng đua chen. (190)
Cỏ chưa mục, đóm chưa đèn,
Tua Rua phúc đức một phen chiếu vào.
Ngắm trăng cấn tượng bốn hào,
Trong ngoài quét sạch, công lao nghìn trùng.
Vận hội mới, sáng muôn vùng, (195)
Như lò thiên địa cháy bùng tháng giêng.
Tuần hoàn theo lẽ khuôn thiên,
Hết lạnh thì ấm, hết phiền lại vui.
Đầy rồi thì tới lưng vơi,
Đất bằng nắng ấm muôn nơi đẹp đời. (200)
Vạn loài sống lại ơn trời,
Đường trăng hòa hợp bảy ngôi thiên hà.
Bốn mùa trời đất hài hòa,
Sinh sinh hóa hóa theo đà đẩu khu.
Hương thơm bay ngát miền xa, (205)
Rượu nồng thấm cõi ta bà u minh.
Năm mây ngọc lụa đem trưng,
Cỏ cây cũng biết hát mừng nghiệp vương.
Tiêu thiều mấy khúc bệ rồng,
Thú cầm ca múa ánh hồng hoàng kim. (210)
Cờ năm thức, sắc hoa chìm,
Long lanh mặt nước dáo in ba ngù.
Tiếng đàn “Gió mát” gảy ru,
Nước sâu “ngũ bái” thiên thu tưng bừng.
Đến Ngọ, tiếng trúc vang lừng, (215)
Núi xa dường cũng cúi mừng “tam hô”.
Nghìn thu lễ nhạc tiêu sơ,
Cảnh nầy, mấy thưở, nào so được nào.
Rồng mây, vũ lộ tưới vào,
Cõi bờ một mối, dạt dào lòng dân. (220)
Dưới cờ quét lũ nịnh gian,
Cờ lau đen, “áng tường quang” tuôn tràn.
Đầu ghềnh hai chữ vu viên,
Răn loài hồng nhạn bỏ miền du cư.
Vạc nông “nhủ lũ ê phù,” (225)
Bến sông ai hát nhà Chu thái bình.
Tiếng ca gợi nhớ dân sinh,
Nhà không khóa cửa, công bình tương thân.
Dễ dàng “canh tạc” mà ăn,
Múa ca tụng ngợi vương ân trẻ già. (230)
Nơi nơi “bặt quỷ im hồ”
Thỏa lòng việc trước truyền cho nuôi trồng.
Nay đà “thái lãng” điềm thông,
Thánh nhân dè giữ cho lòng hân hoan.
Đưa đèn soi nước ghềnh sông, (235)
Truy tìm thủy quái, đục trong sông nào.
Tần vần cỏ mọc miếu cao,
“Thôi hoa” hồi trống trở màu “huân do”.
Dân phong cày cấy chăm lo,
Phong quang soi vật thanh ô đủ bài. (240)
“Chiểu đài” ngắm cá chim bay,
Cầu người có đức có tài kinh luân,
Nghe chim, gà gáy hiểu dân,
Thấy nơi trù phú, nơi bần thê lương.
Nỗi niềm tỏ rõ mọi đường, (245)
Trị bình thứ yếu cũng đành tề tu.
Cường hào nhũng nhiễu hải ngu,
Truy tìm diệt lũ chuột chù trốn hang.
Bờ liễu cây đá vững vàng,
Hoài công tổ kiến xoi dòng nước trôi. (250)
Hồ đẹp chuyện nhỏ mà thôi,
Thái bình bốn bể để đời đại công.
***
9N-Đoạn kết (84-86), 2 liên, Ngân Triều cảm đề: cảm nghĩ của tác giả:
[…đại công]
Tôi nay,
Hổ mình dại trí thô nông,
Yên bề “hu lịch” tấc lòng kỷ qua.
Năm mươi bóng đã xế tà, (255)
Gia cầm lẩn thẩn như là chim loan.
Tây Hồ trau chuốt một chương,
Ngước trông “ngự đạo” thái dương, phụng trình,
Núi xanh muôn kỷ chúc mừng ,
Cơ đồ xán lạn tưng bừng ngọc Dao. (260)
***
Ảnh minh họa:
Cảnh đẹp của Hồ Tây .














Không có nhận xét nào: