Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

Hương Sài Gòn - Trầm Vân


    Hương Sài Gòn
Yêu làm sao những làn hương
Hương Sài Gòn ngát yêu thương dịu dàng
Mùi hương tà áo bay ngang
Cây nghiêng cành đón dìu làn nắng rơi
Mùi hương của bóng lứa đôi
Bầu trời ngan ngát tiếng cười trổ hoa
Mùi hương giọng nói thật thà
Nè anh, à hén thật là dễ thương
Mùi hương của ánh trăng sương
Dỗ ngon dỗ ngọt nỗi buồn vướng vai
Hàng cây nghiêng nỗi nhớ ai
Mùi hương một mái tóc dài quấn quanh
Mùi hương một khoảng trời xanh
Trường xưa kỷ niệm dỗ dành thời gian
Ngày xanh mưa đẹp nắng vàng
Con đường đến lớp thênh thang gió lùa
Mùi hương của ký ức xưa
Theo dòng xe chạy quẹo cua vào lòng
Hẹn hò sáng nhớ chiều mong
Giờ người tay bế tay bồng đành sao ?
Mùi hương tô phở ngọt ngào
Mùi hương gỏi cuốn món xào món chiên
Mùi hương của trái sầu riêng
Thơm môi người, ngát cả thềm gió mây
Sài Gòn thương nhớ đong đầy
Rót vào ly rượu uống say nghĩa tình
Nhịp đời có lúc chông chênh
Hương Sài Gòn mãi quanh mình chở che
Người đi phố đợi người về
Bóng đêm ngan ngát lời thề trăng sao
Tình quê sóng vỗ dạt dào
Hương Sài Gòn mãi ngấm vào trong tim
        Trầm Vân



Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

Đi Giữa Mùa Thu - Triệu Dương NLT



       Đi Giữa Mùa Thu

Đạp tuyết mà đi giữa lá vàng,
Sương mù giăng mắc, mùa Thu sang.
Chuyện xưa còn nặng, tình lưu luyến,
Ân nghĩa giờ đây, sao bẽ bàng?

Chim nhạn từng không xuống phía Nam
Anh đào chín đỏ thuở hồng hoang.
Bao nhiêu mơ ước từ xa vắng,
Chén rượu ly bôi uống vội vàng.

Trà thơm nhấp cạn vẫn khô khan,
Chiếc bánh trên tay nhớ cố nhân.
Một buổi chiều đi không trở lại,
Ngoài xa chim nhạn vượt mây ngàn.

Sóng biển nhấp nhô bờ trắng xóa,
Đá còn trơ trọi giữa bao la.
Dâu bể bao đời nay còn lại,
Non cao bóng cả, cảnh chiều tà.

Ta còn theo mãi dấu chân chim,
Một tiếng chim kêu, sóng nổi chìm.
Tự cổ giai nhân nan tái đắc,
Bạc đầu chẳng gặp lại người em.

Gió thét mưa gào trên Biển Đông,
Đêm qua em bỗng nhớ thương chồng.
Chồng ai? Em nhớ em không biết.
Có phải giấc mơ, giấc mơ hồng?

     Triệu Dương NLT
Một sáng mùa Thu (28/9/2018)







Thu Cảm & Thu Cali (Mai Xuân Thanh)

  

  1) Thu Cảm

Mùa thu ảm đạm cũng vui buồn
Tuổi trẻ nhìn trăng tỏa sáng buông
Trai tráng nề chi cơn bão táp
Cao niên trải nghiệm trận phong cuồng
Ngủ ngon một giấc ai nhiều chuyện
Say khướt vài chung bạn nói suông
Một gánh túi thơ nơi đất khách
Hai vai bầu rượu trở về nguồn

Mai Xuân Thanh



    2) Thu Cali

Nhớ bạn tri âm vò võ buồn
Cali ấp ủ dễ gì buông
Rừng phong thiếu phụ đơn thân loạn
Dốc núi anh chàng chiếc bóng cuồng
Bất tín những ai hay hứa cuội
Vô tâm nhiều kẻ nói năng suông
Tuy nhiên, hiểu họ còn xa xứ
Vả lại, biết điều trở lại nguồn !

Mai Xuân Thanh
Ngày 25/09/2018 



       Thu Cảm

Cali thắng cảnh khách nhàn du
Đến phố LA sương sớm mù  (LA : Los Angeles)
Đường rộng xe đò đi mát rượi
Free way tài xế chạy êm ru
Thương ai bỏ xứ xa Đà Nẵng
Nhớ bạn hoài hương ngóng Núi Vu
Quạnh quẽ chăn đơn trong quán trọ
Chạnh buồn gối chiếc với đêm thu

Mai Xuân Thanh
Ngày 26/09/2018






Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2018

Kiếp Tha Hương - Mai Xuân Thanh


       Kiếp Tha Hương

Tha hương đất khách bạn quen ta
Hạnh ngộ bao năm vẫn thuận hoà
Êm ái bên nhau như sáo nhạc
Ân cần sát cánh tựa bài ca
Cali biển Thái Bình không cách
Đà Nẵng Sài Gòn cũng chẳng xa
Xướng họa thơ Đường hay cảm tác
Thân thương hình ảnh chốn quê nhà

Mai Xuân Thanh
Ngày 17 tháng 09 năm 2018



Trái Tim Vẫy Gọi - Trầm Vân


    Trái Tim Vẫy Gọi
Cuộc đời ngắn lắm em ơi
Nắng chưa kịp đỏ, mưa rồi ướt tim
Sóng chưa kịp nổi đã chìm
Ngày chưa kịp đẹp đã đêm lạnh lùng
Lẽ nào em để môi hồng
Phai trong lạnh lẽo mênh mông xế chiều
Tiếng chim thắc thỏm lời yêu
Rơi trong hoang lạnh hắt hiu bầu trời
Lẽ nào môi chẳng chờ môi
Con đường cô lẻ tiếng cười xa nhau
Và em nhan sắc bỏ đâu
Nếu không có kẻ bạc đầu nhớ thương
Thì ta hãy bước chung đường
Yêu cho sực nức mùi hương ái tình
Cho trời thắp nến lung linh
Mỗi ngày sinh nhật bóng hình đôi ta
Giọt mưa làn nắng đơm hoa
Ánh trăng muôn thưở chẳng già, vàng mơ
Chiều trôi qua lối hẹn chờ
Ngát lời chim hót tiếng thơ nồng nàn
Và tình đừng để sang ngang
Trái tim lệ đổ muôn ngàn giọt đau
         Trầm Vân



Thứ Tư, 26 tháng 9, 2018

* Thu Phân Tháng Tám - Mai Xuân Thanh

    Thu Phân Tháng Tám

Thu phân tháng tám tới đây rồi
Giấy bút làm thơ gởi bạn tôi
Thấm thoát thời gian hờ hững quá
Thung dung xế bóng lạnh lùng trôi
Thiếu nhi đốt nến đèn bánh ú
Bô lão dâng nhang bánh đậu, xôi
Truyền thống lâu đời cho trẻ nít
Quây quần ca hát cũng vui thôi

Mai Xuân Thanh
Ngày 23/09/2018 
(Rằm Trung Thu năm Mậu Tuất)




Độc Lão Tử của Bạch Cư Dị (Bài viết của Đỗ Chiêu Đức)

                   Độc Lão Tử  
                      Bạch Cư Dị

1. Nguyên bản chữ Hán cổ của bài thơ:

     讀老子                      Độc Lão Tử
言者不如知者默,   Ngôn giả bất như tri giả mặc,
此語吾聞於老君。   Thử ngữ ngô văn ư Lão Quân. 
若道老君是知者,   Nhược đạo Lão Quân thị tri giả,
緣何自著五千文?   Duyên hà tự trứ ngũ thiên văn ?
          白居易                               Bạch Cư Dị

                       
2. Chú Thích:
    - Độc Lão Tử: Là Đọc sách của Lão Tử viết.
    - Ngôn Giả: là Người nói. Bất Như: là Không bằng.
    - Tri Giả: là Người biết. Mặc: là Trầm mặc, là im lặng.
    - Thử Ngữ  là Câu nói nầy. Ngô Văn Ư: là Ta nghe ở...
    - Lão Quân: là Thái Thượng Lão Quân, tức là Lão Tử,
      Ông tổ của Đạo Giáo.
    - Nhược Đạo: là Nếu nói rằng, Nếu bảo rằng.
    - Duyên Hà: là Duyên cớ làm sao..., Tại làm sao...?
    - Tự Trứ: là Tự mình trứ tác, là Tự mình viết ra.

3. Nghĩa bài thơ:
                    Đọc Tác Phẩm của Lão Tử
      "Người nói không bằng người biết mà im lặng không nói." Câu nói nầy ta nghe được ở Thái Thượng Lão Quân. Nếu bảo Thái Thượng Lão Quân là người hiểu biết, thì cớ sao ông ta còn tự tay viết nên năm ngàn chữ của quyển Đạo Đức Kinh?

       Chương thứ 56 của Đạo Đức Kinh 道德經 mở đầu bằng câu: " 知者不言,言者不知 Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri" Có nghĩa: 
"Người hiểu biết là người không nói, còn người hay nói là người chả biết gì."  Vì câu nói nầy mà Bạch Cư Dị làm bài thơ tứ tuyệt trên để chất vấn Lão Tử:
       Ông nói là "Người biết không nói, Người nói là người không biết."  Nếu nói ông là người biết (thì ông phải lặng thinh), chứ cớ sao ông lại viết ra đến 5 ngàn chữ? (Thế thì ông có phải là người hiểu biết chăng?)  Ý nói là: Ông nói một đàng, làm một nẻo; Nói xong rồi tự đưa tay lên vả miệng mình luôn!

4. Diễn Nôm:
                             
                     Người nói không bằng biết lặng câm,
                     Lời nầy ta nghe tự Lão Quân.
                     Nếu bảo Lão Quân là người biết,
                     Sao còn viết đến năm ngàn hơn?!

       Có một giai thoại mà Bạch Cư Dị không hề biết, là: Đạo Đức Kinh không phải do Lão Tử 老子 viết nên, mà là do Doãn Hỉ 尹喜 viết thành theo như tiểu truyện sau đây:

       Lão Tử vốn họ Lão, tên Nhĩ, tự là Bá Dương, sanh khoảng 655-622 trước Công Nguyên, đời Châu Huệ Vương. Khoảng 20 tuổi, vì chiến loạn nên về sống với chú là Châu Thái Sử. Vì chú không có con, nên ba bốn năm sau, vào năm thứ 31 đời Châu Tương Vương, tiếp nhận chức Thái Sử của chú và giữ chức vụ nầy đến 32 năm. Sau thấy khí số của nhà Châu đã suy vi, bèn từ quan mà đi. Khi đến ải Hàm Cốc, có quan giữ ải là Doãn Hỉ, bấy lâu đã mộ tiếng Lão Tử, bèn cùng từ quan mà theo về ở núi Chung Nam, rồi cùng về quê của Doãn Hỉ ở Thiên Thủy mà định cư.
     Khi nhà Tây Châu mất, vương thất của Đông Châu phái người đến tìm Doãn Hỉ ra làm quan, thấy có một ông già tiên phong đạo cốt ngồi một bên, mới hỏi là ai và định mời ra làm quan luôn, nhưng vì Lão Tử đã chán ngán với cảnh quan trường, nên mới nói thác đi mình mang họ Lý, vì thấy có cây Lý trước cửa. Từ đó mọi ngừơi mới gọi ông là Lý Nhĩ.
     Sau khi Doãn Hỉ ra làm quan, lúc rảnh rổi mới ngồi chép và biên soạn lại những gì mà lúc còn ở chung đã hỏi và đã được Lão Tử giải thích cặn kẽ, viết lại thành quyển Đạo Đức Kinh. Nên trong Đạo Đức Kinh ta chỉ thấy câu trả lời mà không hề thấy câu hỏi bao giờ, vì Đạo Đức Kinh là do Lão Tử khẩu đáp và do Doãn Hỉ hệ thống lại mà thành.
    
 Nhưng,
                Mặc dù không phải của ông viết, nhưng vẫn là lời của ông nói như thường!


                        Đỗ Chiêu Đức