Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Thành Ngữ Điển Tích 42: Dây (Đỗ Chiêu Đức)

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 42 : 

                                                DÂY
                               

                      南有樛木,    Nam hữu cù mộc, 
                      葛藟累之。    Cát lũy luy chi.
                      乐只君子,    Lạc chỉ quân tử,
                      福履绥之。    Phúc lý tuy chi.
      Có nghĩa :
                                 Phương nam cù mộc một cây,
                           Kóc kèn bìm bịp mọc đầy leo quanh.
                                 Vui thay quân tử chí thành,
                           Trên hòa dưới thuận yên lành tề gia.

           Đó là bài CÙ MỘC《國風·周南·樛木》thuộc chương Chu Nam, Quốc Phong trong Kinh Thi. Đây là bài dân ca Hoa Hạ của đời tiên Tần, ví các cô gái lấy chồng như là các loại dây leo cát lũy quấn quanh thân cây cù mộc (Cát lũy luy chi). Cù mộc là loại cây cao bóng cả như người quân tử (người chồng) che chở cho vợ cùng sống hạnh phúc với nhau vậy. Cát lũy là dây leo nên còn tượng trưng cho thân lẻ mọn như Thúy Kiều đã ví mình khi đã được chuộc về từ lầu xanh để làm vợ lẻ của Thúc Sinh:

                      Tin nhà ngày một vắng tin,
               Mặn tình CÁT LŨY nhạt tình tao khang

      Còn đối với người hùng Từ Hải thì Thúy Kiều cũng tự ví mình nhỏ nhoi như là những DÂY CÁT ĐẰNG sống nương tựa vào bóng cây to lớn:

                      Nàng rằng chút phận ngây thơ,
                Cũng may DÂY CÁT được nhờ bóng cây. 

      Cũng như khi đưa tiễn Thúy Kiều đi theo Mã Giám Sinh, Vương Viên Ngoại cũng đã gởi gắm rằng:

                      Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,
                Tuyết sương che chở cho thân CÁT ĐẰNG.

          ĐẰNG 藤 là dây Mây, nên CÁT ĐẰNG cũng là dây leo, dây chùm gởi. Tương đương với DÂY CÁT, ta còn có DÂY SẮN, DÂY BÌM cũng thường dùng để chỉ thân phận nhỏ nhoi lẻ mọn của phái nữ, như trong "Hoa Tiên Ký" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện:
             
      

 

                          Vả nghe tiếng nổi văn thơ,
                 Xin đem DÂY SẮN mong nhờ bóng thông.

          Hay như khi Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư, thì Thúy Kiều ở lại một mình nên cũng lo âu than thở cho thân phận lẻ mọn của mình là:

                            SẮN BÌM chút phận con con,
                  Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

         Mở đầu cho thơ truyện Nôm "Hoa Tiên Ký" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện là hai câu:

                    Trăm năm một sợi CHỈ HỒNG,
              Buộc người tài sắc vào trong khung trời.

        Như ta đã biết, CHỈ HỒNG là do tích Nguyệt Lão và Xích Thằng mà ra (xem lại Điển Tích Văn Học 2). Chỉ Hồng còn được nói trại đi thành CHỈ THẮM, như trong Tây Sương Ký:


                       Nhân duyên sao khéo hẹn hò,

               Rắp đem CHỈ THẮM xe cho Trịnh Hằng.       

                     

        Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Chỉ Hồng không những gọi là Chỉ Thắm mà còn được gọi là DÂY THẮM nữa, như:

                  Ý cũng rắp ra ngoài đào chú,
                  Quyết lộn vòng phu phụ cho cam.
                     Ai ngờ trời chẳng cho làm
           Nở đem DÂY THẮM mà giam bông đào.
     


       Ngoài DÂY THẮM trong văn học cổ còn có DÂY UYÊN là Dây đàn hòa hợp giữa chim Uyên 鴛 và chim Ương 鴦. Uyên Ương 鴛鴦 là một loại chim, có hình dáng giống như con vịt, nhưng lông có màu sắc rực rỡ rất đẹp. UYÊN là con trống, ƯƠNG là con mái, thường đi đôi với nhau không chịu rời xa nhau, nên thường dùng để ví với tình nghĩa khắng khít giữa vợ chồng đôi lứa, như trong truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính có câu:
                     Nửa chăn để bụi đã dày,
           UYÊN ƯƠNG ước lại sum vầy hơn duyên.

          Còn trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thì dùng từ DÂY UYÊN để dịch nhóm từ 3 chữ là UYÊN ƯƠNG HUYỀN 鴛鴦絃 (Dây Uyên Ương) trong nguyên tác của Đặng Trần Côn là:

                   強援琴指下, 驚停鸞鳳柱.  
 Cưỡng viện cầm chỉ hạ, kinh đình loan phượng trụ.
                   強調瑟曲中, 悲遏鴛鴦絃. 
 Cưỡng điều sắt khúc trung, bi yết UYÊN ƯƠNG HUYỀN.

Có nghĩa :
              - Miễn cưỡng gãy đàn, chỉnh e phím loan phượng bị chùng dưới các ngón tay, và ...
              - Gắng gượng cố mà đàn, lại e khúc sầu muộn sẽ làm đứt dây uyên ương.                

         Hai mươi chữ của bài ngũ ngôn trong nguyên tác của Đặng Trần Côn nêu trên, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch rất khéo, chỉ tóm gọn lại trong hai câu lục bát mà thôi:
                      Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
              DÂY UYÊN kinh đứt, phím loan ngại chùng.
          
           
        Trong Truyện Kiều, khi ngỡ Thúy Kiều đã bị chết thiêu, Thúc Sinh buồn bã sống một mình ở Lâm Truy, thấy phấn thừa hương cũ của Thúy Kiều còn sót lại, lại càng tưởng nhớ đến nàng hơn:

                    Lâm Truy từ thuở UYÊN bay,
          Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
                    Mày ai trăng mới in ngần,
          Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa!

         Xin được nói thêm về câu đầu của vế thơ nầy, lẽ ra phải là: "Lâm Truy từ thuở ƯƠNG bay" thì mới đúng, vì UYÊN là chim Trống, ở đây chỉ Thúy Kiều nên phải là ƯƠNG (chim mái) mới đúng. Nhưng tất cả các bản Truyện Kiều đều in là "UYÊN", nên cũng... chả biết sao cho phải!

        Cũng trong Truyện Kiều, sau khi nghe Thúy Kiều đàn và kể lể "Cung cầm lựa những ngày xưa, Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây" thì Hồ Tôn Hiến đã:

                   Nghe càng đắm, ngắm càng say,
             Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.
                  Dạy rằng: Hương lửa ba sinh,
            DÂY LOAN xin nối cầm lành cho ai !

   Thúy Kiều đã đáp :

                  Thưa rằng: Chút phận lạc loài,

           Trong mình nghĩ đã có người thác oan .

                  Còn chi nữa cánh hoa tàn,

          Tơ lòng đã đứt DÂY ĐÀN TIỂU LÂN .
        

          DÂY ĐÀN TIỂU LÂN : là Dây đàn của nàng Phùng Tiểu Lân 馮小憐, ái phi của Bắc Tề Hậu Chúa thời Nam Bắc Triều, được Hậu Chúa Cao Vi phong làm Thục Phi. Tiểu Lân thông minh lanh lợi, giỏi ca múa, đặc biệt là ngón đàn tì bà rất tuyệt diệu. Hậu Chúa rất sủng ái thường ăn cùng mâm, đi cùng xe.  Công nguyên 577, Bắc Tề mất vào tay Bắc Chu. Chúa Bắc Chu là Vũ Văn Ung thấy Hậu Chúa Cao Vi còn rất thương mến Phùng Tiểu Lân nên trả nàng lại cho Cao Vi. Nhưng sau khi Cao Vi chết, Vũ Văn Ung lại tặng nàng cho Đới Vương Vũ Văn Đạt. Đạt cũng rất sủng ái nàng, nhân trong bửa tiệc nàng gãy đàn tì bà giúp vui, bất ngờ dây đàn bị đứt. Phùng Tiểu Lân mới tức cảnh làm một bài thơ như sau:

              雖蒙今日寵,        Tuy mông kim nhật sủng,
              猶憶昔時憐。      Do ức tích thời lân.
              欲知心斷絕,      Dục tri tâm đoạn tuyệt,
              應看膝上弦。      Ưng khan tất thượng huyền.
Có nghĩa :
                      Hôm nay tuy được cưng chìu,
                 Nhớ xưa sủng ái đủ điều mến thương.
                      Lòng ta chi xiết đoạn trường,
                 Như dây đàn đứt vấn vương tơ tình !

        Thúy Kiều đã rất tâm đắc khi mượn ý của bài thơ của Phùng Tiểu Lân để bày tỏ lòng mình với Hồ Tôn Hiến bằng câu: "Tơ lòng đã đứt DÂY ĐÀN TIỂU LÂN " rồi mới bày tỏ nguyện vọng của mình với Hồ là:
                       
                  Rộng thương còn mảnh hồng quần,
         Hơi tàn được thấy gốc Phần là may !

        Nhưng Hồ Tôn Hiến đã không đáp ứng cho nàng về quê để thấy "Gốc Phần", để thăm lại mẹ cha, mà lại "Ép tình mới gán cho người thổ quan" khiến cho nàng phải "Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang" để kết thúc cho cái thân "má hồng phận bạc" và "một đời tài sắc" của mình như lời bà TamHợp Đạo Cô đã nói:

               Tu là cỗi phúc, Tình là DÂY OAN !

        Câu thơ trên đây của Nguyễn Du đã trở nên bất hủ, với 6 câu vọng cổ "TU LÀ CỖI PHÚC" do nghệ sĩ Minh Cảnh ca và 6 câu vọng cổ "TÌNH LÀ DÂY OAN" (còn có tên LAN và ĐIỆP) do nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan ca, cả hai bài vọng cổ trên đều do nhạc sĩ Viễn Châu biên soạn. Ngoài ra "TÌNH LÀ DÂY OAN" còn là tên của bộ phim 36 tập, do M&T Picture sản xuất.

                        soạn giả Viễn Châu và Út Bạch Lan

     Xin được kết thúc các DÂY ở đây. Hẹn bài viết tới!

                                                        Đỗ Chiêu Đức






Đua Chen - Vkp.Phượng Tím


            ĐUA CHEN 
           Vkp phượng tím
 (Họa nghịch ý bài Hưởng Nhàn  của NC)

Dẫu cuối đời... vẫn muốn chạy đua
Với thời gian... để chậm thay mùa
Không tin cuộc sống nhiều cay chát
Chẳng sợ thói đời lắm đắng chua!
Tàu vượt sóng băng qua biển lớn
Người thêm tuổi cố tránh mây lùa
Đua chen thích đấu cùng tri kỷ
Đá nhọn chân mềm... không chịu thua!
       Vkp phượng tím


      HƯỞNG  NHÀN 
       Nguyễn Cang

Hoàng hôn tuổi hạc hết tranh đua
Man mác tàn thu lá đổi mùa
Trời lạnh nghe thèm tô mắm thái
Mưa rào bỗng nhớ lẫu me chua
An nhàn dạo chợ tìm mua sắm
Phấn khởi dơ tay hứng nắng lùa
Bưổi sáng thảnh thơi đưa cháu học
Bỏ bên đời  chuyện thắng hay thua.
       Nguyễn Cang



Halloween Nhớ Phương Trời - Trầm Vân



Halloween Nhớ Phương Trời

Halloween lễ hội vui
Phương trời xa thẳm tiếng cười thiên di
Người bôi mặt hóa trang gì ?
Thành con ma dữ bay đi dọa người
Hay là thành một Người Dơi
Bay đi cứu khổ những người gian nan
Hay là cướp biển hung tàn
Giơ dao hù dọa ngút ngàn biển đen
Xua cái rủi đón cái hên
Halloween đến bên thềm lành tươi

Halloween nhớ phương trời
Câu thơ mến gửi những lời chúc thân
Hóa trang thành một vầng trăng
Cho đêm thương bắc võng nằm đong đưa

Ru người cánh bướm thấp thưa
Ru người tiếng gió bốn mùa lành an
Ru đời hạnh phúc an khang
Giữ Chân Thiện Nhẫn lòng vàng từ tâm

Chúc người thanh thoát bước trần
Con đường an lạc lâng lâng gió lùa
Tháng ngày ngọt nắng xanh mưa
Cành cây ân phước cũng vừa nghiêng qua

Halloween nhớ trời xa
Xin là ngọn gió mượt mà vòng quanh
 Trầm Vân




Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

Thơ Xướng-Họa kỳ 31/ Nhóm Vườn Thơ Mới / Chủ đề: Hưởng Nhàn



THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 31/ NHÓM VƯỜN THƠ MỚI
Chủ đề: Hưởng Nhàn


Bài xướng:
          CẢNH NHÀN

Quê nghèo mộc mạc chẳng ganh đua
Cá tép rau xanh đủ bốn mùa
Sáng cháo tôm càng nêm bột ngọt
Chiều cơm cá hú nấu canh chua
Thanh nhàn đọc sách nghe chim hót
Rảnh rỗi làm thơ đón gió lùa
Chén rượu chung trà vui xướng hoạ
Ngoài tai gác bỏ chuyện hơn thua.
        Đinh Tường


Họa 1:
      ƯA NHÀN

Mòn mỏi một đời gắng sức đua,
Giờ đây già lão, gió sang mùa.
Sắc hồng đã nhạt thêm vàng úa
Vị đắng hòa cay lẫn chát chua.
Thuyền vẫn ước ao sông phẳng lặng,
Thân đành phó mặc sóng xô lùa.
Ưa nhàn, mượn bút dăm vần họa,
Thây kệ trần gian chuyện thắng thua…
       Minh Tâm


Họa 2:
       HƯỞNG  NHÀN

Hoàng hôn tuổi hạc hết tranh đua
Man mác tàn thu lá đổi mùa
Trời lạnh nghe thèm tô mắm thái
Mưa rào bỗng nhớ lẫu me chua
An nhàn dạo chợ tìm mua sắm
Hứng khởi dang tay hứng nắng lùa
Bưổi sáng thảnh thơi đưa cháu học
Bỏ bên đời chuyện thắng hay thua.
           Nguyễn Cang


Họa 3:
        THANH NHÀN 

Ngày tháng trôi dần lắm cuộc đua
Trời thu lành lạnh gió giao mùa
Đời người trải nghiệm đầy cay đắng 
Khoảnh khắc qua rồi nếm vị chua
Tự tại ung dung tâm tỉnh thức 
An nhiên thanh thản gió giông lùa
Tiêu dao xướng họa cùng bằng hữu 
Tận hưởng thanh nhàn bỏ thiệt thua.

HƯƠNG LỆ OANH VA THU 2019 


Họa 4:
   TỰ TRÀO: VỀ HƯU

Rửa tay gác kiếm, nghỉ tranh đua
Nhậu nhẹt vui chơi, bất kể mùa
Nhắm mắt, kệ bà hay õng ẹo
Bịt tai, mặc mụ cứ chanh chua
Bầu đầy rượu mạnh, tha hồ nhắp
Chén ngập mồi ngon, cứ việc lùa
Còn chẳng bao ngày sao chẳng hưởng
Can chi đến việc thắng hay thua?

Thảo Chương TQV


Họa 5:
     THÚ NHÀN

Nghiệt ngả đường đời cứ mãi đua
Sông lam núi bạc chuyển sang mùa
Hàn vi nếm đủ màu cay đắng
Vượt khó dư đầy nỗi chát chua
Thuyền lộng cập bờ qua sóng dữ
Rèm buông thả giấc tránh đông lùa
Ngắm trăng dạo cảnh-thơ cùng bạn
Vui thú thanh nhàn gác được thua.

        Kim Tran


Họa 6:
NGÀN MÂY RỘNG GIÓ

Người đời lão luyện mặc tình đua
Ta với ngàn mây rộng gió mùa
Gởi nắng trên cành vì khế ngọt
Trao lời trong lá bởi bòng chua
Chiều nghiêng ngoạn cảnh e sương bủa
Bóng ngã nhìn hoa ngại khói lùa
Thơ rượu giao hòa thư thả sống
Quan trường chợ búa đã chào thua.
 Nguyên Triêu Dương










Thương Tiếc 39 Đồng Hương (Mai Xuân Thanh) & Bài xướng của Trịnh Cơ


Họa : 
     Thương Tiếc 39 Đồng Hương 
      (Bài xướng ở dưới)
 
Tin tức xôn xao thật thảm thương
Ba mươi chín mạng thác qua đường
Nguyên nhân "liều chết" xa đau khổ...
Hậu quả "hy sinh" cách cố hương...!

Xe cộ vượt biên tới viễn Âu...
Cầm đầu hướng dẫn trốn theo tàu
Cam nhông, xe lửa qua bao nước
"Đông lạnh", một đời tựa bóng câu

Sống sót ai đâu... chẳng biết sao ?
Tuổi xuân sao nỡ lụy bôn đào...
Thiên đường mô nữa, nhanh chân thoát ?
Địa ngục trần gian gánh khổ đau !

Em đẹp như tiên, hủy tấm thân !...
Nợ đời chồng chất, sớm nguy nần
Mẹ cha than khóc ôi con gái !...
Bỏ xứ ra đi mộng thoát bần !...

Mai Xuân Thanh
Ngày 29/10/2019


                  Bài xướng
NỖI ĐAU

Băm mươi chín kẻ chết đau thương
Bỏ nước ra đi vạn dặm  đường
Vượt núi băng rừng bao khổ ải
Để rồi bỏ xác chốn ly hương

Khởi đầu cất cánh đến Đông Âu
Từ đó leo lên các chuyến tàu
Xe lửa và cam nhông đủ thứ
Nằm trong connex xế cần câu 

Có ai sống lại...hỏi vì sao?
Bỏ cả quê hương để thoát đào
Ăn uống như chừng không đỡ đói
Anh về..."giải phóng" tạo thương đau

Thôi em chết... cũng được yên thân
Khỏi phải lao công trả nợ nần
Bố mẹ thương yêu càng bớt khổ
Bây giờ chắc thoát cảnh cơ bần !

       Paris, 26/10/ 2019
TRỊNH  CƠ



Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019

Thành Ngữ Điển Tích 41: Chữ - (Đỗ chiêu Đức)

Mở Lòng - Trấm Vân


Mở Lòng
Người ơi, hãy mở lòng ra
Từ bi bác ái đóa hoa thiện từ
Giúp người nghèo khổ bơ vơ
Trẻ mồ côi khổ đang chờ niềm thương

Ấy là lòng ngát hương thơm
Cho là khơi chảy suối nguồn tươi vui
Là gây phước đức cho đời
Sẽ là đón nhận ơn trời trên ban

Mặc ai gian dối ác tham
Sẽ là gánh chịu muôn ngàn nghiệp đen
Sẽ là bệnh tật triền miên
Tai ương ập đến, nổi chìm phong ba...

Giữ Chân Thiện Nhẫn lòng ta
Yêu thương rộng lượng vị tha nhẫn nhường
Sẽ là tránh được tai ương
Con đường an lạc gió luồn thanh cao
Nghe lòng chim hót xôn xao
Mùa xuân chừng đến ngọt ngào hương hoa

Trầm Vân