Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2022

VỀ LẠI BẢO LỘC (Sông Thu) & Thơ Họa

              

   VỀ LẠI BẢO LỘC

Tôi lại về thăm Bảo Lộc xưa

Rừng nương thấp thoáng dưới sương mờ

Quanh co sưối nhỏ ven đường mộng

Óng ánh quì vàng dọc dốc mơ

Hồ nước gương soi nằm phẳng lặng

Đồi chè vung úp xếp nên thơ

Gió qua xào xạc như lời nhắn

Của kẻ tri âm hẹn đợi chờ.

   Sông Thu

( 25/11/2022 )


Thơ Họa:

          CHIỀU NHỚ QUÊ

Chiều buồn man mác nhớ quê xưa

Thấp thoáng sương lam giữa khói mờ

Róc rách suối reo bên lối mộng

Mơ hồ gió thoảng cạnh đồi mơ

Cánh diều lơ lửng chen trời rộng

Đồng lúa rạt rào sắp ý thơ

Kỷ niệm thuở nào còn gắn bó

Từ xa xôi...ước hẹn mong chờ...!

 MAI NGA

(25/11/2022)

 

       DUYÊN XƯA

Duyên cùng Bảo Lộc đã từ xưa

Trở lại thăm nương rẫy thắm mờ

Có thấy con đường vẫn nuối mộng ,

Xem chừng cảnh vật có còn mơ ?

Tình nồng sách vở soi hồ nước ,

Nghĩa cũ sinh viên chật núi thơ !

Xây đắp tương lai bao hẹn ước

Tri âm vẳng tiếng khách nao chờ ...

CHUNG VĂN

  25/11/2022

 

NHỚ ĐÀ LẠT MÙ SƯƠNG

Về thăm xứ lạnh nhớ chùa xưa

Cổ tự Linh Sơn khói toả mờ

Chợ Mới Hoà Bình xinh tựa mộng

Bích Câu KỲ Ngộ đẹp như mơ

Xuân Hương Thuỷ Tạ tao nhân ảnh

Than thở hồ tri kỷ khách thơ…

Lữ thứ dặm trường người mất hút

Bóng chim tăm cá kẻ mong chờ

  Mai Xuân Thanh

November 25, 2022

 

VỀ THĂM NGỌC HÀ (*)

Ngọc Hà chốn ấy những năm xưa,

Ký ức ngày xanh chửa xoá mờ.

Rực rỡ màu hoa từng vẫy khách,

Rộn ràng lễ hội gọi trong mơ.

Càng suy nghĩ mãi càng ngơ ngẩn,

Những tưởng gần về cứ thẩn thơ.

Hà Nội không còn như trước nữa,

Cũng về thăm kẻo cứ mong chờ.

Đỗ Quang Vinh

  25-11-2022

(*) Làng Ngọc Hà thuộc ngoại ô sát thành phố Hà Nội gần Vườn Bách Thảo. Làng chuyên trồng đủ loại hoa, cung cấp cho thành phố và khách khắp nơi đến thưởng ngoạn. Đình làng thường nhộn nhịp trong những ngày lễ hội như đánh cờ người trước sân đình. Làng được dựng làm bối cảnh trong truyên Gánh Hàng Hoa của Khái Hưng và Nhất Linh.

 

KỶ NIỆM THÂN THƯƠNG

Chong đèn lặng lẽ nhớ ngày xưa

Kỷ niệm thân thương chẳng xoá mờ

Bảo Lộc trà ngon nhiều kẻ viếng

Lâm Đồng cảnh đẹp lắm người mơ

Thời kia giỏ xếp ba bầu rượu

Thủa ấy vai quàng một túi thơ

Bút mực bày ra cùng giá vẽ

Thầm mong bạn đến kẻo đây chờ!

 Như Thu

11/25/2022

 

BẢO LỘC NGÀY VỀ

Về thăm Bảo Lộc khác hơn xưa

Lấp lánh hồ trong dưới Nguyệt mờ

Óng ả hoa vàng khoe cánh mỏng

Lặng lờ suối bạc ánh trời mơ

Đồi chè xếp lớp tươi cành lá

Sơn nữ mang gùi đẹp áng thơ

Lữ khách ru hồn trong cõi mộng

Từ lâu trở lại thỏa mong chờ

Minhquang

 20221125

 

VỀ LẠI CHỐN XƯA

Lâu lắm mới về lại chốn xưa

Bấy nhiêu hình ảnh vẫn khôn mờ

Thênh thang những bước trên đồi thắm

Lãng đãng bao chiều bên suối mơ

Bỗng mắt ngây vương nhìn cảnh cũ

Dưng hồn rạo nuối nhắc ngày thơ

Người đây, cảnh đấy mà sao lạ

Năm tháng nhanh trôi chẳng gặng chờ

CAO BỒI GIÀ

  26-11-2022

 

   VỀ THĂM HUẾ

Nhớ giục tôi về thăm Huế xưa

Hàng cau Vỹ Dạ bóng thu mờ

Sông Hương sóng bạc lay tình tứ

Núi Ngự trăng vàng thả mộng mơ

Tối rảo Hoàng Thành nghe nhã nhạc

Khuya vào cổ tự đọc thiền thơ

Đêm không ngủ được, đi quanh quẩn

Trước cổng trường xưa lặng đứng chờ…

Lý Đức Quỳnh

   26/11/2022


  TRÔNG VỀ ĐÀ LẠT

Trông về Đà Lạt nhớ ngày xưa

Sương trắng đồi Mua khói phủ mờ

Cổng nhỏ xanh rờn Thiên Lý mộng

Đèo cao vàng hực Dã Quỳ mơ

Ngoài vườn bướm vẫn bay khoe sắc

Trước cửa ta thường xướng họa thơ

Hẹn ước năm nao cùng kỷ niệm

Cho tim héo hắt bởi mong chờ...

       Thanh Song Kim Phú

CA. Nov/25/2022

 

        HỒN XƯA

          ( Liên Hoàn )

Thương về xứ Huế những ngày xưa 

Mỗi sớm Hương Giang khói trắng mờ 

Mấy cảnh bờ sông chiều nắng lụa 

Đôi tình bến nước sáng trời mơ 

Thu ươm áo tím ru lời nhạc 

Hạ quyện mây hồng xoắn điệu thơ 

Đại Nội, Đông Ba, thành Thượng Tứ 

Khi mô trở lại Tịnh Tâm chờ


Khi mô trở lại Tịnh Tâm chờ 

Để gió ru lòng dệt tiếng thơ 

Xứ Huế tôi mang vào giấc mộng 

Hoàng Thành bạn kết giữa đêm mơ 

Bao Vinh lá trúc đò u uẩn 

Vỹ Dạ nhà tranh khói nhạt mờ 

Đỉnh Ngự trăng cài soi huyễn ảo 

Cung sầu vạn lý níu hồn xưa 

        Minh Thuý Thành Nội

Tháng 11/ 25/2022


TIẾNG CHUÔNG CỔ TỰ

         (Hoạ bốn vần)

Chuông Chùa Long Giáng gợi mơ xưa

Rừng núi Bắc Ninh hương khói mờ

Hồn Bướm Mơ Tiên hằng thắm mộng

Trần Ai Tri Kỷ vẫn thường mơ

Đắm say chàng Ngọc bao cầu khẩn

Thổn thức chú Lan nguyện vẫn trơ

Đôi ngả trùng phùng mong giải kết

Tình chung một khối chớ nên chờ.

UYÊN QUANG

    25-11-202

 

LUYẾN LƯU GHI ĐẬM

Bao năm vẫn luyến nhớ ngày xưa,

Kỷ niệm luôn in bóng dáng mờ.

Lời hứa đã trao sa chốn mộng,

Câu thề trót gởi lạc dòng mơ.

Sông thu bến cũ tiêu hoang vắng,

Góc phượng nơi nào hóa xám thơ.

Lác đác lá vàng rơi chúi suối,

Còn chi hy vọng để mà chờ!

HỒ NGUYỄN

 (26-11-2022)

 

VIẾNG LẠI VƯỜN XƯA

Chiều nay viếng lại mảnh vườn xưa

Ngõ cũ sương loang phủ lối mờ

Liếp cỏ ngâm ngùi thương thuở mộng

Trang lòng thổn thức nhớ thời mơ

Âm thầm mận bưởi tình hoài ngóng

Lặng lẽ hàng cau nghĩa mãi chờ

Dĩ vãng vàng son trăn trở dạ        

Bồi hồi tiếng sáo chạnh ngày thơ.

Hương Thềm Mây

   26.11.2022

    (GM.Nguyễn Đình Diệm )

 

       TÌNH QUÊ 

Đã mấy mùa chưa ghé bến xưa

Đông sang cảnh sắc nhuốm hoen mờ

Từng làn gió vật vờ hoa nắng

Những lối vòng vương víu khói mơ

Nhìn xuống sườn đồi thon vóc dáng

Trông lên thác nước đẹp bài thơ

Chợt nghe vang vọng dư âm cũ

Khắc khoải tình quê vẫn ngóng chờ !

PHƯỢNG HỒNG

 

      HÃY THÔI

Luôn còn giữ mãi bóng hình xưa

Chừng ấy tháng năm chửa xóa mờ

Mặt nước lung linh hoài kỷ niệm     

Sắc quỳ óng ánh mãi cơn mơ        

Cung ai chớ ép vào khung nhạc

Điệu ái cố hòa với khổ thơ

Thôi hãy quay về trong hiện tại

Thời gian chẳng trở lại mà chờ .    

LHN

 

     THĂM LẠI

Về thăm quê ngoại dấu yêu xưa

Đổ dốc ngược leo quyện bụi mờ

Cứ nhớ nơi này khi nắng hạ

Càng thương cảnh ấy lúc sương mơ

Hoa quì vàng rực khơi nguồn sống

Con suối trong veo tạo ý thơ

Chưa kể nương trà xanh mát mắt

Hương mùi thơm phức khiến đây chờ…

Thái Huy

 11/25/22

 

      VỀ LẠI BẢO LỘC

Về thăm Bảo Lộc dấu yêu xưa

Lối cũ đường quen cỏ phủ mờ

Chẳng kẻ hoài mong tan vỡ mộng

Không người tưởng vọng bẽ bàng mơ

Ngăn sầu lấp thảm nâng bầu rượu

Tức cảnh sinh tình dệt áng thơ

Tiếng thác Damb’ri buồn não nuột

Ai tri âm nữa để mà chờ

  Hà Thu

26/11/2022

 

KHUNG  TRỜI  XƯA

Khung trời Bảo Lộc nhớ người xưa

Xao xuyến lòng ta mắt lệ mờ.

Ngày đó trên đồi hai đứa dạo

Giờ đây dưới liễu một mình mơ!

Trăng lên lạnh lẽo hồn man mác

Lá đổ xạc xào trí thẩn thơ.

Chỗ hẹn  nơi nầy còn khắc mãi

Tình yêu vật đẹp phút mong chờ *

 Mailoc

11-26-22

(*) Love is a Many-Splendored thing do Andy William ca


  PHỐ NÚI XƯA

Một thuở nơi miền phố núi xưa

Lần bao dốc thoải phảng mây mờ

Sương lèn đỉnh núi pha nền ào

Khói quyện lưng đèo tạc cảnh mơ

Đà Lạt yêu kiều mong hóng đợi

Cam Ly diễm lệ ngóng trông chờ

Dã quỳ đan lối mòn đưa đón

Kỷ niệm hôm nào... Nhớ tuổi thơ

Mai Vân-VTT, 28/11/22.

 
TƯỞNG NHỚ KOBRA 
Quanh đường đất đỏ thủa xa xưa
Trang trại Kobra khói phủ mờ
Đứng ở Lâm Đồng hoa bướm đẹp
Thương về Suối Bạc núi non mơ
Từ đi tìm thác hoang mê ngải
Nay lỡ yêu rừng huyễn hoặc thơ
Đã nửa trăm năm nhung nhớ mãi
Tình riêng say đắm nỗi mong chờ...
    Hawthorne  27 - 11 - 2022 
      CAO MỴ NHÂN 


    Hương Chè

Ai đã từng qua lại lối xưa 

Bâng khuâng chìm dưới lũng mây mờ 

Đồi trà đẫm giọt ngàn sương nhỏ 

Bảo Lộc đắm mình giấc ngủ mơ 

Ta vẫn mong người nơi chốn cũ 

Môi còn vương nét thuở ngây thơ 

Gió đưa nồng thắm hương chè ướp 

Có nụ hôn xa thoảng ngóng chờ. 


Lê Mỹ Hoàn 

11/28/ 2022

THƯƠNG VỀ CHỐN ẤY 

 

Đêm tàn trăng khuyết nhớ vườn xưa

Dỗ giấc sầu dâng giọt lệ mờ

Khóm trúc bên hiên vờn ướp mộng 

Chòm hổng trước ngõ quyện chườm mơ

Đường trăng ngày nớ người trao nhạn

Lối cũ bây chừ ai trải thơ?

Phượng đỏ sân trường như ẩn hiện 

Dù bao năm tháng vẫn thương chờ


Phương Hoa - NOV 29, 2022

















Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022

THƯ CHO VỢ HIỀN ( Songquang) & Thơ Họa

 

THƯ CHO VỢ HIỀN

Còn nhớ ngày xưa anh với em

Bên nhau cuộc sống rất êm đềm

Hành quân vẫn viết thư thăm mãi

Ngơi nghỉ đi tìm hoa gởi thêm

Mang giấc công hầu thân lắm nỗi

Gánh dòng hào kiệt dạ bao niềm

Gặp thời tao loạn nên ngăn cách

Hạnh phúc không tròn… ray rứt tim

Songquang

 20221120


Thơ Họa:

   TÌNH THƯ CHO EM

           (Họa 4 vần)

Máng súng vai ghì viết gởi em

Rừng xa núi thẳm gió ru mềm

Sương choàng lá thắm nên mơ mộng

Nắng gội hoa cười lại nhớ thêm

Lãnh thổ ghìm an lòng nặng nỗi

Biên cương trấn ổn dạ sâu niềm

Thương người lính trận chờ anh nhé

Nghỉ phép đôi mình sưởi ấm tim

        Minh Thuý Thành Nội

Tháng 11/20/2022

 

      LẶNG TÌM

        (Họa 4 vần)

Gương xưa lược cũ,lặng tìm em

Vết bỏng cô sầu khát dịu êm

Chăn ủ hơi người… nhung nhớ lạ

Gối lưu sợi tóc… xót xa thêm

Ly hương khắc khoải đời chung nỗi

Biệt thế bơ vơ dạ lẻ niềm

Đã hẹn cùng nhau về cố lý

Nay đành nuốt lệ nghẹn ngào tim !

Lý Đức Quỳnh

  21/11/2022


      NHỚ VỢ 

        ( Hoạ 4 vần)

Lạ nhỉ, mỗi lần nghĩ tới em

Là anh lại nhớ cảnh bình yên

Nụ cười tươi thắm tình chan chứa

Ánh mắt trong lành nghĩa sáng thêm

Cứ viết cho vui bền kỷ niệm

Cùng mê gởi gấm vững tin niềm

Thế mà phần số mong manh quá

Đã khiến u sầu ngập trái tim ...

        Utah  21 - 11 – 2022

CAO MỴ NHÂN


   Phu Thê Hoài Niệm 
Sanh tiền, hoài niệm nghĩa tình em...!
Cuộc sống yêu đương giấc mộng mềm 
Gối chiếc xem hình càng nhớ quá....
Chăn đơn thấy bóng lại buồn thêm 
Rời quê... xứ sở thương bao nỗi 
Xuất cảnh... Hoa Kỳ cảm mấy niềm .
Xưa thuở loạn ly mình cách trở 
Nay đành vĩnh biệt... nhói con tim...!

   Mai Xuân Thanh 
November 22, 2022


 



THƯƠNG QUÁ SÀI GÒN -Nhạc: Lê Hữu Nghĩa, -Lời: Toàn Như & Thơ Xướng Họa với các Thi Hữu

THƯƠNG QUÁ SÀI GÒN -Nhạc: Lê Hữu Nghĩa, -Lời: Toàn Như & Thơ Xướng Họa với các Thi Hữu

     HẬN SÀI GÒN

Hận nước chưa nguôi tuổi đã già

Sài Gòn nỗi nhớ khó phôi pha

Câu thơ vận khổ chua men rượu

Khúc nhạc cung ai nhạt vị trà

Đất khách ngậm ngùi thân viễn xứ

Quê người mòn mỏi kiếp vong gia

"Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma"* .

LHN

*thơ Đặng Dung


Thơ Họa:

      VIỆT NAM ƠI

Đò xưa bến cũ gốc đa già,

Thương quá đất lành máu lệ pha

Nước mắt đong đầy bên tách rượu,

Mồ hôi nhễ nhại kế chung trà

Nhân dân mến mộ người yêu nước,

Muôn kiếp hận thù kẻ phá gia.

Tổ quốc… cầu xin Trời Phật độ

Mong sao Quỷ Đỏ sớm ra ma.

Texas, November 10th 2022

       HỒ CÔNG TÂM

 

SÀI GÒN NỖI HẬN

      (Đảo vận)

Lìa quê nay tuổi đã về già,

Nhớ nước đòi phen mắt lệ pha !

Đất Mẹ lửa binh rầu thảm xứ,

Sài Gòn nỗi hận nát tan gia !

Rượu sầu tử sĩ đau hồn phách,

Thơ cảm trường sa rũ xác ma !

Hòn ngọc viễn đông ơi đó hỡi…

Xin chờ vận mới đổi chung trà !

Liêu Xuyên

 

THƯƠNG QUÁ SÀI GÒN

Ra đi so tuổi cũng đâu già

Bỏ lại Sài gòn bị giặc pha…

Nguyên khoảng thời gian sờn áo trận

Nửa đời lữ thứ nhạt hương trà

Hỏi còn chi nhỉ thân vong bản

Đau chứ phải không kẻ thất gia

Sao vẫn còn mê trăng với cuội?

Với ta chẳng khác cái thây ma!

Thái Huy

11/1/22

 

SÀI GÒN THƯƠNG ĐAU

Sài Gòn năm cũ chẳng hề già

Tên mất từ lâu máu lệ pha

Hồn Việt thương đau men chếnh choáng

Lòng người vương vấn vị hương trà

Thời gian đã xóa mờ nhân ảnh

Thế hệ lưu truyền mãi vọng gia

Non nước vẫn còn cùng đất tổ

Nghìn thu lịch sử sống chay ma...

 Hải Rừng

11/11/2022

 

         ẨN ỨC

           (Hoạ 4 vần) 

Bỏ nước bao năm chợt thấy già

Đi từ cái thuở mãi xông pha

Mua vui vật vã bên chung rượu

Ai oán mỉên man cạnh chén trà

Cơ khổ mang thân người đất khách

U hoài số phận kẻ  quê xa

Thù nhà nợ nước còn vương hận

Cũng biết mai nầy sẽ hóa... ma !

TRỊNH CƠ 

 

    NHỚ SÀI GÒN

Ra tù cải tạo, trẻ trung già

Thất thủ Sài Gòn, quốc phá pha

Chiến hữu tan hàng say chén rượu

Bạn bè gãy súng nghiện phê trà

Lên tàu tị nạn thê nhi hộ

Xuất cảnh tạm dung đất khách gia

Nợ nước thương hoài bao nghĩa địa

Tình nhà nhớ mãi mấy mồ ma…!

Mai Xuân Thanh

  Oct. 11, 2022

 

CÁI LÃO GIÀ TUI

Thậm tệ chi tui cái lão già

Ao tù nước đục mãi đem pha

Gạo men tẩm ủ nào ngon rượu

Lửa bếp đun sôi cũng dở trà

Bởi trí cùn đành ly hảo sự

Vì tài kém phải nhốt hàn gia

Thay trời gọi gió,người ta giỏi

Tui sống nợ đời,chết nợ ma !

Lý Đức Quỳnh

  17/11/2022


    THẮT THẺO

Mấy mươi năm lão vẫn chưa già,

Hận tủi in ngầm khó chóng pha.

Dạ nén sầu cay bên chén rượu,

Tim vùi đau đớn cạnh ly trà.

Ngày ngày thắt thẻo xa thôn xóm,

Tháng tháng thăng trầm mất quốc gia.

Nguyện hứa đáo đầu thiên địa chuyển,

Dẹp tan đất nước chẳng còn ma.

HỒ NGUYỄN

(17-11-2022)









Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

Hai Mảnh Đời - Ngọc Khuê

                  Hai Mảnh Đời

 Đã 32 năm trôi qua, kể từ cái ngày đen tối ấy: 30-4-1975. Gia đình tôi đã trải qua bao nhiêu tang thương biến đổi. Dầu cho hôm nay làm cuộc đời tị nạn trên đất nước Hoa Kỳ và các con tôi tương đối tạm ổn định cuộc sống riêng của chúng, tôi vẫn không bao giờ quên được những ngày xưa năm cũ. 
   Tôi thường hay lục lọi, tìm về những “dấu xưa” trong đống sách cũ tôi mang từ Việt Nam sang. Một hôm, tôi bỗng lượm được một tờ giấy “chứng nhận cải tạo” của tôi rớt ra từ trong một cuốn sách. Tờ giấy đó là chứng tích của 11 ngày học “cải tạo” trước khi tôi “được” học tiếp một khóa nghiệp vụ gần một tháng rưỡi, rồi “nhà nước” XHCN mới cho lưu dụng lại. 
    Tôi nhìn hình mình trên tấm giấy. Tôi đó ư? Đó là một người đàn bà khoảng ngoài 30 tuổi, tóc tai xơ xác, đôi lông mày bên cao bên thấp như đang căng thẳng dữ lắm, mặt ốm dài, buồn hiu. Người ấy mặc một cái áo ngắn màu đen. Nhìn tấm hình, chao ơi là u ám, nặng nề! Bỗng tôi nhìn lên quyển lịch. Ồ, hôm nay là giữa tháng Tư. Tôi thấy lòng rưng rưng. Tôi nhớ lại, mình qua xứ Mỹ này đã 12 năm. Mười hai năm xa xứ! Sau 75, cứ đến tháng Tư là tôi lại khóc, khóc thật nhiều, khóc cho đời mình, khóc cho thời cuộc. Bây giờ đã 32 năm rồi, tôi không còn nước mắt để khóc nữa. Nhưng, bức ảnh và tấm giấy kể trên đã làm tôi xúc động khi nhớ lại hai mảnh đời mình trải qua hai thời kỳ, hai chế độ khác nhau vô cùng. 
    Tự nhiên ký ức đưa tôi về với thuở xa xưa, lúc tôi còn là một cô giáo mới 23 tuổi đời. Tôi bắt đầu đi dạy ở trường Hàm Nghi Huế, môn Việt Văn và Công Dân Giáo Dục. Được 3 năm, tôi chuyển ra làm việc ở Quảng Trị, trường Nguyễn Hoàng. Sau “mùa hè đỏ lửa” năm 1972, tôi về dạy ở trường Phan Bội Châu, Phan Thiết cho đến khi miền Nam mất vào tay Cộng Sản. Sở dĩ tôi hơi “cà kê” khi tôi kể lại qua bao nhiêu trường, là vì tôi muốn nói lên về một điều chung nhất về những người thầy và học sinh thời trước và sau 1975, đã đổi khác như thế nào.
    Thời trước, người thầy xuất phát từ tinh thần của truyền thống “tôn sư trọng đạo” đã đào tạo nên những người học trò lễ phép, đạo đức, những con người tốt và hữu dụng cho quốc gia mai sau. Môn tôi dạy thuộc về văn chương Việt Nam; tôi luôn tìm cách cho học sinh hiểu được, qua ngòi bút của nhà văn, nhà thơ thế nào là cái Đẹp. Cái Đẹp của thiên nhiên nơi quê cha đất tổ và cái Đẹp của con người. Đó là con người có trung, hiếu, tiết, nghĩa; con người có đạo đức, sống ngay thẳng, trung thực, v.v…
Vì giáo dục theo một nền nếp như vậy nên học sinh thời ấy rất hiền, ngoan ngoãn, dễ thương. Tôi nhớ hồi dạy ở Quảng Trị, có lần một em nữ sinh (tuổi gần bằng cô giáo) lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ) vì ham nói chuyện, cười giỡn không nghe bài, tôi đã phạt quỳ trước lớp. Vậy mà em liền quỳ ngay xuống, dẫu cho đang bận áo dài và trong lớp có rất nhiều nam sinh ngang lứa trong tuổi “cập kê” như em ấy (Sau này tôi rất ân hận về việc này. Giận mà phạt nặng quá.)
     Lúc về đến trường Phan Bội Châu (Phan Thiết), tôi thấy rõ hơn việc dạy và học có quan hệ rất mật thiết. Không có khẩu hiệu, nhưng thầy cũng như trò, ai nấy đều nỗ lực để đạt kết quả tốt. Hầu hết nhà giáo đều tận tụy với nghề. Họ luôn có niềm an ủi là nhìn thấy thành quả học tập của học sinh qua mỗi năm học, được học trò kính trọng và mức lương nhà giáo tương đối đủ sống. 
      Cũng như tất cả những thầy cô giáo khác trong trường, tôi sống rất bình lặng. Hết giờ đi dạy, tôi làm việc nhà, lo chuyện con cái… Tôi có bao giờ nghĩ đến một ngày mai đời mình sẽ thình lình đổi khác. Người xưa có nói: “Cư an tư nguy.” Lúc bình thường, phải chuẩn bị đối phó với lúc khó khăn. Nhìn lại, “ông xã” tôi là một người sống quá lý tưởng, mải mê công việc, trung thành với lời thề Hypocrate, còn tôi là nhà giáo, cả hai chúng tôi chưa có gì gọi là sẵn sàng đề phòng khi thời cuộc đổi thay. 
     Rồi Một Cuộc Đổi Đời. Tôi thấy mình như đang từ trên cao rơi xuống một hố thẳm sâu. Tôi không dám buông tay, vì nếu buông tay thì cả 5 mẹ con đều chết, khi người chồng, người cha phải đi đến nơi xa để “học tập” mà ngày về thì vô định. Thế rồi, tôi lại tiếp tục với nghề dạy học mà mỗi một ngày trong tôi luôn vang vọng hai câu của cụ Nguyễn Du: "Bó thân về với triều đình, Hàng thân lơ láo, phận mình ra đâu!
     Sau 30-4-1975, hình ảnh người học trò dưới mắt tôi cũng đổi khác. Có một bữa, tôi đi ngang một trạm gác ở trước cơ quan nọ, tôi nghe có tiếng người từ trên vọng xuống: “Cô kia, đứng lại, cất nón xuống!” Tôi biết phận mình, nên phải “chấp hành” và ngó lại, té ra đó là một “ông đồng chí” nguyên là học trò cũ của mình. Tôi tự nhủ: “Đổi đời rồi! Đời đổi nên người cũng đổi thay mà!” Lại một bữa trong lớp học, tôi đang giảng bài, có một học sinh đưa tay xin hỏi, và câu hỏi là: “Thưa cô, có phải chồng cô trước có nợ máu với nhân dân nên nhà nước cho đi cải tạo?” Tôi nghe cõi lòng mình chua xót, nghẹn ngào, nhưng phải bấm bụng ôn tồn giải thích cho cả lớp hiểu rằng vì “chính sách” mà phải đi “cải tạo” chứ ông xã nhà tôi chẳng phải là người đi gây nợ máu!
     Mặc dù “nhà nước” XHCN đề ra khẩu hiệu: “Học tốt… khiêm tốn, thật thà, v.v…” nhưng ở mỗi lớp học, thử hỏi có được bao nhiêu đứa học hành chăm chỉ, đàng hoàng? Có chăng, chỉ là là một số rất nhỏ, con những gia đình chế độ cũ, còn đa số học trò đến lớp cho có mặt (có lẽ học để cầu danh) vì chúng không thích làm bài tập, học bài ở nhà trước khi đến lớp. Có nhiều đứa dối cha mẹ là đi học, rồi theo băng đảng, buổi nào có mặt ở lớp là chúng quậy phá cho học trò cười chơi. Trong một buổi kiểm điểm lớp học vào giờ chủ nhiệm cuối tuần, tôi đã cảnh cáo một em học sinh có hạnh kiểm xấu, bỗng tôi nghe tiếng một đám trẻ đứng bên ngoài hô lớn: “Chận mà đánh mẹ con nó đi!” (Cũng may nhờ ơn trên che chở cho tôi hay sao mà kỳ đó tôi chưa bị đánh, mới bị hăm dọa thôi.) 
     Nhìn về phía nhà giáo, tôi cũng thấy có sự thay đổi. Nhiều người đã bỏ nghề. Những người đi dạy lại như tôi cũng gồm nhiều thành phần khác nhau. Một số người tự nhiên muốn làm thành những “nhân vật nổi.” Tôi đã chứng kiến cùng một con người, ở trong hai tình huống khác nhau, đã đong đưa tấc lưỡi như thế nào. Trong một buổi tiếp tân, dịp đám cưới con gái Tỉnh trưởng Bình Thuận mà tôi có tham dự, nhân vật ấy đã không tiếc lời ca tụng “đức độ của ngài Tỉnh trưởng.” Rồi sau 1975, chính nhân vật ấy lại ca tụng đước độ của “Bác Hồ,” rồi tập hát, văn nghệ, văn gừng… ca tụng chế độ mới. Nhưng điều mỉa mai thay là sau đó ông ta cũng bị ôm khăn gói đi “cải tạo!” Trừ những hạng người “đón gió trở cờ” như trên, phần đông các nhà giáo đều sống rất thận trọng, dè dặt từ lời ăn, tiếng nói đến cử chỉ, hành động. Nhiều đồng nghiệp rất thương mến tôi nhưng không bao giờ tỏ rõ tình cảm trước mắt những người “lãnh đạo,” vì sợ bị cho là về theo vây cánh với nhau. Những người bạn ấy thường hay giúp đỡ tôi trong lúc ngặt nghèo. Cho đến bây giờ, những kỷ niệm về tình bạn, tôi còn nhớ mãi. 
     Tôi quên chưa nói về hoàn cảnh riêng của mình sau khi ông xã tôi bị đi “cải tạo.” Lúc ấy, lưng vốn còn lại chút đỉnh tư trang ngày cưới, tôi dốc hết để mua lại một mảnh đất cát đã có sẵn một căn nhà lá để ở và trồng trọt khoai sắn thêm để ăn. Đây cũng là một điều có thể nói là tôi quá dở trong chuyện xoay xở khi định làm thêm bằng nghề nông bất đắc dĩ. Trong khi đó, nhiều bạn đồng nghiệp của tôi trước kia nay đã bỏ hẳn nghề cũ và xoay qua nghề buôn bán một cách tài tình và họ đã thành công. Nhờ vậy mà chồng họ trong trại cải tạo cũng như con họ đã có được sự thăm nuôi đầy đủ hơn chồng con tôi. Phần tôi, đã có nhiều buổi sáng tôi đến lớp dạy mà thấy mặt mày xây xẩm vì thiếu ăn, và tôi đã giảng bài: “Chúng ta phải luôn luôn lạc quan, tin tưởng…” Chính lúc đó, tôi nhìn xuống bàn cuối lớp, tình cờ gặp một ánh mắt học sinh chớp chớp rất thông cảm. Em ấy là con của một người thuộc chế độ cũ như tôi. Nghe như trong ánh mắt ấy có câu nói: “Cô ơi! Em hiểu lắm! Cô nói vậy mà không phải vậy!” 
      Ngoài giờ đi dạy, tôi ráng sức cuốc, cuốc thật nhiều để làm đất trồng. Thật là vất vả nhọc nhằn đối với sức đàn bà yếu đuối như tôi. Rồi những đám lang lên xanh tốt. Tôi cắt bớt ngọn và gánh ra chợ bán. Vì không quen gồng gánh, nên đang lơn tơn đi giữa chợ, tôi bị nghe chửi: “đụng người ta đây này, con khỉ!” Từ đó, tôi sợ không dám gánh ra chợ nữa. Khoai sắn trồng được, ngoài việc để ăn độn, tôi hấp rồi phơi khô để dành đem “thăm nuôi” ông xã. Một hôm đang dạy, N – con gái lớn của tôi chạy tới kêu tôi đến lớp nó vì T. em nó đang gặp tai nạn. Lúc tôi tới nơi thì thấy phòng học nó loang rất nhiều máu do bàn chân con tôi bị dẫm mảnh chai. Tôi phải cho học trò lớp tôi về, rồi lấy xe đạp chở T. lên bệnh viện cấp cứu. Trong khi đi đường, một tay tôi giữ ghi đông, một tay cầm bàn chân con đưa lên cho máu khỏi chảy nhiều. Đến nơi, người y tá trực may lại vết thương bằng một sợi chỉ bỏ la lết trên mặt bàn. Đến lúc về nhà, ngày hôm sau T. lên cơn sốt, cái chân sưng vù lên. Tôi không dám chở lên bịnh viện nữa mà chở T. xuống phường Phú Thủy, nhờ ông Nhung (một y tá thuộc chế độ cũ) giúp đỡ. Ông ta đã khử trùng vết thương, mở ra may lại, rồi chích thuốc trụ sinh, nhờ vậy mà cứu được con tôi. 
     Trường tôi dạy cũng có “Sổ mua lương thực” nhưng hầu như ít khi được hưởng ân huệ mua thức ăn bằng sổ đó. Lúc mới đầu, tôi cứ tưởng ngon là hễ cầm sổ là mua được. Tôi mượn sổ đến chỗ bán cá hay nước mắm, hỏi mua thì được trả lời là đã bán hết tiêu chuẩn rồi. Tôi tỏ ý thắc mắc với cửa hàng trưởng (vì tụi tôi là nhà giáo đã có ai mua đâu mà hết tiêu chuẩn). Không ngờ chuyện tới tai “thủ trưởng.” Một bữa sáng, thủ trưởng kêu tôi lại phòng ông. Ông dựng khẩu súng trường cái cốp rồi nói: “Tôi nói cho cô biết, cái gì thắc mắc thì về Trường hỏi, không được đến chỗ này mà thắc mắc chuyện ở trường, nghe chưa?” Từ đó, tôi biết thân biết phận xin chừa… 
     Thỉnh thoảng thì nhà giáo chúng tôi cũng mua được cá, thịt, nhưng lạ một điều, mua cá thì cá đã có mùi, nghe thum thủm nuốt không vô, còn mua thịt không phải dễ dàng. Để có một miếng thịt nhỏ bằng bàn tay tôi phải đi đến cửa hàng cho sớm (khoảng 3-4 giờ sáng) để nộp tờ giấy lấy thứ tự. Nhưng không phải đi một lần mà có được, vì nhiều khi chờ đến phiên mình thì thịt đã hết. Hồi trước 75, với đồng lương dạy học, tôi không phải làm gì thêm vẫn đủ ăn. Bấy giờ, dẫu “lao động” hết sức mình, tôi vẫn thấy thiếu. Bữa ăn lúc nào cũng cơm độn khoai. Cuối năm mới thấy hình dạng hạt cơm trắng (thuộc loại gạo xấu nhưng cơm trắng cũng là sang lắm rồi) vì nhà nước có bán cho 13 kg gạo không độn. Mỗi khi ăn, bốn đứa con cứ dòm chừng nhau, rồi coi chừng nồi cơm, cứ sợ hết! Để nấu ăn, mấy mẹ con tôi bứt lá mía khô ở ngoài vườn để nấu. Khi đốt lên khói làm mắt tôi cay xè. Về sau tôi phải ra trại cưa ở gần Cầu Sở Muối mua mạt cưa về nấu. Tôi chở cái bao mạt cưa to bằng bao tải gạo trên xe đạp, ì à ì ạch về đến nhà nghe muốn đứt hơi! Việc nhóm bếp, các con tôi (lúc ấy đứa lớn nhất 10 tuổi) đã dần quen, chỉ một lát là mạt cưa cháy bùng lên thôi! 
       Ngoài giờ dạy, tôi còn “được” nhà trường đưa đi “lao động nghĩa vụ XHCN.” Một bữa kia, tôi đi lao động… hốt phân người ở bờ biển, gần khu Bến Cá Cồn Chà. Đã phải làm một việc “ích nước lợi dân” như vậy, lại còn bị nghe chửi: “Cho đáng đời, ai biểu ngày xưa làm ông nọ bà kia!” Một lần khác, tôi cùng đồng nghiệp đạp xe đến một nơi cách xa trường 13 km để phát hoang, rồi trồng lang, làm lao động sản xuất cho trường. Đúng 3 tháng sau, khi lên trở lại thì khoai bị người ta đào hết, chẳng còn gì cho mình nữa. 
     Một ngày cho đời một nhà giáo như tôi thật quá thiếu sót với gia đình. Tôi không có thì giờ cho các con tôi. Buổi sáng dạy thì chiều họp tổ chuyên môn. Buổi tối, họp ở tổ dân phố (không biết sao thời đó họp gì mà nhiều thế!) Mỗi buổi họp tối như vậy, tôi rất buồn ngủ nên lựa chỗ tối không ai để ý, tôi ngồi nhắm mắt ngủ cho đến khi ông Tổ trưởng ngừng ê-a đọc “diễn văn” mới giật mình thức dậy ra về. Có một lần, tôi được Công an phường “động viên” đi kinh tế mới. Tôi nói: “Tôi đàn bà yếu đuối, lại còn con nhỏ, tôi lên kinh tế mới mà làm gì được”. Cũng may cho tôi nếu năm đó tôi “chấp hành” thì chắc các con tôi lên đó sẽ chết. Gần nhà tôi ở, có một người dân được thuyết phục đi kinh tế mới, không chịu đi còn cãi lại nên đã bị bắt đi “cải tạo.” Riêng tôi, tôi còn được ở lại trường dạy học vì lúc ấy giáo viên quá thiếu, nếu không thì số phận tôi đã như người hàng xóm đó rồi. 
      Nhà tôi có nuôi một con chó, tôi đặt tên nó là Tô Tô. Không đủ thức ăn, tôi cho nó ăn bột khoai mì và vỏ mướp tôi xin bên nhà hàng xóm. Tô Tô cũng là bạn hiền của gia đình tôi; Tô Tô chơi với con tôi lúc tôi vắng nhà. Mỗi đêm, khi mẹ con tôi ngủ, nó nằm ngoài để canh chừng, không bao giờ chịu ở trong nhà (Về sau, khi chúng tôi đã rời khỏi Phan Thiết, Tô Tô ở lại với người chủ mới, nhưng ngày nào cũng ra ngõ nằm ngóng tôi về - Một người bạn kể lại với tôi như vậy). Có một bữa tôi nghe xóm trên có ăn trộm vào nhà quơ cả mùng mền. Tôi lo quá nên trước khi ngủ tôi lấy sợi dây cột vào cái chân giường, cứ sợ bị lấy trộm mất thì khốn. 
      Bây giờ đây, sau 32 năm nhìn lại, phải thành thật nhận thấy rằng tôi nhớ đến quãng đời sau 1975 nhiều hơn cả. Bởi vì trong gian khổ tôi đã biết được tình bạn trung thành, đó là những tấm chân tình rất quý báu mà tôi không sao quên được. Đó là những người bạn đã giúp đỡ tôi khi thì một mớ gạo, khi thì một mớ muối, nước mắm, v.v… khi thì nhường bớt phần hàng tiêu chuẩn của mình cho tôi mua, hay những em học sinh đồng cảnh ngộ đã san sẻ bớt phần ăn của mình cho các con tôi. Tôi cũng nhớ nhiều đến mảnh vườn với căn nhà lá mà đã có thời là chốn nương thân, là nơi tôi đã đổ rất nhiều mồ hôi để có được khoai sắn độn cơm. Nếu là họa sĩ, tôi sẽ vẽ lại mảnh vườn đó với căn nhà lá, và con Tô Tô nằm bên cửa, rồi ở dưới tôi sẽ ghi hai câu thơ của Lamartine: Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer (Objets inanimés, avez vous donc une âme? Hỡi các vật vô tri, các ngươi có tâm hồn chăng? Tâm hồn ngươi đã gắn bó với tâm hồn ta khiến ta phải yêu thương) 
 
Ngọc Khuê
   2005 








ĐÂU BÓNG KƠ NIA (LHN) & Thơ họa

 ĐÂU BÓNG KƠ NIA

Chiếc gùi nặng trĩu vác sau lưng,
Đầy ắp hờn căm ngập núi rừng.
Nhớ nóc giáo đường vươn ngạo nghễ,
Nhớ chuông đêm thánh vọng vang lừng.
Đỏ dòng bô xít đau con suối,
Vắng bóng kơ nia xót tiếng t’rưng.
Mong sớm ngày tàn quân giặc Cộng,
Tây nguyên khắp chốn hát vui mừng.
               LHN


Họa 1
EM GÁI VÙNG CAO NGUYÊN
 

Em gái Cao nguyên áo nửa lưng,
Nhẹ nhàng cô bé hái lá rừng.
Đàn tre văng vẳng chim oanh hót,
Giọng hát trầm trầm mưa giữa lừng.
Gùi chất Ko-ni-a lắm trái,
Vai bên kĩu kịt chiếc đàn t’rưng.
Cô nàng xế bóng về nhà bản, O
Duyên dáng dễ thương má đón mừng.
 
Trần Đông Thành 
O Bản – Tiếng Thượng : Làng
 
Họa 2 
NHỚ RỪNG
Nhớ thuở ngây thơ áo hở lưng,
Những chiều tan học trốn vô rừng.
Tung tăng chạy nhảy bao vui thích,
La hét hò ca quá lẫy lừng.
Leo núi bẻ hoa chơi đám cưới,
Trèo cây ngóng tiếng gõ đàn t’rưng…
Rồi quân giặc Cộng đột nhiên tới,
Từ giã cao nguyên, hết hát mừng !!
 
Con Gà Què
(Nhớ thời gian ở Quảng Đức)

 
Họa 3 
DÁNG EM Ủ DỘT 
Nặng trĩu gùi mang tận cuối lưng,
Thương cho thân phận gái trên rừng.
Chim nhìn cũng xót rên than khóc,
Khỉ thấy lòng đau hét vẳng lừng.
Vẫn đó bóng kơ-ni-a ủ dột,
Mãi in tiếng rít giọng đàn t’rưng.
Nhìn lên mây trắng bay về muộn,
Thầm nguyện sầu thay vạn tiếng mừng.
      HỒ NGUYỄN
 
Họa 4   
CHIỀU TRÊN BUÔN THƯỢNG 
Mẹ Thượng đai con ở giữa lưng
Lắc lư thằng nhỏ khóc vang rừng
Vai cha mang rựa tay ôm chó
Miệng mẹ hát ca khúc lẫy lừng
Bắc cộng từ ngày về chiếm đất
Bản làng nay vắng tiếng đàn T’rưng
Mong sao đất nước tan cờ đỏ
Bản Thượng rền vang tiếng hát mừng.
           CN

Họa 5
 
DƯỚI BÓNG KƠ NIA 
Em mang gùi nặng trĩu trên lưng
Oán kẻ vào buôn chiếm bản rừng
Quảng Đức bao thời binh lửa dậy
Cao Nguyên một thuở chiến công lừng
Nhảy Dù dũng liệt yêu cần rượu
Biệt Cách kiêu hùng thích nhạc T’rưng
Diệt Cộng hung tàn yên xứ Thượng
Nhà Rông thiết tiệc đãi ăn mừng
               Ẩn Danh
 
 Họa 6
VỀ NÚI CHÚA                    
Đàn chi không dạo, lại "tà rưng"  (t' rưng )
Đỏ quạch bài thơ lấm đất rừng
Tiếng hát ngu ngơ vang trước mặt
Giọng cười hỉ hả sát bên lưng
Cưa ngang cây ngã "ko nia" sụm
Xẻ dọc đường xuyên "núi Chúa" lừng 
Nay "cáp treo" đầy non nước cũ 
Đoàn chim phục quốc hót reo mừng ...
         Utah   21 - 11 - 2922 
              CAO MỴ NHÂN 

Họa 7:

 TANG TÓC KƠ NIA
Nặng trĩu gùi mang vác khổ lưng,
Nàng sơn nữ hận khóc trong rừng.
Nhớ cha xưa kể vui chan chứa,
Ngẫm chuyện nay đành thảm quá lừng ! 
Nhan Thánh Chúa còn khung tre lá,  
Nóc nhà thờ xót tiếng đàn t’rưng !
Núi kơ nia xóm buông tang tóc…
Nỗi hận lòng thay nỗi sướng mừng !

    Liêu Xuyên


Họa 8:
    KƠ-NIA
Nặng trĩu đeo gùi áo xống lưng 
Kơ Nia thiếu nữ sống trên rừng 
Đàn ông khố đỏ ca la hét 
Mẹ trẻ xà rông nhạc lẫy lừng 
Trai tráng quây quần đàn “đám cưới”
Họ hàng xúm xít nhịp “tơ rưng”
Người dân bản thượng nay tang tóc...!
Hạnh phúc còn đâu để hát mừng...!

  Mai Xuân Thanh 
November 22, 2022