Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2022

Đời Thủy Thủ II (Vũ Thất) - Chương 4 Hải phận Phú Yên

                                              

               Đời Thủy Thủ 2

                                          Vũ Thất

                                                           

                             Chương 4

                     Hải phận Phú Yên

Thứ bảy 5/8/1967 03:45G

Tôi cố dỗ lại giấc ngủ nhưng đầu óc cứ lởn vởn giấc chiêm bao lạ 

kỳ. Vì sao trở lại Quy Nhơn? Có phải là điềm báo chuyến công 

tác không thành công? Hay sứ mệnh hoàn tất, tôi an toàn về nhà?

 Nhưng Quy Nhơn là quê nhà của Hưng, đâu phải quê nhà Vĩnh 

Long của tôi? Hay đó là lời khuyên nên rút lui, hủy bỏ công tác?

 Mà có muốn rút lui cũng đã quá muộn. Nhảy xuống biển thì 

dễ dàng nhưng sức đâu lội vào bờ?

Ba má tôi sau mỗi giấc mơ còn nhớ được, đều kể cho nhau và

 cùng đoán điềm giải mộng. Tôi ước phải chi có Hưng. Anh 

là người thường nhìn sự việc một cách lạc quan, chắc chắn có lời 

giải đáp giúp tôi bớt bi quan. Anh có đang nhớ em không? Anh 

đã lên xe về Sài Gòn chưa? Em vừa chiêm bao thấy trở về nhà ba

 má anh nhưng tỉnh giấc trước khi thấy anh…

Có tiếng mở tủ lạnh ở phòng ăn và tiếng cười đùa. Tôi nhìn đồng

 hồ. Gần 4 giờ sáng. Đúng là Võ Bằng vừa mãn phiên hải hành.

 Nhớ tới lời hứa tặng tô mì của anh chàng, tôi tự dưng thấy đói 

cồn cào. Buổi chiều, ba má Hưng cho tôi ăn sớm để chuẩn bị 

xuống tàu. Các món ăn chỉ là rau cải mà Anh Đào cho là nhẹ 

bụng, ói mửa đỡ mệt hơn. Nhưng giờ này mà mò qua phòng ăn, 

liệu Bằng có cho là tôi đã thức chờ gặp lại anh chàng? Hoặc giả

 tôi quá tham ăn? Tôi quyết định không ăn và vờ ngủ say. Tôi 

nhắm mắt mà đầu óc cứ mơ màng chờ nghe tiếng gõ lắc cắc, lốc

 cốc của chiếc xe mì đêm khuya đẩy qua căn nhà trọ học. Tôi thật

 sự thèm tô mì thay cho bún sứa, bún cá, mực rim, nem nướng 

suốt nửa tháng ở nhà ba má Hưng. Tô mì cùng hương vị đặc thù

 của nó cứ nhảy múa chờn vờn trong đầu.

Có tiếng gõ nhẹ ở cửa. Tôi vờ không nghe. Tiếng gõ lớn hơn một 

chút. Tôi nghĩ tội gì mà không ăn! Nên ăn quá đi chứ! Vừa được

 đã thèm vừa được Hạm Phó một chiến hạm phục dịch. Không 

chừng còn thấy ngon hơn bao giờ. Tôi nói:

- “Xin chờ một chút, tôi có mặt ngay.”

Tôi rời giường, mở túi đeo vai trên bàn lấy bọc trang điểm 

mang vào phòng vệ sinh. Mười lăm phút sau, tôi vào phòng ăn. 

Võ Bằng và Thiếu úy Hoàng Văn cười chào và tôi tươi cười đáp lễ.

 Hoàng Văn ngồi ở chiếc ghế trong cùng. Võ Bằng ngồi cạnh chiếc

 ghế anh chàng nhường cho tôi. Hai tô mì đang tỏa khói…

Bằng kéo ghế cho tôi. Tôi ngồi mà thấy vui vui. Lời chúc của tôi

 có hiệu quả. Bằng còn sống và đang phục dịch tôi ăn uống…

- “Ngủ ngon chứ, cô Phượng?”

- “Ngon mà không ngon!” Tôi trả lời Võ Bằng.

- “Tôi biết cô không quen tiếng còi đổi phiên. Nó phải ré to để 

đánh thức cho bằng được bất kể ngủ say đến thế nào! Nhưng 

chúng tôi quen rồi. Ai đi phiên thì bật dậy, ai không đi phiên thì 

ngủ tiếp dễ dàng. Tiếng còi trở thành một lời ru…”

- “Tôi sợ kiểu ru này lắm. Chắc không bao giờ dám quá giang 

lần nữa.” Tôi cầm đũa và nói tiếp. “Tôi mà ngủ lại được thì 

Đại úy ăn luôn tô mì này rồi! Cám ơn nha, Đại úy. Mà mì hiệu

 gì vậy? Trông thật ngon.”

- “Mì của Thiếu úy Văn, nấu cũng Thiếu úy Văn. Tôi chỉ là người… 

 được ăn như cô.”

Tôi nghiêng mặt nói với Thiếu úy Hoàng Văn:

- “Cám ơn Thiếu úy.”

- “Không có chi. Hiệu mì là Nissin của Nhật!”

Tôi xới đều vắt mì rồi gắp một ít đưa vào miệng. Xem ra hương

 vị còn hơn cả mì gõ tôi ưa thích. Chắc vì ăn lần đầu và đang đói 

chăng?

- “Cô Phượng ở Sài Gòn mà ở đâu?” Thiếu úy Văn hỏi.

Tôi chủ trương nói thật nhưng với câu hỏi này thì buộc phải trả

 lời dối. Mà đã thú nhận học Đại học Sư phạm thì phải chọn nhà

 ở gần đó cho hợp lý. Tôi nói:

- “Chợ Quán”.

- “Đường nào?”

- “Cộng Hòa.”

- “Ba năm trước tôi học Đại học Khoa học, trên cùng đường.”

Võ Bằng chen lời:

- “Cô Phượng học Đại học Sư phạm, coi như chúng ta là láng giềng.”

Tôi cúi ăn tô mì, bụng thấy lo lo. Nếu cả hai lần lượt hỏi tiếp, nhà

 số mấy, thỉnh thoảng ghé thăm được không, biết trả lời sao!

 Tôi tự khuyên phải nắm thế chủ động, phải là người hỏi, chớ 

làm người trả lời xem ra dễ giấu đầu lòi đuôi! Mà hỏi gì đây?

- “Nói như vậy, hẳn Đại úy cũng học Đại học Khoa học?”

- “Hầu hết Sĩ quan Hải Quân đều tốt nghiệp hay qua vài năm ở đó.”

- “Tại sao?”

- “Vì một số môn học hải nghiệp đòi hỏi Toán và hình học Giải tích.”

- “Thí dụ như môn học gì?”

- “Như Hàng hải thiên văn, Cơ học, Điện kỹ nghệ.”

- “Còn những môn không cần Giải tích?”

- “Nhiều lắm!” Bằng tủm tỉm cười. “Cô định làm người 

yêu thủy thủ chắc? Hỏi kỹ thế!”

Tôi tiếp tục tấn công:

- “Đại úy học Khoa học mà môn gì?”

- “Toán Đại cương.”

- “Môn học?”

- “Tùm lum về toán. Như Vi phân, Tích phân.”

- “Có học ‘đoán điềm giải mộng’ không?”

- “Cô giỡn với tôi chắc? Hai thứ là khắc tinh của nhau mà!”

- “Tôi vừa nằm chiêm bao, có phần lạ lùng. Tưởng Đại úy có

 học Phân tâm, thử giải giùm!”

Võ Bằng sửa thế ngồi, đổi giọng quan tâm:

- “Chiêm bao thấy gì? Dù gì tôi cũng là đệ tử đời thứ 10 

của Sigmund Freud!”

- “Tôi chiêm bao thấy chiến hạm quay lại Quy Nhơn!”

Bằng cười:

- “Kiểu chiêm bao này tôi rành sáu câu.”

- “Ý nghĩa thế nào? Tôi cứ lo lo…”

Võ Bằng ngẩng mặt, chăm chú ngắm tôi:

- “Sao lại lo lo? Chẳng phải cô từng cam kết với ông Hạm 

Trưởng là ‘có chết cũng ngậm cười’?”

- “Chết được thì nói gì, sợ ngất ngư, ngáp ngáp! Đã có khi nào 

tàu rời bến rồi quay trở lại không, Đại úy?”

- “Có thể có với lý do chính đáng. Còn quay lại chỉ vì một giấc

 chiêm bao thì không!”

- “Nhưng ông Hạm Trưởng có nói trên đường về Sài Gòn,

 tàu có thể bị địch phục kích, hoặc bị tham dự hành quân dài

 ngày.”

- “Sau các bất thường đó, tàu vẫn tiếp tục về bến, không quay 

trở lại.”

- “Vậy, giấc mơ của tôi có ý nghĩa gì?”

- “Ý nghĩa là… vớ vẩn! Chẳng qua cô bị ám ảnh bởi lời hù dọa…”

- “Hù dọa? Ai hù dọa?” Tôi nóng nảy hỏi.

Võ Bằng uống vài ngụm lemonade, nhởn nhơ trả lời:

- “Cô quên là tôi đã dọa sẽ tống cô lên bờ nếu cô không chịu 

ngủ ở buồng của tôi? Lời hù dọa đó đã nhập vào tiềm thức của 

cô.”

- “Cứ cho là vậy đi, nhưng phải có ý nghĩa gì chứ? Ba má tôi, 

mỗi lần nằm chiêm bao, ông bà đều bàn tán cho tới khi họ thấy

 thỏa mãn về một ý nghĩa.”

- “Tôi đã nói rồi. Chiêm bao của cô phát xuất từ lời dọa đùa,

 chả có ý nghĩa gì hết!”

- “Nhưng ông Hạm Trưởng có nói là tôi cố tình đâm vào 

cửa tử, phải chăng giấc mơ muốn khuyên là đừng đi nữa, hãy

 quay trở lại, đi là chết?”

Võ Bằng trợn mắt:

- “Cô nhất định trở lại Quy Nhơn chỉ vì nằm mơ? Tôi đã ‘nói 

giúp’ cho cô đi, nay nếu muốn quay về, cô hãy tự mình nói

 với Hạm Trưởng!”

Thấy Bằng đổ quạu, tôi vội phân trần:

- “Đại úy! Tôi chỉ muốn nói ra để xả mối lo chớ có đòi quay tàu 

lại đâu!”

- “Nhân danh đệ tử của Freud, tôi xác nhận giấc mơ của cô là 

vớ vẩn. Vậy hãy quẳng gánh lo đi và vui sống!”

Võ Bằng cười, phô bày hàm răng nhuộm ít nhiều khói thuốc.

 Hàm răng của Hưng còn hơn thế, dù tôi luôn nhắc anh đánh

 răng thật kỹ. Giờ này hẳn Hưng đang gật gà gật gưỡng trên xe

 đò. Xe dù đậu nhiều bến, vẫn nhanh hơn tàu, vẫn về Sài Gòn

 trước tôi. Anh hứa cùng tôi ngồi ở bến Bạch Đằng chờ xem 

tàu nổ! Bây giờ mới năm giờ sáng, chỉ mới 10 tiếng trôi qua. 

Phải cần lênh đênh thêm 30 tiếng nữa. 30 tiếng nữa mới 

được gặp lại Hưng. Thôi đành gặp lại trong tâm tưởng...

Tôi nhìn tô mì chỉ còn nước cặn của Võ Bằng, gợi ý:

- “Đại úy mới hết phiên hải hành, lại thêm no bụng, hẳn là 

buồn ngủ lắm rồi!”

Thiếu úy Văn lên tiếng:

- “Để tôi đi ngủ thay cho Hạm Phó!”

Tôi bật cười nhìn theo anh chàng biến sau màn cửa. Võ 

Bằng đẩy ghế đứng lên. Tôi mừng hụt. Anh chàng cầm tô mì 

đến bỏ vào bồn rửa rồi mở tủ lạnh lấy chai lemonade đổ chia hai

 ly.

- “Chai cuối.” Võ Bằng đưa tôi một ly. “Chúng ta cưa đôi. Ăn 

đồng chia đủ. Sống chết có nhau. Mời cô.”

- “Cám ơn Đại úy.” Tôi nâng ly, tiếp lời.” Nhưng tôi chỉ uống 

nếu Đại úy rút lại câu chót. Câu đó làm mất mùi vị của nước

 lemonade tôi ưa thích!”

- “Đồng ý!” Võ Bằng vui vẻ nhượng bộ.

Tôi cụng ly, rồi hớp từng hớp, mắt nhìn quanh. Mãi lúc này tôi

 mới để ý lối trang trí của phòng ăn. Trên bức vách, nơi đặt bộ 

salon, là ba phù hiệu treo cách đều từ cao xuống thấp. Hai 

huy hiệu cao nhất có hình tròn, Huy hiệu thấp nhất mang hình

 cái thuẫn. Sợ Võ Bằng đặt câu hỏi, tôi vội hỏi trước:

- “Ba phù hiệu đó là gì, Đại úy?”

- “Phù hiệu ở cao nhất có chữ Quân Lực trên đỉnh, chữ Việt 

Nam Cộng Hòa bên dưới, ở giữa có hình chim ó mang cờ vàng

 ba sọc đỏ là phù hiệu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phù

 hiệu giữa là phù hiệu Hải Quân với hai chữ Tổ Quốc Đại 

Dương trên vành ngoài có nền vàng với ba vòng chỉ đỏ. Phần 

còn lại màu xanh với bản đồ Việt Nam, hình mỏ neo và ngôi sao

 năm góc. Phù hiệu cuối, ở giữa là ngôi sao năm cánh trên nền

 chiếc mỏ neo. Bên trái là chữ HTH Đống Đa. Bên phải là chữ 

số HQ 007, là huy hiệu của chiến hạm này.”

- “Các chữ tắt nghĩa là gì?”

- “HTH là Hộ Tống Hạm. HQ là Hải Quân.”

- “Còn số 007? Nghe như mã số của điệp viên James Bond.”

- “007 là mã số của chiến hạm. Hai số 00 chỉ loại tàu Hộ tống. 

Số 7 chỉ số thứ tự. Nói rõ hơn, chiến hạm mà cô Phượng đang đi

 là loại Hộ Tống, chiếc thứ 7. Còn vụ điệp viên 007 tôi cũng 

mê 007 lắm. Theo tin tình báo thì rạp Rex đang chiếu Dr. No. 

Thành thử, khi về Sài Gòn thế nào tôi cũng mời cô cùng đi xem.”

- “Đại úy ở trên tàu này bao lâu rồi?” Tôi đặt câu hỏi, phớt

 lờ lời Võ Bằng.

- “Từ lúc đi Mỹ lãnh tàu đến giờ là gần hai năm.”

- “Tên Mỹ cùng đi với Đại úy?”

- “Không. Hắn mới đổi xuống chừng ba tháng. Tôi đã nói với 

cô là thời ông Diệm không có quân Mỹ hiện diện. Cứ cho là cô

 hiện giờ ở tuổi 20 đi, thì vào năm ông Diệm bị giết cô cũng đã 

16 tuổi, đã đủ nhận thấy không có bóng dáng quân Mỹ.

 Chỉ sau trận Vũng Rô và hai năm kế tiếp Hải Quân bắn chìm

 và bắt giữ thêm 6 tàu chở vũ khí của Bắc Cộng, chiến trận vượt

 khả năng Quân Đội Miền Nam, Mỹ mới nhảy vào!”

- “Thế nào là vượt khả năng?”

- “Một quân đội trang bị vũ khí với súng garant bắn phát 

một đấu với một quân đội có vũ khí tối tân AK 47 bắn liên thanh.”

- “Sao không làm như Bắc Cộng, là Mỹ chỉ gửi giúp súng đạn 

tối tân, đâu cần phải nhảy vào!”

- “Cô tưởng Bắc Cộng không nhảy vào Miền Nam? Vậy họ 

làm đường mòn Hồ Chí Minh để làm gì? Ông Diệm tin rằng Khu 

Trù Mật và Ấp Chiến Lược đủ loại bỏ cộng sản. Nhưng Ông 

Minh giết ông Diệm xong, bỏ ngay hai chiến tuyến hữu hiệu đó.

 Và Việt cộng lan tràn, trở tay không kịp...”

- “Tại sao không …?”

- “Hãy ngưng! Chúng ta lại đi vào chính trị. Nói qua chuyện

 khác vui hơn.”

Tôi ấm ức nhìn Võ Bằng:

- “Một câu hỏi cuối: Tên Mỹ làm gì trên tàu?”

- “Làm biếng!” Bằng cười, tiếp. “Hắn xuống tàu với tư cách là

 Sĩ quan Liên lạc, tức liaison officer. Nhiệm vụ giữ liên lạc giữa 

chiến hạm Việt Nam và chiến hạm Hoa Kỳ để hỗ tương yểm trợ.

 Thí dụ như Đệ thất hạm đội khám phá tàu địch xâm nhập, họ 

báo cho sĩ quan liên lạc để chúng tôi theo dõi và đuổi bắt. Còn

 khi chúng tôi đụng độ với tàu địch có hỏa lực mạnh hơn, sĩ quan

 liên lạc xin phi pháo yểm trợ. Bình thường thì hầu hết thời gian

 hắn chỉ ngủ và đọc sách.”

- “Chớ không phải hắn chỉ huy tàu này?”

- “Tôi không nghĩ là cô thiếu óc suy xét.” Võ Bằng cười tiếp. 

“Cô đã hỏi hơn câu hỏi cuối. Nếu cô hứa sẽ làm người yêu thủy

 thủ, tôi cũng hứa sẽ trả lời đầy đủ mọi câu hỏi tiếp theo!”

Burt Lancaster lúc nào cũng vui vẻ dễ thương có đâu như Võ Bằng

 ưa nói móc họng. Thần tượng bị ghét lây! Tôi nhìn hàng kệ trên 

vách đối diện chứa những quyển sách to và dày, bìa cứng, gáy in

 chữ Mỹ: Technical Manual, Mechanic Textbook, Radar &

 Sonar… Tôi quay nhìn bức vách sau lưng. Ba chiếc tủ ngăn 

cao ngang ngực, bên trên là dãy kẹp giấy tờ. Nếu vắng bóng 

người, tôi dám đọc lén lắm, biết đâu lấy được tin quan trọng cho 

Hưng.

- “Vậy là cô không muốn làm người yêu thủy thủ!” Võ Bằng 

nâng ly. “Nào, chúng ta cạn ly rồi… đường ai nấy đi!”

Miệng thì nói hùng hổ nhưng anh chàng đưa tôi tới cửa buồng, 

chúc ngủ ngon, hẹn gặp lại, rồi đi thẳng tới trước. Đến tấm 

màn cuối cùng, anh chàng quay lại, thấy tôi còn chưa chịu vào 

buồng, đưa tay vẫy vẫy bắt chước kiểu vẫy của Hưng. Tôi cười,

 lắc đầu rồi bước vào buồng. Theo Anh Đào, 5 giờ sáng là giờ đi 

thám sát chiến hạm tiện nhất vì mọi người còn say ngủ. Nhưng

 đó là lời căn dặn của một người ở khu quá giang, có thể lấy

 cớ đi tìm phòng vệ sinh. Còn tôi, ở khu sĩ quan, mọi thứ có sẵn,

 đi lang thang giờ này chỉ tổ gây nghi ngờ.

Đứng tần ngần một lúc, tôi kéo ghế ngồi, hai tay ôm lấy mặt. Da 

mặt tôi rít chịt, kéo theo cảm giác toàn thân ngứa ngáy, hôi hám. 

Tôi thèm đi tắm mà ngại ngùng. Gian buồng không cửa khóa, 

nhà tắm che qua loa bằng tấm nhựa đục mờ. Đang tắm, nếu có 

người đột nhập, tôi sẽ làm gì? La hét ư? Không chừng trở thành

 lời mời gọi. Tôi có bi quan quá lắm không? Liệu 10 tiếng bình 

yên vừa qua có đủ bảo đảm tôi được an toàn? Tôi hồi tưởng những

 cử chỉ lời nói của Hạm Trưởng, Võ Bằng, các sĩ quan, và cả tên 

Mỹ. Lúc nào họ cũng nhã nhặn, lịch sự. Nhất là với tên tôi thù 

ghét nhất. Hắn to xác nhưng trông hiền hậu, chân chất, thân 

tình.  Xét thực lòng, nỗi âu lo giờ chỉ còn như hơi gió lạnh thoảng 

qua.

Tôi quyết định đi tắm. Giờ này đã quá trễ để mặc đồ ngủ. Tôi

 mở túi xách, mò quanh quả bom tìm bộ đồ mới và đồ lót. Tôi 

tháo đồng hồ và nữ trang để gần khung ảnh gia đình. Tôi chỉnh 

màn cửa cho kín đáo rồi mở đèn ở bàn, tắt đèn trên trần. Độ sáng

 đã giảm đi bảy phần. Tôi đi vào phòng tắm trong tâm trạng 

nửa buồn nửa vui. Vui vì quả bom còn đó, kế hoạch cho đến lúc 

này rất trơn tru. Buồn vì tôi quá cô đơn, không có Hưng để tâm

 sự, chia sẻ niềm vui như mọi lần. Tôi cởi quần tây. Tháo các

 nút áo chemise ngắn tay. Lần lượt các đồ lót. Tôi lấy đồ sạch khỏi

 bọc và nhét đồ dơ vào.

Theo chỉ dẫn của Bằng, tôi chỉnh độ ấm cho vòi búp sen. Nước âm

 ấm tỏa khắp người nghe sảng khoái lạ thường. Chả bù với xối

 từng gáo nước lạnh. Bằng cũng để sẵn cục xà bông Dove, chai 

thuốc gội đầu…

Tôi lau khô người, mặc bộ đồ mới, đeo chiếc đồng hồ tay đang

 chỉ giờ 6:05. Tôi bước ra ngồi ở bàn viết, cân nhắc xem có nên 

đi thám sát. Không có lý do nào hợp lý để bào chữa cho hành động

 đi lang thang quanh tàu. Ngủ lại thì có thể ngủ quên, bỏ qua

 buổi bình minh là mục đích chính của việc quá giang ngắm biển

 như đã nói với Hạm Trưởng. Mọi nhất cử nhất động của tôi ắt 

hẳn là ông phải biết.

Ánh huỳnh quang ôm trọn mặt bàn khá rộng so với gian buồng.

 Khung ảnh cô thiếu nữ bồng đứa bé lại gây tôi tò mò. Tôi vói tay

 kéo gần khung hình. Mẹ bồng con? Cô nàng này không là một

 trong hai cô ở bức ảnh gia đình. Phải thân thuộc lắm mới được 

Bằng để trên bàn. Tôi nhớ Bằng có nói về vợ con: yêu cô nào thì 

cô đó đi lấy chồng, con thì không biết có không. Hẳn đây là 

một trong những người yêu của anh chàng. Nàng còn trẻ quá. 

Chừng mới trên hai mươi mà chú bé chừng lên ba. Tôi lẩm 

bẩm hát: “Mối tình đầu, trót bọt bèo, Vì người ta đã chạy theo 

bạc tiền.” Tôi bụm miệng, lẩm bẩm mấy lần tiếng ‘xin lỗi’. Hưng 

cấm tôi hát nhạc vàng nhưng như Bằng nói, những bản nhạc đồi

 trụy đã vào tiềm thức mất rồi.

Tôi đẩy khung hình về vị trí cũ và chợt thấy một cái gạt tàn thuốc

 nằm ở góc sát vách, phía sau cái bị đeo vai của tôi. Nó long 

lanh màu nghệ, lớn bằng cái dĩa đựng thức ăn. Tôi vói tay kéo

 gần. Nó không nhúc nhích cục cựa mà dính chặt mặt bàn. Tôi 

tức mình dùng cả hai tay nhấc lên. Độ nặng nhiều hơn tôi 

tưởng. Hẳn người ta cố tình chế tạo cho nặng để không bị chạy 

trợt khi tàu tròng trành. Nó làm bằng thủy tinh, rất dày, quanh

 vành có bốn khe vừa vặn cho điếu thuốc. Nếu tôi có được một cái 

để tặng Hưng chắc anh thích mê tơi.

Tôi chợt nhớ tới quả bom. Khi tôi cài đặt nó nơi nào đó, nhất thiết 

phải có cái gì cùng độ nặng tương đương thay thế để vào túi xách 

chứ? Đã có vài người xách giùm khi lên tàu, thì khi giúp xách 

xuống thế nào cũng thấy sự khác biệt. Tôi quyết định ăn cắp cái

 gạt tàn này, một công hai việc. Nhưng xem ra vẫn còn nhẹ hơn 

quả bom rất nhiều. Tôi đứng lên. Một dãy kệ chất đầy sách. Sách

 thì quá nhẹ. Tôi quyết định để giải quyết sau. Tôi tò mò muốn

 biết Võ Bằng đọc những quyển sách gì. Tôi mở đèn trên trần. 

Kệ sách được xếp theo thứ tự:

- Nautical Navigation - Dutton

- Handbook of Damage Control

- The Cruel Sea - Nicholas Monsarrat

- The Old Man And The Sea - Ernest Hemingway

- Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại – Bùi Giáng

- Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống – Nguyễn Hiến Lê

- Hoàng Tử Bé – Antoine de Saint-Exupéry

- Điệu Ru Nước Mắt – Duyên Anh

- Thất Sơn Mầu Nhiệm – Dật sĩ & Nguyễn Văn Hầu

Trong 9 quyển này, tôi chỉ từng đọc mỗi một quyển: Điệu Ru 

Nước Mắt. Quyển sách quả là đã ru tôi rơi nhiều nước mắt. 

Riêng quyển Thất Sơn Mầu Nhiệm đặc biệt cuốn hút tôi. Nó

 không chỉ thuộc về sở thích Sử Địa mà còn vì tò mò về sự mầu

 nhiệm của vùng bảy núi thuộc quê quán của Võ Bằng. Thất

 Sơn là những ngọn núi nào? Sự mầu nhiệm đó là gì? Tôi rút 

quyển sách khỏi kệ, đẩy ngọn đèn ở bàn về đầu giường. Tôi xếp

 chồng hai chiếc gối tựa sát vào bàn rồi ngả người xuống. Tôi 

trân trọng đọc lời tựa…. “Thất Sơn Mầu Nhiệm! Thất Sơn 

Mầu Nhiệm! Quả thật như thế. Và cũng vì thế nên bốn chữ 

Thất Sơn Mầu Nhiệm mới được dùng để đặt tên cho quyển sách

 này…

Từ nguồn gốc Địa lý đến lịch sử chinh phục, từ bản kê danh 

hiệu đến sự quan trọng về mọi phương diện của Thất Sơn, từ 

tiểu sử Đức Phật Thầy Tây An đến tiểu sử các vị Giáo Chủ và 

các vị Đại Đệ Tử của Đức Phật Thầy, từ tiểu sử các Tu Sĩ đời 

sau đến lược sử của Đức Huỳnh Giáo Chủ, từ quan niệm của 

các vị trong phái Bửu Sơn Kỳ Hương đến những sự nhiệm

 mầu mà mọi người có thể nhận xét về Thất Sơn… mục nào 

chúng tôi cũng cố gắng viết cho đúng sự thật và làm cho bạn 

đọc được sảng khoái tinh thần.”

Danh nhân, giáo phái tôi nghe nói nhưng chưa biết tận tường.

 Sự nhiệm mầu về Thất Sơn thì coi như mù tịt. Tôi mê mẩn 

đọc, mải mê lật từng trang. Chừng mỏi mắt, hạ quyển sách

 lên ngực, tôi mới thấy chiếc đồng hồ chỉ 6:35.

Tôi vội ngồi dậy, mang vào đôi bata. Giờ này hẳn đã sáng. 

Hy vọng kịp thấy cảnh tượng mặt trời ngoi từ từ lên mặt biển.

 Tôi bước qua phòng ăn vắng vẻ, bước lần lên boong tàu…

 (Còn tiếp)





Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2022

Tạp ghi và Phiếm luận: ĐỊA là ĐẤT (Đỗ Chiêu Đức)

 Tạp ghi và Phiếm luận :   

                             ĐỊA là ĐẤT
                               
                   
                            
       Thổ 土 là Đất, Địa 地 cũng là Đất, là Địa Cầu 地 球 , là qủa đất mà chúng ta đang cư trú. Theo bài học thuộc lòng của lớp Đồng Ấu ngày xưa:
                    Đi cho biết đó biết đây,
                    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
                    Kìa thế giới năm châu quanh quất,
                    Đường bao nhiêu thì đất bấy nhiêu,
                    Sông to núi lớn cũng nhiều,
                    Đường đi lối lại trăm chiều ngổn ngang...

       Thế giới có Năm Châu Bốn Biển.
       Năm Châu là :
       Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc (còn gọi là Châu Đại Dương). Nhưng theo quy ước của đa số các nước trên thế giới thì có đến 6 Châu, vì sau nầy người ta còn khám phá ra một vùng đất mới ở Nam Cực, gọi là Châu Nam Cực. Nhưng... lại nhưng, theo Mỹ thì Châu Mỹ gồm hai châu lục là Nam Mỹ Châu và Bắc Mỹ Châu, nên Thế Giới của người Mỹ có đến 7 châu lục, chớ không còn là 5 châu nữa! Còn ...
        Bốn Bể là bốn Đại Dương gồm có:
        Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, và Bắc Băng Dương. Ngày trước còn có thêm một Nam Băng Dương nữa, vì người ta cứ ngỡ là nếu băng tan chảy hết thì sẽ là một đại dương như ở vùng Bắc Cực, nhưng nay đã biết rằng nó là một châu lục: Châu Nam Cực chớ không phải là một băng dương nữa!
                           
                     

         Bốn Biển là do từ Tứ Hải 四 海 của người Hoa mà ra. Khi xưa, khoa học địa lý chưa phát triển, người Hoa cứ tưởng Thiên Hạ là đất Trung Nguyên, và mảnh đất nầy được bao quanh bởi 4 biển Đông Tây Nam Bắc. Theo cái Thế Giới Quan nầy, Bốn Biển tức là Thiên Hạ đó, cho nên trong thi từ ca phú của văn học xưa hay nhắc đến câu: Tứ Hải giai Huynh đệ 四 海 皆 兄 弟 là "Bốn bể đều là anh em". Vân du tứ hải 雲 遊 四 海 là: Lang bạt khắp nơi, và để chứng tỏ có chí hơn người còn lớn giọng mà ngâm rằng: Đại trượng phu tứ hải vi gia 大 丈 夫 四 海 為 家 là: Đấng đại trượng phu thì lấy bốn biển làm nhà, để tỏ ra ta đây có chí lớn!
        Trở lại với từ Địa Cầu 地 球 là Trái Đất, là hành tinh xanh trong Thái dương hệ có sự sống của trên hàng triệu sinh vật, trong đó có con người, có chúng ta. Chữ Địa 地 vốn nghĩa là "Mảnh đất" thuộc bộ Thổ 土 là Đất theo diễn tiến của chữ viết như sau:
                Đại Triện      Tiểu Triện      Lệ Thư  
           
        Cách tính năm theo Tử Vi Đẩu Số thì trên có Thiên Can 天干 là: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Qúy 甲、乙、丙、丁、戊、己、庚、辛、壬、癸, gọi là Thập vị Thiên Can 十 位 天 干; còn dưới thì có Địa Chi 地 支 là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi 子、丑、寅、卯、辰、巳、午、未、申、酉、戌、亥”, gọi là Thập Nhị Địa Chi 十二 地 支. Cứ một Thiên Can thì ghép với một Địa Chi, như:
              Giáp   ghép với   Tý là     Giáp Tý 甲 子.
              Ất      ghép với   Sửu là   Ất Sửu 乙 丑.
              Bính   ghép với   Dần là   Bính Dần 丙 寅 ...
cứ thế mà ghép... Nhưng vì Thiên Can chỉ có 10 mà Địa Chi có đến 12, cho nên ghép đến khi giáp một vòng trở lại Giáp Tý là 60 năm. Nói cho dễ hiểu: Đứa bé nào sanh ra trong  năm nay là năm Nhâm Ngọ 2022 (1 tuổi), thì đến năm 61 tuổi ta, cũng sẽ là năm Nhâm Ngọ 2082.
      Thập Nhị Địa Chi còn dùng để tính giờ theo Tử Vi Đẩu Số, như:
      * Giờ Tý là từ 11 giờ đêm hôm trước cho đến 01 giờ sáng của ngày hôm sau. Cho nên ta mới thường nghe câu:
                      Nửa đêm, giờ Tý, canh ba,
                   Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi!

               ... tất cả đều "sem-sem" như nhau!
      * Giờ Sửu là từ 01 giờ đến 03 giờ sáng.
      * Giờ Dần là từ 03 giờ đến 05 giờ sáng, nên ta mới có câu: "Trời sáng giờ Dần, Nắng lên giờ Mão ", Vì...
      * Giờ Mão là từ 05 đến 07 giờ sáng. Nên các cụ Đồ xưa lại có câu:
               Mạc ẩm Mão thời tửu,  莫 飲 卯 時 酒,
               Hôn hôn túy đáo Dậu.   昏 昏 醉 到 酉。
Có nghĩa:
         Đừng bao giờ uống rượu vào giờ Mão, vì sẽ...
         Say say xỉn xỉn cho đến giờ Dậu (là 05 giờ chiều đến 07 giờ tối).
         Vậy là suốt ngày sẽ say xỉn mà không làm ăn gì được cả!, Và vì ...
      * Giờ Dậu là từ 05 giờ chiều cho đến 07 giờ tối, nên lại có câu:
             Mạc mạ Dậu thời thê,   莫 罵 酉 時 妻,
             Nhất dạ thụ cô thê.       一 夜 受 孤 悽。
Có nghĩa:
        Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì mắng vào giờ nầy thì...
        Suốt đêm phải chịu cô đơn lạnh lẽo một mình! (Vợ chồng cải lộn vào buổi chiều tối thì suốt đêm cũng sẽ chẳng "làm ăn" gì được cả!)  Ông bà ngày xưa cũng "tâm lý" chán!
    
        Địa 地 là Đất, cho ta các từ Địa Cầu 地 球 là Trái đất; Địa Xác 地 壳 là Vỏ trái đất, Địa Chất 地 質 là Chất cấu tạo và giá trị lịch sử của các lớp đất, Địa Tâm 地 心 là Lòng đất, Địa tâm dẫn lực 地 心 引 力 là Sức hút của lòng trái đất tạo nên trọng lượng trên mặt đất... Nếu bỏ chữ Tâm ra phía trước ta sẽ có từ...
     * Tâm Địa 心 地 : Chỉ lòng dạ sâu kín của con người, như Tâm Địa Thiện Lương 心 地 善 良 là Lòng dạ hiền lành; Tâm Địa Hiễm Độc 心 地 險 毒 là Lòng dạ nham hiễm ác độc, như cô Kiều đánh giá Sở Khanh:
                       Nàng rằng thề thốt nặng lời,
                    Có đâu mà lại ra người hiễm sâu.

hay như cụ Nguyễn Du nói về Hoạn Thư:
                       Bề ngoài thơn thớt nói cười,
             Mà trong nham hiễm giết người không dao!
      Trong tiếng Nôm ta cũng có từ "Độc Địa" vốn để chỉ "Tâm địa độc ác", nhưng sau dùng rộng ra để chỉ tất cả những thứ gì có hại, không có lợi, như: Món ăn đó độc địa lắm; lời nói đó thật độc địa...

       Mặt đất bằng phẵng thì gọi là Bình Địa 平 地, nên thành ngữ Bình Địa Ba Đào 平 地 波 濤 là Đất bằng dậy sóng, như khi về nhà thấy Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều là một cô gái lầu xanh về chung sống, Thúc Ông đã "sốt gan ông mới cáo quỳ cửa công ", gây nên cảnh:
                      Đất Bằng Nổi Sóng đùng đùng,
                 Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.

...và như  trong bửa tiệc đoàn viên, sau khi đã "Tàng tàng chén cúc dở say" Thúy Vân mới đứng dậy phân bua:
                      Rằng: Trong tác hợp cơ trời,
                    Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
                      Gặp cơn 
Bình Địa Ba Đào,
               Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...

                     

        Bỏ hết đi phần ao hồ, sông ngòi, biển cả, thì một phần ba còn lại của qủa địa cầu nầy là Lục Địa 陸 地, là phần Đất Liền mà chúng ta đang ở. Lục 陸 là Bờ bến, là đất liền, nên Đăng Lục 登  陸 là Đổ Bộ, như Đăng Lục Nguyệt Cầu 登 陸 月 球 là Đổ Bộ lên mặt trăng; Thuỷ quân lục chiến 水 軍 陸 戰 là Lính Thủy đánh bộ, Lục Quân 陸 軍 là Lính tác chiến trên bộ để phân biệt với Hải quân 海 軍 là Lính đánh nhau dưới biển và Không quân 空 軍 là Lính bay trên trời bỏ bom xuống!
        Tất cả đất đai trên bề mặt địa cầu đều gọi là Thổ nhưỡng 土 壤 hay Thổ Địa 土 地. Đất để canh tác ruộng nương là Điền Địa 田 地, đất để ở là Cư Địa 居 地, ta gọi là Địa Cư. Cơ quan trông coi và quản lý đất đai gọi là Địa Chính 地 政. Người sỡ hữu đất đai gọi là Địa Chủ 地 主. Hình thể của miếng đất là Địa Hình 地 形, Cái thế cao thấp hiễm trở hay thuận lợi của đất là Địa Thế 地 勢...

        Địa 地 còn là từ chỉ nơi chốn, như Địa Điểm 地 點, Địa Chỉ 地 址, Địa Phận 地 份, Địa Khu 地 區, Địa Bàn 地 盤, Địa Đầu 地 頭... Ta có thành ngữ :
     * Địa Đầu Giới Tuyến 地 頭 界 線 là nơi giáp ranh biên giới với nước láng giềng, nơi mà các anh lính thú ngày xưa trấn thủ lưu đồn, hay các anh lính chiến VNCH gát giặc ở tiền đồn hiu hắt.
      * Thử Địa 此 地 là Đất nầy, là Nơi đây, như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay của Sầm Tham đời Đường như sau:
                 此 地 曾 居 住,   Thử địa tằng cư trú,
                 今 來 宛 似 歸。   Kim lai oản tự quy.
                 可 憐 汾 上 柳,   Khả lân Phần thượng liễu,
                 相 見 也 依 依。   Tương kiến dã y y !
    
                
              
                           Bản viết tay của ĐCĐ 1972
Có nghĩa:
              Nơi nầy trọ những năm qua,
              Nay về thăm lại như là người thân.
              Thương thay hàng liễu sông Phần,
              Gặp nhau quyến luyến như không nở rời!

       Bề mặt của Địa Cầu là Mặt Đất, nơi sinh sôi nẩy nở của các nguồn sống, kể cả động vật và thực vật, mà cũng là nơi an nghỉ cuối cùng cho muôn loài vạn vật. Vui từ đất mà ra, buồn cũng từ đất mà ra và oán hận thì lại tìm về với đất. Ta hãy nghe lời thơ của Vi Thừa Khánh 韋 承 慶 với bài Nam Hành Biệt Đệ 南 行 別 弟 (Giả biệt em trai xuôi về Nam):

                澹 澹 長 江 水,     Đạm đạm Trường giang thủy,
                悠 悠 遠 客 情。     Du du viễn khách tình.
                落 花 相 與 恨,     Lạc hoa tương dữ hận,
                到 地 一 無 聲。     Đáo địa nhất vô thinh!
Nghĩa bài thơ:
       Nước sông Trường Giang lửng lờ nhạt nhẻo trôi một cách vô vị (đạm đạm), cũng như cái tình của kẻ xa quê hương dài dằng dặc và dai dẵng kia (du du). Cánh hoa rụng cũng tựa như cái hận sầu của kẻ xa quê, âm thầm rơi trên mặt đất mà chẳng buồn gây nên một tiếng động nào cả!
        Ví hoa rụng như lòng kẻ lưu vong, oán hận mà âm thầm không bày tỏ cùng ai được!
                 
                   
                                
DIỄN NÔM:
                 Lơ lửng nước Trường Giang,
                 Mênh mang tình viễn khách.
                 Hoa rụng hận chứa chan,
                 Im lìm không oán trách !
  Lục bát :
                 Lửng lơ giòng nước Trường Giang,
                 Như tình viễn khách mênh mang bời bời.
                 Hận cùng như cánh hoa rơi,
                 Âm thầm trên mặt đất rồi lặng yên !
                     
                   
                     Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

       Bề mặt địa cầu còn có những cơn động đất làm sập đổ lâu đài, chôn vùi thành phố, tạo nên những đợt sóng thần cuốn trôi nhà cửa, hoa màu súc vật... mà ta gọi là những cơn Địa Chấn 地 震, tác hại lắm khi còn hơn cả chiến tranh. Trong chiến tranh thì ta có các từ về Địa như :
  - Địa Lôi 地 雷: Ta quen gọi là mìn, chôn dưới đất.
  - Địa Đạo 地 道 hay Địa Huyệt 地 穴 là những con đường hay hang hầm được đào ở dưới đất nhằm phục vụ cho chiến tranh du kích.
  - Địa Cần 地 勤 : là những chuyên viên kỹ thuật của Không Quân phục vụ ở sân bay dưới đất.
  - Chiến Địa 戰 地: là Nơi mà hai bên dàn quân để đánh nhau, như trong Chinh Phụ Ngâm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm:
                       Xưa nay chiến địa dường bao.
                Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.
              
      Chiến Địa còn gọi là Chiến Trường 戰 場 hay Chiến Tuyến 戰 線. Nhắc đến từ chiến tuyến lại làm ta nhớ đến lời hát của bài hát "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông:
           ... Dù nơi chiến tuyến... mịt mờ mưa bay, Lòng anh vẫn nhớ... tình người hôm nay...
                
                    

         Nói đến chữ Địa, ta không thể không nhắc đến Địa Lý 地 理, Địa Lý là cái Lý của Đất, là môn học chuyên nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư, và các hiện tượng trên mặt Đất. Từ xa xưa đã có môn học nầy rồi, nên ta hay nghe các cụ khen những tướng cầm quân tài giỏi như Khổng Minh Gia Cát Lượng là "Trên thông Thiên Văn, dưới thông Địa Lý", biết lúc nào thì trời có mưa gió sương mù, biết nơi nào có địa thế núi non hiễm trở mà điều binh khiển tướng...
         Địa Lý còn là những địa hình phong thủy có liên quan mật thiết đến đời sống con người mà các thầy Địa Lý phong thủy đã bày vẽ thêm để hù dọa và ăn tiền của những người cả tin nhẹ dạ. Ví vụ như nói "Nhà ở phải Bối Sơn Diện Thủy 背 山 面 水 " có nghĩa là: Nhà ở phải cất xây mặt về hướng có nước và phía sau nhà phải dựa vào núi cho vững chãi. Điều nầy rất hợp với thực tế của cuộc sống mà không cần phải có thầy Địa Lý nói ta cũng thấy được: Nhà cất xây mặt về hướng sông nước sẽ dễ dàng cho việc lấy nước uống, chài lưới và tiện lợi cho việc giao thông bằng đường thủy... Sau nhà có núi sẽ dễ dàng cho việc tìm củi, hái rau trái, săn chim muông, thú rừng... nên dân gian mới có câu nói mĩa mai rằng:
                            Hòn đất mà biết nói năng,
                     Thì thầy Địa Lý hàm răng chẳng còn !
 
                 
                                               
         Học Địa Lý thế giới còn để mở rộng thêm kiến thức, biết thêm nhiều Địa Phương 地 方 và Địa Danh 地 名 của những nước khác, đồng thời cũng biết được thêm nhiều phong tục tập quán của tất cả các dân tộc trên thế giới nầy. Học Địa Lý để biết được rằng trong một phần ba đất liền nhỏ bé của Địa Cầu còn có một cái biển mà mấy năm nay đã nhấn chìm và chôn xác biết bao người Libya, Syria, Irak, châu Phi... tìm cách vượt biên sang Châu Âu để tìm đất sống mới. Đó chính là Địa Trung Hải 地 中 海, phần biển cả ở giữa châu Á, châu Phi, và châu Âu.
        Học Địa Lý để còn biết được cái Địa Vị 地 位, cái chỗ đứng của nước ta trong Đông Nam Á và trên trường quốc tế quan trọng đến cở nào, tác động đến những nước chung quanh ra sao, để còn biết tự hào mà đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình để xây dựng và bảo vệ đất nước.  
        Địa Vị 地 位 là cái Vị trí địa lý được đặt để bởi thiên nhiên cho một nơi, một địa phương hay một nước. Dùng rộng ra Địa Vị còn chỉ vị trí, chức vụ, quyền hạn của một người nào đó trong công ty, trong xã hội... Nhưng ở đời hễ "Càng cao danh vọng thì càng dày gian nan". Biết thế nhưng mọi người đều muốn với cao hơn để có một địa vị xã hội mà mình hằng mong ước, cho dù "gian nan" cũng mặc!
        Địa là đất, đất linh thiêng sẽ sản sinh ra người tài giỏi, như đất Hoa Lư sản sinh ra Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh, đất Lam Sơn sản sinh ra Bình Định Vương Lê Lợi, đất Bình Định sản sinh ra vua Quang Trung Nguyễn Huệ... nên ta có thành ngữ Địa Linh Nhân Kiệt 地 靈 人 傑 : Cuộc đất linh thiêng sẽ tạo nên những anh hùng hào kiệt. Thành ngữ này có xuất xứ từ bài "Đằng Vương Các tự 滕 王 閣 序 " của Vương Bột 王 勃, một trong Tứ kiệt đời sơ Đường:
         
                
          
        Vương Bột 王 勃 (650-676), tự là Tử An 子 安, người đất Giáng Châu,  Long Môn (tỉnh Sơn Tây ngày nay) cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Châu Hoan, Giao Chỉ. Lên sáu tuổi đã nổi tiếng thần đồng, thuộc làu kinh sử. 14 tuổi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình. Năm 16 tuổi trên đường đi thăm cha, hay tin Đô Đốc Diêm Bá Dư trấn nhậm Hồng Châu trùng tu Đằng Vương Các mở cuộc thi thơ văn và khoản đãi tân khách bốn phương. Chủ ý muốn khoe tài con rễ là Ngô Tử Chương, nên đã cho Chương trau chuốt sẵn một bài phú thật hay để ngày hôm đó viết lại. Bột hay tin muộn, thời may có cụ già mách cho Bột rẻ thuyền vào Chương Giang sẽ có gió giúp đưa đến Đằng Vương Các. Bột nghe theo lời, đến đêm quả có gió lớn nổi lên chỉ trong một đêm mà vượt qua 800 dặm đường (có thể là nhờ gió của đêm Trùng Cửu mùng 9 tháng 9). Kịp lúc Đằng Vương Các vừa phát giấy bút chiêu đãi khách làng văn. Thấy Bột chỉ là một thằng bé con, Đô Đốc Diêm Bá Dư không muốn cấp giấy bút, nhưng Bột kiên quyết muốn làm văn. Diêm bèn cho người đứng phía sau lưng Bột, hễ Bột viết được câu nào thì chép lấy dâng đến cho Diêm xem, hễ thấy không xong là tống cổ ra khỏi buổi tiệc ngay. Khi Bột mở đầu bài văn bằng câu: Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ 南 昌 故 郡,洪 都 新 府 ( Xưa là quận Nam Xương, nay là phủ Hồng Đô), thì Diêm cười và bảo: Cũng là sáo ngữ của các thầy Đồ Nho mà thôi. Đến câu: Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hành Lư 星 分 翼 軫,地 接 衡 廬 (chỉ địa thế của Đằng Vương Các: Phân chia giữa sao Dực và sao Chẩn, còn đất thì nối tiếp giữa Hành Sơn và Lư Sơn) thì Diêm lặng thinh. Lại đến câu: Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu đẩu chi Khư. Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 物 華 天 寶,龍 光 射 牛 斗 之 墟;人 傑 地 靈,徐 稚 下 陳 蕃 之 榻  (Của đẹp báu trời, ánh long quang chiếu sao Ngưu sao Đẩu; Đất linh người giỏi, cao nhân Từ Trĩ hạ giường Trần Phồn) thì Diêm lại tỏ ra vô cùng kinh ngạc. Kịp đến câu: Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc 落 霞 與 孤 鶩 齊 飛, 秋 水 共 長 天 一 色 (Ráng chiều cò trắng cùng bay, Long lanh thu thủy nước mây một màu) thì ông không còn dằn được cảm xúc, vỗ bàn đứng dậy khen là tuyệt cú! Rồi giấu nhẹm luôn bài phú làm sẵn của con rể không dám trình làng. Vương Bột nổi tiếng luôn từ đấy và bài Tự của Vương Bột cũng được lưu truyền thiên cổ với các câu trở thành Thành Ngữ như:

  * Lão Đương Ích Tráng 老 當 益 壯:  Già mà còn mạnh khỏe.
  * Cùng Thả Ích Kiên 窮 且 益 堅: Nghèo mà biết kiên trì phấn đấu.
  * Thiên Cao Địa Quýnh 天 高 地 迥: Trời cao đất rộng.
  * Hứng Tận Bi Lai 興 盡 悲 來: Hết vui tới buồn.
  * Quan San Nan Việt 關 山 難 越: Núi non khó vượt.
  * Bình Thủy Tương Phùng 萍 水 相 逢: Bèo nước gặp nhau...
           
                        
 
    Vì tích của Vương Bột, nên ta lại có câu:
    Thời lai phong tống Đằng Vương Các    時 來 風 送 滕 王 閣
Có nghĩa:
        Khi thời đã đến rồi thì sẽ có gió đưa đến Đằng Vương Các ngay. Trong Truyện Kiều để tả tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư với Thúc Sinh, cụ Nguyễn Du cũng mượn tích nầy:
                 
  Duyên Đằng thuận nẽo gió đưa,
              Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.
   ...và như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, bài thứ 8 tả lại mối tình giữa Công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử có câu:
                
   Tiên-dung gặp buổi đi chơi,
            Gió đưa Đằng-Các, buồm xuôi Nhị-Hà,
      Hay như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả lại mối tình tiên tục giữa Tú Uyên và Giáng Kiều cũng có câu:
                
   Gác Đằng Vương mấy dặm khơi, 
                 Có duyên đành đã gió trời thổi đưa
.
              
                   

      Trên trời thì có Thiên Đàng, tương tự dưới đất cũng có Địa Đàng. Nhưng Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh là câu chuyện thường được sử dụng để giải thích nguồn gốc của tội lỗi và sai phạm của con người. Theo quan niệm Á Đông thì đối chiếu với Thiên Đàng 天 堂 nơi dành cho những người tốt, là Địa Ngục 地 獄, nơi mà những người xấu xa tội lỗi phải bị đày đọa trừng trị. Phật Giáo thì gọi là Địa Ngục A Tỳ 地 獄 阿 鼻, Tiếng Phạn là Avīci Naraka. A Tỳ là Không gián đoạn, nên A Tỳ Địa Ngục là nơi những người ác phải chịu khổ nhục liên tục không gián đoạn. Theo Đạo Giáo thì 18 Tầng Địa Ngục do Thập Điện Diêm Vương cai quản, và A Tỳ Địa Ngục nằm ở tầng thứ 18 nầy, dùng để chứa những người làm ác nhất thiên hạ!
      Địa Tạng Vương Bồ-tát 地 臟 王 菩 薩 là vị Bồ tát giàu lòng nhân ái, được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Ngài qủa là vị Bồ-tát của chúng sinh dưới địa ngục. Hình tượng trên các bàn thờ Phật của Ngài trong các đám tang, đội mũ thất phật và mặc cà-sa màu đỏ, có tạo dáng giống như là Đường Tăng trong Tây Du Ký vậy.
          
                     
                      Địa Tạng Vương Bồ-tát 地 臟 王 菩 薩

        Con người sống giữa trời đất, hợp với trời đất thành TAM TÀI 三 才 : THIÊN ĐỊA NHÂN 天 地 人, nên hễ có bất cứ sự cố vui buồn gì xảy ra là cứ lôi cả trời đất vào trong cuộc sống của con người, vì thế mà ta có rất nhiều thành ngữ, khẩu ngữ liên quan đến Trời Đất như:

    1. Đĩnh Thiên Lập Địa 頂 天 立 地 : Ta nói là Đội trời đạp đất.
    2. Kinh Thiên Động Địa 驚 天 動 地 : Ta nói là Động trời động đất.
    3. Hôn Thiên Ám Địa 昏 天 黯 地 : Ta nói là Tối trời tối đất.
    4. Phiên Thiên Phúc Địa 翻 天 覆 地 : Ta nói là Nghiêng trời lở đất.
    5. Mai Thiên Oán Địa 埋 天 怨 地 : Ta nói là Than trời trách đất.
    6. Đàm Thiên Thuyết Địa 談 天 說 地 : Ta nói là Nói trời nói đất.
        Nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
    7. Hoa Thiên Tửu Địa 花 天 酒 地 : Hoa trời rượu đất, ý nói là:
        Ăn chơi đàn điếm mút mùa. Ăn chơi lu bù trời đất.
    8. Hồ Thiên Hồ Địa 胡 天 胡 地 : Quậy trời quậy đất, ý nói là:
        Quậy cho tới bến. Quậy đến nổi không còn biết trời đất gì cả!
    9. Hoan Thiên Hỉ Địa 歡 天 喜 地 : Mừng trời vui đất, ý nói là:
        Vui mừng qúa đỗi. Vui qúa trời qúa đất!
  10. Tạ Thiên Tạ Địa 謝 天 謝 地 : Ta nói là Tạ trời tạ đất, là:
        Cám ơn trời cám ơn đất, là Cám ơn Trời Đất!
        Mười thành ngữ trên, lúc còn đi học, chúng tôi gọi cho vui là "Thập Đại Thiên Địa 十 大 天 地 ". Mười cái TRỜI ĐẤT lớn nhất mà ta thường thấy trong cuộc sống hàng ngày!
       Từ Địa cuối cùng của bài viết nầy là từ Nghĩa Địa 義 地: Vốn là nơi công cộng để chôn cất người nghèo; sau nầy là những nơi của tư nhân mua để cho người trong dòng họ chôn cất hay của đoàn thể, đồng hương mua để an táng người qúa cố. Ở Việt Nam ta thì thường là của người Quảng Đông hay Triều Châu lập nên để chôn cất đồng hương. Nghĩa Địa 義 地 âm Quảng Đông là "Dì tì"; âm Triều Châu là "Nghì tỳ", nên người Việt ta đọc trại thành "Nhị Tì", và vì vậy mà ta có kiểu nói để chỉ cái chết là "Hui Nhị Tì nhập thổ", hay đơn giản hơn là: "Nó đã Hui Nhị Tì rồi!" có nghĩa là: Nó đã chết rồi!  
      Từ Nhị Tì lại làm cho ta nhớ đến bài hát "Nửa Đêm Ngoài Phố" của Trúc Phương là:
          ...Buồn vào hồn không tên. Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người. Mà yêu thương trót trao nhau trọn đời...

                                              
Lời bài hát đã được các danh hài Tùng Lâm, Phi Thoàn sửa lại thành:
          ... Buồn vào hồn Ma-ri, tôi nhớ cái đêm nàng đi dưới ánh đèn bên Nhị Tì, nàng bước tới... trao tôi... khúc bánh mì, và đưa luôn cho con gà rô-ti...

     Xin được kết thúc bài viết nầy, không phải với "Thâp Đại Thiên Địa", mà với... khúc bánh mì , và... con gà rô-ti, nhưng không có Nhị Tì. Ở Mỹ nầy chỉ có Funeral home (nhà Tang lễ) và nhà Hỏa táng mà thôi (Đất chôn người chết mắc quá không kể!)...

                                          杜 紹 德
                                      Đỗ Chiêu Đức