Nghĩa Bài Thơ :
Ba người đẹp của đất Giang Nam tranh nhau đi hái sen, và tranh nhau bơi thuyền hái sen, làm nước bắn tung tóe ướt cả áo xiêm. Khi đến bờ sông thì hoa sen cười đón xuống thuyền, và khi hái xong ra về thì lại có vầng trăng sáng đưa ra đến đầu sông.
Diễn nôm :
KHÚC HÁT HÁI SEN
Bài 2.
Gái Ngô, gái Việt, Gái Vương Công,
Tranh chống thuyền sen ướt áo hồng.
Khi đến cả đầm sen cười đón,
Lúc về trăng sáng tiễn đầu sông!
Lục bát :
Gái Ngô Việt sánh Vương công,
Tranh nhau ướt áo chèo không buông nào.
Đến thì hoa đón mời chào,
Hái xong trăng sáng ngàn sao đưa về!
Cũng là Thái Liên Khúc, cũng là khúc hát hái sen, nhưng không phải của giới qúy tộc, mà là của một thôn nữ vừa đến tuổi cài trâm, được Bạch Cư Dị vẽ lại một cách thực tế sống động sau đây:
採蓮曲 THÁI LIÊN KHÚC
白居易 Bạch Cư Dị
菱 葉 縈 波 荷 颭 風, Lăng diệp oanh ba hà chiếm phong,
荷 花 深 處 小 船 通。 Hà hoa thâm xứ tiểu thuyền thông.
逢 郎 欲 語 低 頭 笑, Phùng lang dục ngữ đê đầu tiếu,
碧 玉 搔 頭 落 水 中。 Bích ngọc tao đầu lạc thủy trung.
CHÚ THÍCH :
Lăng Diệp 菱 葉 : là Lá Ấu, lá của Củ Ấu.
Oanh 縈 (còn đọc là Quanh, Vinh ): là Lòng vòng, lẩn quẩn.
Chiếm 颭 : là chữ Hình Thanh, gồm có chữ Phong 風 là Gió chỉ ý, và chữ Chiêm 占 chỉ âm, nên CHIẾM có nghĩa là: Bị gió lay động.
Tao Đầu 搔 頭 : Búi tóc. Danh từ có nghĩa là Cây Trâm. Bích Ngọc 碧 玉 : là Ngọc Bích, là Cẩm Thạch, nên Bích Ngọc Tao Đầu là Cây trâm bằng Ngọc Bích, bằng Cẩm Thạch. Người Hoa gọi là Ngọc Bích nghe rất qúy giá. Ta gọi là Cẩm Thạch nghe có vẻ bình dân hơn.
4 bản thư pháp của bài thơ
NGHĨA BÀI THƠ :
Lá ấu phủ trên mặt nước làm gợn sóng lăn tăn và những lá sen lay động trước gió. Trong chỗ sâu thẳm của ao sen chiếc thuyền nhỏ cũng có thể qua lại được. Gặp chàng muốn nói nên cúi đầu cười e thẹn, làm cho cây trâm bằng ngọc bích rớt tỏm xuống ao sen!
Khéo ngớ ngẩn mà nên thơ thi vị làm sao ấy! Không biết "chàng" đây là người cùng xóm hay là người trong mộng của nàng, 4 chữ "Phùng lang dục ngữ: Gặp chàng muốn nói " mới mơ hồ làm sao, vì "nó" ở giữa hai đàng: "Chàng muốn nói hay là Gặp chàng nàng muốn nói?" để thẹn thùng đến nổi cúi đầu lơ đểnh... đánh rơi cành trâm ngọc xuống ao sen!
Qủa là một bức tranh tâm lý sống động thực tế của các cô gái mới đến tuổi cài trâm rung động bối rối trước mặt người mà mình hằng mơ ước.
DIỄN NÔM :
Sóng vờn lá ấu gió lay sen,
Trong đám hoa xa thuyền nhỏ len.
Muốn nói gặp chàng cười cả thẹn,
Cúi đầu trâm ngọc rớt ao sen !
Lục bát :
Ấu gợn sóng gió lay sen,
Hái hoa thơ thẩn xuồng len trong cùng.
Gặp chàng muốn nói thẹn thùng,
Cuối đầu trâm rớt xuống bùn trong ao !
Sau những người đẹp, những nàng xuân nữ hái sen tình tứ, bây giờ thì ta đọc một bài hái sen của các cô cậu mới lớn nhé!
池上 TRÌ THƯỢNG
白居易 Bạch Cư Dị
小 娃 撐 小 艇, Tiểu oa sanh tiểu đĩnh,
偷 採 白 蓮 回。 Thâu thái bạch liên hồi.
不 解 藏 蹤 跡, Bất giải tàng tung tích,
浮 萍 一 道 開。 Phù bình nhất đạo khai.
CHÚ THÍCH :
Tiểu Oa 小 娃 : có thể là Bé Trai hoặc Bé Gái. Nhưng thường dùng để chỉ bé Gái, vì chữ OA 娃 có bộ NỮ 女 một bên.
Sanh 撐 : chèo, chống.
Tiểu Đĩnh 小 艇 : Chiếc Xuồng con.
Thâu Thái 偷 採 : Hái lén, Hái trộm.
Bất Giài 不 解 : là Không biết, Không hiểu.
Phù Bình 浮 萍 : là Bèo nổi trên mặt nước.
Nhất Đạo 一 道 : là Một đường, Một lằn.
NGHĨA BÀI THƠ :
Một cô (cậu) bé con chống một chiếc xuồng con con, len lén hái trộm sen trắng trong ao đem về, vì quýnh quáng và không biết cách che đậy dấu vết, nên còn để lại một lằn bèo trên ao sen do chiếc thuyền nhỏ đi qua.
Dấu đầu lòi đuôi, ăn vụn mà không biết chùi mép, người ta trông vào sẽ biết là mình vụn trộm ngay. Cái cô bé nầy mới ngây thơ và dễ thương làm sao! Cụ Tản Đà nhà ta đã diễn Nôm bằng Lục bát rất hay là:
Người xinh bơi chiếc thuyền xinh,
Bông sen trắng nõn trắng tinh hái về,
Hớ hênh dấu vết khôn che,
Trên ao để một luồn chia mặt bèo!
DIỄN NÔM :
TRÊN AO
Bé chống xuồng tẻo teo,
Sen trắng lén hái theo.
Chẳng biết che dấu vết,
Để lại một lằn bèo !
Lục bát :
Bé con chống chiếc xuồng con,
Lén hái sen trắng nỏn non chống về.
Ngây thơ không biết dấu che,
Để lại một rẻ nước bèo chia hai ! ![]()
Năm Thái Hòa thứ 9 (835), Bạch Cư Dị nhậm chức Thái Tử Thiếu Bác Phân Ty ở Đông Đô Lạc Dương. Một hôm đi dạo trên một bờ ao, trông thấy một vị sư đang đánh cờ trên bờ ao và một cô bé chống xuồng hái trộm sen dưới ao. Xúc cảnh sinh tình, ông mới viết nên 2 bài thơ: Một tĩnh một động. Bài số 2 ta đã đọc ở trên rồi, dưới đây là bài số 1:
池上 其一 TRÌ THƯỢNG Kỳ 1
白居易 Bạch Cư Dị
山 僧 對 棋 坐, Sơn tăng đối kỳ tọa,
局 上 竹 蔭 清。 Cục thượng trúc âm thanh.
映 竹 無 人 見, Ánh trúc vô nhân kiến,
時 聞 下 子 聲。 Thời văn hạ tử thinh.
CHÚ THÍCH :
Sơn Tăng 山 僧 : là Ông thầy chùa tu trong núi.
Cục Thượng 局 上 : là Trên bàn cờ.
Trúc Âm Thanh 竹 蔭 清 : là Bóng tre mát mẻ.
Ánh Trúc 映 竹 :là Bị rừng trúc che khuất lấp.
Hạ Tử 下 子 : Đặt con cờ xuống để đi một nước cờ.
NGHĨA BÀI THƠ :
Một nhà sư trong núi đang ngồi đối diện trước bàn cờ. Bóng trúc mát mẻ che phủ bàn cờ nên người ngoài không nhìn thấy, chỉ thỉnh thoảng nghe được tiếng con cờ được đặt xuống bàn cờ mà thôi!
Qủa là một cảnh tượng tiêu dao tự tại vô cùng thanh tịnh của những bậc tu hành. Ít nhất phải có 3 nhân vật trong bài thơ: Nhà sư phải đánh cờ với một người nào đó nữa, một nhà sư khác hay một cư sĩ nào đó, chả lẽ đánh cờ một mình, và một người thứ ba nào ở gần đó mới nghe được tiếng con cờ đặt xuống bàn cờ! Tuy ít nhất phải có đến 3 người, nhưng không gian lại hoàn toàn tĩnh lặng, tĩnh lặng trong bóng tre râm mát, tĩnh lặng đến đỗi nghe được tiếng con cờ đặt xuống bàn cờ. Không không sắc sắc, tựa sắc nhưng không, tựa không mà sắc! Nếu như không thỉnh thoảng nghe được tiếng quân cờ, thì như không có ai đang đánh cờ ở đó cả!
時聞下子聲。 Thời văn hạ tử thinh.
DIỄN NÔM :
Bàn cờ sư ngồi đó,
Bóng tre râm mát bờ.
Rừng trúc không người thấy,
Thỉnh thoảng tiếng quân cờ !
Lục bát :
Bàn cờ trước mặt sư ngồi,
Bóng tre râm mát im hơi ven bờ.
Rừng tre lặng ngắt như tờ,
Họa hoằn điểm nước quân cờ nhẹ đưa!
杜 紹 德
Đỗ Chiêu Đức