Thứ Hai, 28 tháng 6, 2021

Nhường (Từ Nguyên) & Bài họa của thi hữu: Nam Le, Mai Xuân Thanh

         NHƯỜNG

Nhường chia dũng khí hạnh người tu,

Nhường nhịn thánh tâm bậc trượng phu.

Nhường nói gìn duyên người nội tướng,  

Nhường công lập vị bạn đồng tu.

Nhường cơm sẻ áo hòa an lạc,

Nhường bước thi ân xóa hận thù.

Nhường chốn lao xao tầm vắng vẻ,

Nhường an cửa Đạo phước thiên thu.

Từ Nguyên (Oregon)

(14/06/2021)


Họa vận :
               NHỊN

Nhịn dũng không sân lập chí tu.
Nhịn nhường trau đức ráng công phu.
Nhịn ngôn cẩn hạnh yên gia đạo,
Nhịn việc nghiêm hành giúp bạn tu.
Nhịn mặc giản đơn đời lạc thú,
Nhịn xài phung phí nghĩa đền thù.
Nhịn tranh chốn đọa tìm thanh tịnh,
Nhịn lợi gìn tâm phước vạn thu.
Nam Le.
 15-06-21

 
    Nhường Nhịn
Nhường nhịn đồng môn chí thú tu
Nhường nhau tụng niệm mới công phu
Nhường người quân tử lòng trung thực
Nhường đứa tiểu nhân dạ tối mù...
Nhường bước anh em mà tự chủ
Nhường tình bạn hữu mới quên thù
Nhường không tranh chấp mong hòa thuận
Nhường nhịn thành tâm trải mấy thu ?

Mai Xuân Thanh
June 15, 2021



Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2021

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG : LẠC ĐỆ TÚ TÀI (Đỗ Chiêu Đức)


GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG : 
                            LẠC ĐỆ TÚ TÀI

                                     

                             Thi không ăn ớt thế mà cay !

       Đó là câu lẫy của ông Tú Vị Xuyên: Trần Tế Xương, một "Tú Tài Rớt" khi đi thi Cử nhân mà... Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy! TÚ TÀI RỚT chữ Nho gọi là " LẠC ĐỆ TÚ TÀI"!
   
       LẠC ĐỆ TÚ TÀI 落 第 秀 才 là Tú Tài Thi Rớt. Ngày xưa, các thư sinh lưng dài vai rộng chỉ có nước chờ đợi thi đậu để được phát tích mà thôi:

     Thập niên song hạ vô nhân vấn,     十 年 窗 下 無 人 問,
      Nhất cử thành danh thiên hạ tri.    一 舉 成 名 天 下 知。

Có nghĩa :
            Mười năm vùi mài kinh sử dưới song cửa sổ, không ai thèm hỏi tới, nhưng...
            Hễ thi đậu nổi danh một cái là cả thiên hạ đều biết đến tên tuổi..

      Nhưng, lại nhưng, số sĩ tử đi thi thì nhiều, mà số người đậu đạt lại rất ít. Khoa thi thì không phải năm nào cũng có, chỉ ba năm mới có một lần, nên số sĩ tử thi rớt thật nhiều. Ở cấp cao hơn, thì các sĩ tử nầy đều là những Tú Tài thi rớt mà người đời thường gọi là Lạc Đệ Tú Tài, kể cả Thi Tiên Lý Bạch đời Đường cũng đã từng là Tú Tài thi rớt. Ta hãy nghe ông than thở bằng bài thơ ngũ ngôn sau đây:

           黃 河 三 尺 鯉,   Hoàng Hà tam xích lý,
           本 在 孟 津 居。   Bổn tại Mạnh Tân cư.
           點 額 不 成 龍,   Điểm ngạch bất thành long,
           歸 來 伴 凡 魚。   Quy lai bạn phàm ngư !

Có nghĩa :
    - Con cá chép ba thước của sông Hoàng Hà,
    - Vốn dĩ ở đất Mạnh Tân (là nơi nổi tiếng về cá chép ngon). Nhưng vì...
    - Nhảy không qua cửa Vũ Môn để thành rồng, nên đầu đập xuống dập trán (ĐIỂM NGẠCH 點 額 là Cái chấm trên trán khi bị... té xuống!). Thôi thì ...
    - Đành trở về làm bạn với những con cá bình thường của phàm trần vậy !.
                


Diễn Nôm :
                Tấm thân ba thước sông Hoàng,
                Mạnh Tân vốn dĩ thôn trang quê nhà.
                Dập đầu cửa Vũ không qua...
                Thì thôi về với bạn già phàm phu !    

      Thi rớt nhưng vẫn còn cái ngông, cái... cao ngạo hão của kẻ sĩ ngày xưa. Đáng lẽ ta đã thành RỒNG rồi, nhưng vì không qua được Vũ Môn bị... té xuống, nên đành phải mang đầu máu về đây để sống chung với lũ tầm thường các ngươi nữa mà thôi!
       
      Sau đây, ta hãy nghe Bạch Cư Dị đời Đường cảm khái khi thi rớt:

      把 酒 思 閒 事,   Bả tửu tư nhàn sự,
      春 愁 誰 最 深?   Xuân sầu thùy tối thâm ?
      乞 錢 羈 客 面,   Khất tiền ký khách diên,
      落 第 舉 人 心。   Lạc đệ cử nhân tâm !
      月 下 低 眉 立,   Nguyệt hạ đê mi lập,
      燈 前 抱 膝 吟。   Đăng tiền bão tất ngâm.
      憑 君 勸 一 醉,   Bằng quân khuyến nhất túy,
      勝 與 萬 黃 金。   Thắng dữ vạn hoàng câm !

Có nghĩa :
        Chuốc rượu để xem như là không có chuyện gì cả (nhàn sự); Nỗi sầu của buổi tàn xuân và thi rớt, cái nào sầu hơn cái nào? Thể diện nào còn dám mở miệng xin tiền giúp đỡ của bạn bè nơi đất khách (để có lộ phí về quê). Nỗi buồn thi rớt là nỗi lòng của kẻ hụt làm Cử nhân. Thường đứng chau mày lặng lẽ dưới trăng, hay ngồi bó gối trầm ngâm trước ngọn đèn khuya. May nhờ có bạn bè mời uống rượu để giải sầu, tình bạn nầy thật còn xứng đáng hơn là muôn vạn lượng vàng ròng nữa!

Diễn Nôm :      
                 
                               


                 Lòng sầu nâng chén như không,
                 Buồn nầy so với tàn xuân ai sầu ?
                 Xin tiền mặt mũi để đâu,
                 Cử Nhân lạc đệ còn sầu nào hơn ?
                 Dưới trăng mày ủ mặt hờn,
                 Bên đèn bó gối chập chờn đêm thâu,
                 Bạn bè chuốc chén giải sầu,
                 Ngàn vàng khó được tìm đâu kim bằng ?! 

       Thật cảm khái! Thi rớt thẹn cả với trăng với đèn với bạn bè trong buổi tàn xuân nơi đất khách. May mà còn có những người bạn tốt chuốc chén mời rượu để giải sầu... Kể ra Bạch Cư Dị cũng còn may mắn chán, trong khi Đỗ Mục thi rớt lại than rằng:

        何 人 更 憔 悴,   Hà nhân cánh tiều tụy,
        落 第 泣 秦 京。   Lạc đệ khấp Tần Kinh.

Có nghĩa : 
         Còn ai tiều tụy võ vàng hơn là người thi rớt, vì ...
         Khóc suốt trong kinh thành trong suốt thời gian thi rớt đó!
Tình cảnh quả thật xót xa thương cảm:

                    Còn ai tiều tụy võ vàng,
            Trường An khóc suốt trên đàng về quê !...
      
        Còn Cố Phi Hùng 顾 非 熊, con của Cố Huống, người nổi tiếng với "Lá đỏ đề thơ", lăn lộn trong trường thi suốt 30 năm mà vẫn phải:

       白 首 青 衫 猶 未 換,   Bạch thủ thanh sam do vị hoán,
       又 騎 羸 馬 出 函 關。   Hựu kỵ luy mã xuất Hàm Quan.
               
           
                         

Có nghĩa :
      - Đầu đã bạc cả rồi mà chiếc áo xanh của thư sinh vẫn chưa thay đổi (chưa thi đậu)..
      - Lại vẫn phải cởi con ngựa ốm đói mà đi ra ải Hàm Quan.

        Tuy thi rớt, nhưng văn tài của Cố Phi Hùng vang dội khắp   kinh thành. Ông là bạn thơ của Giả Đảo, Vương Kiện, Chu Khánh Dư, Ung Đào... nên khoa thi năm Hội Xương thứ 5, đời vua Đường Võ Tông, nhà vua thấy bảng vàng không có tên ông, mới lệnh cho quan chủ khảo nộp bài thi của ông lên cho vua xét duyệt và đặc cách cho ông được đỗ Tiến Sĩ Cập Đệ ngoại bảng. Để lại một giai thoại lý thú cho các sĩ tử đời sau.
       Còn LA NGHIỆP 羅 鄴 trong bài Lạc Đệ Đông Quy 落 第 東 歸 (Thi rớt về đông) thì la cà chần chừ không muốn về nhà chút nào cả! Ta hãy nghe ông than thở giải bày:

     年 年 春 色 獨 懷 羞,   Niên niên xuân sắc độc hoài tu,
     強 向 東 歸 懶 舉 頭。   Cưởng hướng đông quy lãn cử đầu.
     莫 道 還 家 便 容 易,   Mạc đạo hoàn gia tiện dung dị,
     人 間 多 少 事 堪 愁。   Nhân gian đa thiểu sự kham sầu !

Có nghĩa :
    - Năm năm màu xuân lại trở về, riêng ta luôn ôm ấp nỗi thẹn thùa.
    - Gắng gượng đi về hướng đông nơi quê nhà mà biếng ngẩng đầu (chỉ cui mặt, không dám nhìn ai vì thi rớt).
    - Đừng bảo là đi về nhà thì rất dễ dàng...
    - Trên đời nầy có biết bao nhiêu chuyện khiến cho con người ta phải buồn rầu!

Diễn Nôm :
                Mỗi năm xuân đến thẹn riêng ta,
                Cúi mặt về đông hướng nẻo xa.
                Chớ bảo hồi quê là chuyện dễ,
                Việc đời buồn nãn biết bao là!...

       Đó là đời Đường, còn Lục Thế Minh 陸 世 明 của đời Minh thi rớt trở về, trên đường đi ngang qua một trạm kiểm soát, bị quan sở tại chận lại xét, nghi là thương buôn bắt đóng thuế. Lục Thế Minh tức cảnh làm một bài thơ tặng cho vị quan địa phương đó như sau:

 獻 策 金 門 苦 未 收,   Hiến sách kim môn khổ vị thâu,
 歸 心 日 夜 水 東 流。   Quy tâm nhật dạ thủy đông lưu.
 扁 舟 載 得 愁 千 斛,   Biển chu tải đắc sầu thiên đẩu,
 聞 說 君 王 不 稅 愁!   Văn thuyết quân vương bất thuế sầu !

                 
                                                            

Có nghĩa :
      - Ta đi hiến kế sách ở cung vàng của nhà vua (đi thi), khổ nỗi nhà vua không nhận.(ý nói thi rớt).
      - Nên lòng trở về quê của ta ngày đêm đều theo dòng nước chảy về đông.
      - Chiếc thuyền nhỏ chở nặng mối sầu của ta như chở nặng cả ngàn đấu.
      - Ta nghe nói là nhà vua đâu có thu Thuế SẦU bao giờ đâu! (Mặc dù mối sầu thi rớt nặng như cả ngàn đấu làm khẳm cả ghe).

Diễn Nôm :
                Hiến kế kim môn khổ chẳng thâu,
                Ngày đêm theo nước chảy về mau.
                Thuyền con chở nặng sầu ngàn đấu,
                Nghe nói quân vương chẳng thuế sầu!

       Người thi rớt thì thẹn thùa sầu thảm buồn khổ là thế, còn người thi đậu thì Tiền Khởi 錢 起 trong Đại Lịch Thập Tài Tử 大 曆 十 才  đã viết hai câu tặng một người bạn thi đậu như sau:
              
    借 問 還 家 何 處 好,   Tá vấn hoàn gia hà xứ hảo,
    玉 人 含 笑 下 機 迎。   Ngọc nhân hàm tiếu hạ cơ nghinh.

                                                            

Có nghĩa :
         Dám hỏi về nhà chuyện gì là vui nhất đây, đó là...
         Người ngọc (bà xã) mĩm cười bước xuống khung dệt mà mừng đón!

  Không như ...
        ĐƯỜNG THANH THẦN 唐 青 臣 trong TÙY VIÊN THI THOẠI 隨 園 詩 話 của Viên Mai 袁 枚(1716-1797)đời nhà Thanh khi thi rớt về nhà:

         不 第 遠 歸 來,   Bất đệ viễn quy lai,
         妻 子 色 不 喜。   Thê tử sắc bất hỉ.
         黃 犬 恰 有 情,   Hoàng khuyển kháp hữu tình,
         當 門 臥 搖 尾。   Đương môn ngọa dao vĩ.

* Chú thích :
    - LẠC ĐỆ 落 第 : LẠC là Rơi, Rụng, Rớt... Nên LẠC ĐỆ là Thi Rớt.
    - BẤT ĐỆ 不 第 : ĐỆ là Thứ Bậc, là Xếp hạng, nên Bất Đệ là Không được Xếp Hạng là KHÔNG ĐẬU. (Cũng như thi rớt!)
    - THÊ TỬ 妻 子 : là Vợ Con, nhưng chỉ có nghĩa là CON VỢ mà thôi. Vì THÊ TỬ là từ Kép dùng để chỉ Con Vợ, Bà Vợ, Bà Xã...
    - KHÁP 恰 : là Phó từ có nghĩa: Vừa vặn, Đúng lúc. Nhưng ở đây KHÁP là Liên Từ là từ Nối dùng để nối một ý bất ngờ hoặc ngược lại, có nghĩa như là LẠI của ta, nên câu thơ "黃 犬 恰 有 情 Hoàng khuyển KHÁP hữu tình" có nghĩa: Con chó vàng LẠI có tình cảm (như con người).
    - ĐƯƠNG MÔN 當 門 : là Ngay trước cửa, nên câu "當 門 臥 搖 尾 Đương môn ngọa dao vĩ, có nghĩa: "Nằm vẫy đuôi ngay trước cửa!" (để mừng chủ về).

* Diễn Nôm :           
                     


                    Không đậu từ xa về,
                    Sắc mặt vợ ủ ê.
                    Con phèn tình vẫn thế,
                    Vẫy đuôi đón chủ về !

       Đường Thanh Thần kể ra cũng còn sướng chán, vì còn có con chó vàng vẫy đuôi mừng rỡ, chớ Đỗ Cao 杜 羔 thì còn tệ hại hơn nhiều. Năm Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông, sau mấy lần thi rớt, năm nay lại lạc đệ trở về. Vợ của Đỗ Cao nghe tin bèn gi cho chồng một bài thơ như sau:

  良 人 的 的 有 奇 才,   Lương nhân đích đích hữu kỳ tài,
  何 事 年 年 被 放 回?   Hà sự niên niên bị phóng hồi ?
  如 今 妾 面 羞 君 面,   Như kim thiếp diện tu quân diên,
  君 若 來 時 近 夜 來。   Quân nhược lai thì cận dạ lai !

Có nghĩa :
      - Chàng của em (lương nhân) đích thực là có kỳ tài! Nhưng...
      - Vì việc gì mà năm nào cũng bị nhà vua "cho về vườn"? 
      - Nay thì mặt thiếp cũng đã thẹn vì mặt chàng rồi, nên...
      - Chàng có về thì hãy đợi đến gần đêm hãy về (cho đỡ mắc cỡ với bà con lối xóm!)

Diễn Nôm :
                 Chồng em đích thực có kỳ tài,
                 Sao lại năm nào cũng rớt đài ?
                 Mặt thiếp thẹn chai vì mặt ấy,
                 Có về xin hãy đợi đêm dài !

       Về ban đêm cho "đỡ quê" với bà con lối xóm. Vừa mĩa mai lại vừa chua xót biết bao nhiêu!         
       
       Cùng ở chung một làng một xóm, nhưng người thi đậu kẻ thi rớt, hai thái cực đối chọi nhau một cách mĩa mai. Hãy nghe lời thơ của Cố Phi Hùng:

             寂 寞 正 相 對,   Tịch mịch chính tương đối,
             笙 歌 滿 四 鄰。   Sanh ca mãn tứ lân.

Có nghĩa :
              Yên lặng buồn hiu ngồi nhìn nhau, trong khi...
              lối xóm bốn bề vang dội tiếng sanh ca ăn mừng.
 Đúng là :
                    Buồn thiu lặng lẽ nhìn nhau,
              Sanh ca bốn phía khác nào trêu ngươi !  
     và...
             
     傍 人 賀 及 第,   Bàng nhân hạ cập đệ,
             
     獨 自 卻 沾 襟。   Độc tự khước triêm khâm.

Có nghĩa :
         Người bên cạnh ăn mừng thi đậu, còn ta thì...
         Tự mình ngồi đây mà lệ nhỏ ướt cả vạt áo.   
      
 Quả là :
                   
                 

                   Người đậu mừng chúc vui ca,
                Riêng ta sầu thảm ướt tà áo xanh !
       
       Nhưng mĩa mai chua xót và đau khổ nhứt là trường hợp của Lưu Hư Bạch 劉 虛 白 đời Đường. Hai mươi năm xưa, Bạch cùng với Bùi Viên 裴 垣 là bạn đồng song cùng dùi mài kinh sử, nhưng khi ứng thí thì Viên chiếm ngao đầu, sau khi đậu Tiến sĩ thì đường công danh thẳng tiến, đến khoa thi năm nay, Bùi Viên được nhà vua chỉ định làm quan chủ khảo, trong khi Lưu Hư Bạch vẫn còn là một sĩ tử đi ứng thi. Đến ngày thi, Bạch làm một bài thơ gởi cho bạn đồng song ngày xưa và là quan chủ khảo ngày nay là:

  二 十 年 前 此 夜 中,    Nhị thập niên tiền thử dạ trung,
  一 般 燈 燭 一 般 風。    Nhất ban đăng chúc nhất ban phong.
  不 知 歲 月 能 多 少,    Bất tri tuế nguyệt năng đa thiểu,
  猶 著 麻 衣 待 至 公!    Do chước ma y đãi chí công!

Có nghĩa :
       - Hai mươi năm trước cũng trong một đêm như đêm nay,
       - Ta đã cùng chung đèn sách và cùng chung phong độ như nhau.
       - Không biết là ngày tháng đã tiêu hao hết bao nhiêu rồi, mà...
       - Ta vẫn còn mặc áo gai mà đối mặt với ông đây!

Diễn Nôm :
                    Hai mươi năm trước cũng đêm này,
                    Cùng sách cùng đèn đó với đây.
                    Ngày tháng vô tình đà biến đổi,
                    Aó gai ta thẹn với ông nay !   
           
      Trở lại với Vị Xuyên Tú Xương, ông cũng đã rất xót xa khi cứ thi rớt mãi, buồn bực nản chí đến đòi cả tự vẫn trong ngày thi rớt. Ta hãy nghe tâm sự chua cay của ông qua bài thơ "Hễ Mai Tớ Hỏng" sau đây:

                Hễ mai tớ hỏng, tớ đi ngay!
                Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày!
                Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
                Thi không ăn ớt thế mà cay!
                Sách đèn phó mặc đàn con trẻ
                Thưng đấu nhờ trông một mẹ mày.
               "Cống hỉ", "mét xì" thông mọi tiếng,
                Chẳng sang Tầu cũng tếch sang Tây...
  
               
                 


   Nhớ ...
          Ngày xưa, khoảng thập niên sáu mươi bảy mươi của thế kỷ trước, rất nhiều bạn bè của lớp Đệ Nhị cùng nhau học thi Tú Tài Phần Thứ Nhất (Tú tài 1). Ai đậu thì tiếp tục học thi Tú Tài Đôi, lên Đại Học. Còn bạn nào rớt thì phải xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ tòng chinh. Một anh bạn thi rớt đã cảm khái mà làm bài thơ sau đây:

                    Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ,
                    Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con.
                    Hòa bình trở lại nước non,
                    Anh về anh có Mỹ con anh bồng !

          Nghe như là hài hước, nhưng thực ra lại vừa đắng cay vừa chua xót lẫy hờn!

          Xin được khép lại LẠC ĐỆ TÚ TÀI là "Tú Tài rớt" ở đây. Hẹn bài viết tới !

                                                 杜 紹 德
                                             Đỗ Chiêu Đức








      

Ngượng Ngùng (Thy Lệ Trang) & Bài họa của thi hữu: Chu Hà, Mai Xuân Thanh, Hồ Nguyễn, Võ Ngô, Cao Bồi Già, Nguyên Trần, Songquang, Thanh Trương, Sông Thu, Thanh song Kim Phú, Như Thu, Thanh Hòa, Hồng Vân, Minh Thúy Thành Nội, Thúy M, Trần Như Tùng, Mỹ Ngọc, Lý Đức Quỳnh, Phương Hoa

                              

NGƯỢNG NGÙNG
(Xuyên liên vận)
Lóng lánh bên thềm những hạt sương
Đường khuya nhòa nhạt dáng em buồn
Buông dòng lệ đẫm, hồn tơ tưởng
Vướng mảnh tình sầu, da vấn vương
Gương cũ... ngỡ ngàng đôi mắt phượng
Vườn hoang... xơ xác bóng trăng suông
Muốn trao tâm sự nhưng còn ngượng
Phương đó... người xưa có nhớ thương?
                Thy Lệ Trang

Bài họa:

         Tiếc Nuối
       (Xuyên liên vận)

Tình yêu mới lớn nắng ngời sương
Hướng đến đầy hoa đâu biết buồn
Luồng gió khẽ đưa vừa khoảng cách
Mạch đời tuôn chảy nảy sầu vương
Đường xưa sánh bước nghe lời ghẹo
Nẻo trước giờ qua chiếc bóng suông
Muốn níu thời gian mờ khuất dấu
Đâu người năm cũ để mình thương !
        
Chu Hà


   Vẫn Còn Thương
         (Xuyên liên vận)

Tiết trời êm ả lạnh hơi sương
Đường vắng người đi cảm thấy buồn
Buông xả khổ đau tình tưởng tượng
Nương cầu hạnh phúc nợ tơ vương
Thương ai đồng cảm lòng vui sướng
Vướng kẻ trầm tư dạ trống suông
Muốn gởi niềm riêng mà thấy ngượng
Phương nào tri kỷ vẫn còn thương

Mai Xuân Thanh
June 15, 2021

     TÌNH BUÔNG

Mơ màng thấp thoáng ánh lờ sương,

Thương quá ai xưa chẳng tỏ tường.

Hướng ngóng chốn nao chờ ngất ngưởng,

Hương dâng dạo nọ vọng ngàn phương.

Vương sầu cố gắng tìm bên phượng,

Vướng khổ bình an cạnh cúc hường.

Thân thế đổi thay nào có tưởng,

Đường tình tê tái xót hoa nhương.

          HỒ NGUYỄN 

            (17-6-2021)


Vẫn Nhương Nhương

 Sự đời suy gẫm tóc phai sương
Đã bấy lâu nay việc khó tường
Lúc bỏ quê hương người mất nước.
Khi lìa xứ sở kẻ tha phương
Cùng nhau gom sức truy liềm đỏ
Lại hóa ôm eo khách má hường
Trăm chuyện khóc cười qua bốn sáu
Vẫn đời vẫn tục vẫn nhương nhương *.
.
Ầm ĩ. nhương nhương [rangrang] (khn) ① Làm ầm, ồn lên:  Trong nhà rất ồn ào;
② Cãi nhau:  Cãi nhau với anh ta một trận;
③ Nói toang ra:  Đừng nói toang ra. Xem  [răng].

            Võ Ngô 

     LÚY TÚY

    (Xuyên liên vận)

Hoàng hôn bảng lảng phủ màn sương

Đường vắng, đèn khuya hắt ánh buồn

Mượn chén, đêm cô lời ngạo thả

Xả lòng, nguyệt khuyết nét sầu vương

Buông hồn Cuội ước rời cung Quảng

Hắng giọng, ta cười nốc rượu suông

Xướng ngẫu vần thơ thần tửu túy…

Vị nồng đắng chát, khó người thương…

CAO BỒI GIÀ

  12-06-2021

 

       VẦN VƯƠNG

Đời đã trải qua nhiều gió sương

Thương em chẳng vẹn luống u buồn

Tuôn dòng lệ úa cành hoa héo

Gieo điệu buồn tênh chiếc lá vương

Đường nắng phai màu mây giăng lối

Trời mưa nhòe nhạt điệu ru suông

Buồn vương màu áo câu thề nguyện

Thuyền bỏ bến xưa mãi tiếc thương./.

Toronto 12/6/2021

   Nguyên Trần

 

    BỖNG DƯNG BUỒN

      (Xuyên liên vận) 

Lồng lộng bên rèm lá đẫm sương

Đường đêm im vắng… bỗng dưng buồn

Tuôn rơi dòng lệ không hề ngượng

Vướng víu cung sầu chẳng bỏ vương

Chương sách ảo mờ hình dáng phượng

Vườn khuya dìu dịu nét hương suông

Cuộn mình thơ thẩn lòng hoài tưởng

Vương vấn tâm hồn dạ mãi thương

Songquang

20210612

 

        MÃI CÒN THƯƠNG

Thương em dạo ấy, buổi chiều sương

Khắc khoải đêm về, dạ mãi buồn

Sáu khắc mơ màng, vì luyến tiếc

Năm canh lẫn thẫn, bởi tơ vương

Cô đơn nắng hạ, cành hoa phượng

Quạnh quẽ chiều thu, chén rượu suông

Giây phút ban đầu, sao lắm ngượng

Đôi câu vớ vẫn, mãi còn thương.

Thanh Trương

 

         SẦU MUỘN 

Lặng lẽ một mình trên dốc sương

Đường khuya huyễn ảo ánh trăng buồn

Buông lơi theo gió âm trầm tưởng

Vướng chặt trong hồn điệu luyến vương

Dường mãi tương tư hình dáng phượng

Tuồng hoài say đắm mối tình suông

Nguồn cơn lẻ bóng khơi sầu muộn

Tuôn chảy lệ nguồn đẫm nhớ thương.

   Sông Thu

( 13/06/2021 )

 

      NGƯỢNG NGÙNG

           (Xuyên liên vận)

Bên thềm lất phất giọt mưa sương

Đường vắng trời khuya nhớ bạn buồn

Tuôn giọt châu tràn tâm vọng tưởng

Mượn dòng lệ đượm dạ tơ vương

Vườn xưa ủ dột cành hoa phượng

Hướng cũ tiêu điều ánh nguyệt suông

Muốn nói đôi câu lòng vẫn ngượng

Phương trời cách biệt hỏi còn thương?

Thanh Song Kim Phú

  CA June/13/2021

 

       SƯỢNG SÙNG

         (Xuyên liên vận)

Vai gầy một bóng đẫm mù sương

Lưỡng lự điều chi khiến dạ buồn

Cuộn bức thơ nhàu con chữ gượng

Tuôn lời mộng thắm mảnh tình vương

Đường xưa tẻ nhạt vì ai bướng

Hướng lạ ơ thờ bởi phận suông

Luống những niềm riêng giờ nghĩ sượng

Tưởng người bên ấy vẫn còn thương!

  Như Thu

06/13/2021

 

          CÔ ĐƠN

        (Xuyên Liên Vận)

Lảnh lót ngang trời vạc gọi sương

Dường như lạc bạn, thảm thê buồn

Buồng cô giá lạnh khơi mơ tưởng

Hướng cũ xa vời gợi tiếc thương

Lượng được bao nhiêu hồi ước muốn

Mượn thêm biết mấy buổi sầu vương

Tương tư suốt kiếp, khi nào hưởng?

Trường dạ, đêm tàn, trắng giấc suông.

Thanh Hoà

 

        LỖI THỀ

Tôi về chốn cũ  một chiều sương

Mượn ánh trăng khuya gởi nỗi buồn

Hướng lối quê nhà lòng vọng tưởng

Phương trời đất khách dạ hoài vương

Hương cau phảng phất...câu thề muộn 

Vườn bưởi, thầm thì... tiếng hẹn suông

Đường vắng âm thầm gom xác phượng

Trường đời... mang nặng nỗi niềm thương...!

Bạc Liêu/13/6/2021

      Hồng Vân 

 

           HOÀI NIỆM

            (Xuyên liên vận) 

Nắng sớm tan dần những giọt sương

Tương tư lối cũ cảnh u buồn

Luồn say một thủa còn mường tượng

Vướng đắm bao  thời mãi nặng vương

Phượng nụ tô hồng khoe đẹp hướng

Tường vôi rắc tím trải xinh đường

Vườn xưa nghĩ đến hồn an dưỡng

Ngưỡng cửa ru lòng kỷ niệm thương

      Minh Thuý Thành Nội

Tháng 6//13/2021

 

     ĐÊM BUỒN NHỚ BẠN

           (Xuyên liên vận)

Hoàng hôn phủ xuống một màn sương

Xướng tiếng quạ kêu dặc dặc buồn

Luống cuống lạc đàn chim soải cánh

Mang mang nhớ bạn kẻ ngồi suông

Thú cầm yên ả nằm ngoan ngủ

Lữ khách u hoài đứng vọng vương

Tưởng đã qua rồi còn chi nữa

Mưa rơi bao hạt bấy nhiêu thương.

Thúy M

 6/13/21

 

     NGÀY CHÚA DẠO 

Đòng đưa ngày chúa nắng tan sương

Ve hát chim reo chẳng chút buồn

Đây bụi sim tơ lôi bước tới

Kia chùm trái mọng thả hồn vương

Ba xe tam nữ không ngơi hí

Mỗi đứa lưng bao chẳng dạo suông

Quà tặng thiên nhiên quà hạnh phúc

Kêu vài tên ngốc mở lòng thương.

Trần Như Tùng

 

          GIỌT BUỒN 

Sao mờ nguyệt lặn đất còn sương,

Phương thảo đồng thơm, tiếng vạc buồn.

Luôn nhớ quê nhà luôn vọng tưởng,

Thường mơ xóm cũ mãi tơ vương.

Đường xưa hạ đỏ mầu hoa phượng,

Trường cũ thu vàng sắc lá suông.

Chuông sớm tầng không vang mọi hướng

Tương hà đôi ngả dạt dào thương.

  Mỹ Ngọc.

Jun. 13/2021.

 

    ĐI GIỮA SẦU QUÊ

(Xuyên liên vận, Thuận Nghịch độc)

Đọc Xuôi:

Hương cỏ đọng mềm giọt trắng sương

Mượn vay đời góp chứa chan buồn

Nương xanh gợi nhớ trào mi vướng

Ruộng úa nhìn sầu thấm mắt vương

Gương cũ rọi nhòa trăng khóc gượng

Phượng hồng soi lẻ bóng cười suông

Đường xa vắng lạnh thêm chiều muộn

Thương nặng trĩu lòng nghẹn mãi thương.

 

Đọc Ngược:

Thương mãi nghẹn lòng trĩu nặng thương

Muộn chiều thêm lạnh vắng xa đường

Suông cười bóng lẻ soi hồng phượng

Gượng khóc trăng nhòa rọi cũ gương

Vương mắt thấm sầu nhìn úa ruộng

Vướng mi trào nhớ gợi xanh nương

Buồn chan chứa góp đời vay mượn

Sương trắng giọt mềm đọng cỏ hương

Lý Đức Quỳnh

   13/6/2021


DÁNG XUÂN BUỒN

 

Loang loáng cành hồng đẫm ướt sương

Vườn Xuân tàn tạ dáng Xuân buồn

Cuồng tâm nỗi nhớ, đau tình luyến

Quyện trí niềm yêu, khổ lệ vương

Hương ngát thuở đầu trao ý gắn

Nắng tàn phút cuối thả lời suông

Buông chùng điệu nhạc cung tơ mỏi

Bối rối vì lòng mãi luyến thương

  Phương Hoa

JUN 14th 2021