Thứ Năm, 30 tháng 1, 2025

KHAI XUÂN - Thơ Trần Văn Hạng và Thơ Họa


                  

      KHAI XUÂN

Xuân về nhựa sống trải muôn nơi

Hoa lá ngày xuân đẹp tuyệt vời

Lộc nõn đầu xuân khai tiết mới

Chồi non Ất tỵ lập xuân thời

Chào xuân ngọc điểm lan hương ngát

Đón tết mai xuân rộ sắc ngời

Sặc sỡ cảnh xuân khoe vạn lối

Cùng vui hòa nhịp với xuân đời

Trần văn Hạng


Thơ Họa: 

   XUÂN MỘNG MƠ

Xuân về rộn rã khắp nơi nơi

Thăm thẳm trời xuân nét vợi vời

Khúc nhạc xuân mơ chào nắng mới

Bài thơ xuân mộng đắm hoa ngời

Bướm xuân giỡn gió màn luân vũ

Cây cỏ mừng xuân búp lộc thời

Thiếu nữ vào xuân tràn sức sống

Đón chờ xuân thắm đến trong đời.

   SôngThu

( 19/01/2025 )

 

  MỪNG XUÂN ẤT TỴ

Ất Tỵ Xuân về rộn khắp nơi…

Trăm hoa đào cúc nét xinh vời

Tao nhân xướng họa mùa Xuân mới

Mặc khách say sưa khí hậu thời

Tống cựu Giáp Thìn Xuân sắc điểm

Nghinh tân Ất Tỵ ánh dương ngời

Xuân vui “Ái Hữu” cùng nâng cốc

Đón Tết đào mai nở giữa đời…!

MAI XUÂN THANH

Silicone Valley January 18, 2025

 

       TÌNH XUÂN


Hớn hở Xuân bèn viếng mọi nơi


Nàng xuân chuyện vãn xóa trông vời
!

Mai đào tỏa nụ xuân vừa ý

Huệ cúc mừng xuân cảnh hợp thời


Khẽ ghẹo xuân hồng thêm tuổi mới

Thầm khen nguyệt tỏ kết xuân ngời

Xuân tình vạn kiếp hoài chung thủy

Bến nguyện chờ xuân cả một đời!

 Như Thu

01/19/2025

 

XUÂN NÀY VẮNG ANH

Lại một tân xuân sắp đến nơi

Hoa mai khoe sắc đón xuân vời

Vui xuân, nhà cửa tô sơn vách

Lạnh tiết, tầm xuân nở kịp thời

Đường phố ngày xuân thêm rộn rã

Thuyền xuân du lịch đẹp xinh ngời

Xuân này anh vắng không về được

Hẹn đến xuân sau kết nợ đời.

     LAN

(20/01/2025)

 

  LẨM CẨM ĐẦU NĂM

Khai bút đầu Xuân thắm mọi nơi

Đề thơ mơ tưởng mộng xa vời

Luận đàm thế sự Trump toàn thắng

Theo sát thông tin Musk hợp thời

Mong muốn ngày mai rồi rực sáng

Ước sao năm mới được xanh ngời

Bài văn lẩm cẩm còn như đợi

Lẽ sống chung vui với cuộc đời.

Lê Mỹ Hoàn

   1/2025

 

     XUÂN BẤT TẬN

MỪNG XUÂN khai bút gởi muôn nơi

Cố quận  Xuân xưa đã cách vời

Vội gởi Thiệp Xuân vui mấy thủa

Rồi trao Xuân tứ tới bao thời

Xuân chào quê cũ còn tươi thắm

Xuân chúc phương này mãi rạng ngời

Mới biết Xuân muôn trùng vạn nẻo

Bởi chưng Xuân bất tận trong đời …

   Los Angeles. 20 - 1 - 2025

CAO MỴ NHÂN

 

       SANG XUÂN

Cảnh thế XUÂN tràn khắp mọi nơi

Tình XUÂN dào dạt thắm tô đời

Sắc nào vị đó nghinh XUÂN rộn

XUÂN đấy màu kia hóng Tết thời

XUÂN đến mai đào bung cánh rực

XUÂN khai búp nụ nhú thân ngời

Trời nam XUÂN rạng hoa sặc sỡ

Nẻo Bắc XUÂN hanh lộc nõn vời…

Mai Vân-VTT

  21/01/2025

 

   KHAI BÚT ĐẦU XUÂN

Tuần hoàn thiên địa chuyển nơi nơi

Hoa nở đầu xuân đẹp rạng ngời

Sặc sỡ mai đào năm khởi mới

Yêu kiều lan cúc tiết giao thời

Nhởn nhơ đàn bướm vui đùa dạo

Ríu rít đôi chim quấn quýt vời

Cơn gió nhẹ nhàng rung chiếc lá

Thi nhân xao xuyến dệt thơ đời

Hưng Quốc

       Texas 1-21-2025

 

     ĐIỂM XUÂN

Cảnh vật Xuân bừng sáng khắp nơi

Nàng Xuân rực rỡ chiếu dâng vời

Xuân hồng bút mộng khơi từng thủa

Lá biếc mầm Xuân dệt bấy thời

Lũ bướm Xuân chuyền lồng nắng đẹp

Đàn chim giọng hót trỗi Xuân ngời

Hoa Xuân sắc rộ khoe trần thế

Cảm khái tình Xuân thắm cuộc đời

     Minh Thúy Thành Nội

Tháng 1/21/2025

 

       KHAI XUÂN

Xuân vẫy bút màu vẽ khắp nơi

Rộn nghe xuân gọi nắng xa vời

Sông xuân, đạm thủy hòa kim sắc

Ánh nhật, tân xuân tiễn cựu thời

Bướm lượn vườn hoa, xuân mộng thắm

Hương theo ngõ ý, dáng xuân ngời

Xuân về chẳng rực cành mai cỗi

Trảy lá, mong xuân trổ với đời…

Lý Đức Quỳnh

   23/1/2025


 
ĐÓN XUÂN VUI

Xuân đến hoa bùng sắc khắp nơi,

Tỏa hương thơm hức thoáng xa vời.

Đóa đào mụ mẩm hồng tươi mới,

Nàng cúc xinh ươm đẹp một thời.

Huệ ẩn nét tình yêu bát ngát,

Mai bung nụ sáng kéo tim ngời.

Trời cao mây né cho tia nắng,

Đón Tết muôn nơi sáng rực đời.

                         *

Thơ tình xướng họa chuyển không vơi!

        HỒ NGUYỄN 

       (24-01-2025) 













Bàn Thờ Tiên Tổ Ngày Tết - Anh Khờ

 

                                                     

Bàn Thờ Tiên Tổ Ngày Tết

Nghi ngút mùi trầm quyện quyện bay
Bàn thờ tiên tổ sắp sao đầy...
Chè xôi, qủa bưởi xanh xanh chất
Bánh mứt, hạt dưa đỏ đỏ bày
Lọ hụê thanh thanh… hoa giống tán
Bình hương lẳng lẳng... khói như mây
Lung linh bức ảnh ông bà cố
Khấn vái tâm thành cháu chắt đây

Anh Khờ









Thứ Tư, 29 tháng 1, 2025

Lời Chúc Năm Mới & Hồng Đào - ( Anh Khờ)

                                     

Lời Chúc Năm Mới

Mượn tạm lời thơ để Chúc Xuân
Thư ngay độc gỉa khắp xa gần
Dăm câu mộc mạc ân tình đậm
Một đoạn sơ sài ý nghĩa thâm
Thịnh Đạt chia cùng bao bạn hữu
An Khang hưởng trọn với người thân
Nâng ly hát khúc mừng năm mới
Pháo nổ tưng bừng lễ tiếp tân

      Anh Khờ

     *****
Hồng Đào 
(song điệp)
Hoa hoa lá lá nở vòng quanh
Đỏ đỏ xanh xanh kín cả cành
Dịu dịu thơm thơm nhìn đẹp cảnh
Tươi tươi mát mát ngẫm xinh tranh
Lay lay phất phất chùm tơi tả
Nhặt nhặt lùa lùa cánh mỏng manh
Sáng sáng chiều chiều hoài tiếc ngẩn
Hương hương sắc sắc kiếp tàn nhanh

Anh Khờ












Giai Thoại văn Chương : VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ (Đỗ Chiêu Đức)


Giai Thoại văn Chương : 

                     VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ

                           
             
                          Đền thờ Thủ Khoa BÙI HỮU NGHĨA
 
     Trước khi nghe "Giai Thoại Văn Chương Việt Nam" nầy, xin mời tất cả cùng đọc một bài thơ Đường rất ư là mượt mà tình tứ của một cô dâu mới về nhà chồng của Châu Khánh Dư trước khi lai kinh ứng thí như sau:

    近 試 上 張 水 部             CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG                                                          THỦY BỘ

   洞 房 昨 夜 停 紅 燭,  Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,
   待 曉 堂 前 拜 舅 姑。  Đãi hiểu đường tiền bái cựu cô.
   妝 罷 低 聲 問 夫 婿:  Trang bãi đê thanh vấn phu tế, 
   畫 眉 深 淺 入 時 無 ?   Họa mi thâm thiển nhập thời vô ?! 
                  朱 慶 餘                             Châu Khánh Dư

              
       
* Chú Thích :
     - Châu Khánh Dư  朱 慶 餘, không rõ năm sanh năm mất, tên là Khả, người đất Đường Châu, đậu Tiến sĩ giữa năm Bảo Khánh, là môn đệ của Trương Tịch. Ông giỏi về thơ, còn để lại một Thi Tập. 
    - CẬN THÍ : Gần đến ngày đi thi.
    - TRƯƠNG THỦY BỘ : là Trương Tịch 張 籍 (766─830 ), tự là Văn Xương, người đời thường gọi là Trương Tư Nghiệp hay Trương Thủy Bộ; thơ nhạc phủ của ông thường phản ánh hiện thực của xã hội đương thời. Nổi tiếng ngang hàng với Vương Kiến, người đời xưng tụng là " Trương Vương ". Tác phẩm để lại: Trương Tư Nghiệp Tập.
    - ĐÃI HIỂU : là Chờ sáng, là Đợi đến sáng ngày.
    - CỰU CÔ : CỰU 舅 là Cậu, là Anh Em trai của mẹ. CÔ 姑 là Chị Em gái của cha. Nhưng theo Tập quán Ngôn ngữ của người Hoa xưa, CỰU CÔ 舅 姑 là Ông Già Chồng và Bà Già Chồng. Trong bài thơ :
    - BÁI CỰU CÔ 拜 舅 姑 là Ra mắt Ông Bà già Chồng (cha mẹ chồng).
    - TRANG BÃI : là Trang điểm xong xuôi.
    - PHU TẾ : là Chàng rễ, là tiếng gọi Chồng một cách thân mật.
    - NHẬP THỜI : là Hợp thời trang, đúng trào lưu, nói một cách bình dân là: Đúng "Gu", đúng "Mốt" (à la mode) hiện tại.

* Nghĩa Bài Thơ :
                        GẦN THI DÂNG LÊN TRƯƠNG THỦY BỘ
       Động phòng đêm hôm qua, đuốc hoa cũng đã ngừng cháy rồi. Đợi đến sáng ngày để lạy ra mắt cha mẹ chồng. Sau khi trang điểm xong, nàng mới kề tai hỏi nhỏ chàng rằng: "Đôi mày của thiếp kẽ như thế nầy, đậm nhạt kiểu dáng có hợp thời hay không?". Ý muốn hỏi: có làm đẹp lòng của cha mẹ chồng không?!                       

                
                         Chu Khánh Dư                 Trương Tịch   
                 
Diễn Nôm :
                 Đêm qua hoa chúc động phòng xong,
                 Chờ sáng ngày ra mắt mẹ chồng.
                 Trang điểm xong kề tai hỏi nhỏ:
                "Mày ngài đậm nhạt hợp thời không ?"
    Lục bát :
                 Đêm qua hoa chúc vừa ngưng,
                 Sáng nay trang điểm lạy mừng thầy me.
                 Kề tai hỏi nhỏ e dè :
                "Mày ngài đâm nhạt còn e chăng chàng !?"

       Đây là bài thơ của Châu Khánh Dư làm trước ngày ứng thi Tiến sĩ, gởi cho Trương Tịch bình phẩm, vì lúc ấy Trương đang là Thủy Bộ Lang Trung ở kinh thành, nổi tiếng về văn thơ và có thể sẽ là phó chủ khảo của khoa thi. Châu Khánh Dư tự ví mình như là cô dâu mới về nhà chồng, còn Trương Tịch là chàng rể, quan chủ khảo là cha mẹ chồng, còn mày ngài đậm nhạt như là phong cách thơ văn của mình. Châu hỏi Trương xem NÓ có hợp với ý của quan chủ khảo chăng để còn biết mà uyển chuyển điều chỉnh lại. Trương đã ca ngợi và biểu dương cái ý chân thành nầy của Châu, nên khoa đó Châu đã đậu ngay Tiến Sĩ Cập Đệ.

       Bây giờ thì ta trở lại với Giai Thoại Văn Chương Việt Nam "VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ" của một Thủ Khoa đất Bình Thủy Cần Thơ:  Ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa.
        Ông sinh năm Đinh Mão (1807) tại làng Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Cha ông tên Bùi Hữu Vị, làm nghề chài lưới.
        Năm 1835 ông đỗ Giải Nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định, vì thế ông được gọi là Thủ Khoa Nghĩa.                                         
        Khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, năm 1862, Bùi Hữu Nghĩa xin từ quan về quê dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ (lúc này ông lấy hiệu là "Liễu Lâm chủ nhân"). Nhà ông là nơi các sĩ phu yêu nước gặp gỡ, bàn bạc việc chống Pháp cứu nước. Ông lâm bệnh và mất ngày 21 tháng giêng năm Nhâm Thân (1872), thọ 65 tuổi.

      
                       
Tượng và Đền thơ của Thủ Khoa BÙI HỮU NGHĨA

  Sinh thời, Thủ Khoa Nghĩa nổi tiếng với vở tuồng "Kim Thạch Kỳ Duyên" được nhà vua khen ngợi. Nghe nói khi soạn vở tuồng nầy có sự giúp sức và góp ý của ông Huỳnh Mẫn Đạt, nên mới có câu chuyện sau đây...

      Tương truyền, ở xứ Gia Định có Tú Tài VĂN BÌNH, văn hay chữ tốt, nhưng thi cử lận đận, thi mãi mà vẫn chỉ đậu có...Tú Tài. Nghe đồn Thủ Khoa Nghĩa soạn tuồng Kim Thach Kỳ Duyên được vua khen, thì trong lòng không phục, lại nghe nói có sự góp sức của cụ Huỳnh Mẫn Đạt nên lại càng không phục hơn. Một hôm Tú ta quyết định "Đem chuông đi đấm xứ người", mới khăn gói mò xuống đất Bình Thủy tìm gặp Thủ Khoa Nghĩa để thử tài một chuyến xem lời đồn có đúng hay không ?...
      Khi đến Bình Thủy, đang đi lang thang để hỏi thăm nhà Thủ Khoa Nghĩa thì gặp phải một ông già dáng vẻ nhà quê ngồi hóng mát trước cửa, anh ta bèn ghé lại hỏi thăm:
      - Thưa bác, bác có biết nhà ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa ở đâu không ạ? Ông già nhướng mắt lên hỏi lại:
      - Cậu là ai, kiếm ông Thủ Khoa có việc gì không?
      - Dạ, cháu là Tú tài Văn Bình ở Gia Định, nghe đồn ông Thủ Khoa rất giỏi về văn thơ, nên tìm đến hỏi thăm cho biết vậy mà! Ông già nghe xong rất sốt sắng:
      - Vậy hả, Tú tài Văn Bình hả, mời vào nhà ngồi chơi, uống ly nước, rồi tôi sẽ biểu sấp nhỏ dẫn tới nhà ông Thủ Khoa cho!
       Sau khi vào nhà ngồi yên chỗ xong, ông già mới rót hai ly nước trà mời khách. Tú tài Văn Bình ngó quanh thấy trong nhà có treo mấy câu đối nên lẩm nhẩm đọc. Ông già bèn cười nói rằng:
     - Đó là mấy câu đối của ông Thủ Khoa làm đó. Còn tụi tôi thì học ít, hổng biết làm câu đối dài tới vậy, chỉ biết đối từng chữ một mà thôi. Nếu cậu không chê thì mình đối chơi với nhau một vài chữ cho vui! Thấy ông già tử tế và vui tính, nên Văn Bình cũng rất vui vẻ mà nhận lời. Ông già bưng ly trà lên nhấp nhấp đọc :
     - VÕ  武. Văn Bình đối lại:
     - VĂN 文.  Ông già lại đọc:
     - TRẮC 仄.  Văn Bình đối là:
     - BÌNH 平.  Ông già lại tiếp:
     - VÃNG 往. Văn Bình đối nga:
     - LAI 來. Ông già lại ra :
     - NAM 南. Văn Bình lại đối:
     - BẮC 北. Ông già lại đọc:
     - CÔ. Văn Bình lại đối là:
     - CỤ. Tất cả các chữ đều "đối với nhau chan chát". Đến đây, thì ông già ngưng lại đề nghị:
     - Bây giờ thì mình ghép các chữ đã đối với nhau lại nghen. Câu của tui là: VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ! Văn Bình cũng đọc to các chữ mà mình đã đối là:
     - VĂN BÌNH LAI BẮC CỤ ! Vừa đọc xong, anh ta chợt giật mình, đứng dậy bẽn lẽn chấp tay xá ông già một cái mà nói rằng:
     - Ông ơi, Ông chính là ông Thủ Khoa rồi, Tú Tài này xin bội phục!
       Ông già cũng đứng lên cười xòa, nắm tay Văn Bình bảo anh ta ngồi xuống; đoạn hai người cùng nhau đàm luận văn chương rất ư là tương đắc. Thì ra ...

       Câu VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa không có nghĩa gì cả; nhưng câu VĂN BÌNH LAI "BẮC CỤ" của Tú Tài Văn Bình thì thật là... khó chơi, mà lại do chính miệng mình nói ra ... cái mới chết chớ!

      Lúc nhỏ, khi đọc xong giai thoại nầy, tôi cứ thắc mắc mãi: VÕ 武 đối với VĂN 文; TRẮC 仄 đối với BÌNH 平; VÃNG 往 đối với 來; NAM 南 đối với 北; "đối nhau chan chát" không có gì để nói, nhưng bảo CÔ với CỤ cũng "đối nhau chan chat", thì tôi không phục chút nào cả! CÔ là CÔ nào ? là CÔ ĐƠN 孤 單 hay CÔ 姑 là Chi Em Gái của Cha? Còn CỤ là CỤ nào ? là CÔNG CỤ 工 具 hay CỤ 懼 là Sợ? Nhưng theo các nghĩa trên thì CÔ và CỤ không thể đối nhau được, đừng nói tới chuyện "đối nhau chan chát"! Còn bảo CÔ là Bà Cô, CỤ là Ông CỤ thì càng sai hơn nữa, vì Ông CỤ chữ CỤ nầy là tiếng Nôm, không thể đối với CÔ là từ Hán Việt được! Muốn đối được với chữ CÔ 姑 là Chị em gái của cha thì có THÚC 叔 là Chú, BÁ 伯 là Bác hay CỰU 舅 là Cậu mà thôi! Nhưng nếu như thế thì cái giai thoại văn chương nầy bị "hỏng" mất, vì Tú Tài Văn Bình có thể dùng từ THÚC hoặc BÁ để đối với từ CÔ, và câu đối sẽ là:
                        " VĂN BÌNH LAI BẮC THÚC hay BẮC BÁ "
thì cũng hỏng bét, vì không nói lên được cái "thâm ý" của Ông Thủ Khoa. Nhưng tại sao Ông lại ra chữ CÔ và tại sao Văn Bình lại buộc phải đối là CỤ? Tôi đem thắc mắc nầy hỏi rất nhiều thầy dạy chữ Hán, nhưng đều không được giải đáp thỏa đáng!... Đến sau nầy, khi tôi đã trở thành thầy giáo dạy chữ Nho rồi, tôi cũng không dám kể giai thoại nầy cho bạn bè nghe, vì sợ họ thắc mắc như tôi, nếu họ hỏi thì làm sao mà trả lời đây?!...

      Mãi cho đến hơn ba mươi năm sau, khi tôi đang mò mẫm để dịch thơ Đường, lúc dịch đến bài "CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ" của Châu Khánh Dư, khi đến câu "Đãi hiểu đường tiền bái CỰU CÔ 待 曉 堂 前 拜 舅 姑" tôi mới chợt "Ngộ" ra rằng:

      - CỰU là Ông già Chồng(Cha chồng) đối với CÔ là Bà già Chồng(Mẹ chồng).
      - CỰU là Anh em trai của Mẹ đối với CÔ là Chị em gái của Cha. 
 Nên ...
      Khi ông Thủ Khoa Nghĩa ra chữ CÔ 姑 thì Tú Tài Văn Bình mới đối ngay là CỰU 舅. CÔ đối với CẬU thì không còn gì chỉnh hơn được nữa; và "Ông già Chồng (Cha chồng)" đối với "Bà già Chồng(Mẹ chồng) " thì qủa là "đối nhau chan chát" thật sự !

      Nhưng... "VĂN BÌNH LAI BẮC CỰU" thì vẫn chưa "đạt yêu cầu" của ông Thủ Khoa. Đây chính là điểm chính yếu, là cái mấu chốt của giai thoại nầy. Ông Thủ Khoa đã khéo lợi dụng lời ăn nói và cách phát âm giản dị, tùy tiện của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh như "uống rượu" thì nói là "uống gụ", "đời cô Lựu" thì nói là "đời cô Lụ", "Quốc Cựu" thì nói là "Quốc Cụ"... nên mới khiến cho Tú Tài Văn Bình là người Gia Định tự mình nói mình... LAI "BẮC CỤ" !

      Xin được kết thúc bài "Võ Trắc Vãng Nam Cô" ở đây. Mong rằng tất cả đều có được một giây phút... thư giản và vui tươi trong "Ba ngày Xuân ngày Tết nầy! Cầu chúc mọi người mọi nhà đều được VUI VẺ, KHỎE MẠNH!                                                                                                                             
                                                        杜 紹 德                                                                                   Đỗ Chiêu Đức                                                               
                                                             


Cành Mai Tha Hương - Khê Kinh kha

      Link:

 CÀNH MAI THA HƯƠNG - Thơ Khê Kinh Kha - Nhạc Ngô Hữu Hùng - Casĩ Hải Nguyễn - Guitarist Thế An

                  Cành Mai Tha Hương

 


Một mùa Xuân nữa
lại về đâu đây
lòng sao hiu quạnh
lạnh theo tuyết bay

Bao năm rồi nhỉ
bao mùa Xuân qua
đắng cay như rượu
ai còn nhớ ta

Quê nhà xa ta
hay ta xa nhà
bao năm lạc bước
bao niềm xót xa

Mẹ già đâu nữa
bạn hiền còn ai
nụ mai nào nở
rượu nào cuồng say

Có tiếng pháo nào
trong ai không nhỉ
có giọt rượu nào
say lòng người đi

Có giọt lệ nào
ướt bờ môi thơm
có an ủi nào
thoa dịu đau thương

Còn đây năm tháng
qua nhanh, qua nhanh
như dòng sông cuốn
mang nỗi sầu riêng

Tạ ơn tạ ơn
còn đây vợ hiền
tựa vai cùng bước
giữa đời buồn tênh

Xuân đi Xuân đến
phận người bơ vơ
cuối đời ngồi nhớ
khoảng trời xa xưa

Một mai Xuân nữa
có còn ta không
xin cắm trên mộ
cành mai tha hương

Khê Kinh kha
(Virginia, Jan 22, 2022)











Đầu Năm Xuất Hành - Anh Khờ

Đầu Năm Xuất Hành

Xem lịch, canh giờ tiết khí linh
Xuất hành Đông Bắc "phước đầy mình"
Đường trơn nước đọng bương nhằm đá
Hẻm dốc sương rơi nhón đụng sình
Hiu hắt đèn soi... vàng sáng sớm
Lững lơ đóm rọi... tím bình minh
Ơn lành không biết dày bao tá?
Nhưng hỏng mất rồi dép mới tinh!
 
             Anh Khờ     










Thứ Ba, 28 tháng 1, 2025

Góc Đường Thi : Bài Thơ GIAO THỪA của VU KHIÊM (Đỗ Chiêu Đức)

  Góc Đường Thi :                

                               Bài Thơ GIAO THỪA 
                                         của VU KHIÊM 
                            
  
       VU KHIÊM 于 謙(1398-1457)tự là Đình Ích, hiệu là Tiết Am, người huyện Tiền Đường, phủ Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Ông là một anh hùng dân tộc, một nhà quân sự, nhà chính trị kiệt xuất ở đời Minh, đậu tiến sĩ năm Vĩnh Lịch thứ 19 (1421). Năm Tuyên Đức nguyên niên đã từng theo Minh Tuyên Tông bình định Hán Vương Chu Cao Hú làm loạn. Ông làm quan đến chức Binh Bộ Thượng Thơ, đem quân dẹp loạn khắp nơi, một lòng trung nghĩa, được Minh Sử liệt ngang hàng với Nhạc Phi đời Tống và Trương Hoàng Ngôn cùng thời, hợp xưng là "Tây Hồ Tam Kiệt 西 湖 三 傑" là "Ba người hào kiệt của đất Tây Hồ".
    Sau đây là bài thơ TRỪ TỊCH 除 夕 của ông làm để đón giao thừa khi phải chinh chiến xa nhà:

             今 宵 是 除 夕,    Kim tiêu thị trừ tịch,
             明 日 又 新 年。    Minh nhựt hựu tân niên.
             爆 竹 驚 殘 夢,    Bộc trúc kinh tàn mộng,
             寒 燈 照 獨 眠。    Hàn đăng chiếu độc miên,
             風 霜 催 臘 盡,    Phong sương thôi lạp tận,
             梅 柳 得 春 先。    Mai liễu đắc xuân tiên.
             撫 景 情 無 限,    Phủ cảnh tình vô hạn,
             那 能 不 悵 然。    Nả năng bất trướng nhiên !?
                    于 謙                       Vu Khiêm

* Chú thích :
    - TRỪ TỊCH 除 夕 : TRỪ là Loại ra, TỊCH là Đêm, nên TRỪ TỊCH có nghĩa là: Cái đêm loại năm cũ ra để đón năm mới vào, tức là Đêm Ba Mươi Tết. Ta gọi là Đêm Giao Thừa.
    - TIÊU 宵 : là Đêm; nên Kim Tiêu 今 宵 là Đêm nay. Nguyên Tiêu 元 宵 là Đêm có trăng đầu tiên trong năm, là đêm Rằm tháng Giêng đó. Ta có từ TỊCH ở trên cũng là Đêm, như Thất Tịch 七 夕 là Đêm mùng 7 tháng 7 Âm lịch.
    - BỘC TRÚC 爆 竹 : BỘC là Nổ tung; TRÚC là Tre. Ngày xưa khi chưa có Pháo, cuối năm người ta thường đốt các mắt tre già cho nổ thành tiếng để xua đuổi tà ma, xui xẻo... của năm cũ đi để đón mừng năm mới. Sau nầy chế tạo ra pháo rồi, nhưng vì Tập quán Ngôn ngữ, người ta vẫn sử dụng từ BỘC TRÚC để chỉ Pháo Nổ.
   - LẠP 臘 : là Tháng Chạp, tháng 12 âm lịch; LẠP TẬN là Tháng Chạp đã đến ngày tận cùng. Chỉ đêm ba mươi Tết.
   - PHỦ 撫 : là Vuốt ve, Yên ủi; nhưng PHỦ CẢNH 撫 景 có nghĩa là Tiếp xúc với cảnh vật.
   - NẢ NĂNG 那 能... : Sao mà khỏi, Sao mà có thể....?!
   - TRƯỚNG NHIÊN 悵 然 : Bàng hoàng, ngẩn ngơ.

                 
                         
* Nghĩa bài thơ :
                               ĐÊM GIAO THỪA 
      Đêm nay là đêm ba mươi Tết; Ngày mai lại đã là năm mới nữa rồi! Tiếng pháo nổ làm kinh động giấc mộng tàn, Ánh đèn lạnh lẽo soi rọi người khách cô đơn trong giấc ngủ. Gió sương bên ngoài như thôi thúc cho tháng Chạp chóng đi qua. Chỉ có mai vàng và liễu rũ đón nhận nàng xuân sớm nhất mà thôi. Trước cảnh Xuân về nầy làm cho tình cảm trong ta xúc động vô cùng, nên làm sao tránh khỏi ngơ ngẩn bàng hoàng đây chứ ?!

     Mùa xuân lặng lẽ ngự về, nếu không có tiếng pháo để mọi người cùng cảm nhận, thì chỉ có hoa mai và dương liễu đón nhận nàng xuân trước nhất mà thôi. Đọc 2 câu luận (5,6) trong bài thơ của Vu Khiêm làm cho ra nhớ lại 2 câu thực (3,4) của nhà sư Tề Kỷ 齊 己 trong bài Tảo Mai 早 梅 :

                  前 村 深 雪 裏,       Tiền thôn thâm tuyết lý,
                  昨 夜 一 枝 開。       Tạc dạ nhất chi khai. 
       Có nghĩa :
                  Xóm ngoài trong sương tuyết lạnh,
                  Đêm qua nở một cành mai.

     Chỉ có hoa mai, dương liễu và... kẻ tha hương là cảm nhận được mùa Xuân đến... sớm nhất mà thôi !

* Diễn Nôm :
                    TRỪ TỊCH                                   
               Đêm nay đêm trừ tịch, 
               Mai lại một tân niên.
               Tiếng pháo tan tàn mộng,
               Ngọn đèn lạnh cô miên.
               Gió sương đưa năm cũ,
               Mai liễu đón Xuân tiên.
               Xúc cảnh lòng cảm khái,
               Sao khỏi ngẩn ngơ niềm !?
    Lục bát :
               Đêm nay là đêm ba mươi ,
               Mai ngày lại đón Xuân tươi bên trời.
               Pháo tre tan giấc mộng rồi,
               Ngọn đèn lạnh lẽo chiếu người cô đơn !
               Gió sương thôi thúc từng cơn,
               Chỉ riêng mai liễu tranh hơn Xuân về.
               Cảnh Xuân cảm xúc trăm bề...
               Sao lòng khách khỏi tái tê bàng hoàng !?
                                         Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

                               
            

       Bàng hoàng ngơ ngẩn trước cảnh Xuân về, nhưng Vu Khiêm không bi quan khi Xuân phải xa nhà, phải đi chinh chiến ở những vùng quan tái xa xôi với tuyết băng lạnh lẽo, mà ông lại rất lạc quan tin tưởng vào ngày mai. Ta hãy đọc thêm bài ngũ ngôn tuyệt cú của ông sau đây sẽ rõ :

            除 夜 太 原 寒 甚     Trừ Dạ Thái Nguyên Hàn Thậm

             寄 語 天 涯 客,     Ký ngữ thiên nhai khách,
             輕 寒 底 用 愁。     Khinh hàn để dụng sầu !
             春 風 来 不 遠,     Xuân phong lai bất viễn,
             只 在 屋 東 頭。     Chỉ tại ốc đông đầu !

* Chú thích :
    - HÀN THẬM 寒 甚 : là Lạnh rất nhiều, nên TRỪ DẠ THÁI NGUYÊN HÀN THẬM có nghĩa: Đêm Trừ Tịch rất lạnh ở Thái Nguyên (thuộc tỉnh Giang Tây, vùng Hoa bắc).
    - KÝ NGỮ 寄 語 : là Gởi lời, Nhắn lời (với ai đó...)
    - THIÊN NHAI KHÁCH 天 涯 客 : Người khách ở tận chân trời, chỉ những người lữ khách xa nhà; ở đây chỉ các binh sĩ trấn thủ vùng đất Thái Nguyên.
    - ĐỂ DỤNG 底 用 : là Không cần phải, Chẳng cần phải...
    - ỐC ĐÔNG ĐẦU 屋 東 頭 : Mé đông của nóc nhà; Nóc nhà phía đông.

                    
                        
* Nghĩa bài thơ :
            ĐÊM TRỪ TỊCH RẤT LẠNH Ở THÁI NGUYÊN
      - Nhắn với người khách ở tận chân trời rằng...
      - Cái lạnh coi vậy mà rất nhẹ nhàng, chẳng cần phải lo rầu gì cả!
      - Gió Xuân đã về đây rồi, không còn xa nữa đâu!...
      - Chỉ ở trên nóc nhà phía Đông kia mà thôi !!!

      Tựa đề là HÀN THẬM là Rất lạnh, là lạnh vô cùng; Nhưng tác giả nhắn lời gởi tới các chiến sĩ ở chân trời là "chỉ lạnh nhẹ"(khinh hàn) mà thôi. Cái lạnh dù có se sắt, thời tiết dù có khắc nghiệt, biên khu dù có gian khổ... thì người chiến binh anh dũng vẫn xem nhẹ tựa lông hồng và lạc quan nhìn về phía trước, vì sau Giao Thừa thì mùa Xuân sẽ ngự về; Gió Xuân, nắng Xuân ấm áp sẽ làm cho vạn vật hồi sinh, và càng lạc quan hơn nữa là Vu Khiêm có cảm giác như là gió Xuân của Đông quân đang thổi đến trên nóc nhà của đông gia kia rồi ! Hãy vui lên mà đón lấy nàng Xuân !

* Diễn Nôm :
                TRỪ DẠ THÁI NGUYÊN HÀN THẬM  
                   
                      
 
                   Nhắn gởi khách chân trời,
                   Chớ sầu, lạnh nhẹ thôi !
                   Gió Xuân đang thổi đến,
                   Trên nóc đông kia rồi !
        Lục bát :
                   Gởi lời nhắn khách chân trời,
                   Chớ sầu, chỉ lạnh nhẹ thôi lo gì !
                   Gió xuân thổi đến liền khi,
                   Phía đông trên nóc Xuân đi theo về !
                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

          Bài thơ làm trong đêm Giao Thừa lạnh lẽo, nhưng lại làm cho người đọc có cảm giác như thấy gió Xuân đang hây hẩy thổi và chúa Xuân đã ngự về!  



                                                        杜 紹 德
                                                      Đỗ Chiêu Đức