Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Những Mảnh Đời Thua Thiệt - Lão Gàn

Những Mảnh Đời Thua Thiệt
                                             Bài viết của Lão Gàn

5:30 giờ sáng, ả mở cổng nhà. Hai con chó đang lẹo nhau ngay giữa cổng. Con cái là giống chó ta, nhỏ, thấp; con đực là giống chó Tây, to cao. Thấy ả, sợ hay thẹn - chẳng ai biết được tâm trạng của chó, con đực chạy, kéo con cái theo dùng dằng; có lẽ đau, con cái vừa lết vừa gào “căng, căng.”  Một vài trẻ trong xóm ùa ra vỗ tay, la hét; hai đứa nghịch ngợm, tìm lấy cái sào, định thò vào giữa đít đang đấu nhau của hai con chó gánh lên; nhưng may, chúng đã tháo ra được, quặp đuôi, chạy mỗi con mỗi đường, biến mất.

Ả đã trên 60 tuổi. Mặt mũi còn hồng hào, da dẻ còn trắng trẻo. Mấy ông lão rảnh rỗi thường đến nhà ả, hút điếu thuốc lẻ, uống chai bia, cốc rượu, xem như kiếm cơ hội để gần gũi ả.
Chiến tranh ác liệt đã giết quá nhiều trai tráng cả ở miền Bắc lẫn ở miền Nam. Con gái trưởng thành khó kiếm chồng, trong đó có ả.
Trong thời chiến tranh, gái lớn lên phải hy sinh quyền riêng cho lợi chung. Đặc biệt ở miền Bắc, họ bị ràng buộc bởi chính sách “ba khoan”: (1) Chưa yêu thì khoan yêu, (2) Lỡ yêu rồi thì khoan cưới, (3) Lỡ cưới rồi thì khoan có con. Xã hội quản lý con người rất chi li, nghiêm khắc; phụ nữ không chồng mà chửa bị cho là “hủ hóa,” bị phê bình kiểm điểm ở nhiều nơi, ở nhiều cấp... trong nhiều cuộc họp: đoàn, đội, hội, hợp tác xã...

Sau năm 1975, tối tối, dân thường xuyên tập trung học tập chủ trương, đường lối của chế độ mới. Người người dự họp đông đủ; thuở ban đầu, người ta vừa sợ vừa tò mò muốn biết cán bộ phổ biến những gì, nên không ai dám trễ họp và vắng họp. Tan họp, ra về, những người có nhu cầu lợi dụng màn đêm tối để thỏa mãn chút dục vọng. Lại thêm, chính quyền phát động những chiến dịch làm thủy lợi, huy động dân cơm đùm gạo bới phục vụ đào mương đắp đê từng thời gian dài. Ngày lao động trên công trường, đêm về trong các lán trại, người ta nằm chung đụng nhau hay những ai có tình ý rủ nhau ra những lùm cây, những bụi bờ vắng vẻ tâm sự tỉ tê.  “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” và những đứa trẻ mà tông tích bố không rõ ràng ra đời.

Trong những năm mới hòa bình, Nhà Nước có chủ trương phụ nữ được quyền làm mẹ đơn thân nghĩa là cho phép những phụ nữ nào không chồng được kiếm con. Mà phải vậy thôi! Ở nước ta, ai cũng cần có con; con xem như chỗ dựa lúc già yếu, ốm đau và chung sự. Còn lâu nước ta mới có đủ nhà dưỡng lão nuôi những cụ ông, cụ bà cô đơn như ở các nước hiện đại có hệ thống an sinh xã hội vững vàng. Ngoài ra, những phụ nữ đơn thân chả lẽ sống đến chết mà không biết chi “chuyện ấy” hay sao! Họ cũng cần hưởng một chút “mùi đời” chứ!

Ả cũng như nhiều ả khác trong làng, sắc diện trông cũng được, tính tình cũng hiền hậu, vui vẻ, vượt qua tuổi hai mươi, bắt đầu “hâm” đi “hâm” lại, nhờ có nhiều cơ hội do tình thế mang lại và dựa vào chính sách “thông thoáng” về gia đình của Nhà Nước, tìm cách xin con và có được một con trai.
Con khôn lớn, đi làm. Tuổi già, một mình không thể theo nghề nông được, ả dọn bia, rượu và nhu yếu phẩm linh tinh tại nhà bán cho dân trong xóm.

Hôm ấy, đã 9 giờ sáng rồi mà chưa thấy ai đến mua gì, ả đi lui đi tới, bắt mặt nhìn ra, như đang chờ đợi ai; ả cầm chổi quét nhà, quét sân. Ả dọn vén luôn tay để tiêu phí thời giờ và vốn là dân nông thôn, ả có tính thích làm việc. Nhà ả trông ngăn nắp lắm,

Ba cụ trong xóm bước vô, ngồi vào bàn.  Cụ trên 70, cụ xấp xỉ 70, cụ ít tuổi nhất cũng 65. Họ không việc. Mà người cao tuổi thời nay đa số đều không việc; con, dâu đi làm, kiếm sống; cháu nhỏ thì gởi nhà trẻ, mẫu giáo, cháu lớn thì đi trường. Nhà cũng không cần người giữ; người đi ra hết, chỉ cần bấm ổ khóa  lại là xong.
Khỏi trông cháu, khỏi giữ nhà, việc còn lại của các cụ là giúp phơi cất, chế biến nông sản; nhưng khốn nỗi, nghề nông cũng không còn! Trên đà đô thị hóa, Nhà Nước thu hồi ruộng đồng đưa vào quy hoạch thành khu dân cư, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí... 

Các cụ trước đây có phục vụ "cách mạng" giờ về hưu, còn tham gia công tác ở địa phương, trong hội người cao tuổi..., nay họp chỗ này, mai họp chỗ kia, vừa có thêm thu nhập vừa qua hết thì giờ.
Các cụ hưu trí khác rảnh rỗi thì sáng chiều gặp nhau, ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự: tình hình Ukraina, chiến sự Trung Đông, công tác chuẩn bị đại hội đảng 12 ... Nhờ thế, ngày tháng trôi qua mà ít để ý.


Một số cụ - không nhiều - có chút học vấn thì ngồi làm thơ, tham gia các câu lạc bộ thơ; làm xong thơ, trong hội họp, trong tiệc tùng, đọc để khoe thi tài của mình. Tội nghiệp do hơi yếu, giọng đọc đứt tiếng nhiều chỗ; chẳng ai thèm nghe, người ăn cứ ăn, người uống cứ uống, người nói chuyện riêng cứ nói.
Mấy cụ có chút lộc do con cháu ở xa về mừng thì tụ tập ở các sòng cờ quân; mê mải theo kiệu cờ, ngồi quên trưa quên tối; ở nhà, vợ con đến bữa phải chờ đợi, cằn nhằn.
Các cụ còn lại thì hết ngồi lại nằm, hết nằm thì đi lòng vòng quanh xóm. Học vấn không, thành tích không, tiền bạc không, họ sống kiếp dư thừa mà không hay biết.

Ba cụ - có hẹn nhau hay tình cờ gặp nhau, không biết - vào quán, ngồi nói chuyện “trên trời dưới đất.”  Ba cụ thèm, muốn uống bia, nhưng không cụ nào có tiền trong túi. Tiền mô ở các cụ cựu nông dân này! Ăn uống thường ngày được con lo cho là may lắm rồi.  À thế đó!  Cuộc sống đô thị tạo ra cái tính đua đòi; ngày xưa, để chống nhức mỏi, đi làm đồng về, các cụ ghé nhà nấu rượu, uống một cốc nhỏ, gọi là “uống rượu trự” (trự là đồng bạc lẻ), ghi sổ; đến vụ, có thể trả bằng lúa. Bây giờ, giới trẻ uống bia thì giới già cũng uống bia. Các cụ không biết rằng giới trẻ làm ra tiền, nhiều khi không cần làm mà vẫn có tiền – tiền do mánh mung, tiền do gian lận, tiền do người bị làm khó dễ trong công việc đút lót.

Để bà chủ quán yên tâm cho ngồi, một cụ bày chuyện nói:
- Từ giờ đến chiều, ai đoán đúng có mưa ở vùng mình hay không. Đúng, tui chịu một két, sai, người đoán chịu một két.
Cụ bên cạnh góp ý:
- Nói vùng mình thì rộng lớn quá. Từ Thanh Hóa vô Thừa Thiên  Huế? Cả tỉnh mình? Chỉ thành phố mình? Chỉ phường mình đây?
Để xác suất mình phải chịu một két ít đi, cụ phát biểu đầu tiên nói rõ:
- Thôi chỉ tại ngã tư, nơi chúng ta đang ngồi.
Cụ còn lại biết việc bàn cãi chẳng đâu vào đâu, kết luận sự việc:
- Cần uống chừ mà hỏi: đến chiều có mưa không. Uống xong, về,  ghi sổ nợ hay răng. Mà ghi sổ nợ, rồi biết lấy chi để trả; thóc trong bồ không có, lấy chi xúc trộm đem lén bán. Mấy ông nói chuyện viễn vông. Thôi tui về, hai ông muốn mần răng đó thì mần.
Một cụ bước ra, rồi hai cụ còn lại bước ra theo. Một chầu bia hụt.

Sáng nay, bà chủ quán mất “mè xưa,” bà chưởi lằm bằm: “Tổ cha hai con chó nhà ai mới sáng đã lẹo chắc trước cổng nhà tao, hèn chi!”

28/8/2014




Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Nắng Thu Đưa Đón Học Trò - Mai Xuân Thanh



Nắng Thu Đưa Đón Học Trò

Hằng trăm tác giả viết  mùa Thu,
Sương trắng ban mai thấy mịt mù...
Lá đổi thay màu rơi rớt nhẹ,
Cành trơ nhánh rũ nắng âm u...
Ngồi xe đón rước đôi em nhỏ,
Đứng đợi chờ trông mỏi gối ru...! 
Đâu đó nghe còi kêu vọng lại,
Phụ huynh dõi mắt... gió vi vu ...


Học sinh lũ lượt kéo nhau ra,
Xe đậu chen chân đón cháu ta.
Mẫu giáo lớp Ba rồi lớp Bốn,
Cấp hai cũng phải kịp giờ qua...
Các em lớn nhỏ theo từng lớp,
Cô giáo tươi cười đẹp nở hoa...
Đưa rước chu toàn nghe nhẹ nhõm,
Trời Thu ấm áp uống chung trà...!

Mai Xuân Thanh
Ngày 26 tháng 08 năm 2014








Hoài Niệm về Trường Cũ và Tưởng Nhớ Một Người Bạn đã Ra Đi - Trần Duy Lộc



Hoài Niệm Về Trường Cũ và       Tưởng Nhớ Một Người Bạn Đã Ra Đi


Vào nhũng năm 58, 59 là giai đoạn thúc bách của cuộc sống. Lúc đó tôi đã tôt nghiệp THĐIC và muốn có một việc làm để giải quyết cá nhân. Tôi đã nộp đơn thi vào Sư Phạm, Y tế nhưng không ngành nào giúp tôi đạt được ý nguyện.  Đang suy nghĩ mình phải làm gì đây hay cứ tiếp tục ngồi mãi trên ghế nhà trường. Đùng một cái có thông báo tuyển sinh vào Viện Hán Học. Đây là ngành mới lạ đối với nguyện vọng của tôi.  Nhưng nghĩ lại, mình đang cần giải quyết cuộc sống thì việc gì phải chọn ngành đúng sở thích, miễn sao hàng tháng có học bổng và lúc ra trường được bổ dụng là đạt sở nguyện rồi.  Với thực tế đó, tôi vội vã lập hồ sơ dự thi.
Tôi còn nhớ ngày thi tuyển đúng vào lễ Noel (25/12) tại giảng đường Viện Đại học Huế. Lần đầu tiên ngồi thi trong một giảng đường rộng lớn, uy nghiêm gây cho tôi một ấn tượng khó quên. Có lẽ đây là đợt thi vét cuối năm nên ban tổ chức tranh thủ để sớm có kết quả.  Đúng một tuần sau danh sách trúng tuyển được công bố. Tôi rất vui mừng khi có tên mình trong danh sách tuyển dụng. Và kỳ lạ thay sự tiên đoán của tôi khá chính xác.  Sau ngày thi tôi cứ nhẩm tính bài vở không có gì xuất sắc, lại không có cộng điểm môn Nhiệm Ý Hán Văn. Nếu có trúng tuyển chăng thì sẽ xếp vào thứ ba lăm trở đi.  Không ngờ danh sách trúng tuyển của tôi được xếp thứ 34/40. Tuy kết quả đậu rất khiêm tốn nhưng tôi rất mãn nguyện vì từ đây cuộc sống không còn bấp bênh, lo âu nữa. Đọc kết quả lần cuối rồi vội vã lên xe về báo tin cho thân phụ tôi biết. Được tin trúng tuyển ba tôi rất hoan hỷ vì ông vốn trọng Nho Học.
Ngày khai giảng đầu tiên vào thứ hai đầu năm mới (1960) tại Di Luân Đường, nằm trong khuôn viên trường trung học Hàm Nghi.
Cuộc đời tôi từ nay gắn bó với Viện Hán Học và sự nghiệp cũng bắt đầu từ đây.
Lớp học chỉ vỏn vẹn bốn mươi sinh viên nhưng nếu kể thêm những người dự thính thì có thể lên tới con số 45. Đây là lớp học đầu tiên của VHH và có những nét đặc biệt: số sinh viên cả nam lẫn nữ (37 nam sinh 3 nữ sinh). Giọng nói thì đủ cả ba miền. Nam thì có anh Trần Bá Nhẫn, Bắc thì có anh Lê Văn Sự.  Còn miền Trung thì chiếm đa số như anh Dương Trọng Khương ở Nha Trang, Vương Hữu Lễ Quảng Nam, Phan Thị Hồng Hạnh ở Đà Nẵng, Trần Văn Hoành ở Quảng Trị. Số sinh viên còn lại là những người nói giọng Huế như Lê Nhất, Ngô Khôn Liêu, La Cảnh Hùng, Hoàng Công Phu, Hồ Thị Lài và Nguyễn Thị Kim Chi...
Một điểm khác là tuy tuyển vào học Hán Văn nhưng có một số sinh viên có trình độ Hán Văn rất cao và tuổi tác có người xấp xỉ hoặc lớn hơn một số thầy trẻ trong Ban Giảng Huấn. Đúng là nhân tài đang hội tụ trong khóa đầu tiên của chúng tôi.
Do hoàn cảnh tôi sống trầm lặng, ít giao du với bạn bè và thường tránh xa những bạn có tâm hồn cởi mở, vui tính... nhưng so với Tuân, người bạn ngồi cùng bàn, cá tính còn đặc biệt hơn tôi nhiều: sống trầm mặc, lặng lẽ, không thích giao du với bạn bè. Đôi khi Tuân còn tỏ ra bẽn lẽn và tránh những chỗ đông người.  Những ai muốn tìm nụ cười trên nét mặt của bạn cũng không phải dễ.
Có lẽ vì những đặc điểm nêu trên mà chúng tôi đã đến với nhau và trở thành bạn thân trong năm học đầu tiên. Chúng tôi đã gắn bó với nhau trong suốt giai đoạn học tập tại VHH. Ngoài Tuân ra tôi còn chơi với bạn Liêu, bạn Hùng, bạn Phạm Đức Minh. Có lẽ đây là những người bạn dễ cảm thông nhau.
Do cá tinh đặc biệt của Tuân và tôi, một số Thầy, Bạn không khỏi ngạc nhiên.  Có lần bạn Hoàng Xuân Minh từng trách khéo tôi: “Lộc này, tao thấy mầy nét mặt luôn luôn nghiêm nghị, trầm ngâm trông như ông tướng không bằng...” Tôi chỉ mĩm cười chứ không phân trần.  Cũng may tôi được ví với Hồ Tôn Hiến trong truyện Kiều mà cụ Nguyễn Du đã mĩa mai: “lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Lời nhận xét của bạn Minh quá chân tình đến nay tôi vẫn còn nhớ và thầm cám ơn bạn, ít ra đã quan tâm đến bạn bè.
Tuân sinh năm 1942, ít hơn tôi hai tuổi nhưng có lẽ do tập trung học tập nên hầu như suốt khóa học lúc nào bạn cũng đạt học bổng toàn phần. Bù lại, tôi có hướng vươn lên: vừa học vừa chuẩn bị thêm chương trình Tú Tài 1 và 2, nên vào cuối năm thứ tư tôi đã tôt nghiệp bằng Tú Tài 2 ban D. Và sau đó tiếp tục học ở ĐH Văn Khoa Huế. Còn Tuân thì khiêm tốn bằng lòng với cái nghề đang chọn.
Vào những dịp lễ hay cuối tuần, chúng tôi thường hẹn nhau ra công viên Trần Hưng Đạo hoặc ghé bờ sông Hương phía trước đài phát thanh Huế để tâm sự hay nói chuyện phiếm...
Tình bạn giữa tôi và Tuân không phải là loại bạn vàng như ca dao từng ví von:
“Bạn vàng chơi với bạn vàng.
Không tiền mua thuốc lượm tàn hút chơi.”
Và cũng không phải là loại tri kỷ tri âm như Bá Nha và Tử Kỳ hoặc cũng không xếp loại ma men bí tỉ như Rimbaud và Verlaine:
“Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men”
Mà là bạn tâm sự, nỗi lòng với những ẩn ức sâu kín không ai có thể lý giải ngoài chính mình và cũng ít ai dễ cảm thông trừ những người có cùng cảnh ngộ.  Đúng như người xưa có nói: “Ngưu tầm ngưu mã tầm mã” hay "đồng thanh  tương ứng đồng khí tương cầu”.
Có một điều ít ai để ý những người sống trầm lặng thường có một nội tâm phong phú.  Nêu lên điều này không phải tự biện minh mà qua những lần trò chuyện, trao đổi với Tuân, tôi được biết bạn có một nhận thức tinh tế và kiến thức phong phú, chỉ khác một điều là bạn không muốn nói ra thôi.
Tuy sống suốt 5 năm bên nhau nhưng chúng tôi vẫn chưa khám phá con người đích thực của bạn. Đây không biết là ưu hay khuyết trong tình bạn giữa chúng tôi.
Sau ngày ra trường, mỗi người chuyển đi dạy một nơi. Tôi nhận quyết định ra dạy tại Đông Hà chung trường với bạn Ngô Khôn Liêu. Còn Tuân về dạy ở trường thuộc huyện Duy Xuyên xã Hòa Vang. Chính nơi đây bạn đã gặp người bạn đời và đã sinh được một người con trai, nay đã trưởng thành.
Sau ngày 30 - 4 - 1975, Tuân trở lại vườn nhà cũ ở Vỹ Dạ và dạy tại trường cấp hai Phú Vang.  Lần này tôi đang dạy tại TH Hương Trà và đến cuối năm 1980 xin chuyển vào miền Tây.
Những lần về Huế, thỉnh thoảng tôi có ghé thăm bạn.  Lúc gặp nhau chúng tôi thường ôn chuyện cũ thời còn tập tểnh làm ông đồ của thế kỷ 20 và kể cho nhau nghe về cuộc sống hiện tại.  Có lần vào buổi trưa lúc 13h30 tôi ghé thăm bạn, hôm đó Tuân và vợ đều ở nhà. Nhân lúc có gáng bánh canh rao ngoài đường, Tuân vội bảo vợ mua để đãi tôi. Chúng tôi vừa thưởng thức đặc sản của quê hương, vừa nhắc lại  những kỷ niệm lúc còn ở Hán Học.  Câu chuyện thật tâm đắc vì ít khi có cuộc hội ngộ đầy đủ như hôm nay. Tôi cao hứng giới thiệu bài thơ Đường Luật lúc làm ở Cần Thơ.  Tôi còn nhớ bài đầu tiên là : “Mừng hội đồng hương” ở Cần Thơ.
             Bao năm mong mỏi Hội Đồng Hương
             Nay hội quê hương đã mở đường
             Nhớ tới sông Hương lòng rộn rã
             Mơ về núi Ngự dạ buồn thương
             Giang hồ lưu lạc nơi quê lạ
             Hội ngộ hàn huyên chuyện Cố hương
Đọc đến đây Tuân ngắt lời tôi: “Xa Huế chỉ có thời gian ngắn mà tình cảm lại đậm đà lai láng thì ai dám bảo là con người khô khan, bi quan như lúc còn ở Hán học”...
Tôi lại giới thiệu tiếp bài Thầy Giáo:
              Xã hội trăm nghề sống ấm no
              Riêng người Thầy Gíao phải toan lo
              Đồng lương không đủ tiêu tròn tháng
              Bát gạo tăng hoài dễ ốm o
Chỉ đọc bốn câu đầu Tuân lại cười chúm chím và trách tôi: Nói chi mà nặng nề, bôi bác dữ rứa, chỉ tội nghiệp cho ông thầy mà thôi.”
Tôi không trả lời đọc tiếp bốn câu cuối:
               Đùa vậy cùng ai vui chốc lát
               Xưa nay Thầy giáo vốn giàu to
              Cho hoài chữ nghĩa nào đâu hết
              Chưa kể tình thương chứa cả kho.
Vừa dứt câu cuối, Tuân cười hể hả, buông lời thắc mắc: “Ít ra Thầy giáo phải loại tích cực như rứa, nhưng có thiệt không đó? Giàu kiểu nầy thì tổ khổ cho vợ con lấy tiền đâu mà sống !!!”
Bẳng đi hai năm tôi không về Huế nên không có dịp ghé thăm. Vào năm 2004 nhân chuyến về xây mộ cho thân mẫu, tôi ngang qua Vỹ Dạ tạt ghé vào thăm bạn. Lần nầy cổng ngoài khóa kín, bên trong đóng cửa im ỉm.  Cảnh vật trông im lìm hoang vắng. Tôi ghé nhà hàng xóm đối diện để hỏi thăm về người bạn.  Chị hàng xóm cho biết Thầy Tuân vừa mất cách đây sáu tháng.  Nghe tin dữ, tôi bàng hoàng xúc động không ngờ bạn lại ra đi sớm như vậy.  Nghĩ đến người bạn thân năm nào, tôi muốn vào đốt nén nhang để tưởng nhớ người bạn thân yêu, nhưng nhà đã vắng chủ nên đành chịu, lặng lẽ quay về quê.
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Viện Hán Học, tôi xin đốt nén hương lòng tưởng nhớ quý  Thầy Bạn từng sống dưới mái trường Hán Học nay đã về cõi Vĩnh hằng.  Đặc biệt tôi xin chúc người bạn thân yêu sớm siêu thoát và cầu chúc gia đình bạn được nhiều thuận lợi, tiếp tục những gì mà bạn chưa thực hiện được.
         Cần Thơ, ngày 29/09/2009
TRẦN DUY LỘC (KHÓA I 1959-1964)





Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

Phá Tam Giang- Đầm Cầu Hai với Văn Hóa Ẩm Thực Huế (Hoàng Xuân Minh)

Phá Tam Giang - Đầm Cầu Hai
Đối Với Văn Hóa Ẩm Thực Huế

I. Phá Tam Giang- Đầm Cầu Hai
Đối Với Cư Dân Huế

Phá  Tam Giang – Đầm Cầu Hai là một dải phân cách nằm giữa biển Đông và tỉnh Thừa Thiên Huế, chạy từ cực Nam đến cực Bắc tỉnh, có diện tích 21.600 ha, chiều dài từ Bắc xuống Nam là 86 cây số.  Dải đầm phá nầy đi qua 5 huyện ven biển của Thừa Thiên Huế: Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền. Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thông với biển bằng hai cửa biển: cửa Thuận An và cửa Tư Hiền và nhận nước từ các sông chảy qua địa phận Thừa Thiên Huế như sông Ô Lâu, sông Hương, sông Bồ, sông Nong, sông Truồi và sông Cầu Hai. Do tính chất giao thủy giữa nước mặn của biển và nước ngọt của sông nên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có độ mặn biến động theo mùa, theo thời kỳ, ngày, tầng mặt, tần đáy, cửa sông, và cửa biển. Độ mặn thấp nhất có thể là 0.2 % và cao nhất có khi lên đến 30 %. Người dân quanh đầm phá gọi nước đầm phá là lợ.  Gọi nước lợ là để phân biệt với nước mặn của biển và nước ngọt của sông. Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là dải nước ven biển, thông với biển qua các cửa biển, thông với sông qua các cửa sông nên khu hệ sinh vật trong đầm phá rất đa dạng và rất nhiều chủng loại: cá, tôm, cua, ghẹ, trìa, lươn, và các loại chim muông. Nhóm gốc nước ngọt tập hợp các loại thủy sản từ sông, hồ, thâm nhập vào đầm phá (thường là vào mùa mưa). Nhóm nước mặn gồm các động vật ven biển thâm nhập từ các cửa biển.  Nhóm nước lợ bao gồm các loài nước ngọt thâm nhập vào đây thích nghi với môi trường nước lợ. Thường người ta gọi nhóm tôm, cá của phá Tam Giang – đầm Cầu Hai là gọi nhóm nầy.



                  (Một Góc Phá Tam Giang)

Cùng là tôm, cua, cá nhưng tôm, cua, cá của phá Tam Giang – đầm Cầu Hai ngon hơn tôm, cua, cá của biển hoặc của sông. Cũng là những con cá đồng tên như cá mú, cá hồng, cá hanh, cá ong thì nhóm nầy ở phá ngon hơn rất nhiều so với những con sống ở biển. Con chình ở khe, suối, sông vẫn không thể so sánh với con cá chình đánh bắt ở đầm phá. Cùng tên gọi cá hồng, cá mú, cá hanh... nhưng những con tôm, con cá ở phá dù thể trọng nhỏ hơn những mùi vị thơm ngon hơn rất nhiều. Người phụ nữ khi chế biến thức ăn sẽ khó tạo được sự thành công khi sử dụng loại hải sản biển như cá thu, cá ngừ, tôm, cua của biển. Một dĩa cá ong hương kho khô, một con cá dìa hấp, một tô canh cá đối nấu thơm, một dĩa lươn trộn... chỉ chừng ấy thôi, đơn sơ thế thôi... bữa ăn đã ngon rồi!
Không phải ngẩu nhiên vua chúa nhà Nguyễn chọn Huế làm thủ đô. Sông xanh, núi biếc, phong cảnh hữu tình nhưng không có phá Tam Giang, không có đầm Cầu Hai, không có con cá, con tôm ngon... chắc gì vua nhà Nguyễn chọn Huế làm Kinh Đô.


                           (Đầm Cầu Hai)

Con cá, con tôm, con cua... của phá Tam Giang – đầm Cầu Hai so với các con cùng loài đồng tên ở biển, có thể trọng không lớn hơn, lúc nào cũng tỏ ra thích hợp cho cách chế biến thực hiện một công đoạn: món ăn mau chính, mùi vị thơm ngon, đậm đà. Yếu tố nầy cũng đã làm cho khách đến Huế yêu thích những món ăn chế biến từ các hải sản của đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.
Người phụ nữ Huế thường kén chọn các hải sản từ đầm phá để chế biến bửa ăn phục vụ khách. Món nào hấp thì hấp, con cá nào kho thì kho. Họ kén chọn từng cọng hành, cọng rau để làm bửa ăn thêm ngon, thêm đậm đà. Sống cạnh phá Tam Giang – đầm Cầu Hai, người đi chợ Huế không mất nhiều thời gian để chọn cá, chọn tôm... bởi vì phá Tam Giang – đầm Cầu Hai có đến trên 200 loài cá, tôm ngon để họ chọn, mua lúc nào cũng có, chợ lúc nào cũng sẵn sàng, đầy đủ cá, tôm.
Nói chung lại, phá Tam Giang – đầm Cầu Hai đã luôn luôn đem lại sự ổn định, sự tin cậy cho người phụ nữ Huế khi nấu nướng, hào soạn bữa ăn cho chồng con và cho khách.
        
       II Văn Hóa Ẩm Thực: Một Nền Văn Hóa Rất Đời Thường của Người Dân Huế

Huế là đất dựng nghiệp của nhà Nguyễn.  Các đời vua của triều đại nầy đã kéo dài gần một trăm rưỡi năm (1802 – 1945). Các ngành văn hóa đã đơm hoa kết trái và nỡ rộ từ khi vua Gia Long lên ngôi cho đến ngày nay. Ngành ẩm thực cũng có sự phát triển đồng loạt cùng các ngành văn hóa khác, vừa mang tính quần chúng vừa mang tính lễ nghi, đươc tôn vinh là một ngành đích thực: ngành văn hóa ẩm thực.
Huế là Kinh Đô của một thời, trải qua mười mấy thập kỷ dưới chế độ quân chủ, ngành ẩm thực Việt Nam rõ ràng đã tạo được thế đứng vững vàng bên cạnh các nền văn hóa khác trên đất Thần Kinh. Do đó, nói đến Huế, viết về Huế, các tác giả không thể không nói đến lễ nghi của hội hè, đình đám mà nồng cốt là các bữa ăn chào mừng lễ hội của quần chúng nông dân.
Đối với xứ Huế thì bửa ăn là bữa cơm Huế, món ăn là món ăn Huế. Nói đến món ăn Huế, bữa cơm Huế là phải mô tả hàng trăm món ăn cung đình cũng như dân dã. Những món ăn đó rõ ràng mang tính chất Huế được lựa chọn để sắp xếp và hào soạn trên một mâm ăn. Trong các lễ hội, đình đám, tiệc tùng lớn nhỏ, người dân Huế có truyền thống bày dọn (mâm cao cổ đầy). Trong các bữa ăn chiêu đãi bạn bè hoặc họp mặt người thân vẫn thường (mâm cao cổ đầy) và ngay trong các bữa ăn gia đình, nếu có điều kiện lo liệu cũng hào soạn ( mâm cao cổ đầy). Đó chính là những nét tiêu biểu của nền văn hóa ẩm thực Huế.
Đất Phú Xuân là trung tâm chính trị và văn hóa của các vua chúa nhà Nguyễn, nơi thường hội tụ các tao nhân măc khách, nơi thường có tiệc tùng ăn uống, mời mọc nhiều món ăn. Bên cạnh dĩa rau quả, nem chả, thịt... người Huế có thói quen hào soạn nhiều dĩa tôm, cá, cua được bày dọn ở các măm ăn nầy là sản phẩm của đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đối với người Huế được ví như một bể cá có sẵn trong nhà khi cần mua lúc nào cũng có, mua bao nhiêu cũng không thiếu. Người Huế đãi khách, mời khách thường bằng một mâm ăn mang tính hào soạn cao. Trên mâm cỗ đó, cá, tôm, cua của đầm phá Tam Giang - Cầu Hai thường có vai trò là những đĩa đồ ăn, những món ăn chính trong một mâm ăn.
Huế xua nay là đất văn hóa nên người phụ nữ Huế đa số điều biết nấu ăn, biết hào soạn một bửa ăn. Đặc biệt nếu người phụ nữ đó thuộc các gia đình nền nếp có văn hóa chắc chắn sẽ được giáo dục để trở thành một người đầy đủ công, dung, ngôn, hạnh. Trong các chuẩn mực đó, công (nấu ăn, thiêu thùa, may vá) là hàng đầu. Một mâm ăn được nấu nướng bởi một phụ nữ có công, có dung bao giờ cũng ngon, cũng đẹp... cái đẹp mà sự hào soạn có văn hóa cộng với cái ngon từ chất liệu cá, tôm, cua của vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đã làm cho bữa ăn của người Huế thêm hương, thêm sắc.
Cái đẹp, nét đẹp đầy hương sắc trong nấu nướng và hào soạn của người Huế là một nhân tố cấu thành nền văn hóa ẩm thực- một nền văn hóa rất đời thường của người Huế xưa và nay.
                                                
              Huế, ngày 20 tháng 9 năm 2009
                    Hoàng Xuân Minh
             (Trích Đặc San Ký Ức và Hoài Niệm)     



Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Nắng Thu - Như Phương & Cảm tác của MXThanh

  
      
           Nắng Thu                           
                             
Nắng hanh reo nhẹ lá vàng rơi
Cali mùa Thu đẹp tuyệt vời
Có ai dệt thơ bằng lá đỏ
Vẽ đời sương nhạt bằng mây trôi?

Biển xanh vẫn rạt rào khúc hát
Vi vu hàng thông viền bờ cát,
Hải yến lướt cánh vút mây ngàn
Bò thơ thẩn giữa dòng bát ngát.

                     Như Phương
                           Nov, 9 - 2013

**************************************
Cảm tác từ bài Nắng Thu 

Nắng vàng gió nhẹ lá Thu rơi,
Khí hậu Cali cũng tuyệt vời.
Mỹ Quốc nhiều nơi cây cối đỏ,
Tiểu Bang thắng cảnh áng mây trôi.
Trời xanh biển lặng đi xem hát,
Cát trắng vi vu gió lạnh rồi
Hải yến về đâu bay thấp thóang,
Chân trời ảm đạm nhớ em tôi!

Mai Xuân Thanh  kính bút cảm tác
Thơ " Nắng Thu "  -  Như Phương 

                        

                                           

Họp Mặt - Ngọc Sương


      Họp Mặt                              
Ngọc Sương                        
                                        
 Dù bao vật đổi sao dời
Lòng người với Huế mặn mòi không xao
Sông Hương núi Ngự hôm nào
Bây giờ gặp lại nao nao cõi lòng
Nhưng sao nghe vẫn bồn chồn
Thầy xưa bạn cũ giờ còn bao nhiêu?
Thầy già Cha ốm liêu xiêu.
Môn đồ mấy khóa không nhiều lắm đâu
Nhưng mà nghiã nặng tình sâu
Làm sao quên được nhịp cầu đã qua.
Học hành những chữ xưa xa,
“Học nhi thời tập chi” à vậy thay!
Bút lông, chữ viết cầm tay
Nét ngang, chấm, phẩy, nét này sao Cha?
Cha cười, Cha chỉ: Đây mà!
Thầy không kiên nhẫn sao ta nằm lòng?
Thấm nhuần đạo đức phương Đông,
Năm năm Hán Học thong dong vào đời.
Mỗi người mỗi cảnh mỗi nơi,
Cuộc đời trôi nổi, lắm người khổ đau.
Ra sao ai biết ngày sau
Nhớ lời thầy dặn mấy câu ân cần.
Câu: "Ưu đạo bất ưu bần »
Nhắc con ghi nhớ ngàn lần chớ quên
Xa nhau biết mấy phương trời
Năm mươi năm đó đời người đã qua.
Người tóc bạc kẻ răng thưa,
Bây giờ gặp lại, người xưa đâu rồi!
Cặp kính lão nhìn đi thôi
Ờ nhỉ! Bạn cũ... phải rồi nao nao...
Bắc Trung Nam, một mái nhà
Cùng nhau học tập, cùng nhau sang trường
Hôm nay tay bắt mặt mừng
Nhìn nhau bở ngở... lục tuần đã qua
Anh-ông nội, tôi-ngoại bà
Một thời áo trắng đã xa lâu rồi.
Thầy đâu bạn cũ ôi thôi
Buồn vui bạn cũ ai hoài cố nhân!
Xin cho gửi chút lòng ân
Nơi các bạn cũ ân cần đổi trao
Lo cho mọi việc vuông tròn
Làm sao thông lối mở đường chung vui
Tuổi đời còn lại bao nhiêu
Một lần gặp mặt bao điều nhiêu khê...
Dù khó khăn cũng gắng về
Lần này họp mặt bạn bè cùng nhau
Chúng ta cũng có một lần..
Mộ thầy, một nén hương trầm thành tâm
Cảm ơn thầy, cảm ơn đời,
Nghẹn ngào... xao xuyến... nói lời không ra.


          Ngọc Sương
(Trích Đặc San Ký Ức và Hoài Niệm)


Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

Đời Tàn - Quang Yến & Cảm tác của MXThanh

     Đời Tàn

Ngày tháng theo nhau qua
Hết Hạ rồi lại Thu
Cây trơ mình vàng lá
Đời hiu hiu xế tà!!!

Thời gian làm gì ta
Mà sao chóng tàn tạ
Mấy mùa Đông băng giá
Mấy mùa Xuân đi qua!!!

Lá cây đổ vội vàng
Gió thổi bay ngổn ngang
Xuân đời chưa hưởng kịp
Tóc mây tới ngỡ ngàng!!!

Lá xanh rồi lại vàng
Chiều đi thì đêm sang
Gió ngừng rồi gió thổi
Sanh lão bệnh tử ôi!!!

Ngoài trời mưa vẫn rơi
Lá vàng bay tơi bời
Giá lạnh qua khe cửa
Còn chi nữa... đời tàn!!!



Thôi không ngồi khóc than
Cũng không mơ màng nữa
Hãy để tâm tĩnh lặng
Chuông Chùa đang ngân vang!!!.

     Quang Yến

*****************************
Cảm tác từ bài Đời Tàn

Lạnh lùng ảo diệu gió vi vu,
Đẹp đẽ tròn trăng khói tỏa mù.
Dáng điệu hồn nhiên mà nũng nịu, 
Hình dung tứ quý sáo như ru...
Đời tôi thóang chốc sao cao tuổi,
Tóc bạc da mồi tới lúc tu...!
Bươn chải giàu sang ôi sống tạm,
Đời tàn bỏ lại... giấc thiên thu...!

Mai Xuân Thanh  kính bút cảm tác,
Thơ " Đời Tàn "  -  Quang Yến