Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Ánh Trăng - Như Phương


                      Ánh Trăng

        Tôi thức dậy sau sáu giờ sáng; ánh trăng hạ tuần cuối năm còn sáng trên đầu các ngọn cây trơ trụi . Mặt trời mọc  trước bảy giờ. Đã thấy màu xanh trong bầu trời vậy mà mặt trăng vẫn còn kia. Hồi đêm có chút tuyết sơ sài phủ lối đi. Trăng cũng như mùa Xuân là đề tài cho văn nhân, thi sĩ.  Cũng là một vầng trăng, nhưng trăng không gợi cảm trong tâm hồn ta ở thành phố đô hội.
    Ai là người không nhớ đến ánh trăng trên sông Hương trong những đêm Rằm, trăng trên tháp Thiên Mụ, Trăng qua Vỹ Dạ, Trăng treo Ngự Bình, trăng trên Bắc Rạch Miễu, trăng trên bến Hậu Giang, trăng trên hồ Xuân Hương, trăng trên bãi biển Nhatrang, trăng trên bờ sông Hàn...




    Qua khía cạnh thi văn, người ta gọi tên trăng là người con gái tên Hằng. Tôi muốn được bạn đặt cho trăng một cái tên hay hơn.  Mặt trời cho con người và vạn vật sự sống, một thiết yếu có tính cách vật chất. Trăng cho con người niềm vui... như là món ăn tinh thần.

      Những bài thơ, bài nhạc về đêm trăng trên quê hương mỗi người chúng ta rất nhiều mới biết trăng  như là "nguồn sống tinh thần của mọi người..." "Trăng treo đầu súng" đã cho người chiến sĩ một chút thoải mái trong một đêm phải bồng súng trong những ngày chiến tranh... "Trăng Mường Luông",  hình ảnh đẹp miền Sơn Cước, cho những người con gái giã gạo, rồi ca múa nhịp nhàng.  "Đà Lạt trăng mờ" ghi dấu tình  người khi ngồi trên Thuỷ Tạ một đêm trăng... "Trăng tàn trên hè phố" của nhạc sĩ Phạm thế Mỹ, cũng là một tiêu đề lãng mạn, cho đến giờ này vẫn còn người hát. Nhạc sĩ Cung Tiến đã viết "Nguyệt cầm" là bài nhạc mà tôi cho đã lưu lại âm hưởng đậm đà đối với những người yêu nhạc.  Bản nhạc được Quỳnh Dao, Kim Tước... trình diễn trên Đài Phát Thanh Saigon trong những năm trước 75.  
    Sáng nay tôi vô YT để tìm nghe lại qua tiếng hát Lệ Thu, chưa được.  Không hiểu tại sao tôi không thuộc hết bản nhạc này. Theo tôi bài nhạc này được trình bày trong Phòng Trà thì thích hợp hơn trình diễn trên TV nên từ lâu tôi không được nghe bài này qua ca sĩ  "thượng thặng "của Asia hay Thúy Nga Paris hát trên sân khấu để thâu vào DVD.  Tự nhiên tôi muốn được nghe Carol Kim hay Lệ Thu hay Kim Tước hát bài này...  Trước năm 75 thì vô số bài nhạc về trăng, nhưng bài này tôi cho là khá nhất.
      Theo nghĩa chữ Hán Trăng là Nguyệt.  Tôi có những bạn gái tên Minh Nguyệt, Thu Nguyệt, Nguyệt Thu... thì hình như bản tính có chút lãng mạn... Cũng lạ, tên cha mẹ đặt đôi khi biểu hiện cá tính con người đôi chút.
       Khi tôi còn ở lớp Đệ tam C1 Đồng Khánh, có một lần nhóm sinh viên Sư phạm Anh Văn vô thực tập lớp tôi.  Trong các nữ sinh viên của nhóm có một cô tên rất đơn thuần chỉ một chữ: Nguyệt.  Cô có chiếc mũi xinh, đôi mắt hiền, và chiếc miệng dễ thương như một cô gái người Nhật.  Hôm đó cô chỉ ngồi dự,
 người lên thực tập là cô Cung.  Qua xứ người, tôi biết cô Nguyệt ở miền NE, tâm hồn vẫn có nét nghệ sĩ, nhưng thuần hậu. Cô đang an vui trong ngôi nhà ấm cúng ở miền biển  Polynesia.
       Tuy không tên Nguyệt, tôi cũng như hầu hết mọi người là thích trăng. Tôi vẫn nhớ ánh trăng Thuận An, nhất là thích trăng trên sông Hương như cụ Phạm Quỳnh, khó quên được những đêm mùa Xuân hay mùa Hè, trăng trên đầu soi dòng nước cộng thêm những cây đèn sáp thắp lên trong lồng đèn giấy, thả trên mặt sông.  Ôi, đẹp làm sao!  Ít thành phố nào có dòng sông phẳng lặng như sông Hương để cho những cánh đèn hoa sen, nhẹ nhàng trôi từ phía Phu văn Lâu cho tới Vỹ Dạ... thêm nét đẹp cho Huế về đêm.

    Lúc còn nhỏ, khi đèn tắp vô gần bến, bọn con nít chúng tôi muốn vớt, Mẹ tôi can và giải thích đó là niềm tin trong Tôn Giáo... Đến bây giờ chắc các chùa chiền ở Huế vẫn còn thả đèn hoa sen mỗi đêm Rằm... Càng ngày, người ta am hiểu nhiều về thuyết lý tôn giáo, hầu hết đã không còn đốt vàng mã.  Người ta hiểu thêm rằng đối với thế giới vô hình thì có lẽ hương hồn ở nơi nào đó chứ không phải ở dưới nước... Biết vậy, nhưng nhiều người cũng như tôi vẫn còn mong thấy những cánh đèn sáng hình hoa sen trang điểm cho cảnh sông Hương vào một đêm Rằm.
     Có một lần tôi thấy người ta thả đèn trên sông Hàn.  Nước sông Hàn không phẳng lặng lắm vì thành phố Đà Nẵng ở cửa biển nên khúc sông đó sóng gợn nhiều làm cho đèn hoa sen không trôi êm lâu như thả đèn trên sông Hương.
    Trăng nơi nào cũng đẹp, nhất là trăng của thời thơ ấu. Tôi vẫn thích những hình ảnh về trăng nhưng không như Lý Bạch.  Tương truyền thi sĩ tài hoa, yêu trăng, có lẽ uống say nên trong người nóng bức, ông ta nhảy xuống sông tắm.  Khi say gặp gió hay nước thì... nguy.  Người đời nói ông nhảy xuống nước để ôm trăng... cho thêm phần lãng mạn.


              Nhạc và thơ  cho hồn chơi vơi,
              Âm giai thi hứng với cung đời ,
              Chút hương xưa, trăng như tri kỷ,
              Vài nét luyến lưu tuổi đôi mươi.

              Trăng là hương tình đến nhẹ nhàng,
              Dọi rèm thưa ,cho hồn miên man,
              Không là thi sĩ, yêu trăng mộng
              Thanh thoát ý tình, phút mơ màng.

              Tình nào có đẹp như thiên nhiên,
              Trăng nay, đơn sơ nét dịu hiền,
              Trăng muôn thuở vẫn còn gặp gỡ
              Thú yêu thương, như nét bình yên.

              Dẫu trăng kia được dệt thành hình,
              Có chăng ẩn hiện, nét tâm linh,
              Cảm quan với trăng qua cửa sổ,
              Niềm vui nhè nhẹ, buổi bình minh.


                            Như Phương
                              Jan.27, 16



Mười Ly Rượu Buồn - nvs.Vũ Thụy



Mười Ly Rượu Buồn

Một ly để trả ơn đời
Hai ly nhớ lại một thời đã qua
Ba ly cho mắt lệ nhòa
Bốn ly mới thấy xót xa não nùng
Năm ly tôi khóc mùa xuân
Sáu ly vừa thấm tin mừng chia ly
Bảy ly vào tuổi dậy thì
Tám ly đón khúc tình si tìm về
Chín ly chưa đủ nhiêu khê
Mười ly mới biết ê chề ra sao 


     nvs.Vũ Thụy
 (Trích tập Thơ Nửa Gánh Thu Sầu)


Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Sớ Táo Quân - Khôi Nguyên

  Sớ Táo Quân

Sớ Táo năm nay sẽ tấu trình,
Việt Nam đang sống cảnh điêu linh.
Nhân dân đói khổ do Hà Nội,
Xứ sở mất dần bởi Bắc Kinh.
Lãnh Đạo cúi đầu không biết nhục,
Chính Quuyền chai  mặt để cầu vinh.
Ác dân, hèn giặc thêm ngu dốt
Xin giáng làm gương, cứu chúng sinh.

           Khôi Nguyên

Sớ Táo Quân - Mai X Thanh



SỚ TÁO QUÂN
(Trang Nhà vhp. HẠ VŨ )

Cuối năm thông lệ,
Kim nhật hăm ba,
Tháng chạp Ất Mùi.
Cận kề năm mới,
Trang nhà phơi phới,
Đưa Táo về trời,
Kính cẩn bao lời,
Thiên đình báo cáo,
Hạ thần Nhà Táo,
Khải tấu Ngọc Hoàng
Trang nhà HẠ VŨ,
Thầy Cô các Chú,
Nhiều cộng tác viên.
Ở khắp mọi miền.
Thơ văn đầy đủ,
Có hình ảnh cũ,
Hán Học Viện hay,
Thơ văn của Thầy.
Cổ thi một góc,
Ký ức văn học.
Sáng tác vần thơ,
Cố Nhân Đợi Chờ,
Truyện dài Tóc Mai
Một tác phẩm hay.
Văn chương rất khá,
Vần thơ thân hữu,
Tác phẩm nghiên cứu.
Xướng họa thơ Đường,
Câu thơ lục bát,
Kể chuyện lưu loát,
Thất ngôn tứ tuyệt,
Tinh thần hiểu biết,
Thơ mới gieo vần,
Văn hữu xa gần,
Thi thơ nặng nợ,
Sơn khê cách trở,
Hội tụ tùy duyên,
Nữ tú thuyền quyên,
Trai tài học hỏi,
Cố hương mong mõi,
Hoài niệm ở đời,
Lưu lạc khắp nơi...
Khải tấu Ngọc Hoàng,
Thượng Đế phò hộ
Trang nhà HẠ VŨ,
Thơ văn đầy đủ,
Minh họa lý thú
Chữ nghĩa Việt Nam.
Di tích danh lam.
Tinh hoa cổ học,
Kho tàng văn hóa,
Khắp nơi ủng hộ,
Mọi người mến mộ
Thượng Đế chứng tri,
Xin hãy duy trì,
Thiên ân Địa huệ,
Giúp cho trần thế,
Táo quân tâu sớ,
Ngọc Hoàng khâm thử
Đãi ly rượu đào,
Thưởng Táo uống vào,
Nâng ly cùng cạn,
Táo Ông lạng quạng,
Khom lưng cáo từ.
Hạ thần xin kiếu
Trở về hạ giới...
Gặp vợ trần gian, 
Năm mới xuân sang,
Chúc lành hạnh phúc,
Hạnh phúc (cái mà) hạnh phúc !

Mai Xuân Thanh phụng soạn
Ngày 20 tháng 01 năm 2016




Ông Táo và các bài Tống Táo Thi (Đỗ Chiêu Đức)

             


    Ông Táo và Tống Táo Thi

        I. TỐNG TÁO THI - LỖ TẤN

魯迅魯迅(1881.9.25~1936.10.19),浙江紹興人,原名周樹人,字豫山、豫亭,後改名為豫才。他時常穿一件樸素的中式長衫,頭發像刷子一樣直豎著,濃密的胡須形成了一個隸書的“一”字。他是偉大的文學家、思想家,是中國文化的主將。

          LỖ TẤN ( 25-9-1881--19-10-1936 ), người huyện Thiệu Hưng, Tỉnh Chiết Giang vốn tên là Châu Thọ Nhân, tự là Dự Sơn, Dự Đình, sau đổi thành Dự Tài. Ông thường mặc một chiếc áo dài giản dị theo truyền thống Trung Quốc, đầu để trần, tóc dựng đứng như bàn chải, râu mép đậm như hình chữ NHẤT viết theo theo kiểu Lệ Thư. Ông là nhà Văn học, nhà Tư Tưởng, vĩ đại và là chủ tướng của nền văn hóa Trung Quốc cận đại.

          Sau đây là bài Tống Táo Thi ông làm năm Canh Tí 1901 lúc gia cảnh đang sa sút phải cầm cố đồ đạc để sống qua ngày.
  
      庚子送灶即事        CANH TÝ TỐNG TÁO TỨC SỰ
           1901年                         năm 1901
        只雞膠牙糖,          Chỉ kê giao nha đường,
        典衣供瓣香。          Điển y cung biện hương.
        家中無長物,          Gia trung vô trưởng vật,
        豈獨少黃羊。          Khởi độc thiểu hoàng dương.
             魯迅                          Lỗ Tấn

CHÚ THÍCH :
    * GIAO 膠 là chất Keo, chất Nhựa. nên...
       Giao Nha Đường là Kẹo Mạch Nha.
    * ĐIỂN 典 là Cầm Cố. Điển Y là Cầm cái Áo.
    * TRƯỞNG VẬT 長物: Đồ vật có giá trị, Đồ Quý giá!
    * HOÀNG DƯƠNG 黃羊 : là con Dê màu Vàng. Theo sách " Hậu Hán Thư " quyển 62 có " Âm Thức Truyện《後漢書》卷62《陰識傳》kể rằng: Đời Tuyên Đế, có người tên Âm Tử Phương, rất có hiếu lại có lòng nhân từ. Tháng Chạp hăm ba, nhà chỉ có một con dê màu vàng cũng làm thịt để cúng Táo. Từ đó về sau bỗng phát tích thành cự phú. Vì thế sau này đến ngày tế Táo, mọi người đều làm dê vàng để cúng theo, lâu dần thành lệ.

NGHĨA BÀI THƠ :
                 BÀI THƠ LÀM LÚC CÚNG ÔNG TÁO NĂM
                               CANH TÝ 1901
        Chỉ vỏn vẹn có một con gà và chút đỉnh kẹo mạch nha, đó là do vừa đi cầm cái áo mà mua nhang về để cúng đó. Nhà đã không còn vật gì đáng giá nữa, chẳng phải chỉ thiếu có con dê vàng thôi không đâu! (Ý muốn nói là còn thiếu nhiều món để cúng nữa!)
         Chắc vì không có được dê vàng để cúng, nên Lỗ Tấn chịu nghèo suốt cuộc đời mình!

           Image result for 魯迅,送灶詩   Image result for 魯迅,送灶詩  


DIỄN NÔM :
                  TIỄN TÁO NĂM CANH TÝ 1901

                       Mạch nha kẹo với gà,
                       Cầm áo cúng hoa loa.
                       Nhà không còn gì quý,
                       Lấy đâu chú dê già !?
     Lục bát :
                       Con gà với kẹo mạch nha,
                 Nén nhang cầm áo hoa loa cúng Ngài,
                       Hết đồ quý giá trong ngoài,
                 Dê vàng đừng nhắc thêm hoài công thôi !

                                       Đỗ Chiêu Đức

                 II. TỐNG TÁO THI

                        Image result for 祭灶君詩 

                                              

         Hằng năm cứ đến ngày 23 tháng Chạp, thì dân Việt Nam ta có tục lệ cúng tiễn đưa Ông Táo về trời, người Hoa thì cúng vào đêm 24. Theo câu nói của dân gian là "Quan tam, dân tứ, thuyền gia ngũ ", có nghĩa là: Làm quan thì đưa ông Táo ngày 23, dân thì đưa ngày 24, còn những người đi ghe theo cuộc sống thương hồ thì đưa ông Táo ngày 25.

         Bỏ qua về xuất xứ của tục lệ nầy, chỉ xét về phần cúng tế. Người Việt và người Hoa ở Việt Nam thường cúng tiễn Táo Quân bằng "thèo lèo", bánh mức, chè Ỷ... hương hoa trà nước... và giấy tiền vàng bạc kèm theo các hình cò bay ngựa chạy. Ý là để cho ông Táo cởi ngựa cởi cò về trời (trong văn học thì cho là cởi cá Chép), còn "thèo lèo" bánh mức... là để ăn cho ngọt miệng đặng báo cáo cho ngọt cho tốt với Ngọc Hoàng Thượng Đế về tình trạng gia đình nơi mà ông Táo đang cư ngụ....  
   

        Nhớ lúc nhỏ, khi gần Tết , tôi đã đọc được một bài thơ "Tống Táo Thi" 送 竈 詩  trên báo để tiễn đưa ông Táo như sau:

     送 竈 詩                      TỐNG TÁO THI     
  麥芽糖餅餞行蹤 Mạch nha đường bỉnh tiễn hành tung,
  拜祝佯癡且作聾. Bái chúc dương si thả tác lung.
  只有一般應開口 Chỉ hữu nhất ban ưng khai khẩu,
  煩君報我一年窮. Phiền quân báo ngã nhất niên cùng!

 CHÚ THÍCH :
    1. Đường Bỉnh: là Kẹo bánh. Đường là Đường, mà cũng có nghĩa là Kẹo nữa.
    2. Dương: là Giả đò. Tác: là Làm, ở đây có nghĩa là Làm bộ.
    3. Si: là Ngây, là Dại.  Lung: là Điếc.
    4. Nhất ban: là Mạo từ (Article) chỉ: Một Điều, Một Cái.
    5. Nhất niên: là Cả năm, suốt năm, chớ không phải MỘT NĂM.

 DỊCH NGHĨA :
       Mạch nha, Kẹo, bánh... đưa tiễn bước chân ông đi. Khi bái kiến và chúc tụng Thượng Đế xin ông giả ngây giả điếc dùm cho (đừng nói lung tung những chuyện không tốt của tôi). Chỉ có một điều ông nên mở miệng nói là.... Cảm phiền ông báo với Ngọc Hoàng là sao tôi lại nghèo suốt cả năm vậy?!

 DIỄN NÔM :
                 THƠ TIỄN ÔNG TÁO
          Mạch nha kẹo bánh tiễn chân ông,
          Lên đó giả ngây giả điếc dùm.
          Chỉ có một điều nên mở miệng,
          Rằng ta nghèo suốt một năm ròng!

                               Đỗ Chiêu Đức

 TÁI BÚT :
                Image result for thèo lèo   Image result for thèo lèo
     Xin được nói thêm về 2 chữ THÈO LÈO.
     THÈO LÈO là phát theo âm Triều Châu của 2 chữ TRÀ LIỆU 茶料: là Những Vật Liệu dùng để Uống Trà. VẬT LIỆU ở đây là chỉ những món đồ ngọt như: Kẹo Đậu Phọng, Kẹo mè đen, mè trắng, cốm, và những viên đậu phọng được áo một lớp đường màu trắng mà ta quen gọi là "Cứt Chuột."
    "Thèo Lèo Cứt Chuột" là món ngon dùng để uống trà và là món không thể thiếu khi cúng ông Táo ở quê tôi: Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xán, Phong Điền...
         
     III. Tống Táo Thi - Lữ Mông Chính

        Nhân nói đến thơ đưa Ông Táo, ta không thể không nhắc đến bài "Tống Táo Thi" của Lữ Mông Chính, người mà trong "Hàn Nho Phong Vị Phú" Nguyễn Công Trứ đã viết như thế nầy:   
       ...Khó ai bằng Mãi Thần, Mông Chính, cũng có khi ngựa cỡi dù che...

           Sau đây, ta thử tìm hiểu cuộc đời nghèo khó và bài thơ đưa ông Táo nổi tiếng của ông nhé !...

  呂蒙正(944或946-1011),字聖功,河南洛陽人,977年宋太宗丁丑科狀元。呂蒙正中狀元後,曾任將作監丞、通判、著作郎、左補闕、參知政事等官銜。988年,呂蒙正出任宰相,病逝於大中祥符四年(1011年),享年67歲 .
          LỮ MÔNG CHÍNH (944 & 946- 1011), Tự là Thánh Công, người đất Lạc Dương tỉnh Hà Nam, đậu Trạng Nguyên năm Đinh Sửu đời Tống Thế Tôn năm 977. Sau khi đỗ Trạng, Lữ Mông Chính đã từng giữ các chức vụ Giám Thừa, Thông Phán, Trứ Tác Lang, Tả Bổ Khuyết, Tham Tri Chính Sự.  Năm 988, Lữ nhậm chức Tể Tướng. Bệnh mất năm Đại Trung Tường Phù thứ 4 ( 1011 ), hưởng thọ 67 tuổi.

      Image result for 呂蒙正   

    
 Sau khi cha mất, gia cảnh ngày một suy vi. Lữ Mông Chính cùng mẹ phải tạm trú ngụ trong một lò gạch cũ, làm nghề ăn xin độ nhật.
          Một hôm, thấy trước cửa quan Tể Tướng đông nghịt những người, chen chút nhau rất náo nhiệt. Lữ cũng chen vào để xem, tình cờ một vật gì đó từ trên trời bay xuống rớt đúng vào lòng. Thì ra, thiên kim tiểu thơ của quan Tể Tướng là Lưu Nguyệt Nga đang gieo tú cầu để tìm người hôn phối. Vật bay vào lòng Lữ là trái tú cầu được Lưu tiểu thơ ném từ trên lầu xuống...
         Dĩ nhiên là ông bà Tể Tướng không chịu chấp nhận hôn sự nầy, nhưng tiểu thơ Nguyệt Nga thì lại kiên trì chấp nhận từ bỏ tất cả để đi theo Lữ về sống ở lò gạch bể, vì nàng cho đây là duyên trời định và hơn nữa không thể bội tín được.
         Cuối năm đó, đến ngày đưa ông Táo, không hiểu là Lữ Mông Chính đã năn nỉ như thế nào mà ông hàng thịt bán chịu cho một miếng thịt đem về luộc để cúng ông Táo. Nhưng khi bà hàng thịt biết được việc nầy bèn mắng cho ông chồng một trận nên thân: "Nó nghèo kiết xác, làm sao có tiền trả mà bán chịu?!" Bà ta tức tốc chạy đến lò gạch, thấy miếng thịt đang luộc dở dang trên bếp, bèn hứ một tiếng rồi vớt lấy miếng thịt đem về! Đến nước nầy, Lữ chỉ còn biết đổ nước luộc thịt vào tô mà đưa tiễn ông Táo về trời thôi.
         Trong khi thắp hương để cúng ông Táo, vì cảm khái trước cái nghèo khó của mình và cũng cảm khái trước cái nhân tình thế thái, Lữ Mông Chính đã làm bài thơ tiễn Ông Táo sau đây :

      一柱清香一縷煙,
 Nhất trụ thanh hương nhất lũ yên,
       灶君今日上朝天
 Táo Quân kim nhật thướng triều thiên.
      玉皇若問人間事,   
Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự,
      為道文章不值錢。    
Vị đạo văn chương bất trị tiền! 

 DỊCH NGHĨA :
        Một nén nhang thanh thanh tỏa ra một làn khói nhẹ, hôm nay ta đưa tiễn Táo Quân về để chầu Trời. Nếu như Ngọc Hoàng có hỏi đến chuyện của dân gian, thì xin ông hãy vì ta mà đáp rằng, văn chương không đáng giá đồng xu cắc bạc nào cả!
DIỄN NÔM :
                  Một nén nhang thanh làn khói nhẹ,
                  Chầu Trời tiễn Táo đến cửa thiên.
                  Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự,
                  Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền
!
                                 Đỗ Chiêu Đức  

       Câu chót của bài thơ làm ta nhớ đến câu thơ lên Hầu Trời của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
              "Văn chương hạ giới rẻ như bèo!"

       Trở lại chuyện của Lữ Mông Chính, theo truyền thuyết dân gian thì...
    ...Năm đó, sau khi Táo của các nhà đã báo cáo xong, mà đợi mãi vẫn không thấy Táo của lò gạch nơi Lữ cư ngụ. Mọi người đang nóng ruột, thì thấy Táo của Lữ Mông Chính mặt mày xanh lè, đi cà lếch cà lếch vào chầu. Ngọc Hoàng phán hỏi tại sao, thì được trả lời rằng: "Thần chỉ uống có một tô nước thịt luộc dở dang chưa chín, đã đói lại còn bị... chột bụng nên đi không nổi", đoạn trình bài thơ của Lữ lên cho Ngọc Hoàng xem. Ngọc Hoàng phán rằng, số của Lữ sẽ đậu Trạng Nguyên vào khoa sau, đừng lo lắng quá! Thần Táo mới năn nỉ rằng: "Anh ta đói quá, sợ sống không nổi đến khoa sau đâu, thôi thì trước sau gì cũng đậu, xin Ngọc Hoàng thương tình.  Ngọc Hoàng bèn sai Nam Tào đem sổ sửa lại cho Lữ đậu ngay khoa nầy, vì thế mà Lữ Mông Chính mới đậu được Trạng Nguyên của khoa Đinh Sửu 977 là vậy!

    Trên đây là theo truyền Thuyết dân gian, chớ thực sự thì... Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thường có bóng dáng của một người đàn bà, còn ở đây, đằng sau sự đậu đạt của Lữ Mông Chính, có tới  bóng dáng của 2 người đàn bà lận: một là Lưu tiểu thơ, hai là bà Tể Tướng phu nhân, vì thương con gái mà lén chu cấp đầy đủ vật chất cho con và rể sinh sống, vì vậy Lữ mới yên tâm mà dùi mài kinh sử... chứ đói meo thì làm sao đủ sức mà học hành để đậu Trạng Nguyên cho được!

         Đây là ông Tể Tướng xuất thân từ khất cái (Ăn mày   duy nhất của lịch sử Trung Quốc: Lữ Mông Chính.

              IV. Tống Táo Thi - La Ẩn

       Nói đến thơ đưa tiễn Ông Táo thì cũng không thể không nhắc tới...
        LA ẨN 羅隱(833-909 ),Tự là Chiêu Gián, người đất Tân Thành (thuộc trấn Tân Đăng, thành phố Phú Dương, tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ông vốn tên là HOÀNH 橫, vì từ năm 20 tuổi bắt đầu đi thi Tiến Sĩ, nhưng 10 lần vẫn không đậu, nên mới đổi tên là LA ẨN và đi tu theo đạo Lão, là một học giả thuộc Đạo Gia ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại. Thơ ông thường mang tính hiện thực, bất cần đời, nổi tiếng với các câu như:

            

   今朝有酒今朝醉,Kim triêu hữu tửu kim triêu túy,
   明日愁來明日憂。Minh nhựt sầu lai minh nhựt ưu.

 Có nghĩa :
         Hôm nay có rượu thì hôm nay say,
         Ngày mai sầu đến thì ngày mai hãy ưu sầu!

       Ông cũng có một bài Tống Táo Thi giống như là của LÃ MÔNG CHÍNH đã nêu ở trên, như sau:

                      Image result for 祭灶君詩 

     一盞清茶一縷煙,   
 Nhất trản thanh trà nhất lũ yên,
     灶君皇帝上青天。 
 Táo quân hoàng đế thượng thanh thiên.
     玉皇若問人間事, 
 Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự,
     為道文章不值錢。  
Vị đạo văn chương bất trị tiền! 

CHÚ THÍCH :
       NHẤT TRẢN: là Một Chung. TRẢN là Ly, Chén nhỏ.
       TÁO QUÂN HOÀNG ĐẾ: Là Ông Hoàng Đế ở trong Bếp mà ta quen gọi là VUA BẾP. (Xuất xứ của từ VUA BẾP là do câu thơ nầy mà ra).

DIỄN NÔM :
                 Một chén trà thơm làn khói nhẹ,
                 Chầu Trời Vua Bếp đến cửa thiên.
                 Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự,
                 Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền!

       Ta thấy, chỉ có 2 câu đầu là hơi khác, còn 2 câu sau của bài thơ thì giống y chang như bài Tống Táo Thi của Lữ Mông Chính, và không cần phải nói ta cũng biết là Lữ đã mượn thơ của La Ẩn để cảm khái cho hoàn cảnh của mình, vì LA lớn hơn LỮ đến 111 tuổi lận, LA ở cuối đời Đường còn LỮ ở đầu đời Tống.

       Để kết thúc bài viết nầy, xin mời cùng đọc câu đối hay và nổi tiếng thường thấy dán cho bàn thờ TÁO QUÂN như sau:

                  有德能司火,   Hữu đức năng ty hỏa,
                  無私可達天。   Vô tư khả đạt thiên.

Có nghĩa :
           Có ĐỨC thì mới có thể trông coi việc củi lửa bếp núc được.
           Phải CHÍ CÔNG VÔ TƯ thì mới được lên chầu trời (để trình tấu mọi việc).
         
    


 Như vậy TIÊU CHUẨN để được làm ông Táo đâu phải dễ! Năm mới vui Xuân, mong rằng mọi người rán tích đức để tương lai đều được lên CHẦU TRỜI như ông TÁO vậy!

                Đỗ Chiêu Đức



Tìm Cội Mai Già - nvs.vũ Thụy



Tìm Cội Mai Già

Ta về tìm cội mai già
Hỏi tình năm cũ mặn mà bao nhiêu
Tháng
năm biến đổi lắm điều
Mai càng cằn cỗi càng nhiều thiết tha
Xuân về quanh quẩn trong ta
Vắng mai như thiếu bài ca xuân về
Ngày dài biệt xứ lê thê
Nhớ mai vẫn giữ lời thề nở hoa
Ta về như kẻ không nhà
Gốc mai là chỗ cho ta ngồi thiền
Nhà Rông còn bếp lửa thiêng
Dakbla còn nước triền miên ngược dòng
Trống chiêng ròn tiếng long đong
Cho ta nghe lại tiếng lòng quê xưa
Rượu cần đã dậy men chưa
Măng le muối é có vừa lòng nhau
Gọ măng nấu với nhái bầu
Ta không nuốt được gật đầu khen ngon
Em cười yêu mắng thằng Yuan (1)
Yuan đừng có xạo buồn lòng Bà Na
Mùa mưa đơm cá xuống sa

Đem về lụi nướng cả nhà "nhâm bai"(2)
Giàn khói lủng lẳng sườn nai
 Em ngồi bó gối giục hoài uống đi
Lá non từ nhánh cây si
Nghe chua đầu lưỡi tình si cõi lòng



Mắt em sáng ánh lửa hồng
Rượu ta chưa uống tình nồng đã say
Rụt rè nắm lấy bàn tay
Run run em hỏi tình cay thế nào
Vào rừng ta hỏi cây sao
Cây sao hỏi trắc thế nào là yêu
Phải chăng là nhớ mỗi chiều
Mặt trời rụng xuống cho nhiều xót xa
Bây giờ mình đã "tà ha" (3)
Ta về mình có nhận ra mặt mình
 
  nvs. Vũ Thụy
(Trích tập thơ Nửa Gánh Thu Sầu)

Chú thích:
(1)Yuan = người Kinh
(2)nhâm bai = uống ruợu
(3)tà ha = già