Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Nan Giải - Hoàng Đằng


                   Nan Giải                               
  Truyện ngắn của Hoàng Đằng       
   
Tháng 2, tháng 3 Âm Lịch ở vùng này là mùa “được biển”, dù biển đã ít cá so với ngày xưa.
Lý do cá ít đi, dễ hiểu thôi! Người càng đông lên thì lượng tiêu thụ cá càng nhiều; ngư cụ tối tân đi qua chỗ nào vét hết cá cả lớn lẫn bé từng mẻ lớn ở chỗ đó; lại thêm, một số ngư dân thiếu ý thức đánh bắt bằng những phương tiện hủy diệt – đánh mìn, sử dụng chất nổ; chưa nói đến sự sinh sản của cá bị hạn chế do nước biển ô nhiễm càng ngày càng nặng mà con người gây ra trong quá trình công nghiệp hóa.
Tuy nhiên, biển vẫn là nguồn sống quan trọng đối với con người, đặc biệt đối với ngư dân; “đi khơi” hay “đi lộng”, tàu thuyền mỗi lần vào bến là có cá, tôm, mực… nghĩa là là ngư dân có thu nhập, mà có thu nhập thì có tiêu pha. Vào mùa “trời yên, biển lặng”, ở vùng ven biển, hoạt động kinh tế rất mạnh: đánh bắt, buôn bán, chế biến hải sản, dịch vụ du lịch …

Mùa “được biển” nào, mụ Tài cũng kiếm được nhiều tiền để chi tiêu việc gia đình cả năm. Năm nay, mụ cố gắng đạt mức thu nhập trội hơn mấy năm trước  mong trang trải đủ những chi tiêu dồn từ năm ngoái qua.
 Năm ngoái, mụ đã cho sơn quét lại nhà cửa, mua sắm thêm một ít đồ đạc bày biện trong nhà tổ chức lễ cưới cho đứa con gái. Mụ nói: “Quen sợ dạ, lạ sợ bề ngoài”; nhà cửa phải khang trang, phía thông nghị mới khỏi xem thường.
Đầu năm nay, đứa con gái sinh cháu ngoại; mụ xin bên thông gia đem về nuôi sinh. Việc ấy là trách nhiệm của mọi bà mẹ, mụ Tài phải làm tròn, một phần vì thương con, một phần vì tập tục: “Con so nhà mạ, con rạ nhà chồng”. Dầu vậy, mụ không đích thân làm được mọi chuyện; cả ngày bận chạy chợ, lo buôn lo bán, mụ phải thuê một phụ nữ già dặn tới xông phây, giặt giũ, chăm sóc con gái và cháu ngoại; mỗi tháng mụ phải trả tiền lương cho người phụ nữ ấy, số tiền không phải nhỏ. Con gái người ta lấy chồng gần, mẹ đẻ chỉ nuôi sinh 3 tháng 10 ngày – thời gian cần cho sản phụ sinh con đầu lòng cứng chân cứng tay hết phong long để về với chồng, con gái mụ lấy chồng xa, thành thử mụ có ý định nuôi đủ 4 tháng. 
Việc chi tiêu cứ ba dồn bốn dập; cách đây hơn tháng, chồng mụ cảm thấy mệt trong ngực, khó thở, chóng mặt, mụ phải xây chạy một số tiền khá lớn để chồng vào Sài Gòn, trước là chữa bệnh, sau thăm một số bà con ở đó luôn thể.
Mụ một mình xoay xở trong mấy tháng này làm sao có thu nhập khá, hy vọng lấp bằng các hố chi tiêu trên. Khổ nỗi, “mưu sự tại nhân” mà “thành sự tại thiên”.

Mụ Tài vốn không phải là dân miền biển; mụ sinh ra và lớn lên từ một gia đình nông nghiệp ở một làng quê biển cách 20 cây số.

25 năm trước, o con gái mới lớn tên Tài, ngày ngày xuống ruộng lên cồn tập trồng trọt, thu hoạch nông sản với bố mẹ. Cạnh làng, có một đồn “quân đội nhân dân Việt Nam”; ở đó, một anh lính độc thân đang thi hành nghĩa vụ quân sự; o và anh quen nhau. Rồi đồng đội của anh khuyến khích, cha mẹ hai bên gặp nhau, đồng ý; o và anh xây dựng hôn nhân, nên vợ thành chồng.

Ngày đưa o Tài về nhà chồng, đoàn đưa dâu qua nhiều làng mạc rợp bóng tre xanh nằm rải rác giữa những cánh đồng lúa non mơn mởn đang thì con gái, rồi trèo lên những đôộng cát trải dài ven biển. Làng chồng  o ở đó; mấy xóm nhà tôn nằm phơi giữa nắng, không một bóng cây, chỉ cát và cát; trời đang trưa, nắng lòa cả  mắt; may là thỉnh thoảng có những luồng gió từ biển thổi vào mang theo hơi mát át bớt hơi nóng!
Trong đoàn đưa dâu, quên để ý đến chuyện nhà trai có thể nghe rồi không vui, một bà dì buột miệng:
- Con Tài nhà miềng ra lấy dôông đây, biết mần chi mà ăn hè! Đi biển chưa quen, đất đai trồng trọt không có, khổ rồi, khổ rồi! Tài ơi!
Có người còn ngâm nga câu ca dao, nửa trêu chọc, nửa giúp vui:
Mẹ già muốn ăn cá thu
Gả con về biển biệt mù tăm hơi.
O Tài nghe mà ngao ngán, buồn lắm! Khi chú bác cô dì trong đoàn đưa dâu tạm biệt ra về, o Tài chảy hai hàng nước mắt ròng ròng, phấn son trang điểm trên mặt loang ra, nhòe nhoẹt. Một ông chú cầm tay o Tài an ủi, vỗ về:
- Cực hay sướng, giàu hay nghèo là do số Trời định, cháu ạ! Cháu cứ hy vọng ở tương lai, hơn nữa: “Lấy chồng thì phải theo chồng; chồng vô hang rắn hang rồng phải vô”; không ai cưỡng luật ấy được …

Mấy ngày sau, o Tài được chồng dắt dạo một vòng quanh vùng. Đến bến thuyền đánh cá trở về, o Tài thấy giá cá ở đây và giá ở chợ quê o có mức chênh lệch đáng kể, o nảy ra ý định làm nghề buôn cá. Với nghề này, o hy vọng có thu nhập đều đặn và có dịp gặp lại bố mẹ, anh chị em ruột của mình thường xuyên vì o vô, ra chợ hàng ngày; đâu đến nỗi “lấy chồng miền biển biệt mù tăm hơi” như người ta nói! .
Mỗi sáng, o dậy sớm, ra bến đón tàu thuyền vào, mua cá, gánh lên đường quốc lộ cách đó khoảng 3 cây số, đón xe vào chợ bán lại. Ban đầu, o buôn số lượng cá ít, càng về sau số lượng càng nhiều.
Từ một nông dân, o trở thành người buôn cá chuyến.
Khi còn là nông dân tập sự, o thấy chung quanh mình nông vụ xong, người ta nghỉ ngơi thoải mái, không bận tâm gì; ai cũng đinh ninh rằng cái ăn, cái tiêu sẽ có  thu hoạch mùa vụ lo. Giờ đã là thương nhân – dù chỉ là tiểu thương, o luôn đặt mình trong tình trạng bận rộn. Tay tiếp xúc nhiều với tiền bạc, óc nhiễm dần thói ham tiền; tiền vào rồi vẫn muốn tiền vào nữa, không biết mấy cho vừa. Cái muốn của o không đáy; hèn chi người xưa có câu: “Phi thương bất phú” (Không buôn thì không giàu), đúng quá đi thôi!
Nông dân dễ tự mãn, dễ bằng lòng với số phận, “tri túc tiện túc”, còn thương nhân không biết tự mãn, đồng tiền hối thúc họ mãi tiến bước. 
O thấy rằng nếu chỉ buôn cá chuyến đi, còn chuyến về quang gánh để không, uổng quá - uổng công, uổng tiền xe và uổng thời gian. O nảy ra sáng kiến: đi chuyến vào là tôm cá mực, đi chuyến ra là hàng tạp hóa; o sẽ tranh thủ chiều tối bán lẻ các nhu yếu phẩm cho dân làng, kiếm thêm thu nhập. O biến sáng kiến ấy thành hiện thực ngay; o làm việc quần quật không những cả ngày, mà còn thâm qua đêm; mỗi lần có dịp nghĩ đến câu nói của bà dì: “Cháu Tài sợ không biết mần chi mà ăn!”, o, mỉm cười thầm, vẻ tự đắc. Người đời hay nói: “Cái khó bó cái khôn”, trường hợp o Tài thì khác: “Cái khó ló cái khôn”.

Xong nghĩa vụ quân sự, chồng o ra quân. Buổi đầu, “đi bạn” theo tàu đánh bắt xa bờ của một người bà con. Mỗi chuyến đi kéo dài nhiều ngày; vợ chồng ít dịp gần nhau, chồng đi xa, vợ lo lắng, không an tâm.
Dạo này, bão tố bất ngờ do khí hậu thay đổi; lại thêm, tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên xâm lấn vùng đặc quyền kinh tế của nước ta; tàu đánh cá xa bờ của dân ta, dù chỉ hoạt động trong ngư trường truyền thống, vẫn bị tàu thuyền Trung Quốc ức hiếp: khi thì tịch thu sản phẩm, khi thì cắt phá ngư cụ, khi thì đâm chìm tàu, khi thì đánh đập, thậm chí bắn giết ngư dân.

Nghĩ chồng “đi bạn” không ổn, o Tài sắm một chiếc xe máy. Chồng o không đi biển nữa; hàng ngày, chồng “lai” vợ trên chiếc mô tô, sáng mấy pa-ni-e hải sản vào chợ, chiều mấy thùng hàng tạp hóa về nhà. Theo truyền thông của Nhà Nước, mỗi ngư dân là một chiến sĩ giữ chủ quyền biển đảo, mỗi con tàu đánh bắt xa bờ là một cột mốc khẳng định biên giới quốc gia. Chồng o Tài lên bờ, thế là Nhà Nước mất đi một chiến sĩ. Cái chung thì mất nhưng cái riêng thì được; chồng bên vợ, vợ bên chồng, rồi chẳng bao lâu sau hai vợ chồng sinh được một con gái; có hạnh phúc nào hơn!

Hai ôông mụ nay đã cao tuổi. Năm ngoái, đứa con gái tốt nghiệp ngành ngân hàng, ra trường kiếm được việc làm, lấy chồng là viên chức nhà nước. Đời họ như thế đang “thuận buồm xuôi gió”. Nhưng ở đời, ai biết được “chữ ngờ”, đời là bất trắc, vô thường, khiến ôông mụ hiện tại lâm vào tình thế nan giải.



Đầu tháng 4 năm nay (2016), từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, cá chết hàng loạt trôi dạt trắng bờ. TV nói cá chết vì nhiễm độc chất trong nước biển; độc chất do ai thải ra thì Nhà Nước đang tìm, chưa “nắm được tay, vày được cánh” thủ phạm.
Hôm trước, ông chồng nằm bệnh viện từ Sài Gòn điện thoại ra nói với mụ dư luận trong ấy bàn tán thủ phạm chính là nhà máy Phóc-mô-xa phóc-mô-xiếc gì đó ngoài Vũng Áng, Hà Tĩnh. Nghe vậy, mụ rùng mình, vừa mắng vừa giải bày với ông:
- Ba mi đừng nghe dư luận rồi nói lại với người này người khác mà nguy cho bản thân và gia đình chừ! Nhà Nước nói chưa có chứng cớ gì để kết luận việc xả thải của Phóc-mô-xa có liên hệ với cá chết. Phải tin theo Nhà Nước! Ba mi có nghe ai nói chi khác thì nghe mô bỏ đó; đừng nói chuyền mà bị quy tội tuyên truyền chống phá Nhà Nước. Họ chỉ cần giữ ba mi một ngày là tui phải bới cơm, khổ rồi. Mà ba mi coi, việc nhà mình giai đoạn này đang búi xờm xờm. Mệ nằm một chỗ đầu giường kìa! Cái chị tới giúp nuôi con sinh cháu hôm qua bỏ về rồi, chỉ vì chị mượn tiền trước mà tui chưa có sẵn; ba mi thì ở xa, một mình tui cáng đáng cả trăm thứ việc mà trong lưng không còn một xu; chưa có khi mô mà cực như chừ! Ba mi nhớ những điều tui nói mà giữ thân nghen!


Gần một tháng rồi, cả cộng đồng ở đây có vẻ như ngưng sinh hoạt. Nghe cá nhiễm độc, người ta không ăn cá; không ăn thì người ta không mua; tàu thuyền nằm bến vì ra khơi đánh bắt, sản phẩm về không biết bán cho ai; không lao động, không thu nhập; không thu nhập thì không chi tiêu.
Hôm qua, hôm kia, nghe Nhà Nước có chủ trương cứu trợ gạo cho ngư dân và thu mua sản phẩm của các tàu đánh bắt xa bờ về bến. Gia đình mụ Tài không phải là ngư dân, nên mụ chắc chắn không được trợ cấp; Nhà Nước có thu mua tôm cá, gia đình mụ vẫn không hưởng lợi được gì vì gia đình mụ không đi đánh bắt xa bờ, Hồi tối, mụ nằm nghĩ miên man rồi nảy ra ý định, thôi thì đem gia đình vào quê mụ định cư, buôn thúng bán mẹt gì đó sống qua ngày, chờ chết là hết đời. Tuy nhiên, lập lại cơ ngơi khác đâu phải là chuyện dễ! Quê mụ đang trên đà đô thị hóa; đồng ruộng đang san lấp để phân lô bán cho ai có nhu cầu xây dựng nhà cửa, mỗi lô diện tích khoảng 100 m2 có giá trên dưới 500 triệu đồng, rồi còn thêm chi phí làm nhà, tốn cả tỉ bạc, mụ mần răng có được! Tiền bạc đã khó, thái độ của bà mẹ chồng còn khó hơn. Mới thoáng nghe mụ Tài tâm tình kế hoạch với con gái đang ấp cháu đầu này nhà, bà mẹ chồng gần 100 tuổi nằm giường đầu kia nhà, thều thào tiếng được tiếng mất:
- Tau sống ở đây với làng xóm tau thôi, đừng đem tau đi mô mà chết đường chết sá. Tau sống ở đây để chết thì chôn bên cạnh mộ bọ bây thôi.
Mụ Tài thở dài, vật mình xuống giường; bên ngoài, màn tối đã buông xuống. Mụ nhắm mắt lại, nhưng giấc ngủ không thể nào đến được. Những đợt sóng từ ngoài biển khơi dội vào bờ tạo ra âm thanh “ầm”, “ầm”, “ào, “ào” đập vào tai mụ. Tiếng ầm ào như tiếng đấng Siêu Nhiên xô sập một cái gì đó vĩ đại lắm.
Đang trong tâm trạng bồn chồn, mụ suy diễn đó là âm vang sụp đổ cuộc sống của người dân biển!

03/5/2016 (27/3/Bính Thân)





*Lặng Bước - Mailoc

     LẶNG BƯỚC
 
Thiền hành sáng sáng gió xuân lay ,
Còn lạnh , hàng cây vạt nắng dài .
Liên tiếp mấy ngày trời nắng ấm ,
Cành đà  mơn mởn lá non thay .
 
Mùi hoa thoang thoảng mũi ngây ngây,
Xác tím phượng rơi trải lớp dầy
Hoa dại ngoi mình từ kẽ đá
Khoe tươi hương sắc chỉ vài ngày .
 
Bước lần trong xóm dưới làn sương
Bỗng thấy cõi lòng chút vấn vương.
Tận hưởng trần gian từng phút một,
Đâu đâu cũng thấy đẹp thiên đường .
 
Phút chốc nơi đông ửng sắc hồng ,
Xa xa núi biếc tựa mày cong .
Chim trời ríu rít mừng ngày mới
Tôi thả hồn mình vút cõi không .
 
 Bên đường, bạn Mỹ với xe lăn ,
Tay vẫy cười cười , ít nói năng .
Cả tháng đâu rồi người bạn ấy ,
Xe lăn còn đó, chó nằm gần .
 
Đã biết đời người tựa giấc mơ ,
Sóng lòng phẳng lặng nước như tờ .
Vô thường như thể trêu người mãi          
Buông xả  tâm như  bến giác chờ .

              Mailoc
      Mùa Phật Đản 2016





Niềm Vui Ngày 1 Tháng 6 - Trầm Vân


Niềm Vui Ngày 1 tháng 6

Ngày một tháng Sáu lại về
Mừng Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi tưng bừng
Phượng hồng nghiêng đỏ chùm bông
Tiếng ve tấu khúc bềnh bồng tuổi thơ

Này con chân bước vô tư
Tâm hồn trong trắng như tờ giấy thôi
Nắng hồng soi sáng nụ cười
Đánh bi đuổi bướm rong chơi vui đùa

Có khi trần trụi tắm mưa
Tắm làn gió mát cho vừa cười vui
Bên cha mẹ ấm chỗ ngồi
Vang trong lòng tiếng ru nôi mẹ hiền

Thơ ngây là tuổi thần tiên
Chăm ngoan học tập chớ quên con à
Con là cưng của mẹ cha
Tương lai của nước non nhà đó con

Mai này con sẽ lớn khôn
Có khi sóng gió dập dồn lệch xô
Cố chèo qua tới bến bờ
Thiện tâm thành đạt mẹ chờ cha mong
 Trầm Vân

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Truyện Kiều: Cái Ghen Của Hoạn Thư - Khôi Nguyên

                     TRUYỆN KIỀU

                  Cái Ghen Hoạn Thư
    Ngày xưa, nước ta chịu ảnh hưởng chế độ đa thê, trọng nam khinh nữ nên sự ghen tương thường xảy ra trong nữ giới. Ngày nay, cuộc sống tự do, nam nữ bình quyền, sự ghen tương có đàn ông, đàn bà và ngay cả người đồng tính nữa. Tùy trình độ, tính tình mà cái ghen cũng khác nhau. Không phải ghen nào cũng “oai oái như  hai gái lấy một chồng.”
    Hôm nay ta thử đọc lại cái ghen của Hoạn Thư trong truyện Kiều. Cụ Nguyễn Du đã giới thiệu về nàng Hoạn Thư như sau:
    Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
    Con quan Lại Bộ tên là Hoạn Thư.
    ................................................
    Ở ăn thì nết cũng hay,
    Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.
    .................................................
    Đàn bà dễ có mấy tay
    Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.
    ..................................................
    Người đâu sâu sắc nước đời
    Mà chàng Thúc phải ra người bó tay.

    Khi biết chồng phản bội, Hoạn Thư chuẩn bị đánh ghen rất công phu, sao cho chồng và tình địch gặp nhau mà không dám nhìn và phải đau khổ thật nhiều. Muốn vậy, Hoạn Thư biến nàng Kiều thành con ở và dặn Kiều không được nhìn  bất cứ ai quen ở đây. Thời bấy giờ, chủ nhà mà dan díu với con ở là một điều sỉ nhục. Hoạn Thư tạo ra  cảnh ấy để ngầm chê trách chồng. Nàng giữ bí mật để bất ngờ ra  tay.  Kế  hoạch đã có sẵn,, chương trình đã sắp xong, vậy mà lòng Hoạn Thư vẫn còn:
     Lửa tâm càng dập càng nồng,
     Trách người đen bạc đem lòng trăng hoa.

Hoạn Thư dự định làm cho Thúc Sinh và Kiều:
     Làm cho nhìn chẳng được nhau
     Làm cho đau đớn cất đầu chẳng lên.
     ...................................................
     Làm cho cho mệt cho mê
     Làm cho đau đớn ê chề cho coi
     Trước cho bõ ghét những người
      Sau cho để một trò cười về sau.

 Để chắc chắn đạt kết quả, mụ quản gia dặn thêm Kiều một lần nữa:
      Ở đây tai vách mạch dừng,
      Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi,
      Kẻo khi sấm sét bất kỳ,
      Con ong, cái kiến kêu gì được oan.

Bây giờ mọi dự định đã sẵn sàng, chỉ cần giữ bí mật cho tới ngày ra tay.  Muốn vậy, cá nhân Hoạn Thư phải:
       Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
       Ra vào một mực nói cười như không.

Đối với Thúc Sinh ,nàng nói:
       Rằng trong ngọc đá vàng thau,
       Mười phần ta đã tin nhau cả mười.

Đối với người trong nhà:
        Tuần sau bỗng thấy hai người
        Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
        Tiểu thơ nổi giận đùng đùng
         .........................................
         Vội vàng xuống lệnh ra uy,
         Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.
         Trong ngoài kín mít như bưng,
         Nào ai còn dám nói năng một lời.

Đối với thiên hạ, tổ chức bắt cóc nàng Kiều để mọi người tin rằng Kiều bị chết cháy như sau:
         Thuốc mê đâu đã tưới vào,
         Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì
         Vực ngay lên ngựa tức thì
         Phòng đào, viện sách bốn bề lửa dong
         Sẵn thây vô chủ bên sông
         Đem vào để đó lận sòng ai hay.
                       # #


                Đòn Ghen Bắt Đầu
Thi sĩ Trần Kế Xương đã viết:  "Đau quá đòn ghen, rát hơn lửa bỏng."
Vậy đòn ghen của Hoan Thư ra sao? Ngay miếng đòn đầu tiên đã làm tối tăm, choáng váng mày mặt Kiều:
         Phải rằng nắng quáng, đèn lòa
         Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
         ....................................................
         Rõ ràng thật lứa đôi ta
         Làm ra con ở, chủ nhà đôi nơi

Còn Thúc Sinh cũng không kém phần kinh ngạc:
         Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
         Thương ôi! Chẳng phải nàng Kiều ở đây!

Bắt đầu từ đây, Hoạn Thư dùng thế võ: "Cách sơn đả ngưu" để hạ địch thủ, nghĩa là chỉ cần hành hạ Kiều thôi, kẻ bị đau phát khóc sẽ làThúc Sinh:
          Vợ chồng chén tạc, chén thù
          Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
          Bắt khoan bắt nhặt đến lời
          Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.

Thúc Sinh đau đớn hết chịu nổi, muốn giả say để cáo lui, Kiều bị Hoạn Thư la:
          Tiểu thơ vội thét:” Con Hoa
          Mời chàng chẳng cạn thì ta có đòn.”

Hành hạ Kiều và Thúc Sinh đến thế vẫn chưa đủ, Hoạn Thư  bắt Kiều phải đánh đàn. Tiếng đàn u buồn =, sầu não khiến Thúc Sinh đau đớn, ứa lệ.  Hoạn Thư lại có cớ mắng Kiều:
           Tiểu thơ lại thét lấy nàng:                                                 Cuộc vui gẩy khúc đoạn tràng ấy chi

Cảnh đớn đau này cứ tiếp tục kéo dài cho đến canh ba mới tan tiệc. Hoạn Thư tỏ vẻ hể hả, hài lòng:
            Giọt rồng canh đã điểm ba
           Tiểu thơ nhìn mặt dường đà cam tâm
            Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm :                           
            Vui này đã bỏ đau ngầm xưa nay.

   Tóm lại, chúng ta đã đọc qua một cuộc đánh ghen “vô tiền khoáng hậu, được tính toán rất công phu của người đàn bà bản lĩnh. Chính chồng của người đàn bà đó thú nhận điều này:
      “Thất cơ thua trí đàn bà
       Trông vào ngượng mặt, nói ra ngại lời.

Cuộc đánh ghen của Hoạn Thư chỉ có ba người, không xử dụng bạo lực ,không làm ồn ào, nhất là không gây tổn hại đến danh dự gia đình, nhưng hậu quả không kém đớn đau và hao nước mắt. Nhờ cuộc đánh ghen này, Thúc Sinh quay về với vợ, Kiều bỏ nhà Hoạn Thư  ra đi mang theo lời bạc bẽo  của người đàn ông háo sắc,Thúc Sinh:
         Liệu mà xa chạy cao bay
        Ái ân ta có ngần này mà thôi.

              Khôi Nguyên



* Anh Hùng - Như Phương


                            ANH HÙNG

              Nhớ tới các anh đã xã thân ,
              Dẫu bia mộ đã tàn theo thời gian,
              Vẫn còn đây trong tâm khảm mọi người,
              Biết linh hồn các anh vẫn mỉm cười ,
              Chất ngất tình yêu tổ quốc
              Đâu đây đất nước ,
              Trong ý nghĩa tự do.
              Nén hương cho những người nằm xuống đó,
              Thì thầm lòng biết ơn qua mây,
              Anh hùng vô danh muôn thuở còn đây.


                         Như Phương
                 SJ. Memorial Day. 2016




Một Thoáng Bềnh Bồng - Trầm Vân



 Một Thoáng Bềnh Bồng

Chỉ là một thoáng bềnh bồng
Bóng em chải tóc bên song cửa chiều
Bờ mi cong biếc chớp yêu
Hay là mi chớp bao điều buồn đau

Đừng em ánh mắt gầy hao
Vần thơ tôi lạc lối vào lòng em
Trôi trong hồ mắt ảo huyền
Có khi ngày lạc lối đêm ngược dòng

Chỉ là một thoáng nhớ mong
Tóc dài em cột mấy vòng nắng mưa
Mưa thì nghiêng ngọn gió lùa
Nắng ran rát nắng cho vừa tình che

Con đường phượng đỏ bên hè
Nhớ không em những tiếng ve đỏ mùa
Nỗi buồn rụng xuống chiều xưa
Xa nhau ngày ấy ai chờ đợi ai?

          Trầm Vân




Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

Cho và Nhận - Đào Anh Dũng

Cho và Nhận
đào anh dũng

Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Số 356, tháng 4/2016


Năm nay, thứ tư lễ Tro* nhằm vào mùng ba Tết, ông bà An đi nhà thờ vào buổi sáng. Lễ xong, có cụ bà Johnson đến chào hỏi và nhờ ông bà đưa cụ về nhà. Trời lạnh âm độ, xe của cụ nổi chứng, không chịu nổ máy. Cả tuần nay, đi đây đi đó cụ phải quá giang người quen. Thấy cụ cầm trong tay một túi giấy đi chợ coi bộ nặng nề, ông xin xách dùm. Khi ấy, cụ mới nói: "Trên đường, xin ông bà ghé tiệm Care & Share để tôi cho vài món đồ tôi không còn cần dùng đến và xin họ một ổ bánh mì."
Nghỉ hưu được vài tháng, mỗi chiều thứ năm bà An đi làm việc nhà thờ, nấu cơm đãi khách thập phương. Đây là buổi cơm từ thiện, đa số khách đến viếng là những cụ già cô đơn, những người kém lợi tức hay mất việc làm. Bà quen với cụ Johnson và thường hay gặp cụ trong những buổi cơm này. Còn tiệm Care & Share (Chăm Lo và Chia Sẻ) là nơi nhận của bố thí như quần áo, giày dép, ly tách, dụng cụ này nọ, bàn ghế ... cũ để bán lại gây quỹ từ thiện. Họ cũng nhận thức ăn sắp hết hạn của các siêu thị và phát thí cho mọi người. Ông bà An đã có đôi ba lần đến tặng quần áo cũ và mua vài dụng cụ cần thiết với giá rất rẻ.
Mười giờ sáng, trời lạnh mà ngạc nhiên thay, đã có non một chục người đứng sắp hàng trước cửa tiệm. Cụ Johnson giải thích, thứ tư là ngày họ phát thức ăn mới về. Thấy cụ di chuyển hơi khó khăn mà mặt đường thì có chỗ đóng băng trơn trợt, bà An đi theo giúp đỡ cụ. Sẵn dịp, ông An vào tiệm để tìm một cái xẻng xúc đất cũ. Cái xẻng ở nhà, tuần rồi ông dùng để nạy miếng băng nên đã gãy cán.
Khi đi ngang qua khu phát thực phẩm, ông An chợt thấy một gương mặt quen quen trong hàng khách đứng chờ, nhìn kỹ mới biết đó là bà Trong, một người bạn từng làm chung sở với bà xã của ông. Bốn mắt gặp nhau trong giây lát, ông An vội đưa tay chào nhưng bà Trong ngoảnh mặt làm ngơ. Biết đây là một chuyện khá nhạy cảm, ông lẹ chân bước đi.
Trưa hôm ấy, làm một giấc, thức dậy thấy bà xã của mình đang ngồi tư lự bên tách trà ở bàn ăn, ông An đến hỏi thăm. Bà thở dài, nói:
"Lạ thiệt! Chuyện mình ghé Care & Share sáng nay đã có hai chị bạn lúc trước làm cùng sở với em gọi phôn tới hỏi thăm. Chắc là chị Trong..."
"Ừ, hồi sáng anh có thấy chị Trong. Chưa kịp chào hỏi, chỉ đã ngó sang chỗ khác."
"Còn em thì, lúc đứng trong hàng với bà Johnson, em thấy chỉ bước ra thiệt lẹ nên em không thể hỏi thăm gì được... Trước hết là chị Thảo gọi đến, nói chuyện nắng mưa một hồi chỉ hỏi mình nghỉ hưu sống có thoải mái không. Em thiệt tình nói vợ chồng mình nhờ tiền hưu trí của sở làm và An sinh Xã hội nên sống cũng tạm đầy đủ. Chỉ cười rồi nói, nếu cần thì chỉ sẽ cho biết nơi xin thức ăn dồi dào hơn, chứ ở Care & Share ít lắm. Chỉ nhắc đến Care & Share, em mới trả lời rằng, hồi sáng anh và em có đưa một bà bạn người Mỹ đến đó vì xe của bả bị hư. Nghe em nói vậy, chỉ lảng sang chuyện khác rồi bái bai."
"Chà... thời buổi này tin tức đi lẹ thiệt. Cũng may là mấy chị bạn của em không có trên Facebook."
Ông An bàn vào, giọng có pha chút tếu nhưng bà không để ý đến mà lại thở dài, kể tiếp:
"Một lát sau thì đến phiên chị Hoa. Chỉ cũng nói ba điều bốn chuyện rồi kể lại một bài mới đăng trên báo chợ, nói bên Việt Nam mình có nhà để thùng bánh mì trước cửa để bố thí cho người nghèo. Vậy mà cũng có người đến lấy một lần cả chục ổ! Nghe vậy, em mới bàn rằng, biết đâu người ta lấy bánh mì dùm mấy cụ già yếu, ở một mình, đi đứng khó khăn. Chỉ không thông cảm mà cười khì, nói rằng bên Mỹ này cũng vậy, có người dư ăn dư mặc mà cũng đến mấy cơ quan từ thiện lấy thức ăn..."

Nghe bà xã mình kể đến đó, ông An mới đoán ra lý do bà ngồi trầm ngâm bên tách trà. Ông mỉm cười, bóp nhẹ vai bà, an ủi:
"Thôi, đời mà em, mình nghĩ xa xôi chi cho mệt. Có thể mấy chị bạn của em care nên họ share..."
"Em chỉ buồn một chút thôi. Nghĩ xa xôi thì cũng có, hôm nay lễ Tro làm em nghĩ đến mọi sự hơn thua trên đời này rồi cũng qua đi, nhưng em nghĩ đến bà Johnson nhiều hơn. Đến xin có một ổ bánh mì mà bà không quên mang theo vài món để cho lại. Thấy mà thương!"

đàoanhdũng
Minnesota
Ra giêng 2016

*Thứ tư, ngày đầu mùa chay của Thiên Chúa Giáo (giáo hội Công Giáo và một số giáo hội Tin Lành). Ngoài các nghi thức, kinh nguyện về sự thống hối, giáo hữu được nhắc nhở rằng "mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro".