Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

*Triết Lý "Ông Già Ba Tri" - Đào Anh Dũng

Triết Lý “Ông Già Ba Tri”                            
 đào anh dũng                                

Tạp chí Thư Quán Bản Thảo
Số 69, tháng 4/2016


  Hồi mới đến Mỹ tôi là nhân viên gói hàng ở siêu thị Red Owl, thường gặp một bác người Á Đông nên hỏi thăm làm quen. May thay, bác là người Việt Nam, thứ ba, tên là Ký, gốc miền Nam, tuổi đã trạc ngoài 70 mà vẫn còn đi làm. Mấy ngày chẵn trong tuần bác phụ trách công vic quét dọn ở tiệm cho mướn máy giặt, máy sấy quần áo nằm kế bên siêu thị. Bác nói, “Già rồi, đi làm lượm bạc cắc, lai rai ba si cho vui vậy mà!

   Nhà bác ba Ký ở gần đó nên tôi thường ghé thăm, hầu chuyện cùng bác mỗi khi rnh rỗi. Vì vậy mà nhiều bạn đồng hương đồn rằng tôi cua cô Lệ, con gái áp út của bác. Họ đâu biết trước khi tôi vượt biên ba má tôi đã đi hỏi vợ cho tôi rồi (hiện giờ nàng là bà xã của tôi) và cũng không ai biết tôi ... ‘ghiền’ bác ba. Cái kiểu, cái giọng nói ‘ông già Ba Tri’ của bác làm tôi nhớ ba tôi vô cùng. Ba tôi cũng ăn nói y chang như bác  vậy.

   Hai bác khá đông con, cả thảy năm người. Đại gia đình nhà bác, tất ccon cái, dâu, rể, cháu nội, cháu ngoại di tản vào cuối tháng tư năm 1975 nhờ người con cả của bác làm hạm trưởng Hải Quân. Các anh chcon của hai bác rất tử tế, thấy tôi cu ki một mình nên thương, coi như em cháu trong nhà.

   Như đa số mấy ‘ông già Ba Tri’ tôi đã gặp, bác ba Ký xưng hô ‘mầy, tao’ với tôi và ưa đệm tiếng ‘Đan Mạch’ trong câu nói khi bác bất bình chuyện gì đó, nhưng bác nói trại thành ‘đu họ’ nghe không chút thô tục mà mộc mạc, thân tình. Lần nào tôi kể cho bác nghe những chuyện dở khóc dở cười ở quê nhà trong thời ‘bao cấp’, bác cũng buột miệng than, một cách tự nhiên, “Đu họ! ‘Cách miệng’ chứ cách mạng gì mậy! Mầy thấy đó, chng qua là vì cái lỗ miệng mà thôi!”  Bàn về người Mỹ, bác nói, “Chuyện họ bỏ rơi mình, tao thấy trước tiên mình phải tự đấm ngực nói ‘lỗi tại tôi mọi đàng’ mới phải, chớ đừng có trách họ. Nhưng, nói đi rồi nói lại, tao nghĩ họ cũng bạc lắm mầy à. Mầy thấy đó, họ dùng toàn là a giấy, còn muỗng nĩa thì bằng cao-su! Ăn xong quăng thùng rác, y ht như  gà ăn rồi quẹt mỏ!” Đó là những ‘triết lý’ tôi học được của bác, còn một ‘triết lý’ nữa thì tôi ‘chạy’ bác luôn. Xin kể như sau:

   Trưa thứ bảy ấy, khi tôi ghé nhà thăm hai bác, các anh chị, ngoại trừ vợ chồng người con trai út, đang ngồi trò chuyện ở bàn ăn. Sau câu thăm hỏi thường tình với tôi, câu chuyện của các anh chị trở về người em trai này. Từ ngày cưới vợ, anh này ít khi vnhà thăm cha mẹ, viện cớ bận công ăn việc làm và việc nhà. Người thông cảm nói, “Thôi, nó mới cưới vợ mà!” Kẻ đay nghiến, “Có vợ thì có chứ, cuối tuần ghé thăm ba má một chút cũng không được sao?” Đến khi một ông anh chỉ trích, “Ối, cái thằng làm mọi vợ!” thì bác trai mới lên tiếng:
   “Mầy là đàn ông có vợ, mầy có ngủ với vợ mầy không mà mầy trách thằng em mầy làm mọi vợ?
   Nghe bác rầy như vậy, cả nhà im lặng. Không khí ngột ngạt làm tôi thấy thiệt khó xử nhưng không lẽ tôi đứng dậy, bước ra phòng ngoài. Cũng may, chị con dâu lớn của bác buột miệng nói, “Chiều nay mình làm bánh xèo ăn hén? Để tui đi lo quậy bột.” Rồi mọi người đứng lên, lao xao:
   “Để em đi lấy thịt trong tủ lạnh.
   “Còn tao đi mua két bia.
   “Ai phụ tui lặt rau nè!
   Thấy tôi còn đứng xớ rớ, bác ba gái nói, “Ở lại ăn cơm nhen con.” Còn bác trai cười khì, nói với tôi, “Cưới vợ rồi mới biết nhen my!
   Khi ấy tôi còn là trai tơ, gương mặt tôi chc lộ vẻ ngớ ngẩn lắm vì chưa hiểu ‘triết lý’ này nên bác lặp lại câu nói, “Cưới vợ rồi mới biết.”

   Năm năm sau, tôi vô quốc tịch Mỹ rồi bảo lãnh vợ tôi sang. Hôm tôi đưa nàng đến ra mắt hai bác ba và c anh chị, bác trai cười, nheo mắt hỏi tôi, “Biết chưa mậy?” làm vợ tôi thắc mắc. Tối hôm ấy, hai vợ chồng vừa lên giường nàng hỏi tôi ngay, “Bác trai vui tánh quá, hả anh? Nhưng bác hỏi anh biết chưa là biết cái gì vậy?” Tôi mỉm cười, tỏ vẻ bí mật làm nàng hỏi riết. Khi ấy, tôi mới kể lại câu chuyện làm mọi vợ cho nàng nghe rồi choàng vai ôm nàng, thủ thỉ hỏi có muốn tôi làm mọi không. Nàng “hứ” một tiếng thiệt dài và nhéo bắp vế tôi một cái đau điếng nhưng sau đó nàng lại liếc mắt, âu yếm nhìn tôi và nũng nịu nói vào tai, “Ừa, cho làm mọi đó!


đào anh dũng




Thơ Xướng- Họa / Bài xướng: Ngắm Sao (Phương Hà) & Các bài họa của thi hữu Vườn Thơ Thẩn


    NGẮM SAO
Buổi ấy hai người ra ngắm sao
Thách nhau ai bắt được xem nào !
Kẻ nhìn chăm chú khung trời thẳm
Người ngó say sưa dáng ngọt ngào
Em tiếc: một ngôi rơi xuống nước
Và thêm ngôi nữa lọt ngang rào
Anh cười tóm gọn đôi sao lạc
Là mắt em đang ánh gọi chào !

                      Phương Hà

HỌA VẬN :
     
  
 NGẮM SAO... THƯƠNG CÁ

Xưa nhớ cùng người ngắm ánh sao,
Biển xanh lắp loáng tự khi nào!
Trời sao ngày cũ còn lay láy,
Biển chết giờ đây luống nghẹn ngào!
Chỉ tiếc cá tôm đà biệt tích,
Còn thương sóng biển vẫn rì rào!
Sao trời xác cá cùng loang loáng,
Xác cá sình trương, biển khóc chào!!!

              Đỗ Chiêu Đức


BUỒN CHO NGƯ PHỦ 

Biển cả ghe mành sóng cuốn sao !
Thôn trang bè bạn lưới, thân nào !
Ngày xưa ngư phủ lòng hăng hái,
Hiện tại thuyền chài khổ nghẹn ngào !
Ô nhiễm môi trường, ôi ! Cá chết,
Ruồi bu kiến đậu, gió rì rào !
Bà con thất nghiệp qua nơi khác,
Bỏ xứ đi luôn, tạm biệt ...  Chào !

Mai Xuân Thanh
( Xin phép kính họa bài thơ : "Ngắm Sao" -  Phương Hà )
Ngày 28 tháng 05 năm 2016


  TIẾNG SÉT ÁI TÌNH

Nam thanh nữ tú đứng nhìn sao,
Đối diện đẹp đôi chẳng khác nào.
Thăm thẳm trời cao mơ hạnh phúc,
Mênh mông biển rộng ước khoai ngào !
Lương duyên kiếp trước nay nồng ấm,
Số phận ta phơi áo giậu rào !
Cửa sổ tâm hồn qua ánh mắt,
Yêu ai, tiếng sét ái tình.... Chào !

Mai Xuân Thanh 
Kính họa bài thơ "Ngắm Sao" - Phương Hà
Ngày 28 tháng 05 năm 2016




 ĐÊM TRÙNG DƯƠNG

Vượt biên đêm ấy dưới ngàn sao ,
Biển cả mênh mông nhớ thuở nào.
Bắc Đẩu trời khuya trông lấp lánh,
Trùng dương nước lạnh thấy đen ngào .
Máy hư sóng dập thuyền chao đảo,
Buồm rách bão lên gió rạt rào.
Đói khát năm ngày bao thử thách,
Đất liền một sáng vẫy tay chào .

            Mailoc

         Cali 5-29-16




Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016

Quá Khứ Còn Đâu - Vkp.Phượng Tím




QUÁ KHỨ CÒN ĐÂU 
    vkp phượng tím

(Xin phép được cảm đề bài “Quá Khứ Không Quay Lại”
 của nvs.Vũ Thụy)

Ngược dòng nhật ký đã ghi
Ngày xưa hai đứa thầm thì bên nhau
Cùng thề nguyện dưới trăng sao
Chẳng may duyên nợ cách cầu sông Ngân
Thì đành mỗi năm một lần
Nhờ quạ Ô Thước... được ngần ấy thôi!
Cũng đủ hạnh phúc cả đời
Dẫu xa biền biệt rạng ngời tình thơ
Đại dương ngăn cách đôi bờ
Đại bàng gảy cánh dật dờ trời Tây!
Thế mà vẫn cứ đắp xây
Lầu yêu vọng nguyệt chờ ngày có nhau




Hai nửa vầng trăng ghép vào
Một lần gặp lại lệ trào quanh mi
Phần thưởng cuối đời còn gì?
Tình xưa nhạt nhẽo tình si bẽ bàng
Hiện tại lâm cảnh trái ngang
Thân côi dáng nhỏ miên man khổ sầu

 Quá khứ qua mất còn đâu!!!

        Saigon 4/6/2016
        Vkp phượng tím






Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Quá Khứ Không Quay Lại - nvs.Vũ Thụy

   

QUÁ KHỨ KHÔNG QUAY LẠI

Dĩ vãng không thể trở về
Sao tình vẫn đợi tóc thề ngày xưa
Nghiêng vành nón lá che mưa
Ướt trinh áo trắng gió đưa thẹn thùng
Đường chiều dáng nhỏ run run
Giọt buồn đan kết mông lung tơ trời
Tiếng thương khó nói ra lời
Sợ tình chưa đủ dài hơi theo người
Đừng làm héo úa môi tươi
Ra sao cũng giữ nụ cười nịch nhân
Lời tình gói trọn ân cần
Xin đừng hờn dỗi thêm lần ăn năn
Thật ra tình cũng băn khoăn
Thời gian ghi đậm vết hằn trên da
Cuối đời nhớ chuyện đã qua
Làm sao có lại tuổi hoa mất rồi
Cũng đành nuối tiếc mà thôi
Kiếp sau nếu có rũ tôi cùng về
Trải dài tâm sự đam mê
Thế nhân ai có khen chê bằng thừa

                          nvs.Vũ Thụy
                      (TX.01-06-2016)




Một Hồm Bỗng Nhận Ra Mình - Trầm Vân



Một Hôm Bỗng Nhận Ra Mình

Ngước nhìn về phía lầu cao
Xe hơi láng coo'ng chạy vào chạy ra
Ấy là phúc của người ta
Có khi là của gian tà biết đâu

Cuộc đời phước họa chen nhau
Có khi giàu sụ bỗng sầu trắng tay
Như dòng sông chảy tràn đầy
Bỗng đâu hạn hán trơ gầy mặt sông

Vô thường sắc sắc không không
Thì ta cứ chọn thong dong nẻo đời
Chẳng bon chen héo nụ cười
Khiêm cung rộng lượng niềm vui bắc cầu

Ấy là ta thực sự giàu
Ít tiền nhưng lại bền lâu nghĩa tình
Thoát ra khỏi nẻo vô minh
Một hôm bỗng nhận ra mình vui hơn

         Trầm Vân

Bán Tình Yêu Giữa Chợ Đời - Thuyên Huy


Bán Tình Yêu Giữa Chợ Đời

Tôi bán tình tôi giữa chợ đời
Khách qua kẻ lại hỏi làm vui
Mối tình của những lần hò hẹn
Chờ ở cuối đường chỉ có tôi

Người lạ hỏi mua đoạn cuối cùng
Hôm em khăn áo bước sang sông
Cũng con đò cũ ngày xưa đó
Sóng xót xa đưa xác pháo hồng

Tôi đứng lẻ loi giữa nắng chiều
Chợ thưa phố xá chạnh buồn theo
Nghiêng vành nón lá che bóng ngã
Người cũng một đời hiu quạnh hiu

Tôi xếp tình đau chôn đáy sầu
Để đêm thôi còn những đêm thâu
Thương ai người giấu dòng lệ nghẹn
Muộn màng mình vừa chợt biết nhau

Chấp tay làm dấu tạ ơn người
Cho tôi còn được thoáng đời vui
Chút tình riêng mình người giữ lại
Giữ để mai kia khỏi ngậm ngùi

Lặng lẽ người đi chợ đã tàn
Hồn đau nặng trĩu chít khăn tang
Đêm nay cuối góc vườn năm cũ
Tôi tiễn tình tôi xuống mộ hoang

Thuyên Huy
Ngày mưa dầm chờ đò qua Lake Boga tháng năm 2015






Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Nan Giải - Hoàng Đằng


                   Nan Giải                               
  Truyện ngắn của Hoàng Đằng       
   
Tháng 2, tháng 3 Âm Lịch ở vùng này là mùa “được biển”, dù biển đã ít cá so với ngày xưa.
Lý do cá ít đi, dễ hiểu thôi! Người càng đông lên thì lượng tiêu thụ cá càng nhiều; ngư cụ tối tân đi qua chỗ nào vét hết cá cả lớn lẫn bé từng mẻ lớn ở chỗ đó; lại thêm, một số ngư dân thiếu ý thức đánh bắt bằng những phương tiện hủy diệt – đánh mìn, sử dụng chất nổ; chưa nói đến sự sinh sản của cá bị hạn chế do nước biển ô nhiễm càng ngày càng nặng mà con người gây ra trong quá trình công nghiệp hóa.
Tuy nhiên, biển vẫn là nguồn sống quan trọng đối với con người, đặc biệt đối với ngư dân; “đi khơi” hay “đi lộng”, tàu thuyền mỗi lần vào bến là có cá, tôm, mực… nghĩa là là ngư dân có thu nhập, mà có thu nhập thì có tiêu pha. Vào mùa “trời yên, biển lặng”, ở vùng ven biển, hoạt động kinh tế rất mạnh: đánh bắt, buôn bán, chế biến hải sản, dịch vụ du lịch …

Mùa “được biển” nào, mụ Tài cũng kiếm được nhiều tiền để chi tiêu việc gia đình cả năm. Năm nay, mụ cố gắng đạt mức thu nhập trội hơn mấy năm trước  mong trang trải đủ những chi tiêu dồn từ năm ngoái qua.
 Năm ngoái, mụ đã cho sơn quét lại nhà cửa, mua sắm thêm một ít đồ đạc bày biện trong nhà tổ chức lễ cưới cho đứa con gái. Mụ nói: “Quen sợ dạ, lạ sợ bề ngoài”; nhà cửa phải khang trang, phía thông nghị mới khỏi xem thường.
Đầu năm nay, đứa con gái sinh cháu ngoại; mụ xin bên thông gia đem về nuôi sinh. Việc ấy là trách nhiệm của mọi bà mẹ, mụ Tài phải làm tròn, một phần vì thương con, một phần vì tập tục: “Con so nhà mạ, con rạ nhà chồng”. Dầu vậy, mụ không đích thân làm được mọi chuyện; cả ngày bận chạy chợ, lo buôn lo bán, mụ phải thuê một phụ nữ già dặn tới xông phây, giặt giũ, chăm sóc con gái và cháu ngoại; mỗi tháng mụ phải trả tiền lương cho người phụ nữ ấy, số tiền không phải nhỏ. Con gái người ta lấy chồng gần, mẹ đẻ chỉ nuôi sinh 3 tháng 10 ngày – thời gian cần cho sản phụ sinh con đầu lòng cứng chân cứng tay hết phong long để về với chồng, con gái mụ lấy chồng xa, thành thử mụ có ý định nuôi đủ 4 tháng. 
Việc chi tiêu cứ ba dồn bốn dập; cách đây hơn tháng, chồng mụ cảm thấy mệt trong ngực, khó thở, chóng mặt, mụ phải xây chạy một số tiền khá lớn để chồng vào Sài Gòn, trước là chữa bệnh, sau thăm một số bà con ở đó luôn thể.
Mụ một mình xoay xở trong mấy tháng này làm sao có thu nhập khá, hy vọng lấp bằng các hố chi tiêu trên. Khổ nỗi, “mưu sự tại nhân” mà “thành sự tại thiên”.

Mụ Tài vốn không phải là dân miền biển; mụ sinh ra và lớn lên từ một gia đình nông nghiệp ở một làng quê biển cách 20 cây số.

25 năm trước, o con gái mới lớn tên Tài, ngày ngày xuống ruộng lên cồn tập trồng trọt, thu hoạch nông sản với bố mẹ. Cạnh làng, có một đồn “quân đội nhân dân Việt Nam”; ở đó, một anh lính độc thân đang thi hành nghĩa vụ quân sự; o và anh quen nhau. Rồi đồng đội của anh khuyến khích, cha mẹ hai bên gặp nhau, đồng ý; o và anh xây dựng hôn nhân, nên vợ thành chồng.

Ngày đưa o Tài về nhà chồng, đoàn đưa dâu qua nhiều làng mạc rợp bóng tre xanh nằm rải rác giữa những cánh đồng lúa non mơn mởn đang thì con gái, rồi trèo lên những đôộng cát trải dài ven biển. Làng chồng  o ở đó; mấy xóm nhà tôn nằm phơi giữa nắng, không một bóng cây, chỉ cát và cát; trời đang trưa, nắng lòa cả  mắt; may là thỉnh thoảng có những luồng gió từ biển thổi vào mang theo hơi mát át bớt hơi nóng!
Trong đoàn đưa dâu, quên để ý đến chuyện nhà trai có thể nghe rồi không vui, một bà dì buột miệng:
- Con Tài nhà miềng ra lấy dôông đây, biết mần chi mà ăn hè! Đi biển chưa quen, đất đai trồng trọt không có, khổ rồi, khổ rồi! Tài ơi!
Có người còn ngâm nga câu ca dao, nửa trêu chọc, nửa giúp vui:
Mẹ già muốn ăn cá thu
Gả con về biển biệt mù tăm hơi.
O Tài nghe mà ngao ngán, buồn lắm! Khi chú bác cô dì trong đoàn đưa dâu tạm biệt ra về, o Tài chảy hai hàng nước mắt ròng ròng, phấn son trang điểm trên mặt loang ra, nhòe nhoẹt. Một ông chú cầm tay o Tài an ủi, vỗ về:
- Cực hay sướng, giàu hay nghèo là do số Trời định, cháu ạ! Cháu cứ hy vọng ở tương lai, hơn nữa: “Lấy chồng thì phải theo chồng; chồng vô hang rắn hang rồng phải vô”; không ai cưỡng luật ấy được …

Mấy ngày sau, o Tài được chồng dắt dạo một vòng quanh vùng. Đến bến thuyền đánh cá trở về, o Tài thấy giá cá ở đây và giá ở chợ quê o có mức chênh lệch đáng kể, o nảy ra ý định làm nghề buôn cá. Với nghề này, o hy vọng có thu nhập đều đặn và có dịp gặp lại bố mẹ, anh chị em ruột của mình thường xuyên vì o vô, ra chợ hàng ngày; đâu đến nỗi “lấy chồng miền biển biệt mù tăm hơi” như người ta nói! .
Mỗi sáng, o dậy sớm, ra bến đón tàu thuyền vào, mua cá, gánh lên đường quốc lộ cách đó khoảng 3 cây số, đón xe vào chợ bán lại. Ban đầu, o buôn số lượng cá ít, càng về sau số lượng càng nhiều.
Từ một nông dân, o trở thành người buôn cá chuyến.
Khi còn là nông dân tập sự, o thấy chung quanh mình nông vụ xong, người ta nghỉ ngơi thoải mái, không bận tâm gì; ai cũng đinh ninh rằng cái ăn, cái tiêu sẽ có  thu hoạch mùa vụ lo. Giờ đã là thương nhân – dù chỉ là tiểu thương, o luôn đặt mình trong tình trạng bận rộn. Tay tiếp xúc nhiều với tiền bạc, óc nhiễm dần thói ham tiền; tiền vào rồi vẫn muốn tiền vào nữa, không biết mấy cho vừa. Cái muốn của o không đáy; hèn chi người xưa có câu: “Phi thương bất phú” (Không buôn thì không giàu), đúng quá đi thôi!
Nông dân dễ tự mãn, dễ bằng lòng với số phận, “tri túc tiện túc”, còn thương nhân không biết tự mãn, đồng tiền hối thúc họ mãi tiến bước. 
O thấy rằng nếu chỉ buôn cá chuyến đi, còn chuyến về quang gánh để không, uổng quá - uổng công, uổng tiền xe và uổng thời gian. O nảy ra sáng kiến: đi chuyến vào là tôm cá mực, đi chuyến ra là hàng tạp hóa; o sẽ tranh thủ chiều tối bán lẻ các nhu yếu phẩm cho dân làng, kiếm thêm thu nhập. O biến sáng kiến ấy thành hiện thực ngay; o làm việc quần quật không những cả ngày, mà còn thâm qua đêm; mỗi lần có dịp nghĩ đến câu nói của bà dì: “Cháu Tài sợ không biết mần chi mà ăn!”, o, mỉm cười thầm, vẻ tự đắc. Người đời hay nói: “Cái khó bó cái khôn”, trường hợp o Tài thì khác: “Cái khó ló cái khôn”.

Xong nghĩa vụ quân sự, chồng o ra quân. Buổi đầu, “đi bạn” theo tàu đánh bắt xa bờ của một người bà con. Mỗi chuyến đi kéo dài nhiều ngày; vợ chồng ít dịp gần nhau, chồng đi xa, vợ lo lắng, không an tâm.
Dạo này, bão tố bất ngờ do khí hậu thay đổi; lại thêm, tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên xâm lấn vùng đặc quyền kinh tế của nước ta; tàu đánh cá xa bờ của dân ta, dù chỉ hoạt động trong ngư trường truyền thống, vẫn bị tàu thuyền Trung Quốc ức hiếp: khi thì tịch thu sản phẩm, khi thì cắt phá ngư cụ, khi thì đâm chìm tàu, khi thì đánh đập, thậm chí bắn giết ngư dân.

Nghĩ chồng “đi bạn” không ổn, o Tài sắm một chiếc xe máy. Chồng o không đi biển nữa; hàng ngày, chồng “lai” vợ trên chiếc mô tô, sáng mấy pa-ni-e hải sản vào chợ, chiều mấy thùng hàng tạp hóa về nhà. Theo truyền thông của Nhà Nước, mỗi ngư dân là một chiến sĩ giữ chủ quyền biển đảo, mỗi con tàu đánh bắt xa bờ là một cột mốc khẳng định biên giới quốc gia. Chồng o Tài lên bờ, thế là Nhà Nước mất đi một chiến sĩ. Cái chung thì mất nhưng cái riêng thì được; chồng bên vợ, vợ bên chồng, rồi chẳng bao lâu sau hai vợ chồng sinh được một con gái; có hạnh phúc nào hơn!

Hai ôông mụ nay đã cao tuổi. Năm ngoái, đứa con gái tốt nghiệp ngành ngân hàng, ra trường kiếm được việc làm, lấy chồng là viên chức nhà nước. Đời họ như thế đang “thuận buồm xuôi gió”. Nhưng ở đời, ai biết được “chữ ngờ”, đời là bất trắc, vô thường, khiến ôông mụ hiện tại lâm vào tình thế nan giải.



Đầu tháng 4 năm nay (2016), từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, cá chết hàng loạt trôi dạt trắng bờ. TV nói cá chết vì nhiễm độc chất trong nước biển; độc chất do ai thải ra thì Nhà Nước đang tìm, chưa “nắm được tay, vày được cánh” thủ phạm.
Hôm trước, ông chồng nằm bệnh viện từ Sài Gòn điện thoại ra nói với mụ dư luận trong ấy bàn tán thủ phạm chính là nhà máy Phóc-mô-xa phóc-mô-xiếc gì đó ngoài Vũng Áng, Hà Tĩnh. Nghe vậy, mụ rùng mình, vừa mắng vừa giải bày với ông:
- Ba mi đừng nghe dư luận rồi nói lại với người này người khác mà nguy cho bản thân và gia đình chừ! Nhà Nước nói chưa có chứng cớ gì để kết luận việc xả thải của Phóc-mô-xa có liên hệ với cá chết. Phải tin theo Nhà Nước! Ba mi có nghe ai nói chi khác thì nghe mô bỏ đó; đừng nói chuyền mà bị quy tội tuyên truyền chống phá Nhà Nước. Họ chỉ cần giữ ba mi một ngày là tui phải bới cơm, khổ rồi. Mà ba mi coi, việc nhà mình giai đoạn này đang búi xờm xờm. Mệ nằm một chỗ đầu giường kìa! Cái chị tới giúp nuôi con sinh cháu hôm qua bỏ về rồi, chỉ vì chị mượn tiền trước mà tui chưa có sẵn; ba mi thì ở xa, một mình tui cáng đáng cả trăm thứ việc mà trong lưng không còn một xu; chưa có khi mô mà cực như chừ! Ba mi nhớ những điều tui nói mà giữ thân nghen!


Gần một tháng rồi, cả cộng đồng ở đây có vẻ như ngưng sinh hoạt. Nghe cá nhiễm độc, người ta không ăn cá; không ăn thì người ta không mua; tàu thuyền nằm bến vì ra khơi đánh bắt, sản phẩm về không biết bán cho ai; không lao động, không thu nhập; không thu nhập thì không chi tiêu.
Hôm qua, hôm kia, nghe Nhà Nước có chủ trương cứu trợ gạo cho ngư dân và thu mua sản phẩm của các tàu đánh bắt xa bờ về bến. Gia đình mụ Tài không phải là ngư dân, nên mụ chắc chắn không được trợ cấp; Nhà Nước có thu mua tôm cá, gia đình mụ vẫn không hưởng lợi được gì vì gia đình mụ không đi đánh bắt xa bờ, Hồi tối, mụ nằm nghĩ miên man rồi nảy ra ý định, thôi thì đem gia đình vào quê mụ định cư, buôn thúng bán mẹt gì đó sống qua ngày, chờ chết là hết đời. Tuy nhiên, lập lại cơ ngơi khác đâu phải là chuyện dễ! Quê mụ đang trên đà đô thị hóa; đồng ruộng đang san lấp để phân lô bán cho ai có nhu cầu xây dựng nhà cửa, mỗi lô diện tích khoảng 100 m2 có giá trên dưới 500 triệu đồng, rồi còn thêm chi phí làm nhà, tốn cả tỉ bạc, mụ mần răng có được! Tiền bạc đã khó, thái độ của bà mẹ chồng còn khó hơn. Mới thoáng nghe mụ Tài tâm tình kế hoạch với con gái đang ấp cháu đầu này nhà, bà mẹ chồng gần 100 tuổi nằm giường đầu kia nhà, thều thào tiếng được tiếng mất:
- Tau sống ở đây với làng xóm tau thôi, đừng đem tau đi mô mà chết đường chết sá. Tau sống ở đây để chết thì chôn bên cạnh mộ bọ bây thôi.
Mụ Tài thở dài, vật mình xuống giường; bên ngoài, màn tối đã buông xuống. Mụ nhắm mắt lại, nhưng giấc ngủ không thể nào đến được. Những đợt sóng từ ngoài biển khơi dội vào bờ tạo ra âm thanh “ầm”, “ầm”, “ào, “ào” đập vào tai mụ. Tiếng ầm ào như tiếng đấng Siêu Nhiên xô sập một cái gì đó vĩ đại lắm.
Đang trong tâm trạng bồn chồn, mụ suy diễn đó là âm vang sụp đổ cuộc sống của người dân biển!

03/5/2016 (27/3/Bính Thân)