Thứ Ba, 1 tháng 2, 2022

Góc Việt Thi : Thơ Xuân của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Việt Thi: 

         Thơ Xuân của Trạng Trình 
            Nguyễn Bỉnh Khiêm
                             
                          

          NGUYỄN BỈNH KHIÊM 阮 秉 謙 (1491-1585) huý là Văn Đạt 文 達, tự Hanh Phủ 亨 甫, hiệu Bạch Vân cư sĩ 白 雲居 士, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Ông xuất thân từ một gia đình trí thức Nho học, cha là Nguyễn Văn Định có văn tài; mẹ là Nhữ Thị Thục, con thượng thư Nhữ Văn Lan, thông tuệ, giỏi văn chương, am tường lý số. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã được mẹ đem thơ quốc âm và kinh truyện ra dạy. Lớn lên, vào Thanh Hoá, theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng, được thầy truyền thụ môn học Dịch lý và sách Thái Ất Thần Kinh. Tuy học giỏi, nhưng lớn lên vào lúc xã hội loạn lạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn chí, đợi thời, không chịu ra thi. Mãi sau này, Mạc thay Lê, tình hình xã hội ổn định, ông mới ra ứng thí, đậu Trạng Nguyên (1535), rồi làm quan với nhà Mạc, bấy giờ ông đã 45 tuổi. 
     Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập 白 雲 國 語 詩 集, Bạch Vân Am Thi Tập 白 雲 庵 詩 集 và một số bài văn chữ Hán. Sau đây là những bài thơ làm trong những ngày Tết của ông:

1. Bài thơ NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI:                  
  
   元 旦 述 懷               NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

今我行年六十支,      Kim ngã hành niên lục thập chi,
老來卻與病相期。      Lão lai khước dữ bệnh tương kỳ.
惜春強勸數杯酒,      Tích xuân cưởng khuyến sổ bôi tửu,
憂國休言兩鬢絲。      Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ty.
織紝不勤嗟懶婦,      Chức nhẫm bất cần ta lãn phụ,
家庭無教笑癡兒。      Gia đình vô giáo tiếu si nhi.
閒中聊寓閒中趣,      Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,
豈為逢人說浪詩。      Khởi vị phùng nhân thuyết lãng thi.
        阮 秉 謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

      
                  
    
* Chú Thích :
    - Thuật Hoài 述 懷 : Tỏ bày hoài bão; Kể lể nỗi niềm tâm sự.
    - Chi 支 : là Thập Nhị Địa Chi 十 二 地 支, mỗi CHI là một Con Giáp, tượng trưng cho một năm, nên LỤC THẬP CHI 六 十 支 là Sáu mươi tuổi.
    - Tương Kỳ 相 期 : là Cùng nhau hẹn ước; là Hẹn hò với nhau.
    - Cưỡng Khuyến 強 勸 : là Miễn cưỡng khuyên nhau...
    - Hưu Ngôn 休 言 : Đừng bao giờ nói; Đừng bảo là...
    - Chức Nhâm 織 紝 : là Canh cửi, là dệt vải. Chữ NHÂM ở đây được đọc là NHẪM cho ăn với luật Bằng Trắc để nghe cho êm tai.
    - Lãn Phụ 懶 婦 : là người đàn bà lười biếng; là Người vợ lười.
    - Si Nhi 癡 兒 : là Con ngu dại, si ngốc.
    - Liêu Ngụ 聊 寓 : Ngụ ý là...; Cứ cho là...
    - Thuyết Lãng Thi 說 浪 詩 : Lạm bàn lan man về thơ ca.

* Nghĩa Bài Thơ :
               TẾT NGUYÊN ĐÁN KỂ LỂ NỖI LÒNG
        Tết nay thì ta cũng đã được sáu mươi tuổi rồi; Càng già lại càng như là có ước hẹn với bệnh tật vậy. Tiếc xuân nên miễn cưỡng mời nhau vài ly rượu. Lo cho nước thì chớ bảo là hai mái tóc mai đã bạc như tơ cả rồi. Canh cưởi không siêng năng thì than là con vợ biếng nhác; Gia đình không dạy dỗ thì sợ người ta cười con mình ngu ngốc. Trong lúc nhàn nhã thì cứ cho là hưởng thú nhàn nhã đi, sao lại phải nói chuyện lan man về thơ ca khi gặp người nầy người nọ.
        Than già than bệnh, nhưng uống rượu vui chơi với nhau lúc xuân về thì miễn cưỡng vẫn còn được, còn nói đến lo cho nước thì chớ có thoái thác là tóc đã bạc người đã già. Cũng như con vợ không siêng năng dệt cửi là tại ta thiếu quan tâm đôn đốc; gia đình không giáo dục thì con cái ngu dốt sẽ bị người cười chê. Tề gia không tốt lại đi đổ thừa cho vợ lười biếng, con ngu si. Trong khi chỉ thích hưởng thụ nhàn tản để nói ba điều bốn chuyện về những thơ ca lan man không đâu với những người gặp gỡ vô tích sự. Không biết là cụ Trạng đã mượn chuyện của mình để nhắc nhở người khác hay là cụ đang ám chỉ ai đây trong cái xã hội khá rối ren bát nháo, vàng thao lẫn lộn của lúc bấy giờ: Vừa Mạc vừa Lê vừa Trịnh vừa Nguyễn...

* Diễn Nôm :
                     NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI
                
                    
                    

                   Đến Tết ta đà sáu chục rồi,
                   Càng già bệnh tật lại theo đuôi.
                   Tiếc xuân miễn cưởng vài chung rượu,
                   Lo nước chớ màng tóc bạc vôi,
                   Canh cửi không siêng bà vợ biếng,
                   Ngu si thiếu dạy lũ con tồi.
                   Muốn nhàn thì cứ vui nhàn tản,
                   Sao phải vì ai lãng phí lời !
     Lục bát :
                   Nay ta sáu chục tuổi rồi,
                   Càng già bệnh tật như mời theo đuôi.
                   Tiếc xuân vài chén uống vùi,
                   Nước không lo nổi rối nùi tóc mai.
                   Vợ lười canh cửi tại ai,
                   Con ngu vì bởi vô tài dạy khuyên.
                   Nhàn thì hãy cứ nhàn liền,
                   Sao còn thơ thẩn huyên thuyên với người !

2. Bài thơ TRỪ TỊCH TỨC SỰ :

  除 夕 即 事                   TRỪ TỊCH TỨC SỰ
新歲才臨舊歲除,    Tân tuế tài lâm cựu tuế trừ,
老來笑我太庸疏。    Lão lai tiếu ngã thái dung sơ.
乾坤不盡煙花景,    Càn khôn bất tận yên hoa cảnh,
門館無私水竹居。    Môn quán vô tư thủy trúc cư.
兩度手層扶日轂,    Lưỡng độ thủ tằng phù nhựt cốc,
一封書肯上公車。    Nhất phong thư khẳng thượng công                                             xư (xa).
年年管得春光好,    Niên niên quản đắc xuân quang hảo,
知是天心獨厚余。    Tri thị thiên tâm độc hậu dư.
         阮 秉 謙                          Nguyễn Bỉnh Khiêm
       
                

* Chú Thích :
    - Tài Lâm 才 臨 : là Mới vừa đến.
    - Dung Sơ 庸 疏 :DUNG là Dung tục là tầm thường, SƠ là Thưa thớt, hời hợt, nên DUNG SƠ là Hời hợt tầm thường, vô tích sự, không làm được gì cả.
    - Càn Khôn 乾 坤 : là hai quẻ tượng trưng cho Trời và Đất trong Bát quái.
    - Yên Hoa Cảnh 煙 花 景 : Cảnh hoa nở rộ đẹp đẽ của mùa xuân.
    - Thủy Trúc Cư 水 竹 居 : Nhà ở trên bến nước có tre trúc hữu tình.
    - Nhựt Cốc 日 轂 : là Mặt trời, ở đây chỉ nhà vua, nên PHÙ NHỰT CỐC 扶 日 轂 là Phò trợ nhà vua.
    - Công Xa 公 車 : là Xe công, chỉ Xe của vua đi.
    - Quản Đắc 管 得 : là Quản lý được, có nghĩa là Nắm bắt được, là Hưởng được.
    - Độc Hậu Dư 獨 厚 余 : ĐỘC là Riêng lẻ, HẬU là Hậu đãi, DƯ là Ta; nên ĐỘC HẬU DƯ là Hậu đãi riêng với mình ta.

* Nghĩa bài Thơ :
               
                 Tức Sự đêm Giao Thừa
       Năm mới vừa đến thì năm cũ cũng đi qua; cười ta già đầu rồi mà còn hời hợt tầm thường vô tích sự. Cảnh hoa đẹp của mùa xuân trong đất trời thì vô cùng tận, và nơi ở nhàn nhã trước cửa có sông nước trúc tre cũng không chỉ dành riêng cho ai; Cũng đã hai lần từng phò vua giúp nước, nhưng một phong thư (kể công) cũng không chịu trình lên xe vua. (Chỉ cần) mỗi năm ta đều hưởng được những mùa xuân đẹp đẽ, thì biết là lòng trời còn hậu đãi ưu ái đến ta lắm rồi !

      Qủa là lòng của một lão thần trung nghĩa, không hám vinh hoa phú qúy; không màng danh lợi buộc ràng, chỉ muốn yên thân nhàn tản thưởng ngoạn sự đẹp đẽ ưu ái của đất trời của tiết xuân với hoa thơm cỏ đẹp khi mỗi độ xuân về. 
        
* Diễn Nôm :
                       TRỪ TỊCH TỨC SỰ
                    
                  

                   Năm mới đến đi lại một năm,
                   Cười ta già ngố lại vô tâm.
                   Đất trời cảnh trí hoa xuân thắm,
                   Nhà cửa ven sông tre trúc râm.
                   Hai lượt phò vua luôn dốc sức,
                   Một phong thư tấu mãi trầm ngâm.
                   Năm năm cứ được vui xuân đến,
                   Là phúc riêng trời kẻ hảo tâm.
      Lục bát :
                   Năm mới đến, năm cũ đi,
                   Cười ta ngớ ngẩn khác gì năm qua.
                   Đất trời xuân thắm bao la,
                   Bên sông tre trúc cửa nhà riêng ai.
                   Hai lần phò chúa ra tay,
                   Một phong thư lại ngại hoài chẳng dâng.
                   Năm năm vui hưởng sắc xuân,
                   Biết trời hậu đãi lão thần riêng ta.

3. Bài thơ XUÂN ĐÁN CẢM TÁC :

    春 旦 感 作               XUÂN ĐÁN CẢM TÁC

行年七十四年餘,    Hành niên thất thập tứ niên dư,
喜得投閒訪舊居。    Hỉ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư.
歲始旁觀新宇宙,    Tuế thủy bàng quan tân vũ trụ,
家貧唯富舊詩書。    Gia bần duy phú cựu thi thư.
秀花野竹三春好,    Tú hoa dã trúc tam xuân hảo,
淨月明窗一室虛。    Tịnh nguyệt minh song nhất thất hư.
誰是誰非休說著,    Thùy thị thùy phi hưu thuyết trước
老狂自笑太庸疏。    Lão cuồng tự tiếu thái dung sơ !
         阮 秉 謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

          
                       

* Chú Thích :
    - Đầu Nhàn 投 閒 : Vấn thân vào việc hưởng nhàn, như ĐẦU QUÂN 投 軍 là Gia nhập vào quân đội vậy. 
    - Phỏng 訪 : là Thăm viếng. PHỎNG CỰU CƯ 訪 舊 居 là Thăm lại chỗ ở cũ.
    - Tuế Thủy 歲 始 : Tuổi bắt đầu, có nghĩa là Đầu năm.
    - Tú Hoa Dã Trúc 秀 花 野 竹 : Hoa đẹp trúc hoang (chỉ tre mọc phóng túng).
    - Tịnh nguyệt Minh Song 淨 月 明 窗 : Trăng thì trong, cửa song thì sáng.
    - Lão Cuồng 老 狂 : Không phải là Ông già điên, mà là Ông già ngông nghênh.
    - Dung Sơ 庸 疏 : DUNG là Dung tục là tầm thường; SƠ là Hời hợt không ý tứ, nên DUNG SƠ là Hời hợt tầm thường.
 
* Nghĩa Bài Thơ :
                     CẢM TÁC NGÀY ĐẦU XUÂN
        Tuổi đời đã bảy mươi tư tuổi có thừa rồi, vui vì được về thăm lại chỗ ở cũ khi đã hưởng nhàn. Đầu năm cứ đứng một bên mà xem vũ trụ đổi mới; nhà nghèo chỉ giàu ở số sách thi thơ đã cũ mèm. Ba tháng mùa xuân thì vui với hoa đẹp và những khóm tre dại; Một căn phòng trống với trăng trong cửa sáng. Mặc ai phải ai trái xin đừng nói đến nữa, ta chỉ tự cười mình là lão già ngông nghênh tầm thường hời hợt và vô tích sự mà thôi!

* Diễn Nôm :
                      XUÂN ĐÁN CẢM TÁC
           
                  

                  Tuổi đà bảy chục lại thêm tư,
                  Mừng được nhàn thăm chốn cựu cư.
                  Năm mới vui còn xem vũ trụ,
                  Nhà nghèo giàu chỉ có thi thư.
                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân thắm,
                  Song sáng trăng thanh một thảo lư.
                  Phải trái ai người đừng nói đến,
                  Già ngông hời hợt tự cười trừ ! 
     Lục bát :
                  Tuổi già đã bảy mươi tư,
                  Vui nhàn thăm chốn cựu cư năm nào.
                  Đầu năm vũ trụ đổi màu,
                  Nhà nghèo sách cũ làm giàu quanh năm.
                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân,
                  Trăng thanh cửa sáng một phòng trống không.
                  Thị phi ai đó khôn phân,
                  Tự cười hời hợt già ngông vụng về.  
                                                      
4. Bài thơ XUÂN HÀN :

   春 寒                           XUÂN HÀN
十二韶光春一團,      Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,    
一天料峭送餘寒.      Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
輕陰借雨侵花易,      Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
殘雪因風墜柳難.      Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.
繡闥佳人低玉帳,      Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
香街醉客促金鞍.      Hương giai túy khách xúc kim an.
旋乾自有神功在,      Toàn kiền tự hữu thần công tại,   
已播陽和滿際蟠.      Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.
        阮 秉 謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

       
                 

* Chú Thích :
    - XUÂN HÀN 春 寒 : Cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Thiều Quang 韶 光 : là Cái khoảng thời gian đẹp đẽ.
    - Liệu Tiễu 料 峭 : là LIỆU TIỄU XUÂN HÀN 料 峭 春 寒  là thành ngữ dùng để hình dung cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Khinh Âm Tá Vũ 輕 陰 借 雨 : là Trời âm u nhẹ trong cơn mưa xuân.
    - Tàn Tuyết Nhân Phong 殘 雪 因 風 : là Gió cuốn những tàn dư của băng tuyết còn lại.
    - Tú Thát 繡 闥 : là Trong phòng thêu, tức là Khuê phòng của các cô gái.
    - Hương Giai 香 街 : là Đường phố thơm, ý chỉ những đường phố có nhiều người đẹp ở hay đường phố có nhiều kỹ viện.
    - Xúc 促 : là Thúc mạnh vào. KIM AN 金 鞍 : là Yên cương ngựa mạ vàng.
    - Toàn Kiền 旋 乾 : là Tuyền Càn Chuyển Khôn 旋 乾 轉 坤 là thành ngữ chỉ xoay chuyển từ Càn qua Khôn, từ Dương sang Âm và ngược lại; Nói chung là chỉ sự xoay vần của trời đất, vạn vật, mùa màng... hết đông rồi đến xuân...
    - Bá 播 : là Gieo hạt giống , là Truyền Bá, là Rải khắp.
    - Dương Hoà 陽 和 : là Khí dương xuân, chỉ khí trời ấm áp của mùa xuân.
    - Tế Bàn 際 蟠 : là Trời Đất, do sách Trang Tử có câu: "Thượng tế vu thiên, hạ bàn vu địa 上 際 于 天,下 蟠 于 地", nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ "Tế thiên bàn địa 際 天 蟠 地" như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ còn hai từ "tế bàn 際 蟠" nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu "tế thiên bàn địa".

* Nghĩa Bài Thơ :
               CÁI LẠNH CỦA BUỔI ĐẦU XUÂN
       Cái khoảng thời gian đẹp đẽ của 12 ngày đầu năm đã mở màn cho một vừng xuân sắc, Từng ngày một ta sẽ lần lượt đưa tiễn cái lạnh của buổi đầu xuân. Trời râm nhẹ với mưa xuân phơi phới sẽ ngấm vào hoa cỏ một cách dễ dàng, những làn gió đầu xuân còn rất lạnh khó mà thổi được những băng tuyết còn sót lại cho rơi xuống gốc liễu. Trong khuê phòng các giai nhân còn buông thấp rèm ngọc xuống vì trời còn lạnh, trên đường phố nơi có nhiều người đẹp các khách say cũng thúc vào yên cương mạ vàng để đi mau qua. Trời đất âm dương đã xoay chuyển một cách thần kỳ từ đông sang xuân, vá ánh dương xuân đã được gieo đầy khắp cả trên trời dưới đất. 
 
* Diễn Nôm :
                         XUÂN HÀN 
                   
                
                        

                 Mười hai xuân sắc đã vầy đoàn,
                 Cái lạnh lui dần tiết mới sang.
                 Phơi phới mưa xuân hoa ướm nhụy,
                 Rao rao gió nhẹ tuyết dần tan.
                 Khuê phòng người đẹp buông rèm ngọc,
                 Trên phố khách say thúc ngựa vàng.
                 Chuyển đổi thần công trời lẫn đất,
                 Ánh xuân chan chứa khắp nhân gian.
      Lục bát :
                 Mười hai ngày tiết xuân hàn,
                 Mỗi ngày cái lạnh lại càng bớt đi.
                 Mưa xuân dễ thấm hoa chi,
                 Gió xuân lay liễu tuyết thì chưa tan.
                 Phòng khuê người đẹp buông màn,
                 Trên đường khách hãy yên vàng thúc mau.
                 Càn khôn huyền diệu làm sao,
                 Ánh dương xuân đã phủ mau đất trời !
    
        Chúc cho mọi người, mọi nhà đều có được một mùa xân 

             NHƯ Ý, AN KHANG, THỊNH VƯỢNG !

        Hẹn bài viết tới !             
                                        杜 紹 德
                                   Đỗ Chiêu Đức 







Cọp Kìa (Thái Huy) & Thơ họa


                 

CỌP KÌA

Cọp kìa-đủng đỉnh tiến vô nhà

Hi vọng nhờ oai đuổi quỷ ma

Covid nhìn ông-lườm trốn biệt

Omi thấy nghỉ-nguýt lui xa

Cầu mong mọi sự đều suôn sẻ

Ước muốn trăm điều sẽ thuận hòa

Ai nấy mừng Xuân trong phấn khởi

Nhà nhà đón Tết rộn hoan ca.

Thái Huy

Jan/16/22

Thơ Họa:

       ĐÓN CỌP

Thay Trâu, Cọp đón rước muôn nhà

Dũng mãnh, oai hùm, sạch bóng ma

Dịch cúm Cô-vi, còn nhớ cũ

Khẩu trang y tế, cũng quên xa

Tay vui tay siết niềm viên mãn

Mắt sáng mắt trao ánh thái hòa

Mở cửa năm châu đời trẩy hội

Người người nhạc Tết ấm lòng ca.

Lý Đức Quỳnh 

    22/1/2022

  1.     CỌP ĐẾN

    Trâu lui, Cọp tới dựng xây nhà
    Khử bọn tham tàn tẩy ác ma
    Khuẩn Hán tan tành Cô.. chết tiệt
    Y Ngành chữa bệnh... Vít rời xa
    Xuân về mạnh giỏi đời yên tĩnh
    Mộng trỗi xanh tươi cảnh thái hoà
    Đất nước tự to ngời chính nghĩa
    Thôn làng nhạc trỗi khúc tình ca.

    Đức Hạnh
    23 01 2022


             CỌP ĐẾN
    
                              

Tết Cọp về khi muôn vạn nhà,
Trong cơn đại dịch dữ hơn ma !
Vợ chồng con cái đều ngăn cách,
Chú bác cô dì cũng tránh xa.
Thế giới vác-xin mong kháng phục,
Cộng đồng ngăn dịch ước an hòa.
Nhâm Dần chúa tể rừng xanh đến,
Nhân vượng dịch tiêu rộn tiếng ca !

                  Đỗ Chiêu Đức
               Tết Nhâm Dần 2022

       
                                  

HÙM ĐẾN XUÂN VUI

Nhìn Cọp khoan thai bước đến nhà
Chắc là diệt được lũ tà ma
Khi mà Covid lo lui biệt
Ắt hẳn Omi cũng trốn xa
Thế giới vui mừng sao kể xiết
Nhân gian hớn hở lại an hoà
Xuân nầy trăm họ đều chung hưởng
Tiếng pháo giao thừa rộn khúc ca

songquang 
20220123










Thứ Hai, 31 tháng 1, 2022

Góc Đường Thi: Thơ ĐÓN GIAO THỪA (Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Đường Thi:  

              Thơ ĐÓN GIAO THỪA
                        
                 
                            Nhâm Dần Thủ Tuế
 
1. Bài thơ ĐỖ VỊ TRẠCH THỦ TUẾ  杜 位 宅 守 歲 :     
       Năm Đường Thiên Bảo thứ mười (751), Đỗ Phủ đã 40 tuổi, đang ở trọ nhà của người em chú bác Đỗ Vị. Vị là Khảo Công Lang Trung, đang giữ chức Thứ Sử Hồ Châu là rể của Lý Lâm Phủ, Tể Tướng đương thời nên cuộc sống rất xa hoa. Đỗ Phủ làm bài thơ cảm khái nầy trong buổi tiệc của đêm giao thừa năm đó.

杜 位 宅 守 歲           ĐỖ VỊ TRẠCH THỦ TUẾ 

守 歲 阿 戎 家,       Thủ tuế A Nhung gia,
椒 盤 已 頌 花。       Tiêu bàn dĩ tụng hoa.
盍 簪 喧 櫪 馬,       Hạp trâm huyên lịch mã,
列 炬 散 林 鴉。       Liệt cự tán lâm nha.
四 十 明 朝 過,       Tứ thập minh triêu qúa,
飛 騰 暮 景 斜。       Phi đằng mộ cảnh tà,
誰 能 更 拘 束,       Thùy năng cánh câu thúc,
爛 醉 是 生 涯。       Lạn túy thị sinh nha.
           杜 甫                              Đỗ Phủ
      
                      

* Chú thích :
    - ĐỖ VỊ TRẠCH THỦ TUẾ 杜 位 宅 守 歲 : TRẠCH là Nhà; THỦ TUẾ là Đón Giao Thừa; nên ĐỖ VỊ TRẠCH THỦ TUẾ là Đón Giao thừa ở nhà của Đỗ Vị. ĐỖ VỊ 杜 位 là em chú bác của Đỗ Phủ và là Rể của Lý Lâm Phủ, Tể tướng đương triều.
    - A Nhung 阿 戎 : Cách gọi thân mật người anh em họ lúc bấy giờ.
    - Tiêu Bàn 椒 盤 : Cái mâm đựng hạt tiêu là một loại hương liệu lúc bấy giờ dùng để bỏ vào rượu uống trong ngày Tết, nên TIÊU BÀN có nghĩa là Tiệc rượu.
    - Tụng Hoa 頌 花 : Theo Tấn Thư 晉 書, Vợ của Lưu Trăn là Trần Thị ngày Tết làm bài Tụng Tiêu Hoa để chúc Tết cho cha mẹ chồng; nên TỤNG HOA có nghĩa là nói những lời chúc tết cho nhau.
    - Hạp Trâm 盍 簪 : Hào thứ tư trong quẻ DỰ của Kinh Dịch《易- 豫》四 爻:Vật nghi, bằng HẠP TRÂM 勿 疑 朋 盍 簪: Không nghi ngại gì nữa , là bạn bè hội họp. 
    - Lịch Mã 櫪 馬 : Máng cỏ của ngựa ăn, chỉ Chuồng ngựa.   
    - Liệt Cự 列 炬 : LIỆT là Bày ra; CỰ là đuốc; LIỆT CỰ là bày những ngọn đuốc ra trong sân cho sáng sủa. 
    - Lâm Nha 林 鴉 : Những con qụa ở trong rừng.
    - Phi Đằng 飛 騰 : là Bay vút lên không, chỉ thành đạt đắc chí.
    - Lạn Túy 爛 醉 : là Say khước, say mèm, say túy lúy.

* Nghĩa bài thơ :
                     ĐÓN GIAO THỪA Ở NHÀ ĐỖ VỊ
      Ta đón giao thừa ở nhà thằng em họ. Tiệc rượu đã bày ra với đầy đủ lời chúc Tết; Khách khứa bạn bè cũng đã tới đông đủ nên tiếng ngựa trong chuồng cũng huyên náo hẵn lên; Những ngọn đuốc được bày ra trong sân sáng rực làm kinh động những con qụa trong rừng cây bay tán loạn. Sáng ngày mai ta đã qua 40 tuổi rồi, chuyện thành đạt đắc chí như cảnh nắng chiều sắp tắt. Ai còn có thể gò bó câu nệ nữa đây, thôi thì cứ say khướt cho qua cuộc sống nầy mà thôi.

      Bốn câu đầu tả cảnh phú qúy nhộn nhịp của tiệc đêm ba mươi đón giao thừa của Đỗ Vị, bốn câu sau nêu lên sự cảm khái và buông xuôi của Đỗ Phủ; như ta đã biết, tuổi thọ trung bình của con người ở đời Đường chỉ khoảng 45 tuổi mà thôi; nên chi đã 40 tuổi mà còn chưa có thành đạt gì, nên Đỗ Phủ mới đâm ra yếm thế, mượn rượu để tiêu sầu, vì đến 50 tuổi là tuổi "Tri Thiên Mệnh" rồi; Không phải như hiện nay ở Mỹ, 50 tuổi là tuổi chín chắn nhất để phát triển sự nghiệp: Kiến thức vững chắc, tín dụng đầy đủ, kinh nghiệm dồi dào... là tuổi dễ thành đạt nhất trong sự nghiệp. Vì ở đời Đường tuổi thọ con người chỉ khoảng 45 tuổi mà thôi, cho nên cũng chính Đỗ Phủ đã hạ hai câu thơ bất hủ để đời trong bài Khúc Giang 曲 江 là:
 
  酒 債 尋 常 行 處 有,   Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,
  人 生 七 十 古 來 稀.     Nhân sinh thất thập cổ lai hi !
Có nghĩa : 
               Nợ rượu tầm thường đâu chẳng có,
               Người đời bảy chục hiếm xưa nay !  
      Câu thơ sau đã hình thành Thành ngữ "THẤT THẬP CỔ LAI HI 七 十 古 來 稀" và gọi tuổi 70 là "Tuổi Cổ Lai Hi, Tuổi Cổ Lai hay Tuổi Cổ Hi". Chớ còn bây giờ thì tuổi 70 hiện diện ở khắp nơi, hang cùng ngõ hẽm nào mà chẳng có!

* Diễn Nôm :
                     ĐỖ VỊ TRẠCH THỦ TUẾ

                  
                      
                            
                    Đón Tết nhà em họ,
                    Tiệc rượu đã sẵn sàng.
                    Khách đến ngựa huyên náo,
                    Đuốc bày quạ oang oang.
                    Mai ngày qua bốn chục,
                    Sự nghiệp đà dỡ dang.
                    Ai nở còn câu nệ,
                    Say khước những ngày tàn !
        Lục bát :
                    Giao thừa Đỗ Vị nhà em,
                    Tiệc bày lời chúc hoa đèn sáng trưng.
                    Bạn đến ngựa hí tưng bừng,
                    Đuốc bày rực sáng bên rừng quạ bay.
                    Bốn mươi qua tuổi sáng ngày,
                    Công danh tựa thể chiều phai nắng tàn.
                    Cò ai câu nệ buộc ràng ?
                    Kiếp thừa thôi hãy say tràn cho qua !
                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

2. Bài thơ  Ư TÂY KINH THỦ TUẾ 於 西 京 守 歲 :
  
        Niên hiệu Thượng Nguyên đời Đường Cao Tông (674-676) Lạc Tân Vương, một trong Sơ Đường Tứ Kiệt 初 唐 四 傑 (4 người giỏi thơ nhất của buổi Sơ Đường) từ đất Thục trở về Tây Kinh chẳng bao lâu sau thì mẹ mất. An táng mẹ bên bờ sông Sản Thủy, ông nhàn rỗi ở nhà không giao du với ai, ít nói ít cười, sống một đời sống cô độc thanh cao. Sau đây là bài thơ đón giao thừa của ông lúc năm tàn tháng lụn nhớ về quê cũ ở Chiết Giang.

於 西 京 守 歲          Ư TÂY KINH THỦ TUẾ

閒 居 寡 言 宴,      Nhàn cư qủa ngôn yến,
獨 坐 慘 風 塵。      Độc tọa thảm phong trần.
忽 見 嚴 冬 盡,      Hốt kiến nghiêm đông tận,
方 知 列 宿 春。      Phương tri liệt túc xuân.
夜 將 寒 色 去,      Dạ tương hàn sắc khứ,
年 共 曉 光 新。      Niên cộng hiểu quang tân.
耿 耿 他 鄉 夕,      Cảnh cảnh tha hương tịch,
無 由 展 舊 親。      Vô do triển cựu thân.
        駱 賓 王                     Lạc Tân Vưong
    
                          

* Chú thích :
    - Ư TÂY KINH THỦ TUẾ 於 西 京 守 歲 : Đón Giao thừa ở Tây Kinh. TÂY KINH tức là Trường An ngày xưa và là thành phố Tây An của ngày nay.
    - Qủa Ngôn Yến 寡 言 宴 : là ít nói ít cười.
    - Nghiêm Đông Tận 嚴 冬 盡 : là Mùa đông lạnh lẽo đã đến mức tận cùng, đã hết.
    - Phương Tri 方 知 : Mới biết rằng, mới vỡ lẽ ra rằng...
    - Cảnh Cảnh 耿 耿 : là Dằng Dặc, là Canh cánh.
    - Cựu Thân 舊 親 : Bà con và những người quen biết cũ.

* Nghĩa bài thơ :
                      ĐÓN GIAO THỪA Ở TÂY KINH
        Ở không nhàn rỗi nên cũng ít nói ít cười, ngồi một mình đơn độc mà buồn cho cho cái cảnh phong trần gió bụi. Bỗng có cảm giác là mùa đông lạnh lẽo đã sắp đi qua, mới biết rằng những đêm xuân đang lần lượt trở về. Đêm nay cái lạnh lẽo của mùa đông như được đem đi để cho năm mới đem ánh nắng xuân trở lại. Đêm dài dằng dặc trong cảnh tha hương, khiến cho người ta không có lý do gì là không nhớ đến những người thân đang ở quê xa!

        Lạc Tân Vương đón giao thừa ở Tây Kinh như chúng ta đang đón giao thừa ở nước Mỹ hiện nay vậy; mặc dù cuộc sống có khấm khá hơn nhưng lòng nhớ quê hương vẫn luôn canh cánh khôn nguôi. Còn đâu những cái Tết nên thơ của quê cũ thuở nào!

* Diễn Nôm :
                       Ư TÂY KINH THỦ TUẾ

                     
                  
                          
                     Nhàn cư biếng nói năng,
                     Một thân gió bụi hằn.
                     Chợt thấy đông đà hết,
                     Mới hay xuân đã sang.
                     Đêm đông thôi buốt giá,
                     Nắng xuân hồng ánh quang.
                     Tha hương lòng canh cánh,
                     Người thân nhớ vô vàn !
       Lục bát :
                     Nhàn cư buồn biếng nói năng,
                     Một mình một bóng phong trần ủ ê.
                     Bỗng trông đông hết xuân về,
                     Mới hay xuân đã cận kề đêm đông.
                     Đêm nay giá rét về không,
                     Sáng ngày nắng ấm xuân hồng khắp nơi.
                     Lòng quê canh cánh khôn nguôi,
                     Nhớ quê nhớ cả những người thân xa !
                                       Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

3. Bài thơ TRỪ DẠ LẠC THÀNH PHÙNG TRƯƠNG THIẾU PHỦ 除 夜 樂 城 逢 張 少 府 :

         
                                                                      

 MẠNH HẠO NHIÊN (689-740) Ông tên HẠO, tự là Hạo Nhiên, hiệu là Mạnh Sơn Nhân. Người đất Tương Dương (Hồ bắc). Ông là thi nhân nổi tiếng trong phái Điền Viên của đời Đường. Người đời thường gọi ông là Mạnh Tương Dương, ông chuyên về lối thơ Ngũ ngôn, thường tả cảnh sơn thủy núi non điền viên đồng ruộng nơi ông đang ẩn cư, như bài thơ đón Giao thừa tình cở gặp bạn cũ sau đây:

除 夜 樂 城 逢 張 少 府   TRỪ DẠ LẠC THÀNH PHÙNG TRƯƠNG THIẾU PHỦ

  雲 海 泛 甌 閩,       Vân hải phiếm Âu Mân,
  風 潮 泊 島 濱。       Phong triều bạc đảo tân.
  何 知 歲 除 夜,       Hà tri tuế trừ dạ,
  得 見 故 鄉 親。       Đắc kiến cố hương thân.
  余 是 乘 槎 客,       Dư thị thừa tra khách,
  君 爲 失 路 人。       Quân vi thất lộ nhân.
  平 生 復 能 幾,       Bình sinh phục năng kỷ?
  一 別 十 餘 春。       Nhất biệt thập dư xuân !
            孟 浩 然                       Mạnh Hạo Nhiên

         
                          

* Chú thích :
    - 除 夜 樂 城 逢 張 少 府 TRỪ DẠ LẠC THÀNH PHÙNG TRƯƠNG THIẾU PHỦ : Đêm giao thừa gặp được Trương Thiếu Phủ ở Lạc Thành. Trương là bạn cũ ở cùng quê với Mạnh Hạo Nhiên.
    - Âu Mân 甌 閩 : Âu Việt và Mân Nam : Chỉ chung các tỉnh ở vùng duyên hải như Phước Kiến, Quảng Đông , Quảng Tây...
    - Đảo Tân 島 濱 : Hải đảo và bờ sông bờ biển, chỉ chung vùng biển đảo.
    - Hương Thân 鄉 親 : là Hương thôn thân thích, là bà con và lối xóm trong thôn làng.
    - Thừa Tra 乘 槎 : là Người đi trên bè, chỉ tấm thân trôi nổi bất định.
    - Thất Lộ 失 路 : là Mất đường, chỉ những người Thất cơ lỡ vận, lỡ bước sa chân.
    - Phục Năng Kỷ 復 能 幾 : là Còn được mấy... Trong bài thơ có nghĩa: Còn được mấy lần gặp gỡ.

* Nghĩa bài thơ :
               ĐÊM GIAO THỪA GẶP TRƯƠNG THIẾU PHỦ Ở LẠC THÀNH
       Trôi nổi trong vùng mây nước của xứ Âu Việt Mân Nam, phiêu bồng theo thủy triều gió nước ở các bến nước bến sông. Kỳ diệu làm sao, không biết như thế nào mà trong đêm trừ tịch nầy ta lại gặp được người quen nơi quê cũ. Ta là người khách trôi nổi bềnh bồng còn anh lại là người thất cơ lỡ vận. Ta gặp nhau đây qủa là qúy hóa, trong đời người biết còn có mấy lần được gặp gỡ như hôm nay đây; lần trước chia tay đến nay cũng đã hơn mười mùa xuân qua rồi!

       Qủa là "Tha hương ngộ cố tri", nỗi mừng biết lấy chi cân, nhất là lại gặp nhau trong đêm giao thừa nơi đất khách. Mạnh Hạo Nhiên làm ta chạnh lòng nhớ đến thân phận của mình hiện tại. Gởi thân nơi xứ Mỹ nầy, có những người bạn thân ngày xưa mà cho đến nay ba bốn chục năm rồi, vẫn còn chưa có dịp gặp lại, vẫn không biết sống chết ra sao!? Cho nên, những người mà ta còn có cái duyên gặp gỡ hôm nay, qúy giá biết bao nhiêu. Ta phải biết trân trọng mà đừng thờ ơ lạnh nhạt!

* Diễn Nôm :
      TRỪ DẠ LẠC THÀNH PHÙNG TRƯƠNG THIẾU PHỦ
             
                   

                      Mây nước xứ Âu Mân,
                      Trôi nổi bến giang tân.
                      Biết sao đêm trừ tịch 
                      Gặp lại cố hương nhân.
                      Ta bềnh bồng phiêu bạc,
                      Bạn lở bước sa chân.
                      Cuộc đời còn mấy lúc,
                      Cách biệt đã mười xuân !
       Lục bát :
                      Âu Mân mây nước nổi trôi,
                      Gió đưa sóng đẩy đảo nầy bến kia.
                      Giao thừa ai biết đâu kìa,
                      Tình cờ gặp lại người xưa chung làng.
                      Ta thân phiêu bạc lang thang,
                      Bạn người lở vận lại càng long đong.
                      Cuộc đời còn biết mấy lần,
                      Chia tay chốc đã mười xuân qua rồi !
                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

       Cầu chúc cho mọi người mọi nhà đều có được một mùa xuân VUI VẺ, MẠNH KHỎE và AN KHANG THỊNH VƯỢNG !

       Hẹn bài viết tới !
                                                          杜 紹 德
                                                       Đỗ Chiêu Đức