Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

Chữ Hán và Văn Hóa Dân Tộc - Nguyễn Công Thuần


CHỮ HÁN VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC

Chữ Hán là văn tự do người Hán sáng tạo. Từ đầu công nguyên, chữ Hán đã được truyền vào nước ta. Chữ Hán là một văn tự ngay tại Trung quốc cũng có nhiều cách đọc; đọc theo các của người Việt gọi là Hán – Việt. Cũng như Triều Tiên và Nhật Bản, trong nhiều thế kỷ, chữ Hán đã được người Việt xem là văn tự chính thống; không chỉ dùng trong hành chánh mà dùng cả trong các ngành học thuật và sáng tác văn chương. Vì thế trong quá khứ, nền văn hóa Việt Nam qua các chặng đường phát triển luôn luôn có mối quan hệ mật thiết với chữ Hán. Ngày nay muốn nghiên cứu văn hóa dân tộc, chúng ta cũng cần có vốn chữ Hán.
 1. Vai trò chữ Hán trong ngôn ngữ Việt
 Chữ Hán giữ một vai trò quan trọng trong ngôn ngữ Việt. Theo xác định của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, kho từ vựng tiếng Việt có đến 70% từ Hán – Việt, năm 2002, Viện Ngôn ngữ học xuất bản quyển Từ điển từ mới  tiếng Việt (Nxb Tp HCM)  tập hợp những từ mới xuất hiện từ năm 1985 đến năm 2000.  Trong gần 2500 từ mới của sách ấy, số từ Hán – Việt cũng lên đến 50%. Từ Hán – Việt không chỉ dành riêng cho giới học thức, mà còn là công cụ ngôn ngữ phổ biến đại chúng, nhưng riêng các ngành nghiên cứu học thuật – văn hóa thì tỷ lệ sử dụng cao hơn. Chúng ta không thể vì chỉ muốn làm cho tiếng Việt tuyệt đối trong sáng mà vội vàng Việt hóa toàn bộ các từ Hán – Việt. Việc chuyển các từ Hán Việt ra từ thuần Việt phải từng bước trải nghiệm và được đại chúng đồng thuận lựa chọn chứ không ai có thể áp đặt.
Vì thế, muốn nâng cao văn hóa ngôn ngữ, chúng ta cần phải trau dồi vốn từ Hán – Việt. Có nhiều cách trau dồi, nhưng đơn giản nhất là dùng từ điển; từ nào không hiểu hoặc còn nghi ngại thì tra cứu để sử dụng cho đúng. Tùy trình độ và mục đích sử dụng mà chọ lựa từ điển. Từ điển tiếng Việt cũng giúp chúng ta hiểu được những từ Hán Việt thường dùng, cao hơn thì dùng từ điển chữ Hán.
Việc dùng từ điển cũng cần phải đối chiếu kiểm cứng, chứ không nên hoàn toàn tin chắc ở một sách nào; dầu là bậc học giả có uy tín cũng có khi sơ suất. Cụ thể như sách Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giải thích “phượng tùng vĩ” là cây phượng vĩ thì không đúng, đó là cây thiên tuế, còn cây phượng vĩ Trung Quốc gọi là “phượng hoàng mộc”. Sách Hán việt từ điển của  Thiều Cửu giải thích từ “mai”, chỉ ghi nghĩa là cây mơ có trái nấu canh chua, chứ không nói gì đến cây mai có hoa chưng tết; khi dẫn câu trong Kinh Thư để minh họa: “Nhược tác hòa canh, nhĩ duy diêm mai”, thì dịch nghĩa là: “Bằng nấu canh ăn, bui dùng muối mơ” (Từ cổ: bui là chỉ có một) thì không chính xác. Khi cử Phó Duyệt làm Tể  tướng, Ân Cao Tông nói với ông: “Nhược tác tửu lễ, nhĩ duy cúc nghiệt; nhược tác hòa canh, nhĩ duy diêm mai” (Khi làm rượu lễ, nhà ngươi là men rượu; khi nâú bát canh, nhà ngươi là mơ muối). Thế mà có tác giả viết về hoa mai lại trích nguyên câu trong từ điển ấy dể dẫn nhập; sách in sai “muối mơ” ra “muối mở” thì tác giả ấy đã sửa thành “muối mở.” Ngoài ra, có những từ thường dùng nhưng vẫn không có trong các từ điển chữ Hán phổ thông, như nhóm từ “Cửu huyền thất tổ” (Bảy vì tổ trong chín đời) thường thấy trên các bàn thờ tổ tiên hay từ “hợp long” chỉ việc nối thông các cây cầu hoặc các con đê ngăn nước, phải tìm trong các tự điển Từ nguyên, Từ hải hoặc Đại tự điển của Trung Quốc mới có.
2. Văn hóa Việt trong những di sản Hán –Nôm: 
Nhữngdi sản ấy phần lớn hiện lưu trữ tại thư viện của Viện nghiên cứu Hán – Nôm (Hà Nội) và các thư viện tại Sài Gòn cũng có một số ít.
a. Năm 1993, Viện nghiên cứu Hán Nôm và Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp xuất bản bộ Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu giới thiệu 5038 đầu sách, bao gồm 16164 cuốn chia thành các loại:
- Sách viết bằng chữ Hán (10135 cuốn)
- Sách viết bằng chữ Nôm (1373 cuốn)
- Sách sao chép in lại của Trung Quốc (1641 cuốn)
- Thần sắc (404 cuốn)
- Thần tích (535 cuốn)
- Tục lệ (732 cuốn)
- Địa bạ (503 cuốn)
- Xã chí (16 cuốn)
- Cổ chí (96 cuốn)
- Ngoài ra, còn có 729 cuốn chưa lên ký hiệu.
Nội dung các sách ấy gồm nhiều chủ đề:
- Chính trị xã hội: Quan chức, Bang giao
- Địa lý: Bản đồ, Địa lý toàn quốc, Địa lý địa phương
- Kinh tế: Nông nghiệp, Thủ công nghiệp
- Lịch sử: Sử học, Sử liệu, Gia phả
- Ngữ văn: Thơ văn hợp biên, Văn, Thơ, Kịch nghệ, Văn học các dân tộc ít người, Công cụ tra cứu.
- Pháp chế: Luật lệ nhà nước, Tục lệ địa phương
- Quân sự: Binh Thư và vũ khí
- Tôn giáo – Tư tưởng – Triết học: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Phong thủy, Tín ngưỡng nhân gian.
- Văn hóa – Giáo dục: Sách giáo khoa, Thi cử
- Y dược: Dược liệu, Y trị
Những sách trong kho Hán Nôm trên gồm nhiều nguồn cung cấp:
- Sách do Học viện Viễn đông bác cổ Pháp tại Hà Nội trao lại năm 1958.
- Sách tiếp nhận từ các thư viện: Long Cương (Cao Xuân Dục), Hoàng Xuân Hãn, Hội Khai trí tiến đức, Văn Miếu, Khoa học Trung ương, Vụ bảo tồn bảo tàng, Ty Văn hóa Hà Đông, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, bộ Giáo dục.
- Sách do Viện nghiên cứ Hán Nôm sưu tầm trong nhân gian:
Nếu không  bị tiêu hủy trong chiến tranh và thiên tai thì kho di sản Hán Nôm của ông cha ta còn đồ sộ hơn nữa. Nhưng bấy nhiêu mà khai thác hết được thì cũng đáng mừng cho nền văn hóa dân tộc, chỉ tiếc rằng số sách dịch ra tiếng Việt chưa được bao nhiêu.
b. Tại Sài Gòn có hai thư viện lớn: Thư viện Khoa học Xã hội và Thư viện Khoa học Tổng hợp. Số sách Hán Nôm tại hai thư viện này không nhiều, nhưng tại Thư viện Khoa học Tổng hợp có bộ tuồng cổ chữ Nôm là một di sản rất quý. Đây là những vở tuồng do nhà Học Lâm triều vua Tự Đức thu nhập trong dân gian đem về kinh nhuận sắc rồi giao lại cho các gánh hát trình diễn. Vua Tự Đức của một đại thần chép cho ông mỗi vở một bản. Không  rõ do đâu năm 1889 nước Anh đã nhập vào thư viện Bristist Museum (Luân Đôn) một bộ đóng thành 28 tập. Năm 1971, thư viện này đã đem tặng Việt Nam (Sài Gòn) bản pho-to 28 tập sách ấy. Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh hiện lưu trữ 24 tập và đã nhờ dịch giả Nguyễn Thị Thanh Xuân phiên dịch ra quốc ngữ, bước đầu được 7 tập. Năm qua, thư viện đã tổ chức nghiệm tu các tập sách dịch ấy.
3. Văn hóa Việt tại những di tích thắng cảnh: 
Những nơi này thường có bi ký, thần tích, thần sắc, liễn đối và thơ vịnh bằng chữ Hán. Đây cũng là nguồn tư liệu phong phú cho việc nghiên cứu văn hóa dân  tộc. Những di tích lịch sử và danh lam – thắng cảnh nổi tiếng cấp quốc gia đã được công bố qua những công trình nghiên cứu khá công phu của nhiều tác giả. Nhờ đó mà những tấm bia sù sì mốc meo đã ngời lên ánh sáng của quá khứ vàng son, những bức hoành tấm liễu tróc sơn mòn chữ bỗng vang lên tiếng nói oai hùng của ông cha thưở trước. Ngoài ra, tại các địa phương trong cả nước cũng có nhiều đình chùa, lăng mộ, từ đường còn giữ được những vật thể có giá trị văn hóa, nhưng chưa được nghiên cứu khai thác đầy đủ. Gần đây, có hiện tượng đáng mừng là tại nhiều địa phương đã có những người tự đứng ra nghiên cứu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của địa phương mình với tất cả tâm tình sâu nặng của người con đối với quê mẹ thân yêu.
Chữ Hán Việt ngày càng lỗi thời, ít ai dùng nữa. Nhưng thứ chữ lỗi thời ấy có thể tạo dòng thông với quá khứ, giúp ta giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Trước đây, vì không giải quyết được mối tương quan giữa “đạo” và ‘thực” nên sinh viên chúng tôi đã đồng tình với việc giải tán Viện Hán học. Nhưng dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng, nên từ đó, mỗi người có cách riêng tự tìm đến dòng thông với quá khứ. Ngày nay, lớp chúng tôi đã đứng bên lằn ranh “thấp thập”, mối duyên xưa với nền Hán học xin trao lại những người máu chảy ruột mềm. Chúng tôi tin rằng lớp đàn em sau sẽ có cách xử lý thông minh hơn về mối tương quan giữa “đạo” và “thực” để kho tàng Hán Nôm của cha ông khỏi làm mồi cho mồi cho mối mọt.
                   Nguyễn Công Thuần
        Cựu sinh viên quy chế mới của Viện Hán Học Huế


Ly Cà Phê Sáng Nhớ - Trầm Vân



                   Hình ảnh nội tuyến 1

Ly Cà Phê Sáng  Nhớ

Sáng nay nắng ngả về xa
Hay là em gửi nhớ qua nụ cười
Líu lo chim gọi xa xôi
Ly cà phê khuấy bồi hồi giọt xưa

Mùa xuân giăng võng đong đưa
Một bên thiếu, một bên thừa gió lay
Bàn tay thiếu hụt bàn tay
Cầm đâu cũng thấy hụt ngày bên nhau

Là dư con gió qua cầu
Áo em bay đã hụt màu nước trôi
Chờ em giọt nắng đâm chồi
Em chưa về để ngậm ngùi câu thơ

Sáng nay con phố sương mờ
Ly cà phê khuấy giọt chờ giọt mong
Bên kia gió có phải lòng
Hãy gieo mưa lớn bão giông theo về

Tình ta tắm mát cơn mê
Trở về cái thưở ngu nghê xa  vời

     Trầm Vân




Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Tiếng Chim Gọi Đàn / Thơ: Diệp Thy / Nhạc: Huỳnh Trọng Tâm


Rất vu vơ và rất lạ thường
Ta cảm giác mùa thu len lén tới
Chim gọi bạn từ phương xa diệu vợi
Về nơi đây tung cánh giữa trời xanh...

* Nghe Sông Kể Chuyện Mình - Thuyên Huy



Nghe Sông Kể Chuyện Mình

Ngồi nghe sông kể chuyện mình
Hôm người bỏ phố lặng thinh giữa đời
Đường về vàng lá thu rơi
Đò ngang thôi chở tiếng cười ngày xưa
Không còn tựa gối trúc thưa
Nghe hồn ray rứt tiếng mưa gọi tình
Vắng người lau sậy buồn tênh
Sóng bơ vơ ngóng bờ chênh vênh gầy
Cũng đành vay mượn kiếp này
Gom tương tư mộng lấp đầy mộ thương
Sông từ đó đã biết buồn

       Thuyên Huy



















Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

Thêm Một Tin Buồn cho cựu SV Viện Hán Học Huế & Nhớ Bạn Đồng Môn Phạm Văn Minh

         
                             Tin Buồn 
                       Phạm Văn Minh   
                              Phê Rô                           
                      (Khóa II Viện Hán Học Huế)                                                    Mệnh chung lúc 5:20 AM ngày 22-2-2017                                     (nhằm ngày 26 tháng Giêng năm Đinh Dậu)
                     Hưởng thọ: 77 tuổi
       Lễ Hỏa táng ngày 24- 02- 2017 tại Mỹ Tho - Việt Nam
Tất cả bạn đồng môn Viện Hán Học vô cùng thương tiếc anh Phạm Văn Minh, người bạn học hiền hòa, vui tính, hoà đồng với mọi người. Xin chia buồn với chị Minh và các cháu về sự mất mát lớn lao này và cầu chúc bạn Phê Rô Sớm về hưởng Tôn Nhan Thánh Chúa.

                                            *****

                         ĐIỀU VĂN THƯƠNG TIẾC BẠN
- Kính thưa tang quyến !
- Bạn Phạm Văn Minh thương nhớ!
Bạn đi rồi!...
Ở tuổi đời chưa hẳn đã già, Bạn đã đột ngột xa rời cõi tạm không một lời từ biệt, để lại cho gia đình, bạn bè và người thân muôn vàn xót thương... 
Trong giờ phút tử biệt sinh ly này, chúng tôi, những người bạn đồng môn VHH. vô vàn xót xa và thương tiếc Bạn, xin được kính cẩn nghiêng mình trước linh cửu bạn, và thắp nén nhang tiễn đưa bạn đến với cõi vĩnh hằng xa thẳm...
Ở đây trong gian nhà thân thuộc và ấm cúng của gia đình thân thương, chắc hẳn hương hồn bạn đang lẫn khuất đâu đây, bịn rịn ngậm ngùi chưa muốn rời xa cõi thế, không đành bỏ lại vợ con thân yêu!... 
       Trong những giây phút cuối trước linh cữu Bạn, nơi ngôi nhà thân yêu đang nghi ngút khói hương, hòa trong nỗi đau tột cùng của mọi người thân với biết bao giọt nước mắt thương khóc và tình cảm sâu sắc dành cho Bạn, chúng tôi đại diện toàn thể anh chị em cựu SV Viện Hán Học Huế thành khẩn bái biệt Bạn!...
       Xin chia buồn cùng tang quyến.

(NBY đại diện anh chị em đồng môn đọc điếu văn trước linh cửu PVM. tại nhà riêng số 30/31 Ngô Quyền TP. Mỹ Tho lúc 11giờ30 ngày 22/2/2017. 
                                      ****


            Nhớ Bạn Đồng Môn Phạm Văn Minh

Một bạn khoá 2 Hán Học Huế (1960 – 1965) của tôi, bạn Phạm Văn Minh, vừa từ trần ở Mỹ Tho, nghe nói do nhiễm độc máu, ngày 21/2/2017 (25/Giêng/Đinh Dậu).
Tin quá đột ngột, tôi buồn lắm.
Bạn học của tôi hiện nay, do tuổi tác cao, cứ lần lượt ra đi; số bạn, qua chiến tranh, còn sống sót, không nhiều, từng năm vơi đi và chắc chắn đến một ngày nào đó, không xa, không còn ai, kể cả tôi.
Lúc đi học cũng như khi ra đời, tôi ít bạn thân - bạn thân là bạn mà mình có thể chia xẻ được những tâm tư tình cảm rất riêng tư; vậy mà tôi nghĩ Phạm Văn Minh là bạn thân của tôi.

Phạm Văn Minh quê ở miền Bắc. Bạn kể cho tôi trong chiến tranh Việt-Pháp (1946 – 1954), bố tham gia mặt trận Việt Minh, là người có học hành đàng hoàng, bố được giao một chức vụ khá; không may, trên đường công tác, bố sa vào tay giặc Pháp cùng một số đồng chí, đồng đội. Sau một thời gian bị giam cầm, bố được phóng thích trước, thành thử, khi trở lại hàng ngũ kháng chiến, bố không còn được tin tưởng. Năm 1954, theo những điều khoản trong hiệp định Genève, bố đem gia đình di cư vào Nam và Phạm Văn Minh, bạn tôi, là dân Bắc di cư.
Phạm Văn Minh học cùng khoá với tôi ở Viện Hán Học Huế. Thời đi học, tôi và bạn ít tiếp xúc với nhau; bạn từ miền Nam ra trọ học ở Huế; tôi từ Quảng Trị vào. Ngoài việc học, vì gia đình khó khăn, tôi dành thời gian rãnh rỗi tự túc mưu sinh; đó cũng là lý do tôi ít bạn.
Năm 1974, tôi đang làm tại sở Học Chánh tỉnh Bình Tuy (phần phía Nam của tỉnh Bình Thuận bây giờ), trong một cuộc họp giáo viên tiểu học do sở triệu tập, một giáo viên trẻ đến nói với tôi: “Anh Phạm Văn Minh em gởi lời thăm thầy.” Lời nhắn ấy làm sống lại hình ảnh người bạn học đã xa gần 10 năm (chúng tôi ra trường 1965) trong tâm trí tôi – một anh bạn nhỏ người có giọng nói nửa Nam nửa Bắc. Tình đồng môn đẹp quá! Minh ơi!  Xa nhau lâu ngày vẫn tưởng nghĩ về nhau.
Rồi dòng đời trôi, dâu bể dồn dập, bạn bè tưởng không còn gặp lại. Vậy mà năm 2009 (kỷ niệm 50 năm thành lập Viện Hán Học), năm 2010 (kỷ niệm 50 năm khoá 2 Hán Học nhập trường), năm 2014 (kỷ niệm 55 thành lập viện Hán Học), năm 2015 (kỷ niệm 55 năm khoá 2 Hán Học nhập trường), Phạm Văn Minh và tôi còn gặp nhau được 4 lần (02 lần ở Huế, 01 lần ở Mỹ Tho và 01 lần ở Cần Thơ). Mỗi lần gặp tôi, Minh mừng lắm, choàng ôm. Trên xe, trong bàn ăn, hội trường họp mặt, Minh và tôi thường ngồi bên nhau, chuyện trò về nhiều đề tài: học hành, công tác, nhân tình thế thái... Bây giờ, bạn đi xa, nếu như anh chị em Hán Học còn có dịp gặp nhau, tôi tìm bạn nơi đâu, hở Minh? Buồn!
Cách đây chưa lâu, bạn bắt đầu sử dụng Internet, bạn hỏi tôi cách tải bài, cách chuyển bài. Dù trình độ công nghệ thông tin chỉ mới abc, tôi hướng dẫn và bạn làm được, bạn cảm ơn rối rít; rồi mấy tháng gần đây, hình như cả ngày bạn ngồi trước máy, nhận bài rồi chuyển bài chia xẻ với anh chị em; chỉ cách đây vài ngày, mở computer, tôi không thấy bạn xuất hiện. Tôi nghĩ rằng bạn bận gì đó, ai ngờ ra nông nỗi này – bạn đang có vấn đề sức khoẻ trầm trọng để rồi ra đi vĩnh viễn khỏi cõi trần này. Từ rày trở đi, ai viết những dòng góp ý cho bài tôi viết và ai... ai chuyển bài cho tôi đọc nữa, bạn Minh ơi!

Đường sá xa xôi quá, tôi không thể đến bên bạn để nói lời từ biệt, từ Đông Hà cách Mỹ Tho hơn 1000 cây số, tôi vọng bái tiễn đưa bạn về nước Chúa. Xin mượn nơi đây, gởi mấy dòng chữ phân ưu cùng chị Minh và các cháu.

Hoàng Đằng
23/02/2017 (27/Giêng/Đinh Dậu)



Thứ Tư, 22 tháng 2, 2017

* Kinh Thi Việt Nam - Triệu Dương NLT

                    Kinh Thi Viet Nam

(Phát biểu của GS Nguyễn Lý-Tưởng tnhân Đại Hội Thơ tổ chức ngày 16, 17, 18/8/2016 tại TP Garden Grove, California, Hoa Kỳ)

Kính thưa quý văn, thi hữu,
Kính thưa quý vị quan khách,
Thơ là hình thức ngôn ngữ diễn tả tình cảm của con người một cách vắn gọn, dễ nghe, dễ nhớ, dễ gây xúc động, và dễ đi vào lòng người. Tất nhiên, người làm thơ, yêu thơ thường là con người giàu tình cảm, một con người lãng mạn, cũng có khi là người thương vay khóc mướn, mượn chuyện kẻ khác để gởi gắm tâm sự của mình. Tình cảm đó, có khi bi lụy khiến cho người thưởng thức phải sa nước mắt, phải thổn thức đau khổ, than vắn thở dài. Có người cho rằng, Thơ mà không có chút lãng mạn thì thơ không hay, không rung động lòng người.
Cách nay hơn 2500 năm, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Trung Hoa, Khổng Tử là người đã đi qua 15 nước chư hầu thời nhà Chu, đặc biệt là nước Lỗ quê hương của ông, và đã sưu tầm được hơn 300 bài thơ ngắn từ chốn triều đình đến khắp trong dân gian và gom góp lại thành một tập tơ gọi là “Thi tam bách”. Về sau học trò của ông vì kính trọng bậc “vạn thế sư biểu” nên đã gọi những tác phẩm do ông làm ra là “kinh”. Tập thơ 300 bài (hay 300 câu) đó được gọi là Thi Kinh (người Việt Nam chúng ta thường nói là Kinh Thi).
Khi phát biểu về sự quan trọng của Thơ, Thầy Khổng nói rằng: “Bất học Thi vô dĩ ngôn; bất học Lễ vô dĩ lập” (Không học Thơ thì không biết lấy lời gì để nói; không học Lễ thì không biết lấy gì để hội nhập với cuộc sống ngoài xã hội...Lễ ở đây là lễ nghi, phép tắc...). Ông còn nói:“Thi khả dĩ tụng, khả dĩ ngâm, khả dĩ động” (Thơ có thể đọc, có thể ngâm, có thể khoa tay múa chân).
Vì thế người ta thưởng thức Thơ dưới nhiều hình thức, bằng nhiều cách khác nhau, nghĩa là có nhiều cách diễn tả khác nhau. Thông thường, khán thính giả thích nghe các nghệ sĩ ngâm thơ, cũng có nhiều bài thơ được phổ nhạc để cho ca sĩ hát lên cho mọi người thưởng thức. Vì thế, Thơ và Nhạc thường đi đôi với nhau.
Trong sách Luận Ngữ có ghi lại cảm tưởng của Khổng Tử khi nghe đọc Thơ (Thơ đây là 300 bài trong Kinh Thi mà ông đã sưu tầm) nguyên văn như sau: “Thi vân như thiết như tha, như trác như ma” (Khi đọc Thơ, tôi cảm thấy như bị cắt da cắt thịt, như bị mài bị dũa...) nghĩa là lời thơ, ý thơ đã làm cho Khổng Tử đau đớn tận da thịt, thấm thía tận tâm hồn, xúc động, buồn sầu theo ý thơ...Một bậc thánh nhân như Khổng Tử, khi đọc thơ còn xúc động, quằn quại đến như vậy, huống chi những con người tầm thường với tâm hồn đơn sơ chất phác xuất thân từ giới bình dân?
 Như chúng tôi đã nói: “Thơ và Nhạc thường đi đôi với nhau” trong thơ có nhạc và trong nhạc có thơ...Chính vì thế mà thi sĩ Nguyễn Du khi diễn tả Kim Trọng ngồi nghe Kiều đánh đàn, đã viết:
“Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi sầu chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào?”

Khổng Tử khuyên học trò, khi đọc thơ không được nghĩ đến điều xấu, điều sai trái, không được tưởng tượng ra hình ảnh xấu, hình ảnh tục, hình ảnh dâm ô trụy lạc: “Tư vô tà”.
Người yêu thơ, yêu văn chương, phải là người đạo đức, thanh cao. Vì thế, người nho sĩ, người học trò ngày xưa thường trân quý 4 vật là “Thư, Kiếm , Lư, Đăng”.
-Thư: là sách của Thánh Hiền;
-Kiếm: tượng trưng cho quyền lãnh đạo, quyền chỉ huy, người chính danh quân tử dùng kiếm để trượng nghĩa, trừ gian, an bang tế thế;
-Lư: cái lò để đốt trầm, nghe mùi trầm, mùi khói hương để nâng tâm hồn mình lên cao (trong tôn giáo, khi cử hành nghi lễ người ta thường đốt lò hương trầm)
-Đăng là cây đèn, đốt lên để đọc sách, để học...
Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi do Khổng Tử sưu tầm gồm nhiều thể loại, mỗi loại mang một nội dung khác nhau và về hình thức cũng khác nhau. Đó là Phong, Nhã, Tụng.
-Phong cũng gọi là Quốc Phong, loại thơ diễn tả phong tục của người dân, đặc biệt là nước Lỗ, quê hương của Khổng Tử.
-Nhã (gồm Đại Nhã là thơ phát xuất từ giới quý tộc, triều đình;và Tiểu Nhã là thơ phát xuất từ quần chúng, dân gian, giới bình dân, diễn tả tình cảm, tình yêu của con người.)
-Tụng là Thơ đọc lên trong những dịp tế lễ của triều đình (nhưng về sau dân gian cũng bắt chước mà làm theo trong các dịp tế lễ tại địa phương).

Kính thưa quý vị nhân sĩ, trí thức, quý văn, thi hữu, quý vị quan khách,
Trên đây tôi vừa nhắc đến một cách khái quát về Kinh Thi tức là thi văn được lưu truyền từ hơn 2500 năm trước, tại Trung Hoa do Khổng Tử sưu tầm và ghi chép lại. Khi còn là sinh viên tại Viện Hán Học Huế, chúng tôi có hỏi các vị giáo sư:
-“Thưa sư phụ, Trung Hoa đã có Kinh Thi từ hơn 2500 năm trước, vậy Việt Nam chúng ta, sử sách cũng có ghi “Đại Việt của chúng ta là nước đã có văn hiến từ lâu” (Như ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang)
là lời Nguyễn Trãi viết thay cho vua Lê Thái Tổ trong bài “Bình Ngô đại cáo” (1428)?
Sư phụ của chúng tôi là Giáo sư Sảng Đình Nguyễn Hy Thích, nói:
-“Việt Nam chúng ta cũng có Kinh Thi Việt Nam” và ngài đọc liền 300 câu thơ vần nối vần:
“Non cao ai đắp nên cao,
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu.
Chiều chiều ông Ngự ra câu,
Cái ve cái chén, cái bầu sau lưng.
Đố ai quét sạch là rừng,
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Vì ai nên nỗi sầu này,
Chùa tiên vắng vẻ, tớ thầy xa nhau.
Chiều chiều ra đứng ngỏ sau,
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chìu.
Mẹ gà con vịt chit chiu,
Mấy đời dĩ ghẽ nâng nui con chồng.
Con mèo, con chó có lông,
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai.
Hết gạo thì có Đồng Nai,
Hết củi thì có Tân Sài chở vô.
Dù xây chin bậc phù đồ,
Không bằng làm phúc cứu cho một người.
Lâm râm khấn vài Phật, Trời,
Xin cho cha mẹ sống đời nuôi con.
Kiến leo cột sắt sao mòn,
Tò vò xây tổ sao tròn mà xây.
Đố ai biết lúa mấy cây,
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng...”
(Dài quá không có thì giờ đọc hết 300 câu nên tôi xin ngưng trích...)
Cụ Phó Bảng Nguyễn Mại là thân phụ của Linh Mục Giáo Sư Sảng Đình Nguyễn Hy Thích có để lại một tập sưu tầm có tên “Cổ Việt phong dao” với nội dung như trên.
Kính thưa quý vị,
Kinh Thi Việt Nam khác với Kinh Thi Trung Hoa:
-Người ta biết được Kinh Thi Trung Hoa đã có trên 2500 năm nghĩa là từ thời Khổng Tử trở về trước.
- Kinh Thi Việt Nam có từ thời nào thì không ai biết được: một trăm năm, hai trăm năm, một ngàn năm, hai ngàn năm,v.v....
-và cũng như Khinh Thi Trung Hoa, không biết tác giả là ai? Có người nói rằng bài Quan Thư trong Kinh Thi là của Bà Hậu Tắc, vợ của Văn Vương nhà Chu, vua đi đánh giặc, bà ở nhà nghe tiếng chim kêu nên nhớ vua mà làm ra bài thơ này.
 “Quan quan thư cưu,
Tại Hà chi châu,
Yểu diệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu...”
(Quan quan trên bãi sông Hà,
Gái hiền yểu điệu, một nhà sánh đôi...)
(Tản Đà dịch)
Quan là chim trống, Thư là chim mái...thường đi chung một cặp, kiếm ăn trên bãi sông Hoàng hà...Thấy đôi chim kia sánh đôi như vậy, tác giả nhớ đến người yêu xa cách...hay là bậc cha mẹ thấy con gái mình đã lớn, đã trở thành một gái hiền yểu điệu rồi...cũng mong có người quân tử đến cầu hôn (quân tử cũng có nghĩa là chồng)

Về thể loại, ca dao hay Kinh Thi Việt Nam theo thể thơ lục bát là thể thơ độc đáo của người Việt Nam. Trong thơ chữ Hán, không có thể thơ lục bát này...Thông thường thể thơ trong Kinh Thi của người Trung Hoa là loại thơ 4 chữ và có khi thêm chữ “hề” như là nhịp điệu, ngừng lại một chút rồi đọc tiếp hay hát tiếp.
Về nội dung thì ca dao rất phong phú, dồi dào tình cảm, tâm hồn rộng mở, hòa mình với phong cảnh thiên nhiên... ca dao là một bức tranh, là lời tỏ tình, là so sánh, ví con, tình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa vợ chồng, tình bè bạn, tình cha mẹ với con cái, lòng hiếu thảo... lời mẹ hát bên nôi khi chúng ta mới chào đời. Ca dao là linh hồn của dân tộc chúng ta, dù xa quê hương, khi nghe lời ca dao, không ai mà không nhớ về quê hương, đất nước đồng bào, nơi chôn nhau cắt rốn, nguồn gốc dòng họ, tổ tiên.
Ca dao (chúng tôi gọi là Kinh Thi Viêt Nam) được mọi người yêu thích, đọc hay ngâm, có khi hát lên cũng được. Có nhiều giai điệu khác nhau: như ngâm sa mạc, hát quan họ, ngâm theo gọng Huế, giọng Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, ngâm sa mạc, ngâm hay hát ca dao theo giọng Nam...
Ví dụ (ngâm theo lối Huế)
 Nhất cao là núi Tản Viên,
Thanh nhàn vô sự là tiên trên đời.
(Chúng ta có thể tưởng tượng một nhà thơ, tay cầm bầu rượu vừa hát vừa múa...)
Ngâm hay hát theo điệu quan họ Bắc Ninh... đều là những giai điệu mê hoặc lòng người...
Từ xưa đến nay, người Việt yêu Kinh Thi Việt, đó là lời ca dao mẹ hát bên nôi. Mỗi khi nhớ đến cha mẹ, nhớ chồng, nhớ con... thì người mẹ thường hát ru con với những lời ca dao đó.
Ca dao là ngôn ngữ, là tình yêu, là lòng nhiệt thành của người Việt, là hồn dân tộc... người Việt Nam ai cũng biết hát ca dao, ai cũng hiểu, ai cũng thích ca dao... Lời ca dao không bao giờ chết trong ngôn ngữ của chúng ta, nó sống mãi trong tình cảm của người Việt. Ngày nào người Việt còn hát ca dao, đọc ca dao... thì ngôn ngữ, văn hóa của chúng ta còn sống mãi với dân tộc Việt.
Nhưng Kinh Thi của Trung Hoa từ thời Khổng Tử thì hiện nay rất ít người biết đến. Đa số người Hoa không biết Kinh Thi là gì. Đọc lên cũng không hiểu được vì đó là văn chương, ngôn ngữ của hơn 2500 năm trước. Những từ ngữ ở trong Kinh Thi ngày nay người ta không còn sử dụng nữa nên có nhiều chữ, nhiều tiếng họ không hiểu. Kinh Thi bây giờ rất xa lạ đối với người Hoa. Chỉ có những nhà nghiên cứu, những sinh viên đại học chuyên về cổ văn mới học cho biết (theo chương trình học), thông thường phải đọc phần chú giải mới hiểu được ý của Kinh Thi. Trong ngôn ngữ hằng ngày, người Hoa không ai nhắc đến Kinh Thi của họ.
Khác với người Hoa, người Việt Nam, dù là một đứa trẻ con cũng nói được ca dao. (Hồi ở Huế, tôi đến thăm một nhà trẻ, thấy mấy đứa nhỏ chơi đùa với nhau... có một đứa bị ngả xuống, nó liền đứng ngay dậy và nói:
“Dù ai té ngữa té nghiêng,
Anh đây vẫn vững như kiềng ba chân”
(Cha mẹ gởi con vào nhà trẻ, được cô giáo dạy cho hát những câu ca dao như vậy... khi có cơ hội là chúng áp dụng ngay)
Vì thời giờ có hạn, tôi xin tạm dừng ở đây. Xin kính chào và cám ơn quý vị.

          Triệu Dương (Nguyễn Lý-Tưởng)





Chung Màu Aó Xanh / Lời: Nguyễn Thế Hùng / Nhạc: Huỳnh Trọng Tâm



Cùng tung bước giữa trời xanh bát ngát
Sống cho người và cố gắng tu thân
Tài trí đem bồi đắp dũng và nhân
Biến lý tưởng thành con đường cao thượng