Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Đường Huyền Trân Công Chúa ở Huế Xưa và Nay - Nguyễn Văn Tao

(Đường Huyền Trân Công Chúa)

Đường Huyền Trân Công Chúa ở Huế Xưa và Nay

Nguyễn Văn Tạo

Trước hết xin thưa, đây không phải là bài viết có tính khảo cứu lịch sử, cũng không phải là bài chuyên khảo thiên về dân tộc học hay văn hoá chuyên ngành, mà chỉ là những dòng cảm quan theo suy nghĩ, cảm xúc và cái nhìn của một người dân thường, có cái duyên được sinh ra và lớn lên trên một vùng đất may mắn có nhiều chứng tích văn hoá lịch sử còn tồn tại đến ngày nay. Con đường đi xuyên qua vùng địa dư này cũng được mang tên của một nhân vật lịch sử đã in đậm dấu son tình cảm biết ơn của biết bao thế hệ người dân Thuận Hoá - Phú Xuân - Cố đô Huế xưa và nay. Đó là con đường Huyền Trân Công Chúa với vùng đất Dương Xuân Thượng - Hạ, Nguyệt Biều - Lương Quán của Phủ Dương Xuân ngày trước, và là Phường Đúc, Thuỷ Xuân, Thuỷ Biều của Thành phố Huế ngày nay.
Điều tôi muốn nói là những dấu tích văn hoá - lịch sử còn tiềm tàng, như là những ẩn hiện của một vùng khoáng sản lộ thiên nằm dọc hai bên con đường Huyền Trân Công Chúa ngày trước (Bùi Thị Xuân ngày nay), từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ, xã Thuỷ Biều cũng như dọc con đường Huyền Trân Công Chúa hiện nay, từ ngã ba Thành Lồi lên Lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh. Cả hai tuyến đường cũ và mới này còn nhiều khả năng du lịch tiềm tàng mà chúng ta chưa có điều kiện làm hiển lộ và khai thác hết.
Trở lại vấn đề liên quan văn hoá và lịch sử, tôi xin phép tản mạn nói lên một số điều không đầu không cuối và cũng không theo một trật tự thuần nhất nào.
Thưa Quý vị, con người làm nên lịch sử và ngược lại, lịch sử cũng cuốn trôi các bước sinh tồn, sinh hoạt của con người theo dòng chảy của mình, kể cả dòng truyền thống tâm linh của con người.
Mùa hè 2006, festival Huế có chủ đề “700 năm Thuận Hoá - Phú Xuân” (1306 - 2006). Nói đến 700 năm Thuận Hoá - Phú Xuân, mà tôi nhớ không nhầm thì trong các Lễ hội và Hội thảo năm ấy chưa đề cập đậm đà đến tấm gương hy sinh vô cùng dũng cảm của Công Chúa Huyền Trân và sự thân lâm đàm phán của Phụ Hoàng Trần Nhân Tông để lãnh thổ đất nước Đại Việt chúng ta mở rộng thêm vùng Thuận Châu và Hoá Châu, kết thành đất Thuận - Hoá một cách hoà bình… Vì thế, tôi cảm thấy buồn buồn và một buổi trưa núp mưa ở một quán nước vắng khách, tôi cảm tác bài thơ “Độc thoại về quê hương”:
Phần đầu bài thơ có những dòng như sau :
Quán trưa
Mưa lưa thưa
Mùa Hạ,
Giữa lòng Cố Đô
Qua đợt gió mùa còn rớt lại
Lạ thường !
Ngồi một mình
Độc thoại:
Cũng có dịp nhìn lại quê hương
Với bảy trăm năm Thuận Hoá - Phú Xuân.
Thương một Huyền Trân hết lòng dũng cảm
Đem phận mình hoá giải chiến binh,
Lập lại thanh bình
Hòng mở rộng biên cương cho Tổ quốc
Tạo giao hảo thân tình cùng nước bạn
(Phần sau của bài thơ nói tiếp đến ngày nay)

                             (Đền thờ Công Chúa Huyền Trân dưới chân núi Ngũ Phụng)

Và rất vui là đến mùa Xuân năm 2007 thì đã có Lễ Khánh Thành khu Trung tâm Văn hoá Huyền Trân, mới lấp đầy được nỗi hụt hẫng tình cảm “Uống nước nhớ nguồn” của biết bao tâm hồn khách thập phương xa gần, đối với tấm lòng nhân hậu và dũng cảm của Công Chúa vua Trần ngày ấy. Câu chuyện xây dựng đền thờ Huyền Trân và vua cha Trần Nhân Tông ở Huế, trong thập niên trước đã có nhiều bậc thức giả đề cập tới. Cũng vui là các ngành chức năng đã thực hiện được khá kịp thời!
Trở lại vấn đề, dòng chảy lịch sử đã cuốn theo bao thế hệ sinh tồn và sinh hoạt của con người, bao biến đổi của xã hội và mọi sự hưng suy của bao dòng tộc, họ hàng cũng bị lịch sử cuốn theo… Cái chung đã cuộn tròn biết bao cái riêng và cái riêng đã hoà quyện vào cái chung một cách nhuần nhị. Lý nhân duyên của nhà Phật thật vô cùng xác thực và kỳ diệu!
Nếu ngày trước Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng không xin vào trấn thủ đất biên cương Thuận Hoá và nếu năm 1598 ông không ra Bắc phò Lê diệt Mạc, để 3 năm sau (1600) trở về đất Thuận Hoá mà không tuyển và đem theo một đoàn dân binh đông đảo với đủ loại ngành nghề, thì chí ít nhất là Huế không có làng nghề đúc gốc Kinh Bắc (Bắc Ninh) còn tồn tại cho đến ngày nay. Và địa danh Phường Đúc cũng không có luôn. Nhưng cái duyên mắt xích để có làng nghề Phường Đúc nó chỉ bé tí, nằm gọn trong vô số những nhân duyên khác. Giá mà năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan không cho dời dinh phủ Phúc Yên về Kim Long thì Phủ đệ Dương Xuân án ngự ở bờ Nam sông Hương với bao nhiêu cơ quan quan yếu phục vụ Phủ Chúa cũng không có. Nhưng lịch sử đã như thế và ít nhất cũng đã hơn 370 năm qua lịch sử của vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân đã xoay quanh một trục chính với vô số trợ duyên khác.
Được sinh ra và lớn lên trên đất Cố đô Huế, vốn đất không rộng và không màu mỡ, lại không được thiên nhiên ưu đãi; nhung lại giàu truyền thống văn hoá và đời sống tâm linh, trong một không gian vốn giàu di sản văn hoá lịch sử.  Với 60-70 năm sinh hoạt trong cuộc sống, cứ nhìn và cứ đi - về hàng trăm, thậm chí cả hàng ngàn lần trên một vài con đườnh hầu như quen thuộc nằm lòng. Và với một tình yêu quê hương đậm đà, thì ai mà không quan tâm mọi hiện hữu và di sản văn hoá lịch sử tồn tại trên các tuyến đường thân quen mình đã đi qua trong suốt cuộc đời ?
Ngay từ gần cuối thập kỷ 50 thế kỷ trước, con lộ nhỏ chỉ hơn 4m bề ngang và dài chỉ 3 - 4 cây số nối liền từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ, được cào xới, rải lại dăm đá thô, xe lu đằn và tưới dầu hắc rồi rải sạn “cai-du” thì đã là một hiện tượng quá lớn đối với mọi người dân trong vùng! Rồi lại được đặt tên đường là Huyền Trân Công Chúa thì rất chi là hãnh diện. Từ đó yêu con đường hơn, yêu quê hương mình hơn. Và cũng bắt đầu tìm hiểu do duyên cớ gì mà được đặt tên đường như thế?
Sự thắc mắc nguyên do ấy đã sớm được giải bày.  Câu chuyện nàng Công Chúa Huyền Trân con vua Trần nước Đại Việt biết thuận lời cha làm sứ giả hoà bình “hoá giải chiến binh” mà kết duyên cùng Quốc Vương Cham-pa họ Chế.  Nghĩa cử đó là một sự hy sinh cao cả, đem lại cuộc sống thanh bình cho quân dân hai nước, lại còn mở rộng được biên cương cho Tổ quốc với hai châu Ô, Lý… Tên con đường Huyền Trân Công Chúa là một biểu tượng hoà bình, một tấm gương hy sinh vĩ đại, mặc cho bao lời đàm tiếu xúc phạm của cửa miệng người đời thuở ấy!  Và cuộc chiến tranh dai dẳng giữa hai nước đã được minh chứng hùng hồn bằng một giai thoại truyền khẩu hết sức ly kỳ.
Chẳng biết câu chuyện xảy ra vào ngày tháng năm nào mà bản thân chúng tôi chưa có dịp được đọc trong lịch sử. Chỉ biết nghe và tin vào câu chuyện lý thú và ly kỳ được kể lại từ các bậc trưởng thượng: Để chấm dứt cuộc chiến thư hùng kéo dài trên vùng đất biên cương này, hai bên đã giao ước chỉ sau một đêm mà dọc hai bờ đối diện Bắc - Nam sông Hương ngày nay, từ Kim Long lên Linh Mụ, hễ bên nào huy động nhân dân xây hoặc đắp được một thành luỹ cao, dài và kiên cố hơn, thì bên thua sẽ tự động rút quân. Thế là ở bờ Bắc hì hục xây thành thâu đêm. Còn bờ Nam thì quan quân Chăm-pa ráo riết tập trung lực lượng khuân đá đào đất dốc sức đắp một bức trường thành kiên cố dài cả ngàn mét, từ mé chân đồi Thọ Cương (Long Thọ) chạy dài về phía Đông Nam, giáp sau đình làng Dương Xuân Thượng sau này. Và hy vọng là sẽ cao to, vĩ đại hơn thành luỹ phía bờ Bắc con sông. Nhưng tờ mờ sáng hôm sau, leo lên đỉnh “Thành Lồi” cao mà chỉ qua một đêm đã đắp được để quan sát sang phía đối diện. Khi sương phủ trên sông còn mờ mịt, thì đã thấy ở bờ Bắc con sông lộ ra một bức tường thành xây gạch đỏ chói cao, kiên cố và thật dài. Trên thành thì dày đặc quan quân tuần canh lui tới với cờ xí, gươm giáo, cung tên rợp trời, hết sức hùng hậu!  Vậy là phía bờ Nam thấy mình thua cuộc nên lặng lẽ rút quân lui xa.
Những tháng ngày thơ ấu trước năm 1954, bọn trẻ chúng tôi học tiểu học tại Trường đình làng Dương Xuân Thượng, ngày nghỉ có lần rủ nhau lên đồi Thành Lồi tổ chức đánh trận giả. Quân ta phục kích đánh Tây đi lùng, bắn nhau bằng súng hột gần hoặc cuống bời lời. Có lúc cả bằng “súng miệng.”  Nhưng kết cục thì bao giờ giặc Pháp cũng thua to, lính Tây bị bắt làm tù binh hàng loạt. Có lúc rủ nhau cùng đi dọc trên đỉnh đồi Thành Lồi mà quan sát xung quanh thật là thú vị.  Ngày ấy, khi Thành Lồi chưa bị bàn tay con người xâm phạm và lấn chiếm, thì cả dãy còn thật cao và dài. Đứng trên đỉnh đồi quan sát thật xa, rồi hướng về bờ Bắc sông Hương mà tưởng tượng về một bức thành gót được ráp vào một giàn giáo bằng tre cao và đồ sộ với bao quân sĩ đang tuần canh oai hùng mà thích thú. Còn ngay tại mé đồi không xa là một khoảng đất rộng, chỉ còn trơ lại nền đất cùng những khối đá tảng vuông và to… mà người lớn bảo là đền thờ các vua Chăm.  Nghe vậy mà sợ, chẳng dám đụng đến một thứ gì ở đó, dù chỉ là một viên đá nhỏ.
Xuyên qua giữa dãy đồi Thành Lồi là một con đường dốc khá cao, đỗ xuống con đường dốc là đường Huyền Trân Công Chúa cũ, tạo thành một ngã ba, mà xưa nay vẫn được gọi là “Ngã ba Thành Lồi.”  Ngày nay đã có trụ sở của Công ty khai thác đá. Vậy là con đường nối với đường Huyền Trân Công Chúa ngày trước (nay được đổi thành đường Bùi Thị Xuân) có liên quan với di tích Chăm-pa chạy thẳng lên tận lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh, ngày ấy chưa có tên và vẫn được gọi là đường Thành Lồi thì nay đã chính thức mang tên Huyền Trân Công Chúa.
Trở lại với đường Huyền Trân Công Chúa cũ (tức Bùi Thị Xuân hiện nay) chạy từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ và nối dài tận cuối làng Nguyệt Biều. Một con đường mà nhiều người vẫn bảo còn tàng ẩn bao nhiêu di tích văn hoá lịch sử chưa được làm hiển lộ. Xin điểm xuyết đôi nét gợi mở về những di tích còn tàng ẩn ấy. Có lẽ cũng có rất nhiều người biết rõ nhưng chưa có dịp quan tâm nói tới. Và những điều hiểu biết này cũng chỉ ở dạng hời hợt “cưỡi ngựa xem hoa”, mong quí vị thức giả miễn chấp.
Trước hết, không xa chỉ khoảng 300m từ cầu Ga Huế lên hướng Long Thọ, ta có ngay bến đò Trường Súng, nay là khu vực Bến Cát, Phường Đúc.  Có lẽ bến sông này là nơi tập kết các loại súng thần công được chế tác tại Chú Súng Trường (còn gọi là Trường Đồng, khu gò đất cao sát bờ sông Hương, gần đối diện với Nhà thờ Giáo xứ Phường Đúc), trước khi được vận chuyển vượt sông sang bờ Bắc sông Hương. Đến vị trí cầu Lòn phía trái đường cái không xa, chỉ khoảng 300m-500m, tiếp giáp với Bàu Vá là khu gò đất cao dần, được gọi là Lịch Đợi.  Danh từ Lịch Đợi có thể là đọc trại của Lịch Đại (qua các thời đại), là một từ khiến ta suy nghĩ về gốc nguyên ngữ, có liên quan gì với vùng đất thế nào, mới được chọn làm địa danh ở đó. Và trên vùng gò dân cư sầm uất này có di tích đền thờ các Vua Hùng và đền thờ các vua đầu của Vương triều Trần, được xây dựng vào năm thứ 4 triều Minh Mạng (1823) mà nay đã bị lấn chiếm nhiều. Có lẽ ngành văn hoá và bảo tồn nên quan tâm.
Dọc hai bên con đường, từ cầu Lòn lên giáp Cống Trắng có địa danh là ấp Xuân Giang, một cái tên thật mơ mộng đầy nét thanh bình: Con sông mùa Xuân. Với chiều dài khoảng một cây số mà cũng ẩn chứa một số di tích văn hoá lịch sử đáng để tâm tìm hiểu và chiêm bái. Dọc theo phía trái đường nhựa là cánh đồng Bàu Vá mà nay đang được lấp dần làm khu dân cư và thị tứ tương lai. Tít tận cùng phía Đông Nam cánh đồng này tiếp giáp vói rìa gò đồi của thôn Hạ 2 xã Thuỷ Xuân, có Đình làng Dương Xuân Hạ không kém phần uy danh cổ kính.
Cũng tiếp liền với đồng Bàu Vá này, nằm cạnh đường Bùi Thị Xuân, chúng ta có khu di tích Lăng mộ của nhà thơ yêu nước Hoàng Tộc Tuy Lý Vương mà qua giai đoạn chiến tranh đã bị lấn chiếm nhiều!  Nay được giải toả để bảo vệ, nhưng cũng chưa được tôn tạo gì.  Và cách đó không xa, cũng bên phía trái đường nhựa, trong khuôn viên Trường Tiểu học Phường Đúc là Đàn Sơn Xuyên - nơi thờ sông núi.  Chưa nắm rõ được xây dựng từ bao giờ.  Nhưng trong thập kỷ 50-60 của thế kỷ trước thấy vẫn được bảo quản nghiêm túc.  Có đài trên, đài dưới hình vuông xung quanh có lan can và bờ tường bao quanh.  Bao quanh bốn phía nền dưới là khoảng đất rộng, được trồng dương liễu ngay ngắn và xanh tốt.  Mùa Hè vẫn có các đoàn sinh hoạt thanh niên tới cắm trại.  Nay thì cái uy nghi và xanh tốt ấy đã bị mất quá nhiều, để mọc lên những dãy nhà dài ngang dọc làm trường học. Đây cũng là hình thức vi phạm di tích. Nhưng cũng may là khoảng sân Đàn Sơn Xuyên bên trên còn được bảo quản tương đối tốt.  Hoa quả, hương đèn vẫn có trên bệ thờ, ít nhất là trong các ngày sóc - vọng.
Vượt qua Cống Trắng, mé dọc bờ sông là ấp Bồi Thành mà phạm vi tiếp giáp với kiệt xuống bến đò Phường Đúc cũ. Có lẽ đến nay, hai địa danh này không có tâm trí người dân đang cư ngụ ở đó. Bởi ngày trước, nơi đây là xóm vắng với dân cư rất thưa thớt, nay thì nhà cửa đã quá sầm uất, mà phần lớn là người mới nhập cư, nhất là ở phạm vi Bồi Thành.
Đối diện với ấp Bồi Thành cánh đồng Bàu Sa không rộng, theo ông Nguyễn Hữu Thông đây là vị trí lấy đất sét phục vụ cho việc làm khuôn đúc ở Trường Đồng Nay thì khu ruộng sâu này đã được lấp đầy làm khu dân cư và một nửa thì xây dựng Trung tâm giới thiệu sản phẩm đúc đồng truyền thống Huế. Tiếp đến dọc bờ sông Hương, với chiều dài độ 500m, từ bến đò Phường Đúc cũ tiếp giáp Bến Chung, nằm ngay ngã ba của hai con đường Bùi Thị Xuân và Huyền Trân Công Chúa, là phạm vi của “Năm dãy thợ đúc.”  Đây là địa giới của làng nghề Phường Đúc cũ từ hơn 300 năm trước mà trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã mô tả rất cụ thể. Nơi đây có sự qui hoạch rõ ràng với địa danh 5 ấp là Giang Dinh (hay Giang Doanh), Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bản Bộ và Trường Đồng, mà hầu hết ở cuối mỗi dãy xóm, cạnh mé bờ sông, đều có một đình xóm được xây dựng khá uy nghi. Năm ấp này tên thường gọi ngày trước đến nay là “Năm dãy thợ đúc”.
Giang Dinh và Giang Tiền là nơi đóng quân của các đội lính thuỷ bảo vệ Phủ chúa Nguyễn ở Kim Long. Kinh Nhơn và Bản Bộ là nơi cư ngụ của những người lính thợ đúc đồng gốc Kinh Bắc và Thuận Hoá, được gọi là Chú tượng Kinh Nhơ Ty và Bản bộ Ty, đứng đầu mỗi ty là một vị Cai quan. Trong gia phả họ Nguyễn Kinh Nhơn, nhiều vị có chức danh là Chú tượng Kinh nhơn ty Cai quan. Lại có vị là Chánh dinh Suất nội Chú tượng Ngũ ty, với tước hiệu là Tuần Thành Bá.
Trường Đồng hay còn gọi là Chú Súng Trường nằm cạnh sông Hương, bên cạnh sông Hương, bên dưới Linh Mụ tự và bên trên Đại Sa Châu là nơi đúc súng và các loại đồ dùng, thờ tự trong phủ chúa. Đây là một gò đất cao, dù chỉ cạnh bờ sông mà trận lũ lịch sử năm 1999 nước chỉ thấu mềm nhà ở đỉnh gò ấy. Vì thế mới được chọn nơi đây làm công trường sản xuất thời các chúa Nguyễn.
Đối diện với Trường Đồng là Nhà thờ Giáo xứ Phường Đúc mà ngày trước có tên gọi là Giáo xứ Trường An (có lẽ được ghép từ chữ đầu của Trường Đồng và chữ sau của Vĩnh An, một ấp thuộc phạm vi gần tiếp giáp với Thành Lồi). Nhà thờ Giáo xứ này mới đầu năm 2008 đã tổ chức kỷ niệm 300 năm hình thành. Theo Việt sử giai thoại, đây là ngôi nhà nguyện được Chúa Nguyễn cho phép xây dựng đơn sơ theo yêu cầu của kỹ sư đúc tượng Jean de la Croix (người Bồ Đào Nha, làm cố vấn kỹ thuật cho công tượng đúc súng Trường Đồng) để làm nơi cầu nguyện theo tín ngưỡng của mình. Và cũng là nơi tổ chức lễ đám cưới cho ông kỹ sư này với một cô gái người bản xứ. Mà sách ấy gọi đây là mối tình Âu - Á đầu tiên của Phú Xuân… Với những tư liệu ngày vừa trình bày, ngược dòng lịch sử thì nơi “Năm dãy thợ đúc” này ngày trước cũng thật là sôi động!
Trở lại bến đò Phường Đúc cũ, từ ngã tư giao điểm đường nhựa và đường bê-tông, lên phía gò đồi của thôn Thượng 4 độ khoảng 300m, ngày trước vẫn có tên là Độn Kho thuốc. Có lẽ đây là nơi làm kho chứa thuốc súng, dùng cho các loại súng thần công đúc tại Chú Súng Trường nói trên.
Lên tiếp phía Long Thọ, chỉ trong một phạm vi không rộng mà có đến hai di tích là Hổ Quyền và điện Voi Ré. Cách đây 60 năm, tôi vẫn còn nghe người lớn đọc câu ca dao:
 Con ai nhỏ nhỏ mà hoang,
 Cầm que củi mục xoi hang Hổ Quyền!
Dạo ấy chưa nắm rõ Hổ Quyền là gì mà nghe cụm từ “xoi hang Hổ Quyền” thì cũng đã phát khiếp. Tiếp sau lưng điện Voi Ré là đồi Thọ Cương. Trên đồi thì có Kho Thượng - nơi chứa sản phẩm sành sứ sản xuất ở thời đó - rồi chuyển xuống bến đò Kho Thượng, ở mé sông cạnh chân đồi, vận chuyển đi phục vụ xây dựng cung điện đó đây. Ở mé Nam của đồi Thọ Cương có Phủ thờ của Hoá Quốc Công.
Vượt qua cầu và Nhà máy xi-măng Long Thọ là con đường nhựa tuy nhỏ nhưng khá thẳng, chạy dọc suốt làng Nguyệt Biều, tiếp giáp với bãi sa bồi thôn Lương Quán.  Đây là một đoạn trên của đường Bùi Thị Xuân.  Nghe đâu các cấp liên quan đang có kế hoạch xây dựng Nguyệt Biều - Lương Quán làm khu di tích sinh thái vườn, mà đặc chủng là cây thanh trà nổi tiếng nơi đây. Bên cạnh những vườn cây thanh trà xanh mát và tươi tốt, thì Nguyệt Biều xưa vẫn là nơi xuất thân một số vị đại công thần vừa là phu quân của các Công Chúa triều Nguyễn. Tiêu biểu như Phủ thờ Công Chúa Mai An, con vua Minh Mạng, vưà là một nhà thơ. Công Chúa Trang Nhàn con thứ 23 vua Minh Mạng và gần cuối đường nhựa là Phủ thờ Lễ hộ Thượng thư Đặng Đức Siêu dưới thời vua Gia Long, được phong tước Hầu lúc qua đời (vợ ông Siêu được treo bảng vàng là “Tiết phụ khả phong”), có con trai làm Tổng trấn Nghệ An. Trước cổng phủ này nay vẫn còn ghi “Biểu sinh phường”...
Như thế, nhìn lại chỉ trên tuyến đường Huyền Trân Công Chúa cũ, được nối dài đến cuối làng Nguyệt Biều với độ dài khoảng 5 cây số mà nay đã được đổi tên là Bùi Thị Xuân, với hơn 600 số nhà và đường kiệt, đến nay vẫn còn tồn tại một con số không nhỏ những di tích văn hoá lịch sử, mà một số lớn vẫn còn đang dạng ẩn. Thiết nghĩ, các ngành chức năng bảo tồn và du lịch phối hợp cùng nổ lực khôi phục, làm hiển lộ đầy đủ những di tích này và thiết lập một "tour" du lịch liên hoàn thì có lẽ tiềm năng cũng không nhỏ.
      
Nguyễn Văn Tạo
Tháng 9 - 2009
(Trích Đặc San Ký Ức và Hoài Niệm)





Giáo Già Tự Bạch (PKT) & Các bài họa và cảm tác của Phương Hà, Song Quang, và MXThanh, Nguyễn Đắc Thắng

    Giáo Già Tự Bạch

Sông dài, nắng đổ, dòng trong đục,
Trời đất mênh mang, ai mắt xanh.
Đời chán hay không thôi bỏ mặc,
Tuổi già sao nỡ để qua nhanh.
Đã không màng đến vòng sinh lão,
Thì có nghĩa gì bả lợi danh. 
Khôn dại, làm vui, nhà giáo dở,
"Thày ơi," hai tiếng chẳng ai giành.

Lời Thêm: Giáo Già Tự Bạch, 2 câu đầu còn là để ghi lại một kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Thiệu Lâu, thày tôi, một trưa tháng 8/1954 Sài Gòn, chợt mưa chợt nắng, đã được thày ngâm cho nghe 2 câu trong bài Đời Đáng Chán Hay Không Đáng Chán của Tản Đà. "Giang hà nhật hạ nhân giai trọc / Thiên địa lô trung thục hữu tình."

 PKT 08/27/2014 

***************************
Bài họa

Tiếng Thơm Muôn Thuở

Dòng sông dẫu nước trong hay đục
Thì bến bờ kia vẫn mướt xanh
Mái tóc người chèo dù đã bạc
Con thuyền tri thức mãi trôi nhanh
Học trò bao kẻ nên cơ nghiệp
Thầy giáo một đời chẳng lợi danh
Cuộc sống thanh bần, lòng rộng mở
Tiếng thơm thiên hạ dám đâu giành.
                  Phương Hà

************************
Theo gót Chị PH, SQ cũng xin được nối tiếp và mượn vận bài thơ của Thầy PKT để có bài Tự Gẫm 2. Xin gởi để cùng xem.

Đây chỉ là sự tự gẫm của riêng mình và xin lỗi Thầy Trí cho SQ thay vận của câu 8 để phù hợp với ý của học trò.  Xin kính

                                              Tự Gẫm 2

                                Dòng đời dù có trong hay đục!
                                Trời vẫn một màu luôn mãi xanh
                                Nợ nước, tri ân đâu để mặc
                                Tình Thầy nghĩa trọng chớ quên nhanh
                                Dẫu rằng nên phận người tri thức
                                Thì chẳng trở thành kẻ hám danh
                                Trọng đạo tôn sư đừng bỏ dở
                                Sách còn ghi chép nét rành rành

                                                   Song Quang
                  
                      *******************************

                
                 **********

Bài họa 1 của MXThanh
                     ***
Bài họa 2 của MXThanh

Qua cầu nước chảy dòng sông đục,
Lên nguồn thấy suối vẫn trong xanh.
Buồn chán lo chi âu cũng mặc,
Ưu phiền luống tuổi nỡ qua nhanh.
Thầy không nghĩ ngợi vòng sinh lão
Ai có mơ gì chút lợi danh!
Thiên hạ dại khôn trêu giáo dỡ,
"Thầy ơi!" Tôn quý chấp ai giành.(?)
Mai Xuân Thanh  kính bút xin họa :
Thơ GIÁO GIÀ TỰ BẠCH - (PKT)    
Ngày 05 tháng 09 năm 2014

**********************************


               Vui Tuổi Già

Cuối đời còn lại mấy ngày vui
Rất đáng nâng niu, chớ bỏ trôi
Quá khứ đã qua, không luyến tiếc
Tương lai sẽ đến, hãy tươi cười
Cầm kỳ giải trí vơi sầu muộn
Thi hoạ say mê quên vận xui
Tận hưởng phút giây trong hiện tại
Đừng quay nhìn lại để bùi ngùi.
                   Phương Hà

********************
Lời Tự Tình
Cuộc đời dân Việt ai không khổ!
Thiên sử quê hương khúc đoạn trường
Cơn bão mê cuồng từ ý hệ
Một thời tản lạc bước tha phương
Hồn xưa dần hủy trong đau đớn
Kẻ sĩ cúi đầu tự vấn vương
Nhà giáo ưu tư nhìn ngẫm lại
Chạnh lòng thương cảm luận vô thường!

Nguyễn Đắc Thắng - 20140915


Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Nợ Tình - Phượng Ngày Xưa & Nợ Anh (Công Chúa Không Tuổi)

  1. Cám tác từ bài Nợ của Cát Tường
  2.  Nợ Tình
  3.   Phượng Ngày Xưa
  4.            ***
    Người ơi, đừng quá thơ ngây
    Nợ gì cũng được chớ vay nợ tình
    Trả hoài cho đến cùng đinh
    Thân tàn ma dại, bóng hình héo hon
    Vốn ròng cộng với lãi con
    Còng lưng trả nợ, chẳng mòn bạc vay
    Sinh thêm cháu chắt dài dài
    Sống hơn trăm tuổi, trả hoài chữa xong...
    Đừng mong quỵt nợ uổng công
    Cọp beo sư tử hiệp đồng nát xương
    Cuộc chơi như bãi chiến trường
    Thắng thua gì cũng nợ vương ngập đầu
    Trần gian lắm chuyện bể dâu…

  5. Phượng Ngày Xưa
  6. Saigon 20/8/2014

  7. Cảm tác từ hai câu thơ trong bài Nợ
  8. cùa Cát Tường trên Facebook:
  9. “Vay em chỉ có năm ngàn
    Mà anh phải trả một đàn con thơ”
                                         (Hình minh họa - internet)  
                     "Mà anh phải trả một đàn con thơ"

*****************
                  
***********************
Góp ý:


1.
Má hồng sao trả hỡi em
Tình anh tận hiến, lem nhem xin chừa.

          Dũng
*******
2.

Những Mảnh Đời Thua Thiệt - Lão Gàn

Những Mảnh Đời Thua Thiệt
                                             Bài viết của Lão Gàn

5:30 giờ sáng, ả mở cổng nhà. Hai con chó đang lẹo nhau ngay giữa cổng. Con cái là giống chó ta, nhỏ, thấp; con đực là giống chó Tây, to cao. Thấy ả, sợ hay thẹn - chẳng ai biết được tâm trạng của chó, con đực chạy, kéo con cái theo dùng dằng; có lẽ đau, con cái vừa lết vừa gào “căng, căng.”  Một vài trẻ trong xóm ùa ra vỗ tay, la hét; hai đứa nghịch ngợm, tìm lấy cái sào, định thò vào giữa đít đang đấu nhau của hai con chó gánh lên; nhưng may, chúng đã tháo ra được, quặp đuôi, chạy mỗi con mỗi đường, biến mất.

Ả đã trên 60 tuổi. Mặt mũi còn hồng hào, da dẻ còn trắng trẻo. Mấy ông lão rảnh rỗi thường đến nhà ả, hút điếu thuốc lẻ, uống chai bia, cốc rượu, xem như kiếm cơ hội để gần gũi ả.
Chiến tranh ác liệt đã giết quá nhiều trai tráng cả ở miền Bắc lẫn ở miền Nam. Con gái trưởng thành khó kiếm chồng, trong đó có ả.
Trong thời chiến tranh, gái lớn lên phải hy sinh quyền riêng cho lợi chung. Đặc biệt ở miền Bắc, họ bị ràng buộc bởi chính sách “ba khoan”: (1) Chưa yêu thì khoan yêu, (2) Lỡ yêu rồi thì khoan cưới, (3) Lỡ cưới rồi thì khoan có con. Xã hội quản lý con người rất chi li, nghiêm khắc; phụ nữ không chồng mà chửa bị cho là “hủ hóa,” bị phê bình kiểm điểm ở nhiều nơi, ở nhiều cấp... trong nhiều cuộc họp: đoàn, đội, hội, hợp tác xã...

Sau năm 1975, tối tối, dân thường xuyên tập trung học tập chủ trương, đường lối của chế độ mới. Người người dự họp đông đủ; thuở ban đầu, người ta vừa sợ vừa tò mò muốn biết cán bộ phổ biến những gì, nên không ai dám trễ họp và vắng họp. Tan họp, ra về, những người có nhu cầu lợi dụng màn đêm tối để thỏa mãn chút dục vọng. Lại thêm, chính quyền phát động những chiến dịch làm thủy lợi, huy động dân cơm đùm gạo bới phục vụ đào mương đắp đê từng thời gian dài. Ngày lao động trên công trường, đêm về trong các lán trại, người ta nằm chung đụng nhau hay những ai có tình ý rủ nhau ra những lùm cây, những bụi bờ vắng vẻ tâm sự tỉ tê.  “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” và những đứa trẻ mà tông tích bố không rõ ràng ra đời.

Trong những năm mới hòa bình, Nhà Nước có chủ trương phụ nữ được quyền làm mẹ đơn thân nghĩa là cho phép những phụ nữ nào không chồng được kiếm con. Mà phải vậy thôi! Ở nước ta, ai cũng cần có con; con xem như chỗ dựa lúc già yếu, ốm đau và chung sự. Còn lâu nước ta mới có đủ nhà dưỡng lão nuôi những cụ ông, cụ bà cô đơn như ở các nước hiện đại có hệ thống an sinh xã hội vững vàng. Ngoài ra, những phụ nữ đơn thân chả lẽ sống đến chết mà không biết chi “chuyện ấy” hay sao! Họ cũng cần hưởng một chút “mùi đời” chứ!

Ả cũng như nhiều ả khác trong làng, sắc diện trông cũng được, tính tình cũng hiền hậu, vui vẻ, vượt qua tuổi hai mươi, bắt đầu “hâm” đi “hâm” lại, nhờ có nhiều cơ hội do tình thế mang lại và dựa vào chính sách “thông thoáng” về gia đình của Nhà Nước, tìm cách xin con và có được một con trai.
Con khôn lớn, đi làm. Tuổi già, một mình không thể theo nghề nông được, ả dọn bia, rượu và nhu yếu phẩm linh tinh tại nhà bán cho dân trong xóm.

Hôm ấy, đã 9 giờ sáng rồi mà chưa thấy ai đến mua gì, ả đi lui đi tới, bắt mặt nhìn ra, như đang chờ đợi ai; ả cầm chổi quét nhà, quét sân. Ả dọn vén luôn tay để tiêu phí thời giờ và vốn là dân nông thôn, ả có tính thích làm việc. Nhà ả trông ngăn nắp lắm,

Ba cụ trong xóm bước vô, ngồi vào bàn.  Cụ trên 70, cụ xấp xỉ 70, cụ ít tuổi nhất cũng 65. Họ không việc. Mà người cao tuổi thời nay đa số đều không việc; con, dâu đi làm, kiếm sống; cháu nhỏ thì gởi nhà trẻ, mẫu giáo, cháu lớn thì đi trường. Nhà cũng không cần người giữ; người đi ra hết, chỉ cần bấm ổ khóa  lại là xong.
Khỏi trông cháu, khỏi giữ nhà, việc còn lại của các cụ là giúp phơi cất, chế biến nông sản; nhưng khốn nỗi, nghề nông cũng không còn! Trên đà đô thị hóa, Nhà Nước thu hồi ruộng đồng đưa vào quy hoạch thành khu dân cư, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí... 

Các cụ trước đây có phục vụ "cách mạng" giờ về hưu, còn tham gia công tác ở địa phương, trong hội người cao tuổi..., nay họp chỗ này, mai họp chỗ kia, vừa có thêm thu nhập vừa qua hết thì giờ.
Các cụ hưu trí khác rảnh rỗi thì sáng chiều gặp nhau, ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự: tình hình Ukraina, chiến sự Trung Đông, công tác chuẩn bị đại hội đảng 12 ... Nhờ thế, ngày tháng trôi qua mà ít để ý.


Một số cụ - không nhiều - có chút học vấn thì ngồi làm thơ, tham gia các câu lạc bộ thơ; làm xong thơ, trong hội họp, trong tiệc tùng, đọc để khoe thi tài của mình. Tội nghiệp do hơi yếu, giọng đọc đứt tiếng nhiều chỗ; chẳng ai thèm nghe, người ăn cứ ăn, người uống cứ uống, người nói chuyện riêng cứ nói.
Mấy cụ có chút lộc do con cháu ở xa về mừng thì tụ tập ở các sòng cờ quân; mê mải theo kiệu cờ, ngồi quên trưa quên tối; ở nhà, vợ con đến bữa phải chờ đợi, cằn nhằn.
Các cụ còn lại thì hết ngồi lại nằm, hết nằm thì đi lòng vòng quanh xóm. Học vấn không, thành tích không, tiền bạc không, họ sống kiếp dư thừa mà không hay biết.

Ba cụ - có hẹn nhau hay tình cờ gặp nhau, không biết - vào quán, ngồi nói chuyện “trên trời dưới đất.”  Ba cụ thèm, muốn uống bia, nhưng không cụ nào có tiền trong túi. Tiền mô ở các cụ cựu nông dân này! Ăn uống thường ngày được con lo cho là may lắm rồi.  À thế đó!  Cuộc sống đô thị tạo ra cái tính đua đòi; ngày xưa, để chống nhức mỏi, đi làm đồng về, các cụ ghé nhà nấu rượu, uống một cốc nhỏ, gọi là “uống rượu trự” (trự là đồng bạc lẻ), ghi sổ; đến vụ, có thể trả bằng lúa. Bây giờ, giới trẻ uống bia thì giới già cũng uống bia. Các cụ không biết rằng giới trẻ làm ra tiền, nhiều khi không cần làm mà vẫn có tiền – tiền do mánh mung, tiền do gian lận, tiền do người bị làm khó dễ trong công việc đút lót.

Để bà chủ quán yên tâm cho ngồi, một cụ bày chuyện nói:
- Từ giờ đến chiều, ai đoán đúng có mưa ở vùng mình hay không. Đúng, tui chịu một két, sai, người đoán chịu một két.
Cụ bên cạnh góp ý:
- Nói vùng mình thì rộng lớn quá. Từ Thanh Hóa vô Thừa Thiên  Huế? Cả tỉnh mình? Chỉ thành phố mình? Chỉ phường mình đây?
Để xác suất mình phải chịu một két ít đi, cụ phát biểu đầu tiên nói rõ:
- Thôi chỉ tại ngã tư, nơi chúng ta đang ngồi.
Cụ còn lại biết việc bàn cãi chẳng đâu vào đâu, kết luận sự việc:
- Cần uống chừ mà hỏi: đến chiều có mưa không. Uống xong, về,  ghi sổ nợ hay răng. Mà ghi sổ nợ, rồi biết lấy chi để trả; thóc trong bồ không có, lấy chi xúc trộm đem lén bán. Mấy ông nói chuyện viễn vông. Thôi tui về, hai ông muốn mần răng đó thì mần.
Một cụ bước ra, rồi hai cụ còn lại bước ra theo. Một chầu bia hụt.

Sáng nay, bà chủ quán mất “mè xưa,” bà chưởi lằm bằm: “Tổ cha hai con chó nhà ai mới sáng đã lẹo chắc trước cổng nhà tao, hèn chi!”

28/8/2014




Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Nắng Thu Đưa Đón Học Trò - Mai Xuân Thanh



Nắng Thu Đưa Đón Học Trò

Hằng trăm tác giả viết  mùa Thu,
Sương trắng ban mai thấy mịt mù...
Lá đổi thay màu rơi rớt nhẹ,
Cành trơ nhánh rũ nắng âm u...
Ngồi xe đón rước đôi em nhỏ,
Đứng đợi chờ trông mỏi gối ru...! 
Đâu đó nghe còi kêu vọng lại,
Phụ huynh dõi mắt... gió vi vu ...


Học sinh lũ lượt kéo nhau ra,
Xe đậu chen chân đón cháu ta.
Mẫu giáo lớp Ba rồi lớp Bốn,
Cấp hai cũng phải kịp giờ qua...
Các em lớn nhỏ theo từng lớp,
Cô giáo tươi cười đẹp nở hoa...
Đưa rước chu toàn nghe nhẹ nhõm,
Trời Thu ấm áp uống chung trà...!

Mai Xuân Thanh
Ngày 26 tháng 08 năm 2014








Hoài Niệm về Trường Cũ và Tưởng Nhớ Một Người Bạn đã Ra Đi - Trần Duy Lộc



Hoài Niệm Về Trường Cũ và       Tưởng Nhớ Một Người Bạn Đã Ra Đi


Vào nhũng năm 58, 59 là giai đoạn thúc bách của cuộc sống. Lúc đó tôi đã tôt nghiệp THĐIC và muốn có một việc làm để giải quyết cá nhân. Tôi đã nộp đơn thi vào Sư Phạm, Y tế nhưng không ngành nào giúp tôi đạt được ý nguyện.  Đang suy nghĩ mình phải làm gì đây hay cứ tiếp tục ngồi mãi trên ghế nhà trường. Đùng một cái có thông báo tuyển sinh vào Viện Hán Học. Đây là ngành mới lạ đối với nguyện vọng của tôi.  Nhưng nghĩ lại, mình đang cần giải quyết cuộc sống thì việc gì phải chọn ngành đúng sở thích, miễn sao hàng tháng có học bổng và lúc ra trường được bổ dụng là đạt sở nguyện rồi.  Với thực tế đó, tôi vội vã lập hồ sơ dự thi.
Tôi còn nhớ ngày thi tuyển đúng vào lễ Noel (25/12) tại giảng đường Viện Đại học Huế. Lần đầu tiên ngồi thi trong một giảng đường rộng lớn, uy nghiêm gây cho tôi một ấn tượng khó quên. Có lẽ đây là đợt thi vét cuối năm nên ban tổ chức tranh thủ để sớm có kết quả.  Đúng một tuần sau danh sách trúng tuyển được công bố. Tôi rất vui mừng khi có tên mình trong danh sách tuyển dụng. Và kỳ lạ thay sự tiên đoán của tôi khá chính xác.  Sau ngày thi tôi cứ nhẩm tính bài vở không có gì xuất sắc, lại không có cộng điểm môn Nhiệm Ý Hán Văn. Nếu có trúng tuyển chăng thì sẽ xếp vào thứ ba lăm trở đi.  Không ngờ danh sách trúng tuyển của tôi được xếp thứ 34/40. Tuy kết quả đậu rất khiêm tốn nhưng tôi rất mãn nguyện vì từ đây cuộc sống không còn bấp bênh, lo âu nữa. Đọc kết quả lần cuối rồi vội vã lên xe về báo tin cho thân phụ tôi biết. Được tin trúng tuyển ba tôi rất hoan hỷ vì ông vốn trọng Nho Học.
Ngày khai giảng đầu tiên vào thứ hai đầu năm mới (1960) tại Di Luân Đường, nằm trong khuôn viên trường trung học Hàm Nghi.
Cuộc đời tôi từ nay gắn bó với Viện Hán Học và sự nghiệp cũng bắt đầu từ đây.
Lớp học chỉ vỏn vẹn bốn mươi sinh viên nhưng nếu kể thêm những người dự thính thì có thể lên tới con số 45. Đây là lớp học đầu tiên của VHH và có những nét đặc biệt: số sinh viên cả nam lẫn nữ (37 nam sinh 3 nữ sinh). Giọng nói thì đủ cả ba miền. Nam thì có anh Trần Bá Nhẫn, Bắc thì có anh Lê Văn Sự.  Còn miền Trung thì chiếm đa số như anh Dương Trọng Khương ở Nha Trang, Vương Hữu Lễ Quảng Nam, Phan Thị Hồng Hạnh ở Đà Nẵng, Trần Văn Hoành ở Quảng Trị. Số sinh viên còn lại là những người nói giọng Huế như Lê Nhất, Ngô Khôn Liêu, La Cảnh Hùng, Hoàng Công Phu, Hồ Thị Lài và Nguyễn Thị Kim Chi...
Một điểm khác là tuy tuyển vào học Hán Văn nhưng có một số sinh viên có trình độ Hán Văn rất cao và tuổi tác có người xấp xỉ hoặc lớn hơn một số thầy trẻ trong Ban Giảng Huấn. Đúng là nhân tài đang hội tụ trong khóa đầu tiên của chúng tôi.
Do hoàn cảnh tôi sống trầm lặng, ít giao du với bạn bè và thường tránh xa những bạn có tâm hồn cởi mở, vui tính... nhưng so với Tuân, người bạn ngồi cùng bàn, cá tính còn đặc biệt hơn tôi nhiều: sống trầm mặc, lặng lẽ, không thích giao du với bạn bè. Đôi khi Tuân còn tỏ ra bẽn lẽn và tránh những chỗ đông người.  Những ai muốn tìm nụ cười trên nét mặt của bạn cũng không phải dễ.
Có lẽ vì những đặc điểm nêu trên mà chúng tôi đã đến với nhau và trở thành bạn thân trong năm học đầu tiên. Chúng tôi đã gắn bó với nhau trong suốt giai đoạn học tập tại VHH. Ngoài Tuân ra tôi còn chơi với bạn Liêu, bạn Hùng, bạn Phạm Đức Minh. Có lẽ đây là những người bạn dễ cảm thông nhau.
Do cá tinh đặc biệt của Tuân và tôi, một số Thầy, Bạn không khỏi ngạc nhiên.  Có lần bạn Hoàng Xuân Minh từng trách khéo tôi: “Lộc này, tao thấy mầy nét mặt luôn luôn nghiêm nghị, trầm ngâm trông như ông tướng không bằng...” Tôi chỉ mĩm cười chứ không phân trần.  Cũng may tôi được ví với Hồ Tôn Hiến trong truyện Kiều mà cụ Nguyễn Du đã mĩa mai: “lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Lời nhận xét của bạn Minh quá chân tình đến nay tôi vẫn còn nhớ và thầm cám ơn bạn, ít ra đã quan tâm đến bạn bè.
Tuân sinh năm 1942, ít hơn tôi hai tuổi nhưng có lẽ do tập trung học tập nên hầu như suốt khóa học lúc nào bạn cũng đạt học bổng toàn phần. Bù lại, tôi có hướng vươn lên: vừa học vừa chuẩn bị thêm chương trình Tú Tài 1 và 2, nên vào cuối năm thứ tư tôi đã tôt nghiệp bằng Tú Tài 2 ban D. Và sau đó tiếp tục học ở ĐH Văn Khoa Huế. Còn Tuân thì khiêm tốn bằng lòng với cái nghề đang chọn.
Vào những dịp lễ hay cuối tuần, chúng tôi thường hẹn nhau ra công viên Trần Hưng Đạo hoặc ghé bờ sông Hương phía trước đài phát thanh Huế để tâm sự hay nói chuyện phiếm...
Tình bạn giữa tôi và Tuân không phải là loại bạn vàng như ca dao từng ví von:
“Bạn vàng chơi với bạn vàng.
Không tiền mua thuốc lượm tàn hút chơi.”
Và cũng không phải là loại tri kỷ tri âm như Bá Nha và Tử Kỳ hoặc cũng không xếp loại ma men bí tỉ như Rimbaud và Verlaine:
“Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men”
Mà là bạn tâm sự, nỗi lòng với những ẩn ức sâu kín không ai có thể lý giải ngoài chính mình và cũng ít ai dễ cảm thông trừ những người có cùng cảnh ngộ.  Đúng như người xưa có nói: “Ngưu tầm ngưu mã tầm mã” hay "đồng thanh  tương ứng đồng khí tương cầu”.
Có một điều ít ai để ý những người sống trầm lặng thường có một nội tâm phong phú.  Nêu lên điều này không phải tự biện minh mà qua những lần trò chuyện, trao đổi với Tuân, tôi được biết bạn có một nhận thức tinh tế và kiến thức phong phú, chỉ khác một điều là bạn không muốn nói ra thôi.
Tuy sống suốt 5 năm bên nhau nhưng chúng tôi vẫn chưa khám phá con người đích thực của bạn. Đây không biết là ưu hay khuyết trong tình bạn giữa chúng tôi.
Sau ngày ra trường, mỗi người chuyển đi dạy một nơi. Tôi nhận quyết định ra dạy tại Đông Hà chung trường với bạn Ngô Khôn Liêu. Còn Tuân về dạy ở trường thuộc huyện Duy Xuyên xã Hòa Vang. Chính nơi đây bạn đã gặp người bạn đời và đã sinh được một người con trai, nay đã trưởng thành.
Sau ngày 30 - 4 - 1975, Tuân trở lại vườn nhà cũ ở Vỹ Dạ và dạy tại trường cấp hai Phú Vang.  Lần này tôi đang dạy tại TH Hương Trà và đến cuối năm 1980 xin chuyển vào miền Tây.
Những lần về Huế, thỉnh thoảng tôi có ghé thăm bạn.  Lúc gặp nhau chúng tôi thường ôn chuyện cũ thời còn tập tểnh làm ông đồ của thế kỷ 20 và kể cho nhau nghe về cuộc sống hiện tại.  Có lần vào buổi trưa lúc 13h30 tôi ghé thăm bạn, hôm đó Tuân và vợ đều ở nhà. Nhân lúc có gáng bánh canh rao ngoài đường, Tuân vội bảo vợ mua để đãi tôi. Chúng tôi vừa thưởng thức đặc sản của quê hương, vừa nhắc lại  những kỷ niệm lúc còn ở Hán Học.  Câu chuyện thật tâm đắc vì ít khi có cuộc hội ngộ đầy đủ như hôm nay. Tôi cao hứng giới thiệu bài thơ Đường Luật lúc làm ở Cần Thơ.  Tôi còn nhớ bài đầu tiên là : “Mừng hội đồng hương” ở Cần Thơ.
             Bao năm mong mỏi Hội Đồng Hương
             Nay hội quê hương đã mở đường
             Nhớ tới sông Hương lòng rộn rã
             Mơ về núi Ngự dạ buồn thương
             Giang hồ lưu lạc nơi quê lạ
             Hội ngộ hàn huyên chuyện Cố hương
Đọc đến đây Tuân ngắt lời tôi: “Xa Huế chỉ có thời gian ngắn mà tình cảm lại đậm đà lai láng thì ai dám bảo là con người khô khan, bi quan như lúc còn ở Hán học”...
Tôi lại giới thiệu tiếp bài Thầy Giáo:
              Xã hội trăm nghề sống ấm no
              Riêng người Thầy Gíao phải toan lo
              Đồng lương không đủ tiêu tròn tháng
              Bát gạo tăng hoài dễ ốm o
Chỉ đọc bốn câu đầu Tuân lại cười chúm chím và trách tôi: Nói chi mà nặng nề, bôi bác dữ rứa, chỉ tội nghiệp cho ông thầy mà thôi.”
Tôi không trả lời đọc tiếp bốn câu cuối:
               Đùa vậy cùng ai vui chốc lát
               Xưa nay Thầy giáo vốn giàu to
              Cho hoài chữ nghĩa nào đâu hết
              Chưa kể tình thương chứa cả kho.
Vừa dứt câu cuối, Tuân cười hể hả, buông lời thắc mắc: “Ít ra Thầy giáo phải loại tích cực như rứa, nhưng có thiệt không đó? Giàu kiểu nầy thì tổ khổ cho vợ con lấy tiền đâu mà sống !!!”
Bẳng đi hai năm tôi không về Huế nên không có dịp ghé thăm. Vào năm 2004 nhân chuyến về xây mộ cho thân mẫu, tôi ngang qua Vỹ Dạ tạt ghé vào thăm bạn. Lần nầy cổng ngoài khóa kín, bên trong đóng cửa im ỉm.  Cảnh vật trông im lìm hoang vắng. Tôi ghé nhà hàng xóm đối diện để hỏi thăm về người bạn.  Chị hàng xóm cho biết Thầy Tuân vừa mất cách đây sáu tháng.  Nghe tin dữ, tôi bàng hoàng xúc động không ngờ bạn lại ra đi sớm như vậy.  Nghĩ đến người bạn thân năm nào, tôi muốn vào đốt nén nhang để tưởng nhớ người bạn thân yêu, nhưng nhà đã vắng chủ nên đành chịu, lặng lẽ quay về quê.
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Viện Hán Học, tôi xin đốt nén hương lòng tưởng nhớ quý  Thầy Bạn từng sống dưới mái trường Hán Học nay đã về cõi Vĩnh hằng.  Đặc biệt tôi xin chúc người bạn thân yêu sớm siêu thoát và cầu chúc gia đình bạn được nhiều thuận lợi, tiếp tục những gì mà bạn chưa thực hiện được.
         Cần Thơ, ngày 29/09/2009
TRẦN DUY LỘC (KHÓA I 1959-1964)