Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

Thuyền Đêm (Mailoc) & Bài họa của thi hữu Mai Xuân Thanh, Liêu Xuyên

                

THUYỀN ĐÊM
(NĐT)

Sóng bủa chèo lơi lặng lẽ thuyền
Đàn ai nức nở giữa màn đêm.
Chiều buông dạ khúc sầu cô lữ
Lá đổ lòng quê chạnh nỗi niềm.
Lạnh lẽo trăng tàn say tỉnh giấc
Mơ màng khói quyện não nề duyên.
Hồi chuông vẳng lại buồn vương khách
Mộng dỗ canh dài khắc khoải quyên!
Mailoc
8-18-20


Tiễn Bước Chàng Đi 

Tiễn anh lặng lẽ bước lên thuyền
Nức nở trong lòng giữa bóng đêm
Văng vẳng nghe đàn ca thổi sáo
Rộn ràng tấu nhạc khúc rơi niềm
Trăng tàn lạnh lẽo mình say giấc
Lửa tắt mơ màng thiếp lỡ duyên
Chuông vọng tình quê buồn cố quận
Canh dài ai khóc kiếp hoàng quyên !...

Mai Xuân Thanh
Ngày 22/08/2020



THUYỀN XA BẾN

Đọc Xuôi :

Mờ trăng nước quyện bến xa thuyền,

Sóng bủa bèo trôi lạnh vắng đêm.

Hờ hững gió buồn thương cảm phận,

Tái tê sương giá buốt đau niềm !

Thơ sầu điệu nhớ hờn tan nợ,

Nhạc thấm lời ca hận rẽ duyên !

Lơ lững nguyệt tàn mây ẩn hiện…

Mơ tình mộng luyến thảm đời quyên !


Đọc Ngược :

Quyên đời thảm luyến mộng tình mơ,

Hiện ẩn mây tàn nguyệt lững lờ.

Duyên rẽ hận ca lời thấm nhạc,

Nợ tan hờn nhớ điệu sầu thơ.

Niềm đau buốt giá sương tê tái,

Phận cảm thương buồn gió hững hờ.

Đêm vắng lạnh trôi bèo bủa sóng…

Thuyền xa bến quyện nước trăng mờ !

   Liêu Xuyên





Nhớ Gò Công - Nguyễn Cang

      NHỚ GÒ CÔNG

(Riêng tặng  “người Gò Công”,  với những địa danh thân thương còn in dấu)

C:\Users\cangs\OneDrive\Documents\layhinh\hinh1077.jfif

Thương về em gái đất Gò Công

Màu mắt thơ ngây má ửng hồng

Những buổi trưa hè tan lớp học

Đón em cho thỏa nỗi chờ mong


Dòng sông uốn khúc nắng chang chang

Long Chiến* qua cầu vội bước ngang

Từ đó hai dòng đời cách biệt

Thôi rồi tan hết giấc mơ vàng…


Những lần hò hẹn Ao Trường Đua*

Phố vắng đường khuya tiếng guốc khua

Tà áo ai bay vương nắng hạ

Phất phơ trong gió lạnh giao mùa


Nhớ những chiều xuân trên phố vắng

Một mình ngồi uống tách cà phê

Lặng nghe tiếng hát hờn vong quốc

Chinh chiến hành nhân mấy kẻ về?


Trường cũ ơi, môi hồng tuổi ngọc

Tiễn em đi mấy nẻo đường quê

Để Tân Tây* nhớ màu hoa nắng

Gọi mãi tên người giấc ngủ mê


Mưa đổ Cầu Tàu* qua Bến Bắc*

Bãi Bùn Đen*, nước đỏ phù sa

Theo ta gặm nhấm hồn xa xứ

Vẫn đợi sang sông những chuyến phà


Thuyền ai tách bến xuôi Bao Ngược*

Xào xạc ven bờ mấy bụi lau

Bìm bịp giã chài kêu nước lớn

Giục lòng lữ khách thấy nao nao


 Đò hỡi đưa ta về chốn cũ

Để ta thăm lại chiến trường xưa

Nhỏ đôi dòng lệ thương người mất

Đốt nén hương lòng thỏa ước mơ


Kỷ niệm cũ giờ đây mờ ký ức

Bể dâu từng mảnh rớt đời tan

Đừơng trần gian khổ thương ai khóc

Vạt nắng chiều tàn, lệ chứa chan!


Thuyền nhỏ chồng chềnh con nước lớn

Đón ta đi Chợ Mới Gò Công*

Thăm trường cũ, viếng lăng Trương Định* 

Có còn ai đứng  đợi bên sông? !

Nguyễn Cang

(August 10, 2020)







Thương Nhớ Quê Xưa & Làng Tôi Giàu Đẹp (Mai Xuân Thanh)

        Thương Nhớ Quê Xưa 

Hồi tưởng cái thời nước thái bình 
Làng tôi sung túc lũy tre quanh
Ngôi đình bự chảng không ai cướp (1)
Bá hộ giàu to chẳng kẻ rinh (2)
Tế Lễ Xuân Thu người đứng ngắm 
Cổ bàn nhang khói họ ngồi nhìn
Kỹ cương khuông phép lâu đời đẹp 
Trật tự tôn ti mái ấm xinh...
       Mai Xuân Thanh 
       Ngày 20/08/2020 
(1) Đình làng tôi thật to dĩ nhiên có lư đồng đồ thờ cúng liễn đối hoành phi các thứ có giá trị rất lớn 

     (2) Bá hộ giàu to tối ngủ yên lành đồ đạc cửa mở không sợ ai               trộm rinh đi mất như hiện nay


  Làng Tôi Giàu Đẹp 
Làng tôi vang bóng sống yên bình 
Hồ cá, luỹ tre, lối lượn quanh 
Gia súc cả bầy không kẻ trộm 
Của tiền thả cửa chẳng ai rinh 
Meetings đồng phục cho người ngắm (1)
Trù mật vang danh hiếu khách nhìn 
Nền nếp tôn ti cha mẹ khỏe 
Kỷ cương trật tự mái nhà xinh...
  MAI XUÂN THANH 
   Ngày 20/08/2020

(1) Meeting“ mít tinh “tập họp đồng bào, trai thanh gái lịch đồng phục chỉnh tề kéo nhau đi dự lễ meeting rất đông vui cũng là cơ hội cho các cô cậu làm quen thân thiện 




 

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Vàng Lá Thu Phai - Thuyên Huy

Vàng Lá Thu Phai

(Mượn một số địa danh thật, bối cảnh, nhân vật và tình tiết tự dựng bằng tưởng tượng.)

Để nhớ ngoại, mẹ và người bạn của tôi.


    Trời bây giờ quá giữa thu, lưng lửng, nắng từng vạt lẻ loi chùng xuống bên kia sông. Mười mấy ngày rồi hai nấm mộ đất vẫn chưa ráo màu bùn, lưa thưa đâu đó xung quanh còn chút mùi ủ sương đêm, vài ba cụm hoa Mười Giờ hối hả xếp cánh tàn, mấy nén nhang đốt từ sáng trước mộ bia còn thơm mùi xi măng, thoi thóp tắt. Triệu cứ hết đứng lên rồi ngồi xuống, không biết làm gì hơn, khóc thì không khóc nhưng không cầm được nước mắt. Một lần nữa, Triệu đứng lên, đọc đi đọc lại tên Diệu khắc trên bia, thẩn thờ u uất nhìn lên cao. Trời đã bắt đầu ngã màu nắng xế, thở dài. Hai vợ chồng người quen trong xóm tay mang đục, tay mang lưới ra vàm lớn giăng câu từ sớm về ngang, dừng lại bên lề con đường đất mòn chạy ngoằn ngoèo quanh khu gò mả, nhìn vào chào, rồi quày quả bỏ đi, đi xa rồi, Triệu lặng thinh. 

*

 Cù lao Vàm có chừng trên dưới bốn năm chục căn nhà tranh, nằm cách bên kia chợ xã con sông nhỏ là một phần thuộc ấp Tây của xã Phước Trạch. Sông không rộng lắm nhưng chưa có cầu bắt ngang cho nên người bên cù lao phải dùng đò đưa đi đón về, con đò ngang cũ kỹ, duy nhất của thiếm hai Lành, qua chợ xã hay đón xe xuống Gò Dầu hoặc xa hơn nữa. Nhà thiếm Hai, mẹ của Diệu, nằm cách nhà Triệu khoảnh sân nhỏ và cái mương hẹp một sãi tay, lưa thưa mấy cây trâm Bầu, lá xanh lá vàng theo bốn mùa xuân đông thu hạ, sát bờ quanh góc con sông, ngó thẳng qua bên kia xóm ấp, đường lên chợ xã, có cây cầu gỗ lấp xấp nước lớn nước ròng, chân thấp chân cao. Nơi đó chiếc xuồng ba lá của thiếm cột lững trước nhà và là chỗ người lên xuống. 

    Nhà bên hai mẹ con thiếm Hai Lành nghèo, áo rách áo lành bao nhiêu thì bên nhà hai bà cháu Triệu cũng quần vá quần chầm bấy nhiêu. Diệu không có ba cũng như Triệu chỉ có bà ngoại. Ba Diệu mất khi đi làm ăn phương xa ngày con bé chưa kịp thôi nôi, thiếm Hai ở vậy nuôi con từ đó. Ba mẹ Triệu chết đuối vì chiếc xuồng đi câu đêm bị chìm do cơn nước trôn xoáy vòng ác nghiệt, khúc ngoài vàm ra sông lớn trong một tối trời gầm gừ nổi mưa giông bất chợt. Xác bị nước lũ cuốn trôi đi xa, không tìm được, ngày thằng Triệu mới lên hai. Bên kia thì thiếm Hai bên này thì ngoại, cứ như vậy mà nuôi con nuôi cháu, bữa cháo bữa cơm, tối lửa tắt đèn qua lại có nhau.

    Dân xóm cù lao Vàm, đếm tới đếm lui, chừng hơn trăm người nhỏ lớn, vòng lên vòng xuống có chừng đó, nên cũng quen cũng biết nhau, không chị không anh thì chú bác dì cô, thằng nhỏ này con nhỏ kia. Nhà nào cũng nghèo chỉ khác là nghèo ít nghèo nhiều vậy thôi. Ở đây, không có ruộng, phần lớn trồng rau trồng cải, trồng chuối trồng đu đủ, nuôi gà nuôi vịt; còn lại, trong đó có ngoại Triệu, thiếm Hai mẹ Diệu, cắm câu, giăng lưới, kiếm được bao nhiêu, rỗ rau, cặp gà cặp vịt, thì đem qua bán bên chợ xã. Riêng mẹ Diệu, vì vốn một chân bị chút khập khễnh, đi đứng không mau lẹ nên làm thêm nghề đưa đò, nhờ cái xuồng ba lá cũ mà hai vợ chồng thiếm có trước đây. Trong xóm cũng có một số người có xuồng, nhưng hình như vì cùng cảnh nghèo như nhau, nhất là thương mẹ góa con côi nên không ai xen vào. Họ chỉ dùng xuồng của mình cho việc giăng câu thả lưới ở vàm lớn ngoài sông, còn đi chợ, bán buôn thứ này thứ nọ bên chợ đều đi đò.

    *

    Ngày nào cũng vậy, trừ mùa bải trường, sáng sớm thiếm Hai chèo chuyến đầu, đưa bà con trong xóm, đôi khi có cả ngoại Triệu, mang rau cá, gà vịt qua chợ xã bán trước, rồi quày trở lại. Lúc đó mặt trời đã rựng hé sáng trên sông, đám con nít chừng mười mấy đứa, trai gái, có Diệu, Triệu tụ năm tụ ba ngay cây cầu, tay cặp tay sách chờ đò. Một lần nữa thiếm đưa bọn nhỏ qua sông đến trường làng trong tiếng cười tiếng ca “trời hồng hồng sáng trong trong...” rộn rã. Mỗi khi chợ tan, hay chiều tan trường, nghe tiếng gọi từ bờ bên kia, một ngày như mọi bữa thiếm Hai lại chèo đò đi đón họ về. Thỉnh thoảng có bà con ai đó bên chợ qua thăm, như quen rồi, họ cũng đứng bên này gọi, đò qua đón rồi đưa về khi xong việc. 

   Ngày tháng cứ vậy qua, cũng như tuổi cứ vậy mà lớn. Những sáng hai đứa theo đò qua sông, tay nắm tay níu nói cười đến trường, chia nhau miếng khoai miếng bắp, những chiều ngồi chăm chú tập cho nhau đọc vần viết chữ trước mái hiên lụp sụp bên hông nhà khi trời còn nắng muộn, con cá lìm lìm kho quẹt cắn làm hai, chén cơm lưng sớt qua bằng cho được, vắng một chút thì cũng hỏi cũng kiếm, bên này phụ ngoại bó rau bên kia phụ mẹ cất dầm chèo xếp lưới, hai người quấn quít nói cười Diệu này Triệu nọ. Những năm tháng tiểu học trường làng, gói trọn kỷ niệm của tuổi thơ, kỷ niệm của buồn vui, nhớ nhung bất chợt, vô cớ, buồn theo từng hạt mưa dầm mù sương ngoài sông mùa mưa lũ, buồn theo tiếng chim lẻ bạn gọi nhau trên sân chiều buông nắng, buồn xếp lá trâm Bầu rụng mỗi khi trời thu vàng, nằm bên nhau nhìn cành khẳng khiu trơ trụi mà thương cho đời của lá. Rồi vui, mỗi khi theo mẹ theo bà ra bờ vàm gở cắm câu, giành nhau bắt đám cá đám cua bỏ vào cho đầy đục đầy giỏ, vui khi thấy bông rộ nở vàng lưa thưa, lác đác trên cành mấy gốc mai già nghèo nàn, đơn lẻ dọc theo các con đường đất mòn quanh xóm, tay nắm tay, áo mới của mình nhưng cũ của người, theo mẹ theo ngoại chèo đò qua chợ xã, xúm xích theo dân làng xem múa lân pháo nổ, vào sân đình, sau lưng mẹ, lưng bà chấp tay cầu nguyện, mùng một tết. Như vậy đó, hai người mến nhau thương nhau tự hồi nào không hay không biết, cái mến cái thương của mùi bùn chân đất, của trái trâm Bầu ngọt lịm đầu mùa, của dòng sông có con đò nghèo đưa người qua sông đi về ngày hai buổi.

*

    Năm Đệ Thất trường quận, ngày đầu vào học, ngồi đò mẹ qua sông, hai người bên nhau, thiếu mất tiếng cười mọi khi, buồn ra mặt, tay cầm chèo thiếm Hai thấy cũng buồn theo. Ra tới ngã ba, chờ Triệu lên xe lam, trống giục vào lớp mấy hồi, xe chạy đi rồi Diệu mới lủi thủi quay lại trường, tới cổng tay vẫn còn quẹt nước mắt. Chiều về, từ ngày đó, ngày nào cũng vậy, tan trường Diệu ôm cặp đứng ngay gốc cây Bả Đậu, bến xe lam, chờ Triệu, tay bắt tay mừng, nói cười bên nhau. Thiếm Hai từ bên bờ, sau chuyến đưa người đi chợ và đám nhỏ trường làng về trước đó, một lần nữa chèo đò sang đón, mái dầm trong tay thiếm nhịp nhàng vui. Gần cuối năm học, ngấp nghé bải trường, chiều về, cơm nước xong, Diệu tập chèo xuồng, tới lui cặp sát bờ bên nhà với mẹ. Bà cháu Triệu đứng trên cầu gỗ nhìn theo, thấy mà thương. Rồi những ngày sau đó, chiều nào cũng vậy, tan trường về nhà, Diệu lo phụ mẹ dọn dẹp cái rổ cái đục, nhưng cứ để mái dầm dựng trước liếp cửa, mắt cứ nhìn qua phía bờ bên kia ấp chợ, chờ thấy Triệu là không hỏi không han, xuống đò chèo nhanh qua đón. 

   Hai năm sau, nhờ trời thương Diệu cũng vào Đệ Thất trường quận, hết rồi chờ, hết rồi đợi, sáng sớm đi chiều muộn về. Chiếc xe lam của chú Tư Bình từ đó có thêm con nhỏ khách quen, con đò ngang của thiếm Hai Lành thôi phải ngóng phải trông qua sông thêm chuyến nữa. Hè về mùa bải trường mấy năm sau, Diệu thường thay mẹ chèo đò đưa người đi về, chuyến nào cũng có Triệu theo, ngồi trước mũi xuồng, thả hồn nhìn tóc Diệu lùa gió sông quê bay, mặc tình mà thương mà tưởng. Cả hai giờ đã ở tuổi biết buồn, buồn để mà thương cho phận đời nghèo khó, có sợi dây tình cảm vô hình nào đó đã cột chặt kiếp người của nhà hai bên, tự nó tới và đã tới từ lâu, tiếng mẹ tiếng ngoại xem ra như người của một nhà. Cả hai biết mình đã thương rồi đó nhưng chưa ai nói ra. Dân trong cù lao Vàm cũng nhận ra, đầu trên xóm dưới, vui lây, ai hỏi tới nếu nói “chị Diệu con Diệu đò ngang” thì cũng ráng kèm theo “anh Triệu thằng Triệu”. 

*

    Đậu Tú Tài Một, nhà nghèo, ngoại cũng già yếu rồi, chắc gì chờ nổi xa hơn, Triệu thi vào trường Quốc Gia Sư Phạm, mau có việc làm, là “ông thầy giáo làng” cũng đủ, không dám mơ ước cao xa gì hơn, và hy vọng ra trường sẽ được về quê nhà, về quê nhà cũng có nghĩa là anh và Diệu sẽ sống một đời bên nhau. Phần Diệu, nghèo vẫn nghèo, thiếm hai Lành, sức khỏe cũng ngày càng yếu, đở hơn ngoại Triệu đôi chút thôi. Con đò ngang đưa người qua sông, giờ người ta thấy Diệu chèo thường hơn và cũng không thấy thiếm hai Lành ra sông cắm câu, thả lưới mọi ngày nhiều như trước. 

    Triệu xuống Sài Gòn, Diệu tiếp tục học lên Đệ Tam trường quận, cũng vậy, ngày nghỉ, ngày hè, sách vở một bên, cũng chèo đò ngang, chạy qua chạy lại, bên mẹ bên ngoại Triệu, đốt đèn, châm nước, miếng cháo miếng cơm, cô bác ở vàm thấy thương thấy tội nghiệp, thăm hỏi, Diệu cười trừ. Phần ở dưới Sài Gòn, Triệu vào học không lâu, tình cờ làm quen với một anh công nhân cùng ngồi ăn chung bàn ở tiệm cơm chay đường Hàm Nghi, chợ Cũ chỉ cho. Anh xin được việc làm giữ sổ sách nhà kho, ca chiều hai ba ngày một tuần tại hảng giày BATA ở khu Lý Thái Tổ Petrus Ký, nhờ ăn xài tằng tiện nên có thêm chút dư. Mỗi lần về thăm nhà, luôn mang về chút ít tiền, một phần cho Diệu, hai phần cho ngoại. 

   Làng mạc quận xã đâu đó dân bắt đầu nghe tiếng súng lạ, khi ít khi nhiều, nổ ban đầu xa xa rồi lần lần ngày càng gần xóm ấp hơn. Xã ấp có thêm mấy anh lớn đi lính nghĩa quân và thấy họ mang súng đi lên đi xuống quanh chợ quanh làng mỗi khi chiều chạng vạng tối. Có bữa súng nổ vang trời trên chợ, tiếng người la hét, tiếng chân chạy rầm rập ra tới bờ sông bên kia ấp trên, hỏi ra thì họ đánh nhau với quân du kích Việt Cộng ở miệt mật khu Bời Lời kéo qua. Chiến tranh bắt đầu lớn dần và lan rộng khắp nơi từ những ngày tháng đó, và cũng từ đó Triệu không về nhà thường như trước. 

*

    Tháng Tám, năm Diệu học lớp Đệ Nhị, một đêm mưa dầm lê thê mịt mù, giông gió cuồn cuộn sóng trên sông, quân du kích từ mật khu Bời Lời dùng xuồng ghe, len giữa những mảng lục bình cao lớn dầy đặc, kéo qua sông tấn công đồn lính nghĩa quân. Đồn có bao cát, rào kẽm, hào sâu, xây lên ngay dốc bờ phía cuối ấp Tây, ngó qua bên kia cù lao Vàm, ngay chỗ đầu con đường lộ mà người bên đó qua đi chợ xã, vài tháng trước đây. Cả một khúc sông lớn, súng đạn vang trời, bốn phương tám hướng, tiếng hò tiếng hét nghe lanh lảnh rợn người. Từ ngoài quốc lộ có tiếng xe nhà binh GMC chạy xuống hướng sông, giờ có thêm tiếng súng cối bắn từ trong đồn ra, nổ tung tóe trên mặt nước, cứ như vậy hơn cả tiếng đồng hồ. Quân du kích bị thương khá nhiều, một số xuồng của họ trúng đạn súng cối bể chìm. Nhóm ba bốn người chèo một trong hai ba cái còn lại ngược qua bờ bên cù lao, lăm lăm súng trên tay, ép mẹ con Diệu và gần hết những người có xuồng khác trong xóm, lấy xuồng chèo ra, chở đám du kích bị thương theo. Họ bắn trả để rút đi ra sông lớn, quân tiếp viện trên quận từ mấy chiếc xe GMC lúc nảy, tiếp tục bắn rát hơn, 

    Không may, hai ba chiếc xuồng của người dân cù lao, trong đó có chiếc của hai mẹ con Diệu bị trúng đạn súng cối, nổ tung. Xuồng bể ba bốn khúc. Cả hai mẹ con chết, cùng vài ba người trên xuồng, hai ba người dân khác bị thương khá nặng. Xác mẹ con Diệu vướng vào mảng lục bình già chòng chành trôi tấp vào bờ cù lao, một khoảng không xa cây cầu gỗ trước nhà họ. Đám quân du kích vớt xốc người bị thương lên mấy chiếc xuống khác, tay chèo tay bơi, cố rút chạy lẹ ra sông lớn. Súng ngưng bặt, lính nghĩa quân kéo ra ngoài khỏi đồn. Ba bốn anh, bỏ súng lội qua phụ mấy người đàn ông bên cù lao khiêng xác hai mẹ con Diệu về đặt trước sân nhà, đi vòng quanh hỏi thăm người này người kia.. Một lát sau, chiếc ghe máy đuôi tôm lớn của ai đó trên xã đến, chở mấy người bị thương lên bệnh xá xã. Chiếc ghe chạy đi rồi, trời cũng vừa rựng sáng, ngoại đứng nhìn xác hai mẹ con, thẩn thờ, khóc. 

    Đám tang hai mẹ con Diệu, như hiểu nổi tình cảnh, mấy chú bác lo chôn cất nán để trễ lâu hơn chút vì muốn chờ Triệu. Cuối cùng Triệu đón chuyến xe đò sớm nhất cũng kịp về Phước Trạch với tâm hồn trĩu nặng đau đớn, buồn xé nát lòng. Ở lại nhà, nhìn theo Triệu tay vịn quan tài, chập choạng, ngoại rơi nước mắt già, trên đường đưa hai mẹ con đi chôn ngoài gò mả, anh cũng rơi nước mắt như ngoại. Chú bác phụ chôn cất bỏ đi lâu rồi, mấy nén nhang thơm cũng đã tắt, trời trở nắng xế chiều, vàng nhạt một màu, Triệu vẫn ngồi đó, tay mân mê cây cọc thấp, cột miếng vải đen, làm dấu mộ Diệu nghẹn ngào rươm rướm, nước mắt tuôn dài thấm môi mặn đắng. 

    Buổi chiều, hai bà cháu đứng trước sân, bên kia nhà Diệu vắng tanh. Lá trâm bầu giữa Thu xơ xác trải vàng úa ngập bờ mương, nơi nhiều buổi chiều như vậy Triệu nằm bên Diệu nhìn trời cao, thương cho đời lá, Triệu thẩn thờ chết lặng, chừng như nửa hồn mình đã chết, ngoại nhìn cháu mà lòng già quặn thắt đau.

*

    Hai vợ chồng người quen bỏ đi, đi xa rồi, Triệu lặng thinh, cố nén lòng không khóc, ngồi xuống kéo cái túi xách vải đầy ắp lá trâm bầu úa màu vàng thu, đem theo từ sáng, rải phủ lên trên phần mộ Diệu, cũng trải dài như những ngày “lót lá mình nằm” còn Diệu, rấm rức “chuyện cố chọn cho được nhiệm sở về tỉnh nhà từ ngày vô học Sư Phạm giờ đã trở thành vô nghĩa”. Chiều xuống chậm rồi thật thấp, nắng tàn theo, có tiếng súng đâu đó ở một phía trời xa, cúi xuống hôn lên nấm mộ thêm lần nữa rồi ngày mai anh trở xuống trường, lần đi này và những lần sau sẽ không còn ai đưa tiễn, Triệu bật khóc thành tiếng. 

Thuyên Huy

Xứ Úc trời tháng Sáu – 2020

Cám ơn anh, Phạm Văn Năm, một người thầy lận đận, đã tập cho tôi viết bài văn tả cảnh tả người lần đầu. 


    




Thành Ngữ Điển Tích 65: Lân Lý (Đỗ Chiêu Đức)

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 65 :                                   

                                         LÂN LÝ 
  
                                         
      


                              Sinh rằng LÂN LÝ ra vào, 
                       Gần đây nào phải người nào xa xôi.              

         Đó là hai câu thơ mà Kim Trọng đánh tiếng  nhận là "Bà con lốì xóm" để làm quen với Thúy Kiều.  LÂN LÝ 鄰 里, LÂN 鄰 là Lân cận, là lối xóm, là những người ở sát bên nhà. LÝ 里 là Làng xã, nên LÂN LÝ là Bà con chòm xóm, là lối xóm với nhau. Đây là cái cớ đắc dụng nhất để làm quen với ai đó, nhất là các cô cậu mới lớn ở trong xã hội phong kiến ngày xưa. Nhắc lại bài thơ ngũ ngôn TRƯỜNG CAN HÀNH của Thôi Hiệu đời Đường tả khi cô gái muốn làm quen với chàng trai đã "kiếm chuyện nhìn bà con lối xóm" như sau:
  
       君 家 何 處 住,   Quân gia xà xứ trú ?    
       妾 住  在橫 塘。   Thiếp trú tại Hoành Đường.    
       停 船 暫 借 問,   Đình thuyền tạm tá vấn,  
       或 恐 是 同 鄉。   Hoặc khủng thị đồng hương.
  Có nghĩa :
                       Nhà chàng ở tận nơi đâu ?
               Thiếp thì ở mãi sâu trong Hoành Đường.
                      Dừng thuyền thiếp hỏi tỏ tường,
              Hoặc là có phải đồng hương chăng là !?

                            
                           


         LÂN 鄰 là hàng xóm, nên HƯƠNG LÂN 香 鄰 là Cô hàng xóm thơm phức! Đây là cách "nịnh đầm" của ông cha ta ngày xưa. Ai dám bảo các cụ là "cổ lổ xỉ" đâu. Ta hãy nghe cũng chàng Kim Trọng chỉ lo "cua" gái mà không chăm chỉ học hành, đã nghe ngóng khắp nơi để tìm người đẹp:

            Trộm nghe thơm nức HƯƠNG LÂN,
     Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều.

       HƯƠNG LÂN 香 鄰 còn được gọi là PHƯƠNG LÂN 芳 鄰, cũng cùng một nghĩa "nịnh đầm" như trên.      
       
      Ta còn có LÂN là KỲ LÂN 麒 麟, con vật thần thoại tượng trưng cho đức tính nhân hậu của bậc thánh nhân, của người quân tử. Trong chương Chu Nam của Kinh Thi có câu LÂN CHỈ TRÌNH TƯỜNG 麟 趾 呈 祥, có nghĩa: Gót chân của con lân đi đến đâu thì mang điềm lành đến nơi đó, nên các đoàn lân múa chúc mừng Xuân trong ba ngày Tết Nguyên Đán, trên danh thiếp luôn luôn có 4 chữ Lân Chỉ Trình Tường là vì thế. Trong Kinh Thi còn ví Kỳ Lân với Châu Văn Vương, còn gót chân của nó thì ví với con cháu của Châu Văn Vương. Do đó Lân Chỉ hay Gót Lân còn dùng để chỉ con cháu của người hiền đức, như trong truyện Nôm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu:

                  Trăm năm biết mấy tinh thần,
            Sinh con sau nối GÓT LÂN đời đời.     

           

  và như trong tác phẩm Sãi Vãi của cụ Nguyễn Cư Trinh khi cho ông Sãi luận về chữ MUỐN như sau:

       Lưới thỏ giăng, Sãi muốn cho củ củ võ phu;
      GÓT LÂN xéo, Sãi muốn cho chơn chơn công tử.

      và trong bài AI TƯ VÃN của công chúa Lê Ngọc Hân khóc thương vua Quang Trung cũng có câu:

               GÓT LÂN CHỈ mấy hàng lẩm chẩm,
              Đầu mũ mao, mình tấm áo gai!
             
      Như trên đã nói, KỲ LÂN 麒 麟 là con vật tượng trưng cho bậc thánh nhân quân tử, đức cao vọng trọng, nên con của Kỳ Lân là LÂN TỬ 麟 子 hay LÂN NHI 麟 兒là từ dùng để chỉ con cháu của các bậc hiền đức nêu trên, là con dòng cháu giống của thế gia vọng tộc, như trong thơ Nôm Hoa Tiên Truyện của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu:
               
                Họ Diêu sáng vẻ môn mi,
        Điềm lành sớm ứng LÂN NHI một chàng.
                           
                     


     Nói đến Kỳ Lân, thì không thể thiếu KỲ LÂN CÁC 麒 麟 閣, nơi mà vua Hán Tuyên Đế đã cho xây dựng nên để ghi tên của 11 người công thần sau khi đã bình định được Hung Nô, nên KỲ LÂN CÁC, gọi tắt là LÂN CÁC 麟 閣 là từ tượng trưng cho sự vinh dự của các công thần ngày xưa dưới các triều đại phong kiến, như trong các bài thơ "Tô Công Phụng Sứ" của Lê Quang Bí đời Hậu Lê của ta có câu:

                Trúc ghi lụa rủ đề LÂN CÁC,
               Cho nước này xem nước khác trông.

       LÂN CÁC 麟 閣 gọi nôm na là GÁC LÂN, như trong thơ của nhà vua Trần Trùng Quang (Trần Qúy Khoách) đời Hậu Trần có câu:

             Việc nước một mai công ngõ vẹn,
             GÁC LÂN danh tiếng dõi lâu xa.

       Còn LÂN KINH 麟 經 là Kinh Xuân Thu 春 秋 經 là bộ kinh chép về lịch sử của nước Lổ, do Khổng Tử biên soạn. Năm Lổ Ai Công thứ 14, có người săn được một con kỳ lân bị què. Khổng Tử cho rằng kỳ lân là Nhân Thú 仁 獸 là con thú tượng trưng cho sự nhân đức nhân nghĩa, nay xuất hiện lại bị bắn què, có nghĩa là thời thế đã suy đồi, vô đạo, nên ngưng không viết nữa. Vì thế mà Kinh Xuân Thu còn được gọi là LÂN KINH, một trong những bộ sách kinh điển của Nho Gia. Trong truyện thơ Nôm TRINH THỬ của ta có câu:

                      Trời đâu phụ kẻ tiết nghì,
             LÂN KINH mao giản tạc ghi còn truyền.  

       Còn trong "Phù Dung Tân Truyện" của Trúc Lâm Cư Sĩ đời nhà Nguyễn, theo  bản khắc in đề niên đại Tự Đức Kỷ Mão (1879) thì gọi là KINH LÂN:

                   Mở mang sử Mã, KINH LÂN,
           Sâu nguồn Thù Tứ, rộng sân Chu Trình.
                                  
                

     Hết LÂN tới LÝ, LÝ 里 ngoài nghĩa là Làng Xóm ra, Lý còn là DẶM: Đơn vị đo chiều dài thuở xưa tương đương 500m ngày nay. Ta có từ Thiên Lý Mã 千 里 馬 là loại ngựa giỏi, có thể chạy được mỗi ngày một ngàn dặm, và ta cũng hay nghe câu thơ thứ 2 trong bài thơ "Tứ Khoái" của các cụ đồ ngày xưa là:

               THIÊN LÝ tha hương ngộ cố tri  
              千 里 他 鄉 遇 故 知.
Có nghĩa :
               NGÀN DẶM quê người gặp bạn xưa.

       LÝ còn là ĐÀO LÝ 桃 李, là hai loại cây ăn trái đồng thời cũng có nghĩa là hai loại trái: Trái Đào và trái Lý. Đây là hai loại cây trái ngọt, thanh và qúy, lại vừa có hoa thơm, nên thường được ví với người nhã nhặn, có học vấn hay học trò giỏi. Trong Ấu Học Quỳnh Lâm 幼 學 瓊 林 nói về Khổng Tử như sau:... Hiền nhân thất thập, đệ tử tam thiên... Đào lý tại công môn, xưng nhân đệ tử chi đa 賢 人 七 十,弟 子 三 千... 桃 李 在 公 門,稱 人 弟 子 之 多. Có nghĩa:... Trong đám ba ngàn học trò thì có 70 người giỏi... những người xuất sắc (ĐÀO LÝ) thì làm quan, ông là người có học trò đông hơn người khác. Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du ví cô Kiều tài hoa qúy phái như là Cành Đào Hoa Lý khi bị Hoạn Bà vùi dập:

                  Tiếc thay ĐÀO LÝ một cành,
           Một phen mưa gió tan tành một phen!

        Theo sách Thông Giám: Ông Địch Nhân Kiệt, tể tướng đời Đường, tiến cử cho vua Đường một lúc mấy chục người tài giỏi. Người đương thời khen ông rằng: "Thiên hạ ĐÀO LÝ tận tại công môn 天 下 桃 李 盡 在 公 門 " có nghĩa:  Cây đào cây mận (ý chỉ Nhân tài) trong thiên hạ đều ở cửa của ông mà ra cả!" Trong Lâm Tuyền Kỳ Ngộ (Bạch Viên Tôn Các) có câu:

               Cửa chen ĐÀO LÝ người sum họp,
               Nhà chật trân châu của đãi đằng.
                             
                   
                        

        Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:

                 Sân ĐÀO LÝ mây lồng man mác,
                 Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.
        
         Sau SÂN ĐÀO LÝ, ta có SÂN LÝ, tức LÝ ĐÌNH 鯉 庭, là Sân trong nhà của người tên Lý. LÝ 鯉 nầy là Cá chép, tên tự của Bá Ngư 伯 魚 là con của Khổng Tử. Theo sách Luận Ngữ. Chú Sơ. Qúy Thị 論 語,注 疏·季 氏 ghi chép:
      "Trần Kháng hỏi Bá Ngư: Anh ở gần thầy, thầy có dạy cho anh những gì đặc biệt không? Bá Ngư đáp: Có một lần thầy đứng trước phòng học, tôi đi ngang qua sân, thầy hỏi: Có học qua Kinh Thi chưa? Tôi đáp: chưa. Thầy bảo: Không học Kinh Thi thì lấy gì mà ăn nói! Lại một lần khác, tôi đi ngang qua sân nhà, Thầy cũng hỏi: Học qua Kinh Lễ chưa? Tôi đáp: chưa. Thầy lại bảo: Không học Lễ thì làm sao biết cách để lập thân. Trần Kháng nghe nói rất mừng: Tôi chỉ hỏi có một câu mà học được những ba điều: Một là biết được sự gợi mở của Kinh Thi; Hai là biết được sự đối nhân xử thế của Kinh Lễ; Ba là biết được người quân tử chính trực không dạy riêng cho con mình những điều chi cả, Nên...
       LÝ ĐÌNH là từ dùng để chỉ sự giáo huấn của người cha đối với con cái, như trong Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có câu:

                Phó ngạnh tích mặc dù sinh tử,
               Chắc LÝ ĐÌNH dạy chữ hiếu trung.

       LÝ ĐÌNH chỉ tích con của Khổng Tử, còn LÝ MIÊU 李 貓 là Con mèo họ Lý. Đây là nick name của Lý Lâm Phủ, một gian thần đời Đường Cao Tông, giữ chức Trung Thư Thị Lang. Bề ngoài trông Lý rất ôn nhu đôn hậu, nhưng trong lòng thì rất gian manh hiễm độc, luôn toan mưu tính kế để hại người, nên dân chúng oán giận mới đặt cho cái tên LÝ MIÊU, lấy ý con mèo trông bề ngoài rất hiền lành ngoan ngoãn, nhưng lại là giống ăn thịt sống, khi giương nanh múa vút lên thì xé xác chú chuột nào đó như chơi. Trong truyện thơ Nôm khuyết danh TRINH THỬ có câu:

                  Vẫy vùng ếch giếng tự kiêu,
          Tham lam chẳng khác LÝ MIÊU đời Đường.

       Sau LÝ MIÊU ta có LÝ SƯƠNG 履 霜 là Dẫm lên trên sương móc. Theo Kinh Dịch, quẻ Khôn, hào thứ 6《易 經‧ 坤 卦》初 六 爻 có câu Ư: Lý sương, kiên băng chí 履 霜,堅 冰 至。Có nghĩa: Dưới chân dẫm phải sương móc của mùa Thu thì biết là băng cứng của mùa Đông sắp đến rồi. Ý là: Dùng hiện tượng sương băng để cảnh báo đề phòng về mối họa hoạn trước khi nó xảy đến. Trong bộ sử trường thiên bằng thơ "Thiên Nam Ngữ Lục" của ta hồi cuối thế kỷ thứ 17 có câu:

                  Đồng thân kim cốt ai đang,
            Lăng vân là chí, LÝ SƯƠNG là lòng.
          
             

  Cuối cùng ta có Ả LÝ, tức là nàng LÝ KÝ 李寄 trong truyền thuyết Sưu Thần Ký 搜神記 đời Đông Tấn như sau :
       Nước Đông Việt ở vùng Mân Nam 閩 南 (Quảng Đông, Phúc Kiến hiện nay) có nàng Lý Ký là con gái út thứ sáu của gia đình. Nhà nghèo không có con trai, trong nước lại có nạn yêu rắn hoành hành, mỗi năm đều phải tế một cô gái trẻ cho rắn ăn thịt. Lý Ký bèn quyết định bán thân mình cho rắn ăn thịt, lấy tiền để nuôi cha mẹ và các chị. Mặc dù cha mẹ can ngăn, Lý Ký cũng lén đi, nàng yêu cầu nhà vua cấp cho mình một thanh bảo kiếm và một con chó săn, rồi đi thẳng đến động rắn. Sau một đêm chiến đấu quyết liệt với sự hỗ trợ của con chó săn thiện nghệ, nàng đã chém chết con yêu rắn. Quốc vương nước Đông Việt cảm phục trước sự dũng cảm của nàng , nên đã cưới nàng về làm hoàng hậu. 
      Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho cô Kiều cân nhắc trước khi quyết định bán mình chuộc tội cho cha là:

                  Dâng thơ đã thẹn nàng Oanh,
            Lại thua Ả LÝ bán mình hay sao?!

      Ả LÝ chính là nàng Lý Ký trong cốt truyện của Sưu Thần Ký nêu trên.

                       
                         Lý ký trảm yêu xà
 
        Hẹn bài viết tới !

                                            杜 紹 德
                                          Đỗ Chiêu Đức