Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Vàng Lá Thu Phai - Thuyên Huy

Vàng Lá Thu Phai

(Mượn một số địa danh thật, bối cảnh, nhân vật và tình tiết tự dựng bằng tưởng tượng.)

Để nhớ ngoại, mẹ và người bạn của tôi.


    Trời bây giờ quá giữa thu, lưng lửng, nắng từng vạt lẻ loi chùng xuống bên kia sông. Mười mấy ngày rồi hai nấm mộ đất vẫn chưa ráo màu bùn, lưa thưa đâu đó xung quanh còn chút mùi ủ sương đêm, vài ba cụm hoa Mười Giờ hối hả xếp cánh tàn, mấy nén nhang đốt từ sáng trước mộ bia còn thơm mùi xi măng, thoi thóp tắt. Triệu cứ hết đứng lên rồi ngồi xuống, không biết làm gì hơn, khóc thì không khóc nhưng không cầm được nước mắt. Một lần nữa, Triệu đứng lên, đọc đi đọc lại tên Diệu khắc trên bia, thẩn thờ u uất nhìn lên cao. Trời đã bắt đầu ngã màu nắng xế, thở dài. Hai vợ chồng người quen trong xóm tay mang đục, tay mang lưới ra vàm lớn giăng câu từ sớm về ngang, dừng lại bên lề con đường đất mòn chạy ngoằn ngoèo quanh khu gò mả, nhìn vào chào, rồi quày quả bỏ đi, đi xa rồi, Triệu lặng thinh. 

*

 Cù lao Vàm có chừng trên dưới bốn năm chục căn nhà tranh, nằm cách bên kia chợ xã con sông nhỏ là một phần thuộc ấp Tây của xã Phước Trạch. Sông không rộng lắm nhưng chưa có cầu bắt ngang cho nên người bên cù lao phải dùng đò đưa đi đón về, con đò ngang cũ kỹ, duy nhất của thiếm hai Lành, qua chợ xã hay đón xe xuống Gò Dầu hoặc xa hơn nữa. Nhà thiếm Hai, mẹ của Diệu, nằm cách nhà Triệu khoảnh sân nhỏ và cái mương hẹp một sãi tay, lưa thưa mấy cây trâm Bầu, lá xanh lá vàng theo bốn mùa xuân đông thu hạ, sát bờ quanh góc con sông, ngó thẳng qua bên kia xóm ấp, đường lên chợ xã, có cây cầu gỗ lấp xấp nước lớn nước ròng, chân thấp chân cao. Nơi đó chiếc xuồng ba lá của thiếm cột lững trước nhà và là chỗ người lên xuống. 

    Nhà bên hai mẹ con thiếm Hai Lành nghèo, áo rách áo lành bao nhiêu thì bên nhà hai bà cháu Triệu cũng quần vá quần chầm bấy nhiêu. Diệu không có ba cũng như Triệu chỉ có bà ngoại. Ba Diệu mất khi đi làm ăn phương xa ngày con bé chưa kịp thôi nôi, thiếm Hai ở vậy nuôi con từ đó. Ba mẹ Triệu chết đuối vì chiếc xuồng đi câu đêm bị chìm do cơn nước trôn xoáy vòng ác nghiệt, khúc ngoài vàm ra sông lớn trong một tối trời gầm gừ nổi mưa giông bất chợt. Xác bị nước lũ cuốn trôi đi xa, không tìm được, ngày thằng Triệu mới lên hai. Bên kia thì thiếm Hai bên này thì ngoại, cứ như vậy mà nuôi con nuôi cháu, bữa cháo bữa cơm, tối lửa tắt đèn qua lại có nhau.

    Dân xóm cù lao Vàm, đếm tới đếm lui, chừng hơn trăm người nhỏ lớn, vòng lên vòng xuống có chừng đó, nên cũng quen cũng biết nhau, không chị không anh thì chú bác dì cô, thằng nhỏ này con nhỏ kia. Nhà nào cũng nghèo chỉ khác là nghèo ít nghèo nhiều vậy thôi. Ở đây, không có ruộng, phần lớn trồng rau trồng cải, trồng chuối trồng đu đủ, nuôi gà nuôi vịt; còn lại, trong đó có ngoại Triệu, thiếm Hai mẹ Diệu, cắm câu, giăng lưới, kiếm được bao nhiêu, rỗ rau, cặp gà cặp vịt, thì đem qua bán bên chợ xã. Riêng mẹ Diệu, vì vốn một chân bị chút khập khễnh, đi đứng không mau lẹ nên làm thêm nghề đưa đò, nhờ cái xuồng ba lá cũ mà hai vợ chồng thiếm có trước đây. Trong xóm cũng có một số người có xuồng, nhưng hình như vì cùng cảnh nghèo như nhau, nhất là thương mẹ góa con côi nên không ai xen vào. Họ chỉ dùng xuồng của mình cho việc giăng câu thả lưới ở vàm lớn ngoài sông, còn đi chợ, bán buôn thứ này thứ nọ bên chợ đều đi đò.

    *

    Ngày nào cũng vậy, trừ mùa bải trường, sáng sớm thiếm Hai chèo chuyến đầu, đưa bà con trong xóm, đôi khi có cả ngoại Triệu, mang rau cá, gà vịt qua chợ xã bán trước, rồi quày trở lại. Lúc đó mặt trời đã rựng hé sáng trên sông, đám con nít chừng mười mấy đứa, trai gái, có Diệu, Triệu tụ năm tụ ba ngay cây cầu, tay cặp tay sách chờ đò. Một lần nữa thiếm đưa bọn nhỏ qua sông đến trường làng trong tiếng cười tiếng ca “trời hồng hồng sáng trong trong...” rộn rã. Mỗi khi chợ tan, hay chiều tan trường, nghe tiếng gọi từ bờ bên kia, một ngày như mọi bữa thiếm Hai lại chèo đò đi đón họ về. Thỉnh thoảng có bà con ai đó bên chợ qua thăm, như quen rồi, họ cũng đứng bên này gọi, đò qua đón rồi đưa về khi xong việc. 

   Ngày tháng cứ vậy qua, cũng như tuổi cứ vậy mà lớn. Những sáng hai đứa theo đò qua sông, tay nắm tay níu nói cười đến trường, chia nhau miếng khoai miếng bắp, những chiều ngồi chăm chú tập cho nhau đọc vần viết chữ trước mái hiên lụp sụp bên hông nhà khi trời còn nắng muộn, con cá lìm lìm kho quẹt cắn làm hai, chén cơm lưng sớt qua bằng cho được, vắng một chút thì cũng hỏi cũng kiếm, bên này phụ ngoại bó rau bên kia phụ mẹ cất dầm chèo xếp lưới, hai người quấn quít nói cười Diệu này Triệu nọ. Những năm tháng tiểu học trường làng, gói trọn kỷ niệm của tuổi thơ, kỷ niệm của buồn vui, nhớ nhung bất chợt, vô cớ, buồn theo từng hạt mưa dầm mù sương ngoài sông mùa mưa lũ, buồn theo tiếng chim lẻ bạn gọi nhau trên sân chiều buông nắng, buồn xếp lá trâm Bầu rụng mỗi khi trời thu vàng, nằm bên nhau nhìn cành khẳng khiu trơ trụi mà thương cho đời của lá. Rồi vui, mỗi khi theo mẹ theo bà ra bờ vàm gở cắm câu, giành nhau bắt đám cá đám cua bỏ vào cho đầy đục đầy giỏ, vui khi thấy bông rộ nở vàng lưa thưa, lác đác trên cành mấy gốc mai già nghèo nàn, đơn lẻ dọc theo các con đường đất mòn quanh xóm, tay nắm tay, áo mới của mình nhưng cũ của người, theo mẹ theo ngoại chèo đò qua chợ xã, xúm xích theo dân làng xem múa lân pháo nổ, vào sân đình, sau lưng mẹ, lưng bà chấp tay cầu nguyện, mùng một tết. Như vậy đó, hai người mến nhau thương nhau tự hồi nào không hay không biết, cái mến cái thương của mùi bùn chân đất, của trái trâm Bầu ngọt lịm đầu mùa, của dòng sông có con đò nghèo đưa người qua sông đi về ngày hai buổi.

*

    Năm Đệ Thất trường quận, ngày đầu vào học, ngồi đò mẹ qua sông, hai người bên nhau, thiếu mất tiếng cười mọi khi, buồn ra mặt, tay cầm chèo thiếm Hai thấy cũng buồn theo. Ra tới ngã ba, chờ Triệu lên xe lam, trống giục vào lớp mấy hồi, xe chạy đi rồi Diệu mới lủi thủi quay lại trường, tới cổng tay vẫn còn quẹt nước mắt. Chiều về, từ ngày đó, ngày nào cũng vậy, tan trường Diệu ôm cặp đứng ngay gốc cây Bả Đậu, bến xe lam, chờ Triệu, tay bắt tay mừng, nói cười bên nhau. Thiếm Hai từ bên bờ, sau chuyến đưa người đi chợ và đám nhỏ trường làng về trước đó, một lần nữa chèo đò sang đón, mái dầm trong tay thiếm nhịp nhàng vui. Gần cuối năm học, ngấp nghé bải trường, chiều về, cơm nước xong, Diệu tập chèo xuồng, tới lui cặp sát bờ bên nhà với mẹ. Bà cháu Triệu đứng trên cầu gỗ nhìn theo, thấy mà thương. Rồi những ngày sau đó, chiều nào cũng vậy, tan trường về nhà, Diệu lo phụ mẹ dọn dẹp cái rổ cái đục, nhưng cứ để mái dầm dựng trước liếp cửa, mắt cứ nhìn qua phía bờ bên kia ấp chợ, chờ thấy Triệu là không hỏi không han, xuống đò chèo nhanh qua đón. 

   Hai năm sau, nhờ trời thương Diệu cũng vào Đệ Thất trường quận, hết rồi chờ, hết rồi đợi, sáng sớm đi chiều muộn về. Chiếc xe lam của chú Tư Bình từ đó có thêm con nhỏ khách quen, con đò ngang của thiếm Hai Lành thôi phải ngóng phải trông qua sông thêm chuyến nữa. Hè về mùa bải trường mấy năm sau, Diệu thường thay mẹ chèo đò đưa người đi về, chuyến nào cũng có Triệu theo, ngồi trước mũi xuồng, thả hồn nhìn tóc Diệu lùa gió sông quê bay, mặc tình mà thương mà tưởng. Cả hai giờ đã ở tuổi biết buồn, buồn để mà thương cho phận đời nghèo khó, có sợi dây tình cảm vô hình nào đó đã cột chặt kiếp người của nhà hai bên, tự nó tới và đã tới từ lâu, tiếng mẹ tiếng ngoại xem ra như người của một nhà. Cả hai biết mình đã thương rồi đó nhưng chưa ai nói ra. Dân trong cù lao Vàm cũng nhận ra, đầu trên xóm dưới, vui lây, ai hỏi tới nếu nói “chị Diệu con Diệu đò ngang” thì cũng ráng kèm theo “anh Triệu thằng Triệu”. 

*

    Đậu Tú Tài Một, nhà nghèo, ngoại cũng già yếu rồi, chắc gì chờ nổi xa hơn, Triệu thi vào trường Quốc Gia Sư Phạm, mau có việc làm, là “ông thầy giáo làng” cũng đủ, không dám mơ ước cao xa gì hơn, và hy vọng ra trường sẽ được về quê nhà, về quê nhà cũng có nghĩa là anh và Diệu sẽ sống một đời bên nhau. Phần Diệu, nghèo vẫn nghèo, thiếm hai Lành, sức khỏe cũng ngày càng yếu, đở hơn ngoại Triệu đôi chút thôi. Con đò ngang đưa người qua sông, giờ người ta thấy Diệu chèo thường hơn và cũng không thấy thiếm hai Lành ra sông cắm câu, thả lưới mọi ngày nhiều như trước. 

    Triệu xuống Sài Gòn, Diệu tiếp tục học lên Đệ Tam trường quận, cũng vậy, ngày nghỉ, ngày hè, sách vở một bên, cũng chèo đò ngang, chạy qua chạy lại, bên mẹ bên ngoại Triệu, đốt đèn, châm nước, miếng cháo miếng cơm, cô bác ở vàm thấy thương thấy tội nghiệp, thăm hỏi, Diệu cười trừ. Phần ở dưới Sài Gòn, Triệu vào học không lâu, tình cờ làm quen với một anh công nhân cùng ngồi ăn chung bàn ở tiệm cơm chay đường Hàm Nghi, chợ Cũ chỉ cho. Anh xin được việc làm giữ sổ sách nhà kho, ca chiều hai ba ngày một tuần tại hảng giày BATA ở khu Lý Thái Tổ Petrus Ký, nhờ ăn xài tằng tiện nên có thêm chút dư. Mỗi lần về thăm nhà, luôn mang về chút ít tiền, một phần cho Diệu, hai phần cho ngoại. 

   Làng mạc quận xã đâu đó dân bắt đầu nghe tiếng súng lạ, khi ít khi nhiều, nổ ban đầu xa xa rồi lần lần ngày càng gần xóm ấp hơn. Xã ấp có thêm mấy anh lớn đi lính nghĩa quân và thấy họ mang súng đi lên đi xuống quanh chợ quanh làng mỗi khi chiều chạng vạng tối. Có bữa súng nổ vang trời trên chợ, tiếng người la hét, tiếng chân chạy rầm rập ra tới bờ sông bên kia ấp trên, hỏi ra thì họ đánh nhau với quân du kích Việt Cộng ở miệt mật khu Bời Lời kéo qua. Chiến tranh bắt đầu lớn dần và lan rộng khắp nơi từ những ngày tháng đó, và cũng từ đó Triệu không về nhà thường như trước. 

*

    Tháng Tám, năm Diệu học lớp Đệ Nhị, một đêm mưa dầm lê thê mịt mù, giông gió cuồn cuộn sóng trên sông, quân du kích từ mật khu Bời Lời dùng xuồng ghe, len giữa những mảng lục bình cao lớn dầy đặc, kéo qua sông tấn công đồn lính nghĩa quân. Đồn có bao cát, rào kẽm, hào sâu, xây lên ngay dốc bờ phía cuối ấp Tây, ngó qua bên kia cù lao Vàm, ngay chỗ đầu con đường lộ mà người bên đó qua đi chợ xã, vài tháng trước đây. Cả một khúc sông lớn, súng đạn vang trời, bốn phương tám hướng, tiếng hò tiếng hét nghe lanh lảnh rợn người. Từ ngoài quốc lộ có tiếng xe nhà binh GMC chạy xuống hướng sông, giờ có thêm tiếng súng cối bắn từ trong đồn ra, nổ tung tóe trên mặt nước, cứ như vậy hơn cả tiếng đồng hồ. Quân du kích bị thương khá nhiều, một số xuồng của họ trúng đạn súng cối bể chìm. Nhóm ba bốn người chèo một trong hai ba cái còn lại ngược qua bờ bên cù lao, lăm lăm súng trên tay, ép mẹ con Diệu và gần hết những người có xuồng khác trong xóm, lấy xuồng chèo ra, chở đám du kích bị thương theo. Họ bắn trả để rút đi ra sông lớn, quân tiếp viện trên quận từ mấy chiếc xe GMC lúc nảy, tiếp tục bắn rát hơn, 

    Không may, hai ba chiếc xuồng của người dân cù lao, trong đó có chiếc của hai mẹ con Diệu bị trúng đạn súng cối, nổ tung. Xuồng bể ba bốn khúc. Cả hai mẹ con chết, cùng vài ba người trên xuồng, hai ba người dân khác bị thương khá nặng. Xác mẹ con Diệu vướng vào mảng lục bình già chòng chành trôi tấp vào bờ cù lao, một khoảng không xa cây cầu gỗ trước nhà họ. Đám quân du kích vớt xốc người bị thương lên mấy chiếc xuống khác, tay chèo tay bơi, cố rút chạy lẹ ra sông lớn. Súng ngưng bặt, lính nghĩa quân kéo ra ngoài khỏi đồn. Ba bốn anh, bỏ súng lội qua phụ mấy người đàn ông bên cù lao khiêng xác hai mẹ con Diệu về đặt trước sân nhà, đi vòng quanh hỏi thăm người này người kia.. Một lát sau, chiếc ghe máy đuôi tôm lớn của ai đó trên xã đến, chở mấy người bị thương lên bệnh xá xã. Chiếc ghe chạy đi rồi, trời cũng vừa rựng sáng, ngoại đứng nhìn xác hai mẹ con, thẩn thờ, khóc. 

    Đám tang hai mẹ con Diệu, như hiểu nổi tình cảnh, mấy chú bác lo chôn cất nán để trễ lâu hơn chút vì muốn chờ Triệu. Cuối cùng Triệu đón chuyến xe đò sớm nhất cũng kịp về Phước Trạch với tâm hồn trĩu nặng đau đớn, buồn xé nát lòng. Ở lại nhà, nhìn theo Triệu tay vịn quan tài, chập choạng, ngoại rơi nước mắt già, trên đường đưa hai mẹ con đi chôn ngoài gò mả, anh cũng rơi nước mắt như ngoại. Chú bác phụ chôn cất bỏ đi lâu rồi, mấy nén nhang thơm cũng đã tắt, trời trở nắng xế chiều, vàng nhạt một màu, Triệu vẫn ngồi đó, tay mân mê cây cọc thấp, cột miếng vải đen, làm dấu mộ Diệu nghẹn ngào rươm rướm, nước mắt tuôn dài thấm môi mặn đắng. 

    Buổi chiều, hai bà cháu đứng trước sân, bên kia nhà Diệu vắng tanh. Lá trâm bầu giữa Thu xơ xác trải vàng úa ngập bờ mương, nơi nhiều buổi chiều như vậy Triệu nằm bên Diệu nhìn trời cao, thương cho đời lá, Triệu thẩn thờ chết lặng, chừng như nửa hồn mình đã chết, ngoại nhìn cháu mà lòng già quặn thắt đau.

*

    Hai vợ chồng người quen bỏ đi, đi xa rồi, Triệu lặng thinh, cố nén lòng không khóc, ngồi xuống kéo cái túi xách vải đầy ắp lá trâm bầu úa màu vàng thu, đem theo từ sáng, rải phủ lên trên phần mộ Diệu, cũng trải dài như những ngày “lót lá mình nằm” còn Diệu, rấm rức “chuyện cố chọn cho được nhiệm sở về tỉnh nhà từ ngày vô học Sư Phạm giờ đã trở thành vô nghĩa”. Chiều xuống chậm rồi thật thấp, nắng tàn theo, có tiếng súng đâu đó ở một phía trời xa, cúi xuống hôn lên nấm mộ thêm lần nữa rồi ngày mai anh trở xuống trường, lần đi này và những lần sau sẽ không còn ai đưa tiễn, Triệu bật khóc thành tiếng. 

Thuyên Huy

Xứ Úc trời tháng Sáu – 2020

Cám ơn anh, Phạm Văn Năm, một người thầy lận đận, đã tập cho tôi viết bài văn tả cảnh tả người lần đầu. 


    




Không có nhận xét nào: