Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

Một Món Ăn Miền Tây - Mai XThanh

  
  Một Món Ăn Miền Tây

Miền Tây bông súng mọc đồng hoang
Món trộn sao ngon chẳng ngó ngàng !
Thấy giống hoa sen màu cánh trắng
Nhìn như bông thẳng nhụy thơm vàng
Món ăn lẫu mắm trên bàn ghế
Một bữa cơm rau dưới ván sàn
Bằng hữu anh em cùng thưởng thức
Cây nhà sông nước ở Tiền Giang

Mai Xuân Thanh
Ngày 28 tháng 12 năm 2017




Về Tạ Lỗi Với Quê & Em Về Thăm Lại Sài Gòn (Trầm Vân)



Về Tạ Lỗi Với Quê
Ta về tạ lỗi với quê
Bao năm xa lạnh bốn bề gian nan
Nhớ bờ đê cỏ giếng làng
Chiếc gầu ai múc trăng vàng đổ đâu

Dòng sông mấy phía nông sâu
Tình quê bồi đắp đỏ màu phù sa
Khói bay loang tím chiều tà
Tiếng chim gù đậu mái nhà yêu thương
À ơi tiếng mẹ ru buồn
Lửng đưa đôi cánh chuồn chuồn ấu thơ
Phía xa đổ tiếng chuông chùa
Bên tai vẳng tiếng nam mô nguyện cầu
Ta về nép dưới đêm thâu
Ánh trăng vằng vặc gội đầu gió sương
Cỏ hoa ngan ngát làn hương
Ngút xa thành phố con đường bụi bay
Ta về tay vỗ trắng tay
Mà nghe thương nhớ rơi đầy con tim
Khuya rơi những tiếng vạc đêm
Lượn vào ký ức bình yên vỗ về
     Trầm Vân
                 ****
Em Về Thăm Lại Sài Gòn
Em lại về thành phố Sài Gòn
Về nghe khua nhẹ gót chân son
Một thưở cặp nghiêng tà áo lượn
Gót nhỏ tung tăng buổi đến trường

Em lại về gặp lại bạn bè
Mặt mừng tay bắt nụ cười khoe
Vỡ òa kỷ niệm ngày xưa lớp
Nghiêng cánh phượng hồng đỏ tiếng ve
Em lại về đây với phố thương
Hàng cây che mát tóc dài buông
Uống ly xí muội ly chè ngọt
Ngọt lịm tình quê ngọt lịm đường
Em lại về đây với Giáng Sinh
Cây thông lấp lánh nến lung linh
Giáo đường chuông đổ lời kinh nguyện
Đẹp bước trần gian đẹp bước tình
Thế rồi em trở gót ra đi
Sài Gòn lưu luyến cánh tay ghì
Ngơ ngác hàng cây bên góc phố
Rẽ buồn theo mấy nhánh phân ly
        Trầm Vân





Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

Lá Thư Từ Kinh Xáng - Hai Trầu

               LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG
             Hai Trầu (Lương Thư Trung)
GỞI NHÀ VĂN TRẦN HOÀI THƯ tức ANH BA CẬN THỊ

 Kinh xáng Bốn Tổng ngày 22 tháng 12 năm 2017
 Thưa anh Ba,
 Ngày nay tui già quá mạng rồi anh Ba ơi, rồi chợt dưng mình ngồi nhớ lại chuyện đời! Nhớ lần đó, tui ngồi trong chiếc xuồng câu che hai tấm cà rèm bằng lá dừa nước giữa trời nắng gắt bên bờ con lộ tẻ vùng Cái Sắn-Thốt Nốt chờ cá dính lưới, rồi tui nghe tiếng chuông anh lắt mạnh khi anh đạp chiếc xe đạp cọc-cạch từ Cần Thơ lên vùng quê này bán cà-rem dạo ngày nào! Vậy mà rồi cũng trên bốn mươi mấy năm rồi đó anh Ba! Mau quá mạng, phải vậy hông anh?
 Chuyện đời ngày đó, qua những gì anh kể tui mới biết anh có những ngày lao lung vùng Kiên Lương, Luỳnh Quỳnh qua biết bao mùa gian khổ với muỗi-mòng, đỉa vắt giữa rừng tràm, ôi thôi biết cơ man nào mà kể cho xiết! Vậy mà rồi anh cứ một mực muốn “Ra Biển Gọi Thầm” hoài hà! Tui nghĩ anh là một bậc nhân tài không gặp thời nên thế thời phải vậy thôi mà! Câu thơ anh viết hồi ấy trong bài“Chiều Giáng sinh trở lại Núi Trầu”, tui còn nhớ:
 “Chiều Giáng sinh tôi trở lại Núi Trầu
Bè tràm theo kênh lên đồi Núi Sọ…”
 Phải mà“bè tràm theo kênh lên đồi núi Sọ” là hình ảnh mà tui cũng đã từng lội dưới kinh bè tràm hồi năm-nẳm đó mà! Lúc bấy giờ trời thì mưa, mình thì lạnh buốt, tay chưn vọp bẻ quá trời vậy mà phải gắng sức lôi bè tràm chìm trong nước lềnh-bềnh, bụng đói muốn run và hai đầu gối mỏi muốn sụm bà-chè luôn vậy đó anh Ba … Hồi đó anh kéo bè tràm về núi Trầu, còn tui thì kéo về rẩy khóm làm trại, làm chuồng... Nếu có ai hỏi Núi Trầu ở đâu? Thì anh đã chỉ ra đây này:
 “Núi Trầu là một địa danh ở Kinh Nhà Chung thuộc Kiên Lương- Hà Tiên. Núi Sọ là một ngọn đồi nhỏ có dựng một thập tự giá rất lớn. Đây là một xóm đạo. Chúng tôi, khoảng 30 người tù cải tạo, được lệnh bè tràm từ trong rừng tràm ra Nhà Chung. Con đường bè là con kênh dài khoảng 10 cây số. Buổi chiều trở về, nhìn từ xa, núi Sọ với chiếc thập tự giá nổi lên trên nền trời ráng đỏ. ..”(trang nhà Trần Hoài Thư, ngày 21-12-2017)
 Nghe anh tả cảnh sao mà buồn quá mạng! Nhưng rồi kết thúc một câu chuyện đã rồi hơn bốn chục năm, anh lại viết với tấm lòng mở ra vô tận:
 “Thì ra, tôi hiểu rồi. Cho dù tôi có đọc trăm ngàn pho sách, có ép mình trong tu viện, có đọc ngàn lời kinh, có lẽ tôi chắc không bao giờ “ngộ” được ý nghĩa của  cây thập tự giá như đêm hôm ấy . Có nghĩa là nó đến từ nỗi đau khổ, và nó làm mọc những nụ hoa. Nó mang nhân ái, từ tâm. Nó thể hiện lòng người. Khi người ta mang thánh giá trên cổ, không phải là mang vòng trang sức. Mà mang theo một biểu tượng về tinh thần, về tâm linh. Nó giúp con người sống theo lời răn của giáo lý…Điều huyền nhiệm là chỉ từ một vật tầm thường, nhưng nó là cả một phép lạ toát ra. Không phải cho một hai người, có công rèn luyện mà cho cả nhân loại” (trang nhà Thư Quán bản Thảo, 21-12-2017).
 Sắp tới ngày lễ Giáng Sinh mà nghe anh nhắc mùa Giáng Sinh nơi núi Trầu, núi Sọ ở Kiên Lương-Hà Tiên hồi đó quả là một đoạn đời nhiều chông gai trắc trở. Phải vậy hông anh Ba?!
 Nhưng nhắc đến anh tui không thể nào quên lần gặp anh và chị Yến, hiền thê của anh, lần đầu. Hồi ấy chị Yến kể hồi mấy chục năm trước, lúc người Việt mình chưa đông như bây giờ, lần đầu gặp bụi chuối ai trồng trên đường anh chị có dịp đi qua vậy mà rồi loài cây “bụi chuối sau hè” quê mùa ấy đã làm anh chị không cầm được mắt và cứ thế nước mắt từ ở đâu, ở đâu nó cứ tự nhiên chảy ướt mặt anh chị hoài hà! Nhắc điều này để thấy rằng quê hương chẳng phải đâu xa; mà nó nằm ngay trong bụng, trong lòng mình anh Ba à!
 “Có một ngày giữa tiểu bang mênh mông
Chúng tôi đã bàng hoàng dừng xe, thổn thức
Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc
Chuối mẹ chuối con , trời hỡi quê nhà
Có điều gì rưng rức trong tim ta
Khi cả một quê hương bổng nhiên trở lại
Thấy cả vườn sau cây xoài cây mận
Bụi chuối sau hè, lu nước, mương con
Chiếc gáo dừa còn để đấy héo hon
Thấy cả bụi chuối con nép mình nhỏ bé…”
(Bụi chuối bên đường, Ô Cửa, trang 244)
Thưa anh Ba,
Còn nữa, nhắc tới anh, tui hổng thể nào quên thơ anh tả cảnh tắm trăng hoặc thơ tình thời chiến mà thi tập Ô Cửa này của anh là một trong những thi phẩm mà tui mê nhứt đó! Tui lúc nào cũng nghêu ngao đọc mỗi lúc rảnh tay cày tay cuốc trên đồng. Tui hổng biết vì sao ông Trời lại cho nhà thơ cái tài dùng chữ đặt thơ vậy anh Ba?
 Chẳng hạn cảnh trời đất thiên nhiên bao la trong vũ trụ này dường như ai có mặt trên trái đất này cũng đều thấy hết trơn hết trọi hà; vậy mà rồi chỉ có người có máu văn nghệ mới viết chữ thành ra thơ văn được. Và thơ ấy từ chỗ chữ nghĩa riêng thôi vậy mà rồi hồn thơ lại thấm vào hồn người và ai có lòng đều phải nhận ra rằng thơ anh làm tôi nhớ hoài như mấy câu thơ đơn giản:
 “Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa,
Để tôi về đếm những đám mây
Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ
Những con chim từ xa vắng lạc bầy.
(Ô Cửa, trang 235)
Vậy mà rồi hổng biết ngôi trường cũ của anh nó là ngôi trường cũ của tui hồi nào mà tha thiết nỗi nhớ mong quá vậy anh Ba?!?
Thêm nữa là cái vụ anh tả cảnh tắm trăng thì hết ý nhe anh Ba. Tôi nghĩ có lẽ một trong những vần thơ mô tả ánh trăng mà anh Ba đã lột tả thật thần kỳ là một buổi "chị có về bàn chân trần bỏ guốc", mà lần nào cũng như lần nào cứ mỗi lần đọc lại tôi không thể tưởng tượng nhà nghệ sĩ sao quá giàu lòng rung cảm trước cảnh người phụ nữ tắm trăng bên bờ sông im vắng ấy:
 "Chị có về bàn chân trần bỏ guốc
Dòng sông đêm trăng. Thở dài não nuột
.....
Mười sáu trăng tròn hồn chị bâng khuâng
Ðêm ra tắm ngoài bến sông im vắng
Chiếc gáo dừa. Múc trăng. Trăng động
Dòng suối trăng lai láng cả bình nguyên
Ai khỏa thân lồ lộ cả trăm miền
Chị có thẹn vì trăng nhìn trên lá...."
(Khi chị về, trong Ô Cửa, trang 75, thơ tuyển toàn tập, 2004)
 Nhớ có lần trong bộ sách Người Đọc và Người Viết, tui có nhắc thế này: “Ngắm nhìn thiên nhiên với lòng yêu trăng yêu người đến nỗi thấy "trăng nhìn trên lá" là một sự cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên đến mức tuyệt diệu mới có thể nhân cách hóa cái nhìn của trăng đang đậu trên lá trên cành. Nghệ thuật đó người Trung hoa gọi là "tỉ luận"(analogie), mà không phải "tỉ luận" bởi lẽ hòa nhập và tinh luyện đến thế chúng ta phải cảm nhận rằng người nghệ sĩ đã đạt đến cái tinh túy của cảm hứng rồi.” (trang 347, Quyển I, NĐ&NV, thàng 10-2017)
 Thêm nữa, tui nghĩ, ngồi bên bờ kinh xáng này nhắc chuyện với anh là nhớ cũng mấy chục năm trước anh có lần khuyên tui mua cái máy cũ cũ, tập đánh máy lai rai chơi như tập thể dục vậy mà; rồi cứ thích gì thì ngồi ghi lại cái nấy, như chuyện nhà quê nhà mùa, vừa giải trí vừa tập cho trí não bớt quên khi tuổi mỗi ngày mỗi thêm già... Chứ mình ngồi viết tay rồi nhờ vợ, nhờ con đánh máy lại cũng hơi phiền… Nghe lời anh vậy mà rồi tui cũng lọ mọ ngồi ghi lại được một mớ chữ nhe anh Ba! Trong số chữ nghèo nàn ấy, tui gom lại thấy cũng bộn bộn và nhờ anh giúp in cho cũng được ba cuốn mà tui “scan” hình kèm theo đây để khoe cùng anh vậy đó!
 Inline image Inline image Inline image
Ba bìa sách của Hai Trầu do Thư Ấn Quán của anh Ba Cận Thị ấn hành.
Mà thú thực với anh Ba nhe, nói lòng vòng là khoe với anh chơi cho vui vậy thôi, chứ thực tình là với mấy hàng chân tình này là tui muốn bày tỏ chút lòng tạ ơn anh Ba rất nhiều; bởi lẽ hổng có anh chị hồi cách nay hơn hai chục năm về trước khuyến khích thì tui làm gì ngày nay có được tới chín cuốn sách, phải hông anh Ba!
 Ông bà mình ngày trước có dạy: “Một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy”, vậy kính mong anh Ba nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của Hai Trầu về một lẽ đã học ở anh Ba từ buổi đầu gặp nhau trên bước đường anh bán cà rem dạo và còn tui thì giăng lưới trên cánh đồng mùa nước ngập hồi ấy đó mà và anh Ba chắc cũng hổng quên?!.
 Inline image
Bìa tác phẩm thứ 17 (sưu tầm và nhận định) của nhà văn Trần Hoài Thư.
 Nhơn mùa lễ Giáng Sinh cũng sắp về nay mai, và Năm Mới 2018 lại tới nữa, tui xin chân thành cầu chúc anh Ba và chị Yến có được những ngày mới an lành, may mắn giống như tác phẩm vừa mới ra lò của anh ba còn thơm mùi mực mới vậy mà!
Rất mong anh vui cùng chị nhe anh Ba!
 Kính thư,
Hai Trầu
 =======================
  I./ Thư mục của nhà xuất bản Thư Ấn Quán
do Trần Hoài Thư chủ trương và ấn hành:
 – Bộ Văn miền Nam (4 tập, tổng cộng 2200 trang)
 – Bộ Thơ miền Nam (5 tập, tổng cộng khoảng 3000 trang) gồm: Thơ miền Nam thời chiến (tập I &II), Thơ tình miền Nam, Lục bát miền Nam, Thơ tự do miền Nam.
 – Chiến tranh Việt Nam & Tôi (thơ Nguyễn Bắc Sơn)
 – Thơ Vũ Hữu Định toàn tập
 – Kỷ vật cho em (thơ Linh Phương)
 – Túy ca (thơ Hoàng Hương Trang)
 – Thơ Hoài Khanh (4 tập):
1.Hương Sắc mong manh (xb sau năm 1975)
2. Thân phận (xb trước 1975, tái bản)  
3. Lục bát (xb trước 1975, tái bản)
 4. Gió bấc, trẻ nhỏ, đóa hồng và dế (xb trước 1975, tái bản)
 – Lục bát (thơ Hoảng Xuân Sơn)
 – Những tháng năm cuồng nộ (truyện dài cùa Khuất Đẩu)
 – Người giữ nhà thờ họ (tập truyện của Khuất Đẩu)
 – Tuyển truyện Sáng Tạo
 – Văn các số 121, 125, 132, 181, 210, giai phẩm Văn tháng 10-1973, giai phẩm Văn tháng 3-1975 (số cuối cùng) , số chủ đề Thanh Tâm Tuyền, số chủ đề Hội Họa.
 – Văn Hóa Nguyệt San chủ đề Nguyễn Du (Bộ văn hóa xã hội, năm 1963, sách dày trên 360 trang khổ lớn)
 – Tạp chí Sóng số ra mắt 1973.
 – Tạp chí Thế Đứng số 2 Xuân Canh Tuất khổ tabloid
– Hiện đại tập 4 tháng 7-1960 chủ đề Saigon ban đêm
 – Toàn bộ tạp chí Sáng Tạo bộ cũ & bộ mới
 – Màu Thời Gian (tập truyện Phạm văn Nhàn)
 – Vùng Đồi (tập truyện Phạm văn Nhàn)
 – Giỡn bóng chiêm bao (thơ Trần Phù Thế)
 – Gọi khan giọng tình (thơ Trần Phù Thế)
 – Đời thủy thủ (truyện dài của Vũ Thất)
 – Cõi đá vàng (truyện dài của Nguyễn thị Thanh Sâm)
 – Sao em không về làm chim thành phố (thơ của Lâm Vị Thủy)
 – Nghề Thầy (tạp văn Cao Vị Khanh)
 – Lệ từ Nét Ngang (thơ Cao Vị Khanh)
 – Quá Giang Thuyền Ngược (thơ Lâm Anh)
 – Bi khúc (thơ Lê văn Trung)
 – Trang sách và những giấc mơ bay (nhận định văn học của Nguyễn Lệ Uyên tập I & II)
 – Chân dung tự vệ (tập truyện của Nguyễn Lệ Uyên)
 – Sông chảy về núi (tập truyện của NGuyễn Lệ Uyên)
 – Mưa trên sông Dakbla (tập truyện của Nguyễn Lệ Uyên)
 – Biển của hai người (tập truyện Mang Viên Long)
 – Vàng lạnh (thơ Nguyễn Nho Sa Mạc)
 – Tháng tư, lính không cần hớt tóc (thơ Nguyễn Phúc Sông Hương)
 – Để trăng khuya kịp rót đầy sớm mai (thơ Đặng Kim Côn)
 – Dưới trời dạ ngọc (thơ Đặng Kim Côn)
 – Một ngày, một ngàn ngày (tập truyện Đặng Kim Côn)
 – Một mình như cánh lá (thơ Hạc Thành Hoa)
 – Tuyển truyện Một Thời Ý Thức
 – Cúi mặt (truyện dài của Bùi Đăng, do Thái Phương xuất bản năm 1969)
 – Đốt tuổi (thơ Phan Nhự Thức)
 – Ca nguyện, gởi cây xương rồng trong gió (thơ Nguyễn Thanh Châu)
 – Ca oán, đến với mùa giải oan (thơ Nguyễn Thanh Châu)
 – Điệp khúc tình yêu & trái phá (thơ Kiệt Tấn)
 – Tuyển truyện Y Uyên
 – Lẽo đẽo một phương quì (thơ Từ Thế Mộng)
 – Đan tâm (thơ Phạm Ngọc Lư)
 – Vũ trụ thơ I & II (tiểu luận của Đặng Tiến)
 – Thơ từ cõi nhiễu nhương (Nhận định thi ca thời chiến – nhiều tác giả)
– Thảo Luận (nhận định văn hoc của nhóm Sáng Tạo)
– Truyện ngắn Lê văn Thiện.
– Những cơn mưa mùa đông truyện dài của Lữ Quỳnh
– Bốn ngàn năm chen lấn (tập truyện của Hoài Ziang Duy)
– Nửa khuôn mặt (thơ Khoa Hữu)
– Chàng Nho sinh dưới gốc tùng (thử bút của Lữ Kiều)
– Thanh thi (thi phẩm của Luân Hoán)
– thơ Viêm Tịnh
– Kẻ lạ ở thiên Đường (J.Paul Sartre – bản dịch của Phùng Thăng)
– Những ruồi (J.P. Sartre – bản dịch của Phùng Thăng)
– Địa ngục có thật (bút ký của Dương Nghiễm Mậu)
– 21 khuôn mặt văn nghệ miền Nam (Phạm văn Nhàn)
– Thơ Sáng Tạo (sưu tập toàn bộ thơ xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo)
– Thảo luận Sáng Tạo
– Tuyển truyện Sáng Tạo
– Ca nguyện. Gởi cây xương rồng trong gió (thơ Nguyễn Thanh Châu – 2009)
– Ca oán. Đến với mùa giải oan (thơ Nguyễn Thanh Châu – 2011)
– Những cơn mưa mùa đông (truyện vừa của Lữ Quỳnh)
– Cào lá giữa đêm khuya (thơ Đinh Cường)
_ Thu Hoang Đường (thơ) của Lê Văn Trung 2018.
và:
– Tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Tạp chí ra 2 tháng ra một số, hiện nay đã vào năm thứ 17. Số mới nhất là 77 phát hành tháng 11-2017
 II./Tác phẩm của Trần Hoài Thư
 A.    Văn
 1. Ra biển gọi thầm (tập truyện)
 2, Mặc niệm chiến tranh (tập truyện)
 3. Thế hệ chiến tranh (tập truyện)
 4. Đêm Rừng Tràm (Tập truyện)
 5. Đại Đội Cũ, Trang Sách Cũ (tạp văn)
 6. Thủ Đức Gọi Ta Về (Tạp văn)
 7. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa)
 8. Ở Một Nơi Trên Trường Sơn (tập truyện)
 9. Truyện từ Bách Khoa
 10. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện)
 11. Truyện từ Văn (2012)
 12.Truyện từ Trình Bày + Khởi Hành + Văn Học+ Ý Thức+ Thời Tập
 13.Truyện từ Vấn Đề
 14.Tản mạn Văn Học tập I.
 15. Những vì sao vĩnh biệt (tập truyện – tái bản)
 16. Giấc Mơ Giáng Sinh (2015)
 17. Những Tạp Chí Văn Học Miền Nam (sưu tầm và nhận định) (2018)
 B.     Thơ:
 1. Thơ Trần Hoài Thư (1998) (tuyệt bản)
2./ Qua Sông Mùa Mận Chín (2000)
3./ Người lính (2004)
4./. Ô Cửa (thi tuyển toàn tập, 2004)
 5./  Xa xứ (2011)
(Chắc còn nữa, nhưng tui nhớ hổng hết)
 Phổ nhạc: Tình Xưa

Lạnh Quá - NP

                   
         Lạnh Quá Ô Hô
 
    Ông Trời hãy chiếu tia lửa hồng
    Độ âm thấp khiến tuyết phải đông
    Cho người bớt kêu ca giá buốt
    Thôi ngừng rơi mảng tuyết như bông

    Boston ,Michigan, Columbus, Toronto...
    Ra khỏi cửa, già trẻ co ro
    Hơi thở phì phò như khói thuốc
    Mũi lạnh, coi chừng gãy... ô hô !
    
            NP. 
     Một ngày thật lạnh -18C
     Dec 27 - 2017


Giọt Cà Phê Nhớ Thương - Trầm Vân


Giọt Cà Phê Nhớ Thương
Cám ơn giọt nắng hồng rơi
Phiêu bay ánh mắt nụ cười em qua
Nghiêng về làn tóc mượt mà
Thả lời yêu khuấy tách cà phê thơm

Tiếng chim hót vội bồn chồn
Mây và gió ghé nụ hôn nồng nàn
Ngỡ là em đó em ngoan
Bờ môi ngọt lối thiên đàng tình yêu

Bàn tay cầm ngọn gió xiêu
Ly cà phê khuấy cho đều giọt thương
Giọt nào mưa tí tách buồn
Những ngày góc phố lạnh phương trời chờ

Giọt nào rơi nắng vàng mơ
Ru hồn phiêu lãng vần thơ nghiêng tình
Giọt nào rơi sóng lênh đênh
Trôi dài nỗi nhớ bồng bềnh tóc bay

Giọt nào ngọt lúc kề vai
Giọt nào thương giọt lệ dài dỗi em
Bão giông rồi cũng qua êm
Đóa hoa tình ngát hương mềm phiêu du

    Trầm Vân




Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

Cuối Năm Nhớ Mạ - Võ Mai Trang


                      CUỐI NĂM NHỚ MẠ

Những ngày vào đông, khi mà ở California mọi người bắt đầu chuẩn bị cho lễ cuối năm, là lúc chúng tôi nhớ mạ thật nhiều. Ngày hôm qua, đi ra nghĩa trang thăm mạ, đọc một bài kinh cho mạ nghe mà cứ nhớ hình ảnh mạ buổi sáng sớm thức giấc tụng kinh và cầu nguyện trước bàn thờ Phật.
Tháng 12 ở đây trời tối rất sớm và dạt dào những cơn gió lạnh về đêm. Hàng cây phong cạnh nhà bắt đầu đổi lá vàng; khi từ cửa sổ phòng ngủ tôi có thể nhìn thấy đỉnh núi San Bernadino tuyết phủ trắng xóa. Nắng vẫn vàng nhưng cụm hoa dại trên lối mòn bên đường đã ẩn mình trong cỏ. Đã rất nhiều lần tôi lái xe trở lại con đường xưa ở Fullerton, con đường ngày nào đã cùng mạ đi dạo, lái xe đưa mạ đi chùa, đi bác sĩ.  Gốc bresil pepper già cỗi vẫn còn sừng sững trước căn nhà xưa, vô tình thả những trái đỏ li ti xuống vệ đường; hàng cây palm vẫn lặng lẽ vươn cao nơi sân nhà, nhưng người chủ mới đã phá bỏ hàng rào hoa bird paradise trước cửa phòng ngủ của mạ mà bây giờ nhìn vào chỉ là thảm cỏ xanh và hình ảnh mạ qua khung của sổ cùng tiếng kinh vọng lên sáng chiều không còn nữa... Vậy mà cũng đã gần 6 năm rồi,  tôi đã rời nơi chốn kỷ niệm đó ra đi.
Mạ tôi là cháu nội của quan thượng thư Bộ Lễ, Trần Chỉ Tín. Ông ngoại thuở nhỏ được đi học Quốc Tử Giám nhưng không muốn cứ theo hoạn lộ, mà lại một lòng theo cụ Phan Bội Châu dấn thân làm cách mạng chống Pháp.  Ông ngoại vừa là bạn thân và vừa là đồng chí với ông nội. Hai người cùng bị Pháp bắt giam, và lúc ở trong tù đã hứa sau này lúc có con sẽ kết nghĩa thông gia để tình bạn thêm thắm thiết. Ông ngoại là con quan thượng thư nên được ra tù sớm, trước ông nội 2 năm, sau đó không lâu ông qua đời do sức khỏe yếu kém vì những ngày tù đày, và mạ được sinh ra mà không thấy mặt cha.  Sau khi ông ngoại mất, bà ngoại được về sống với cha mẹ ruột (ông bà cố ngoại) nơi một làng nhỏ ven biển, thuộc thành phố Huế. Bà ở vậy nuôi con và được vua ban bảng Tiết Hạnh Khả Phong. Ba tôi vẫn thường kể câu chuyện này để giải thích vì sao mạ lại hơn ba 2 tuổi và để chúng tôi được biết là ông nội đã giữ một lời hứa với người bạn thâm giao quá cố đã ra đi vào cõi thiên thu 20 năm trước.
Mạ tôi chỉ học đến tiểu học trường làng, nhưng tư chất thông minh và rất hiền từ. Ông nội của mạ (quan thượng thư) muốn mạ lên Huế để đi học nhưng ông cố ngoại vì thương nhớ cháu nên giữ mạ ở lại quê nhà.Nghe kể lại rằng, ngày xưa cố ngoại, một thầy thuốc nổi tiếng nhân từ, những năm đói kém mất mùa đã đem cả gia tài ra cứu giúp và chữa bệnh cho cả làng, quan Thuợng Thư nghe tiếng đồn mới về đến tận vùng quê để hỏi vợ cho con.
 Năm ngoái, lúc trở về Huế, vào một ngày đầu đông,  mây xám xây thành và mưa giăng đầy trời, tôi đã tìm về chốn cũ quê ngoại, nơi ngày xưa mạ đã trải qua những năm tháng tuổi thanh xuân. Đứng ở bậc thềm căn nhà vắng vẻ, nhìn ra Phá Tam Giang sóng nước bàng bạc, tôi cảm thấy xúc động và nhớ mạ khôn cùng. Một bầu trời nước mênh mông ngoài xa kia với những mái chèo khua sóng, hàng dương liễu reo trong gió và những đụn cát xa tắp. Tôi tưởng tượng,  theo lời mạ kể, cô gái nhỏ ngày xưa đi bắt cua còng trên bờ biển vào những đêm trăng sáng rồi dạo chơi trên những bãi cát dài trắng xóa. Tôi cũng tưởng tượng những chén bánh bèo nhỏ với tôm chấy từ những con tôm tươi mới cất rớ lên từ giòng sông trước mặt nhà, mà bà cố ngoại tự tay làm cho mạ vì rất cưng đứa cháu mồ côi cha từ khi còn chưa lọt lòng mẹ.  Còn nữa, tôi hình dung ra  mạ 7, 8 tuổi gánh đôi quang gióng nhỏ đi khắp làng, do ông cố ngoại tự làm cho cháu để chơi trò buôn bán. Sau này, khi lớn lên, đôi khi tôi nghĩ mạ mình hồi đó có lẽ rất ngây thơ thật thà, với cuộc sống hiền hòa đơn sơ bên vùng biển mặn, không biết có những mơ mộng gì trước khi lên làm dâu nhà họ Võ ở Bao Vinh, do một lời hứa của hai người bạn thân trong chốn ngục tù.
Tôi cũng trở về thăm lại ngôi nhà ở Bao Vinh mang dấu ấn lịch sử, bây giờ là từ đường họ Võ,` nơi mạ lên làm dâu lúc tuổi 20. Ông nội rất thương yêu mạ, đứa con gái của người bạn thân thiết cùng chí huớng nhưng bạc mệnh.  Đối với mạ, ông nội cũng như người cha mà mạ không có diễm phúc được biết. Đời sống ngày xưa rất thanh bần, vì ông nội sống liêm khiết và ba lúc đó còn rất trẻ, là thầy giáo nhưng cũng bôn ba vào tù ra khám, ôm những hoài bão và lý tưởng ấp ủ được từ giáo huấn của ông nội. Tôi tưởng tượng ra buổi sáng mạ thức giấc sớm, bỏ dép đi rón rén trong ngôi nhà cổ,  nhón gót để không gây nên tiếng động vì bà nội nằm bệnh đã 10 năm vì chứng mất ngủ, rồi nhen lửa từ những lá cây khô ngoài khu vườn âm u, nấu cơm và bới trong mo cau cho ba đi làm trong những ngày mưa lụt ở Huế.
Tôi cũng đi qua ngôi nhà xưa ở đường Huỳnh Thúc Kháng của những ngày niên thiếu sống với bạ mạ và các anh chị. Nơi đây, bây giờ không còn đấu tích gì của ngày tháng cũ, không còn nữa cánh cổng vào nhà với tấm bảng nhỏ bằng đá khắc hàng chữ Mai Khôi Trang, cổng vào nhà ngày xưa đó mạ thường đứng chờ con những ngày tôi đi học về trễ.  Cây nhãn trước nhà vẫn còn đó, nhưng hàng bách tán tùng, cây hoa hồng, hoa mộc lan, và giàn hoa sử quân tử đâu rồi? Những viên sỏi trải trên lối vào vườn cũng không còn nữa, hay đã lăn theo dấu chân người ra đi phương trời nào? Còn đâu hình ảnh ba mạ mỗi ngày ngồi ở bộ phản gỗ trước phòng ăn nơi có treo những tấm liễn với bài thơ Quy Khứ Lai Từ của Đào Uyên Minh mà ba đã dạy tôi học thuộc lòng lúc tôi mới chỉ là cô bé 4 tuổi. Có lẽ lúc đó ba đang gởi gắm tâm sự theo những giòng thơ của người xưa qua lời đọc của đứa con nhỏ ngây thơ?  Nhìn xa xa, tôi chỉ còn thấy hàng dừa xanh dọc theo bờ sông, giòng sông mà ngày xưa chúng tôi thường vẫy vùng trong nước,  chèo perissoire đi theo con sông đào đến tận cầu Gia Hội và bến sông xưa với những bậc tam cấp dẫn  xuống tận mé sông, mà đối với đứa bé như tôi hồi đó hình như cao vô tận.
Lúc nhỏ, tôi thường  bị bệnh và trong cơn sốt  mê man  vẫn cảm giác mơ hồ bàn tay ấm áp của mạ đặt lên trán và thấy dễ chịu rất nhiều. Hồi còn nhỏ tí tôi cũng rất thích rúc vào lòng mạ  ngủ vào những ngày mùa đông lạnh ở Huế để cảm thấy rất ấm áp, hạnh phúc, và hít hà mùi hương dịu dàng toát ra từ mạ. Đôi lúc nửa đêm thức giấc, tôi lại thấy anh Sơn, cũng ôm gối chạy vào ngủ chung và sau này lớn lên hai đứa vẫn thường nhắc đến những khoảnh khắc êm đềm đó. Hương thơm của mạ những năm sau ngày mất vẫn còn đọng lại thật lâu trong những bộ áo kỷ niệm để mỗi lúc mở tủ áo ra tôi vẫn dừng lại rất lâu để thẫn thờ nhớ mạ.
Từ lúc cảnh nhà hàn vi đến lúc ba có được địa vị trong xã hội, mạ lúc nào cũng vẫn giữ tính tình khiêm cung và thật thà, không bon chen tính toán, không hào nhoáng bề ngoài. Nhà có xe hơi mạ vẫn thường dùng xe xích lô, vẫn đi xe buýt xe lam, vẫn ăn mặc giản dị, thường là áo dài lụa trắng, vẫn về làng cũ thăm bà con nghèo lối xóm. Cách đây không lâu, vào dịp đi đám cưới đứa cháu ở Sacramento, tôi gặp lại một số bà con từ quê ngoại, mới biết tình cảm của họ dành cho mạ kính trọng và thân thiết đến dường nào. Mọi người nhắc lại những ân tình đã nhận được từ mạ, khiến tôi cảm thấy rất hãnh diện được làm con của mạ.
Đời sống của mạ cũng theo vận nước nổi trôi, rời xa quê hương mạ yên phận ở nhà lo cho cháu, đôi khi đi sinh hoạt ở Hội Cao Niên, cuối tuần đi thăm bà con, bạn hữu.  
Mạ rất thích đi chùa và làm việc thiện, thường tụng kinh vào sáng sớm và buổi tối. Những ngày cuối đời, mạ không bị bệnh nhưng chẳng ăn uống gì được và rất yếu. Bác Sĩ khuyên nên đặt ống cho đồ ăn vào để sống thêm một thời gian nữa. Mạ trả lời "sống như vậy đủ rồi đừng làm gì vô ích" . Mạ quả thật rất can đảm và chấp nhận lẽ sống "sinh lão bệnh tử" vì thấm nhuần đạo lý Phật giáo. Trước khi nhắm mắt, mạ còn dặn dò: "Các con nhớ săn sóc cho Ba".
 Dù sao, tôi cũng cảm ơn Trời Phật đã cho được sống gần mạ đến hơn nửa đời người... Vậy mà tôi cứ nhớ hồi xưa vì là đứa con út trong nhà, nhỏ nhất, nên cứ lo... mạ chết... nỗi lo của đứa bé 6,7 tuổi,  khi thấy mạ mình lúc đó đã lớn tuổi, tôi nhớ ban đêm ngủ với mạ cứ nhìn xem mạ còn thở không?... Thật đúng là con nít.
Tình yêu của mạ đối với các con thật thiêng liêng, vô hạn, trái tim mạ lúc nào cũng lẽo đẽo và lặng lẽ theo nơi có các con, mạ lo cho hết đứa này đến đứa khác.  Những ngày xa quê, may mà có ba có mạ bên cạnh, nên chúng con như có một phần quê hương trong cuộc đời lưu lạc và là một động lực mạnh mẽ để chúng con có thể vững lòng tin mà đi tới.  Hôm nay, ở đây, cả nhà đang quây quần vào dịp lễ cuối năm, nhưng không có mạ, chính những giây phút này chúng tôi mới hiểu hết khoảng trống lớn lao  mà mạ đã để lại trong tim của các con. Phong cách sống chân thật đơn sơ của mạ là một bài học để đời và những tiếc thương này sẽ không bao giờ nguôi ngoai từ ngày mạ nói lời vĩnh biệt với ba và các con để đi vào cõi thiên thu miên viễn.
Mạ ơi, nếu có kiếp sau, con vẫn muốn làm con của mạ.

Võ Mai Trang
California 26/12/2017