Chữ Nghĩa Làng Văn
“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.
***
Chữ Việt cổ
Giục giặc: lưỡng lự, muốn nói rồi lại không
(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)
Chữ là nghĩa
Yếu tố thứ hai tạo nên cá tính Nguyễn Du là quê quán. Nghệ Tĩnh là một vùng đất rừng rậm, núi cao, sông sâu, biển rộng. Một thiên nhiên hùng vĩ, khắc nghiệt thường kích thích con người một sức bền bỉ, một lòng kiên nhẫn phi thường để tồn tại.
Bởi thế, dân Nghệ là những người kiên cường, cứng cỏi, tuy ăn "cá gỗ" mà ý chí sắt thép.
(Khuyết danh)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Đường Sài Gòn vừa dài vừa hẹp
Gái Sài Gòn vừa đẹp vừa dê
Nếu sinh vào tháng nào thì tính cách ứng với loại cây nào?
Tháng 8, Cây hoa mộc
Đâu cần sắc biếc thắm hồng
Vẫn là đệ nhất giữa muôn hoa
("Giá cô thiên" - Lý Thanh Chiếu).
Hoa mộc thơm ngọt ẩn mình trong lá xanh, hương thơm vẫn lan tỏa mười dặm. Sinh vào tháng 8, bạn rõ ràng là người tài năng và có năng lực, nhưng lại kín đáo và dè dặt. Bạn thích đọc sách, không thích tô điểm và không bao giờ phô trương trong cách cư xử. Nhưng thật khó để che giấu khí chất quyến rũ tỏa ra từ trong ra ngoài.
(Lý Văn Hàm)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Gần mực thì đen gần đèn thì… cháy
Chửi “vỗ” nợ
“…Cha bố tiên nhân thằng Cò! Cha bố tiên nhân thằng Cốc! Cha họ nội họ ngoại, họ gần họ xa, họ năm đời giở lên, họ ba đời giở xuống nhà thằng Cò, thằng Cốc! Cha tam đại, tứ đại, ngũ đại mai thần chủ thằng Cò, thằng Cốc! Cha đứa già đứa trẻ, đứa nhớn đứa bé, đứa mẹ đứa con, đứa đỏ như son, đứa vàng như nghệ nhà thằng Cò, thằng Cốc, bảo nhau định vỗ nợ của bà…”
(trích truyện Khao của Đồ Phồn)
Từ điển chính tả sai lỗi… chính tả
“Bàn: bàn hoàn (tv. bàng hoàng)”.
(Ts Hà Quang Năng/ Ths Hà Thị Quế Hương)
Không phải “bàn hoàn”, thường viết là “bàng hoàng”. Đây là hai từ Việt gốc Hán có tự hình và nghĩa khác nhau. Từ điển tiếng Việt của Vietlex (Vietlex): “bàn hoàn 盤 桓 quấn quýt không rời; 2 nghĩ quanh quẩn không dứt”; “bàng hoàng 徬 徨 ngẩn người ra, choáng váng đến mức như không còn ý thức được gì nữa”.
(Hòang Tuấn Công)
Chữ Việt cổ
Mủng: cái thúng nhỏ
(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)
Chữ nghĩa của một thời chinh chiến
trong quán nhậu
Từ chết đến bị thương
(Bán tử bất hoại)
Bùi Xuân Phái vẽ tranh
theo thơ Hồ Xuân Hương
Đánh Cờ
Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết
Để đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà
Nam kỳ lục tỉnh, tên gọi và diện mạo
Lưu dân ra đi bỏ lại mồ mả ông bà tổ tiên ở Đàng ngòai, không có cơ may trở lại cố hương. Khi vào đến miền Nam, họ không thờ “nhất tổ” như quy định của vua (1), mà nhà nhà đều thờ đến “Cửu huyền thất tổ”: Tức thờ thêm tổ tiên còn lại ở Đàng ngòai.
Cửu huyền là chín thế hệ: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu chắt, chít.
Thất tổ là bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ .
(1) Quy định thờ tổ tiên của nhà Nguyễn:
Thứ dân chỉ được thờ nhất tổ (ông nội).
Các quan đại phu được thờ tới tam tổ.
Vua thì thờ tới thất tổ.
(Trần Văn Chi)
Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè - 1
Vẫn theo lời thuật của tác giả Ðỗ Quí Toàn, cái đàm trường đó nói đủ thứ chuyện. Nhưng liệu nó có cung cấp được bài học nào cho những ai từng đến nghe hay không?
Ðỗ Quí Toàn trả lời cho câu hỏi này:
“Ðiều Ðỗ Ngọc Yến và tôi học được nhiều nhất là những lời cụ Quỳnh bàn về chủ nghĩa Marx và kinh nghiệm sống với các cán bộ đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời kháng chiến, trước khi cụ về thành. Nghe nói cụ về thành trong một sứ mạng nào đó, kiếm cớ để đi luôn. Cụ là người hiếm hoi ở Việt Nam đã học được cuốn Tư Bản của Karl Marx. Cụ bảo mấy người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam chẳng mấy người đã đọc kể cả ông Hồ Chí Minh. Cụ không gọi bọn họ là Cộng Sản mà luôn luôn gọi là ‘Anh em Ðệ Tam’ hoặc lúc bực mình gọi là ‘bọn Ðệ Tam’. Có hồi người ta coi cụ thuộc nhóm Trốt kít, Ðệ Tứ vì cụ từng ở trong nhóm Hàn Thuyên cùng với Trương Tửu trước chiến tranh. Các cụ gọi đảng Cộng Sản là bọn Ðệ Tam cho thấy cụ vẫn có lòng tôn trọng các anh em Ðệ Tứ. Cụ không gán mọi lỗi lầm cho chế độ Stalin và bọn đồ đệ của ông ta ở Việt Nam, cho chủ nghĩa Cộng Sản nói chung. Trong cái đàm trường đó, còn nhiều anh em Duy Dân nữa. Chúng tôi đến đó vì văn nghệ, vì ham làm thơ, viết văn chứ không dính tới các đảng phái chính trị. Nhưng phải nói rằng chính nhờ nghe những người ‘vỡ mộng chủ nghĩa Mác’ nhất là nghe kể kinh nghiệm của Ðinh Hữu, Nguyễn Ðức Quỳnh đã sống với Cộng Sản, nhận được những bài học thực tế của nhiều người cùng thời đó, tin tưởng là họ nói thật, chẳng có lý do gì để họ phải nói dối mấy cậu thanh niên như chúng tôi, cho nên Ðỗ Ngọc Yến, Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ, chúng tôi sau này không bao giờ có một ảo tưởng nào về chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản.
Cụ Quỳnh có lối nói rất quả quyết, là 'không thể nào chơi với bọn Ðệ Tam được!' Những điều cụ trải qua và những hiểu biết của cụ về chủ nghĩa Marx khiến chúng tôi bị thuyết phục. Mà rõ ràng cụ không làm công việc đó vì tham vọng chính trị nào cả. Cụ coi văn nghệ là cái nghiệp cao quý nhất”.( tr. 81)
(Vũ Ánh)
Chữ nghĩa của một thời chinh chiến
ở quán cà phê
Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”
về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:
Pallmall : Phải anh là lính mời anh lên lầu.
(hay “Phòng anh lạnh lẽo, mình anh lạnh lùng)
Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè - 2
Về bản chất hào hiệp của Yến, Ðỗ Quí Toàn viết:
“Cái tính rộng rãi của Ðỗ Ngọc Yến thì tôi biết ngay từ lúc 15, 17 tuổi. Trong đám bạn bè, Yến là người có tiền nhiều hơn anh em vì có gia đình tương đối khá hơn chút đỉnh. Tôi vừa đi học vừa đi kèm trẻ để sống. Có bữa không có gì ăn sáng, đói quá tôi bỏ lớp học, đi bộ tới bác Nhân ở hẻm Cầu Kho xin chén cơm chiên. Trần Dạ Từ lúc đầu ở nhà bác Nhân, mẹ Nguyễn Thụy Long, sau mới kiếm được việc sửa bản vỗ (thầy cò) ở một tờ báo văn nghệ học sinh. Phí Ích Nghiễm (Dương Nghiễm Mậu), Viên Linh, Nguyễn Khắc Giảng cũng là những học trò nghèo tự túc, Viên Linh và Giảng lớn tuổi hơn, mèo mỡ sớm hơn, cũng tự lập sớm hơn.
Yến tương đối là một ‘công tử’ trong bọn, còn được cha mẹ đùm bọc, tuy gia đình cũng chẳng giàu có gì lắm.
Hồi Trần Dạ Từ đi gặp Thu Vân (tức bà Nhã Ca sau này) rồi bị kẹt ở Huế không về được, anh em đóng tiền gởi ra 'chuộc' chàng về, Yến là người góp nhiều hơn các bạn. May mắn, sau Hoài Nam nhờ viết lách mà kiếm ra tiền, trả tiền khách sạn, mang được cả cô bồ về Sài Gòn trước con mắt thán phục của bạn bè. Còn Yến thì được mẹ cho đồng nào, đem tiêu chung với anh em. Cái quần, cái áo ai cần cũng cho luôn. Sách quý cũng cho nốt...”
(Vũ Ánh)
Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt &
vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt
Trong phần trình bày về tích truyện, Trương Vĩnh Ký dùng tiếng “An Nam ròng”, là lời ăn tiếng nói của con người Nam bộ trong cuộc sống lúc ấy. Chẳng hạn như: “Đời Gia tĩnh nhà Minh, có họ Vương làm quan viên ngoại, sinh được ba đứa con, con út trai là Vương quan, con đầu lòng hai đứa gái là Túy Kiều vuối Túy Vân, hai gã nhan sắc đẹp đẽ xinh tốt quá chừng, lại thêm học hành thông minh, lịch sự đủ đều, cầm, kì, thi, họa chẳng thua ai.
Lúc ấy nhằm tiết tháng ba, người ta hay đi tảo mộ. Ba chị em mới rủ nhau đi chơi xuân, đi qua khỏi suối, Túy kiều thấy cái mồ con Đạm tiên, không ai giẫy cỏ, không ai viếng thăm, thì nghĩ lại cái điều hồng nhan bạc phận mà khóc, hồn Đạm Tiên về hòa thơ vuối Túy kiều. Vừa chiều tối, ba chị em dắc nhau ra về, gặp Kim Trọng là bạn học với Vương Quan, chào hỏi chuyện văn, hai chị em lạ khép nép giấu mặt.
Về nhà Túy Kiều đêm nằm trằn trọc, chiêm bao thấy Đạm Tiên về nói chuyện về nỗi đoạn trường đến sau. Túy Kiều vùng khóc lên, mẹ nghe được hỏi làm sao vậy, thì nó nói chuyện chiêm bao lại cho mẹ nó nghe. Thì mẹ nó la biểu nó đừng có tin chiêm bao mộng mị, có thật vào đâu.
(…)
(Bùi Vĩnh Phúc)
Chữ nghĩa của một thời chinh chiến
ở quán cà phê
Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”
về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:
Salem : Sao anh làm em mệt.
(đọc ngược lại “Mà em làm anh sướng”)
Trịnh Công Sơn với những khuất lấp
Thật đặc biệt, thi sĩ họ Bùi vẽ cũng đẹp và lạ, không khác là bao so với tài hội hoạ của Trịnh. Hai người cũng đã từng vẽ cho nhau. Người nọ vẽ cho người kia một bức chân dung cũng rất lạ và đều được bạn bè lưu giữ cho đến nay.
Sự giao cảm “vô thường” của hai ông trong nghệ thuật đã đem lại những cảm xúc cho đông đảo bạn bè trong giới. Nhiều người làm thơ ca ngợi hai ông và cũng nhiều hoạ sĩ dựng chân dung hai ông với những đưòng nét và mầu sắc độc đáo. Ngay sau khi Trịnh Công Sơn về cõi, nhà điêu khắc Trương Đình Quế ở Đồng Nai đã tạc hai bức tượng lớn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và thi sĩ Bùi Giáng. Bức tượng toàn thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ở tư thế ngồi vắt chân chữ ngũ, một tay chống cằm, một tay cầm đàn guitar chìm đắm trong suy tư. Còn bên cạnh là bức tượng nhà thơ Bùi Giáng, nom rất sinh động khác với nét tĩnh lặng tượng Trịnh, người choàng áo mưa, đeo hồ lô rượu bên hông, tay chống gậy, râu tóc phất phơ, một chú chó nhỏ đu trên vai ông thật ngộ nghĩnh; và là một con mèo, một con gà trống đi cùng. Cả hai đều hiện lên đúng tính cách rất khác biệt nhưng lại đầy biểu cảm.
Có thể nói Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng, đều lừng danh và tiêu biểu cho những phong cách thơ, nhạc rất đặc sắc của một trăm năm. Nếu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thành công những cảm xúc và suy tư đậm tính triết luận gần gũi với đạo Phật, chia sẻ và bày tỏ chân thành với người đời, thì ở thơ Bùi Giáng thể hiện sâu sắc một tinh thần tiêu dao, sắc sắc không không của cõi niết bàn.
Người đời tặng cho ông danh hiệu “thi sĩ Bồ tát” vì lẽ đã cảm thụ và yêu thơ ông như thế. Tình bạn ấy khó gọi tên bởi nó lúc xa lúc gần, lúc mong manh, khi lại chói loà bởi sự hoà nhập về nhạc điệu, khúc thức, hình ảnh, và ngôn ngữ lẫn tư duy ở cõi thiền vô vi lan toả trong bao la. Đó chính là sự giao cảm vô thường của những kỳ nhân mang hai cái tên : Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn.
(Vương Tâm)
Chữ nghĩa của một thời chinh chiến
trong quán nhậu
Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ
(Bất kiến quan tài bất hạ lệ)
Chữ nghĩa làng văn
Cây sung tượng trưng cho người ẩn sĩ vì: Hoa ẩn núp bên trong trái, cho nên gọi là giống ẻn hoa (cryptogame) , thấy trái mà chẳng thấy hoa, phải chẻ làm đôi mới thấy hoa, cho nên người Trung Hoa gọi là “vô hoa quả” ngược lại với các giống cây khác, có hoa trước rồi mới thành quả sau, giống này gọi là hiện hoa.
Chúng ta còn tìm thấy tên sung trong một thành ngữ nữa là:
Ăn quả vả, trả quả sung.
Quả vả thì to lớn bằng nắm tay, thịt đầy, hoa cũng ở bên trong, Tây phương gọi là figue de Roxburg, còn quả vả thì nhỏ mà tròn, Tây phương gọi là figue-sycomore, cả hai thuộc giống Ficus, như cây đa (banian), cây si, cây bồ đề (bodhi, arbre de la Sagesse) mà Đức Thích Ca Mâu Ni ngày xưa đã núp bóng, ngồi tham thiền trong 49 ngày để thành Người Đại Giác .
Câu “ăn quả vả, trả quả sung” ngụ ý rằng: Ăn thì nhiều mà trả thì ít, cũng như nhà thơ nào đó, hình như đã chết năm 1986, đã nói: “Cho thì nhiều mà lấy lại chẳng bao nhiêu”.
Thành ngữ quả vả và quả sung cũng còn ngụ ý: Vay và trả không tương xứng, trong hai người có một người khôn (vặt) và một người dại khờ, nên lấy đó mà làm kinh nghiệm, chớ dại lần thứ hai và cũng chẳng thèm khôn vặt, tiểu xảo làm gì?
(Thái Văn Kiểm – Kho tàng tiếng Việt)
Chữ nghĩa của một thời chinh chiến
ở quán cà phê
Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”
về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:
Lucky : Lòng ước có khi yêu.
Ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm
Ông Nguyễn Cẩm Xuyên...”biên tập” có hơi “quyết đóan”:
“…Phan Kế Bính khẳng định “tương truyền” bà Nguyễn Thị Điểm là người đã diễn Chinh Phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm”. Ông Nguyễn Cẩm Xuyên nhấn mạnh: Đã gọi là “tương truyền” thì không có gì là chắc chắn và không rõ Phan Kế Bính đã nghe lời “tương truyền” ấy từ đâu?...”.
Ông phụ lục:
“…Đăng Khoa Lục Sưu Giảng và Tang Thương Ngẫu Lục kể 2 câu chuyện na ná nhau nhưng sách thì ghi là Nguyễn Thị Điểm, sách lại ghi là Đoàn Thị Điểm. Để hòa giải Phan Kế Bính trong Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện đã chọn giải pháp dĩ hòa vi quý nên chú thích ở cuối truyện: “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm...”. (1)
(1) Cụ tổ của bà Đòan Thị Điểm họ Nguyễn, sau đổi thành họ Đòan. Tức Nguyễn Thị Điểm và Đoàn Thị Điểm… là một.
Chữ nghĩa đầu đường cuối ngõ
Đường Phan Đình Phùng Sàigòn, kề bên chợ Vườn Chuối có đường xe lửa chạy ngang và bên kia đường rầy, có căn nhà 3 từng, đó là nhà “cho mướn sách” Cảnh Hưng.
Nhà Cảnh Hưng cho mướn sách là cho độc giả… mượn sách về nhà đọc, nhưng phải “đóng tiền thế chưn” bằng 1/2 giá tiền sách in ở trang bìa, khi đem trả sách, Cảnh Hưng trừ tiền mướn vô tiền thế chưn, tiền mướn, cứ 1 cuốn 1 đồng 1 ngày… răng rắc. Mấy nhà bán sách và tác giả có sách xuất bản… hỏng vui với Cảnh Hưng… Nhà Cảnh Hưng chứa sách để cho mướn… hỏng biết mấy chục ngàn cuốn, vì sách nằm trong kệ bít kín từng trệt và 2 từng lầu… Ông Cảnh Hưng… tướng tá… hơi nhỏ con nhưng vui tánh, học trò khoái lắm! Thằng học trò nào mê Kiếm Hiệp, muốn luyện chưởng hay… muốn đột nhập “cái bang vài ba túi”… thì tới đây. Ông Cảnh Hưng… biết tẩy học trò hết ráo nhen, thấy mặt, ổng cười hì hì, liền cho mượn cả tuần mới trả, với 2 đồng một tuần… Bởi vậy, học trò “mê đọc sách” Cảnh Hưng là vậy.
Phụ việc ông Cảnh Hưng là bốn năm đứa nhỏ, chuyện môn, chạy đi lấy sách… theo sự “chỉ chỗ” của ông chủ hay lấy sách đọc giả trả, rồi đem sách để “chỗ cũ”… Ông Cảnh Hưng có trí nhớ… siêu phàm tàn canh gió lốc… Khi ai tới mướn sách, chỉ cần nói tên sách, là ông Cảnh Hưng, nói liền, thí dụ:
– Bộ Tam Quốc Chí có 3 cuốn, nhưng khách đang mướn cuốn 1 và 2…
– Ủa ? Ông chủ có cả chục bộ lận mà?
– Thì ờ… người ta mượn hết ráo rồi, giờ còn cuốn 3… Cuốn 1 và 2 mai trả…
–… vậy đi… lấy tui cuốn 3… cũng được.
Ông Cảnh Hưng ra lịnh:
– Tèo, mầy lên từng 2 kệ số 7 ngăn 6 lấy cuốn 3 bộ Tam Quốc Chí cho ông Hai.
Học trò nghe ông Cảnh Hưng… nhớ từng vị trí cuốn sách nằm ở đâu trong rừng sách từ trên lầu xuống tới đất… thấy mà ham .
(Ký ức một thời Sài Gòn – Chàng Hiu 374)
Khoa trương trong ca dao của người Việt
Cách biểu đạt khoa trương thời gian trong tiếng Việt rất đa dạng. Tuy nhiên trong ca dao thường chỉ hạn chế ở mấy dạng sau:
Biểu thức: ‘‘chưa X (thì) đã Y’’, biểu đạt ý nghĩa ‘‘chưa thế này thì đã thế kia’’. Theo trật tự, động tác thứ nhất xảy ra trước thì mới đến động tác thứ hai, nhưng khi khoa trương thì ngược lại.
Chẳng hạn :
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm.
Rượu hồng đào chưa nhắm đã say.
Hay:
Dây tơ hồng không trồng mà mọc
Gái Đồng Nai chưa chọc đã theo.
Hoặc:
Đêm nằm thì ngáy o o
Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà.
(Nguyễn Ngọc Kiên)
“Nhiều chuyện” với hẻm
Sài Gòn có nhiều hẻm số hẳn hoi nhưng người Sài Gòn vẫn quen gọi tên hẻm theo “dấu hiệu nhận biết”. Ví dụ như nói hẻm số 53 (1) đường Nguyễn Huệ quận 1, Sài Gòn, thì ít người biết nhưng nhắc đến hẻm “Bà Cả Đọi” thì không chỉ người Sài Gòn mà người miền Bắc cũng biết. Theo người dân sinh sống ở hẻm này, trước 75, tại đây có quán cơm do bà người Bắc tên Cả Đọi làm chủ. Lâu dần, người ta lấy “cơm Bà Cả Đọi” làm “dấu hiệu” nhận biết, thành ra có tên “hẻm Bà Cả Đọi”.
Hiện nay, tiệm cơm bà Cả vẫn còn nhưng do người thân của bà đứng bán là tiệm cơm Đồng Nhân - cơm bà Cả ở các địa điểm như đường Trương Định, Tôn Thất Thiệp… Tương tự như vậy, nói hẻm số thì chẳng mấy ai biết nhưng nói “hẻm bún ốc”; “hẻm bún riêu”, “hẻm bún đậu”; “hẻm bia hơi”… thì ai cũng rành.
(Trần Tuy An)
(1) Quán Bà Cả ở số 42 Trương Ðịnh, quận 1, Sài Gòn
(nguồn Nguyễn Thị Hàm Anh)
Quán liêu xiêu
Người Sài Gòn không có khái niệm đại gia hay đẳng cấp. Một ông chủ đi mẹc cũng vẫn ngồi vỉa hè ăn, nhậu chứ không cần phải thể hiện đẳng cấp đại gia. Những chàng trai, cô gái sành điệu vẫn ăn hàng cùng với những người lao động chứ không phân bì. Miễn là đủ tiền để trả không có người ta đánh cho nhừ xương.
Người Sài gòn sáng cafe ăn sáng vỉa hè, bắt cái sây chừng, kèm theo bình trà và vài ba tờ báo ngồi dưới những hàng cây cao nhìn dòng người qua lại.
Đồ ăn sáng Sài Gòn cũng đơn giản, bánh canh, hủ tíu, phở Bắc, món nào vỉa hè cũng ngon, ngu nhất là ghé vào mấy quán có thương hiệu vì mắc chết mẹ
Phố Cổ Hà Nội
Ba con phố chính của Phố Cổ Hà Nội:
Phố Hàng Đào, Phố Hàng Ngang và Phố Hàng Đường
Phố Hàng Đào tất nhiên cũng hình thành rất sớm dọc trên con đê gần Hồ Gươm. Phố Hàng Đào thời cổ, nhà mái lá, mái ngói nhô ra thụt vào, không có vỉa hè. Đường đất gồ ghề, rất hẹp, ngày nắng bụi mù, ngày mưa lầy lội, không có cống, nước tụ lại chảy thành rãnh hai bên vệ đường.
Theo sách “Vũ trung tuỳ” bút của Phạm Đình Hổ kể quang cảnh phồn hoa của mấy phố Hàng đào - Hàng Bạc. Hàng Đào là nơi buôn bán lụa là vóc nhiễu với nhiều màu sắc, người Hàng Đào được tiếng là người thanh lịch, con người của “kinh kỳ” kiểu cách.
Con rùa trong văn hóa dân gian
Chiều chiều én lượn liệng trên trời
Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây
Cảnh tượng hoang vu của vùng đất miền Nam ngày đầu mở cõi in đậm trong tâm thức của người bình dân qua câu ca dao ấy. Dõi theo bước chân của họ là những làng mạc, chợ búa dần dần mọc lên. Câu hò, điệu lý văng vẳng cất lên khi trăng thanh gió mát theo nhịp chày đôi, chày ba bên cối gạo, gánh nước. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin được khảo sát một số nét về hình tượng con rùa trong môi trường văn hoá mang đậm dấu ấn sông nước, kênh rạch miền quê!
Theo khái niệm của ngành sinh vật học thì rùa là loài bò sát cổ. Cơ thể ẩn trong bộ giáp xương hợp thành mai và yếm. Mai và yếm phủ nhiều tấm sừng. Có khoảng 200 loài rùa khác nhau. Ở Việt Nam có 29 loài. Ở miền Tây Nam Bộ có hai loại chính là rùa ba gờ và rùa đất lớn.
Rùa ba gờ còn có tên là rùa nước, rùa cỏ, loại này chỉ sống ở Nam Bộ. Mai rùa dài từ 17 – 21cm, màu nâu sáng hoặc sẫm, rìa mai có màu vàng sáng. Trên lưng có 3 gờ, trên gờ nổi những u nhỏ. Yếm màu vàng hoặc màu kem có những đốm đen hoặc nâu sẫm. Đầu có sọc vàng và một đốm trắng ngay sau ổ mắt. Chúng sống ở các ao đầm, mương, đìa nơi có đáy mềm và nước chảy chậm, ăn các loài thuỷ sinh như cua, cá, tôm, …
Rùa đất lớn cũng giống như rùa ba gờ, có điều chúng lớn hơn.
(Trần Minh Thương)
Con rắn trong văn hóa dân gian
Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội tợ bánh canh
Cỏ mọc cọng thành tinh
Rắn đồng đà biết gáy
Đó là những câu ca lưu truyền cách đây trên dưới ba trăm năm. Theo bước chân người mở cõi ở miệt đất này, hình tượng con rắn đã in đậm trong tâm thức của họ. Rắn đã trở thành một nét văn hoá trong đời sống của người bình dân Tây Nam Bộ.
Rắn có loại hiền, có loại có nọc độc. Người ta phân biệt nhiều loại rắn hổ: rắn hổ ngựa, rắn hổ mây, rắn hổ hành, rắn hổ đất, rắn ri cá, ri voi, rắn lục, lục cườm, ... Thức ăn chính nuôi sống rắn hổ là chuột, vì thế nơi nào có nhiều chuột đồng có thể có nhiều rắn hổ. Rắn hổ mây rất hiếm, chúng to lớn nhứt, dân gian coi như là rắn thần, rắn hổ ngựa mình có sọc đen dài hai bên hông với màu da xanh lá cây hoặc xanh da trời nhạt. Rắn hổ ngựa phóng, chạy nhanh không thua ngựa sải. Như tên đã đặt, rắn hổ hành còn sống hay đã chết, lúc nào cũng có mùi hành phát tiết ra ngoài.
Còn rắn hổ đất là loài dữ nhứt, khi ban ngày lại chậm lụt, lù đù hơn, màu da đen xam xám, mướt láng, thân hình dài to. Mỗi khi tức giận rắn ngóc đầu và “phùng bàn nạo” nhìn rất kinh khủng, và cũng cực kỳ nguy hiểm! Loài rắn độc này có màu xanh lục thường sống trên cành cây cao, da nó tiệp hẳn với màu lá cây nên rất khó phát hiện. Rắn trun con nhỏ cỡ ngón chân cái, chậm chạp, đuôi tròn có kim chích để tự vệ, nhưng ít độc,
Loại ăn thịt được (rắn nước, rắn trun, hổ hành, hổ đất, ri cá, ri voi), loại không ăn được (rắn lục, rắn mái gầm, rắn hổ lửa)
(Trần Minh Thương)
Khoa trương trong ca dao của người Việt
Trong tiếng Việt, cụm danh từ “cả ngày” làm trạng ngữ thời gian trong câu biểu thị động tác xảy ra thường xuyên, liên tục hoặc kéo dài. Vì vậy, chúng tôi cũng xếp trường hợp này vào khoa trương thời gian, chẳng hạn:
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
Hay:
Giã gạo vú chấm đầu chầy
Xay thóc cả ngày được một đấu ba
Cùng với thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong văn học dân gian, Ca dao phản ánh mọi khía cạnh đời sống cũng như tâm tư của dân gian. Lời ăn tiếng nói phản ánh trong ca dao hết sức sinh động và phong phú như tâm hồn của người Việt. Mấy nét chấm phá về thủ pháp khoa trương, một lối nói rất đặc sắc trong tiếng Việt và trong ca dao của người Việt.
To... nhỏ
Trên một con đường rất to có một ngôi nhà rất nhỏ.
Trong ngôi nhà rất nhỏ có một cái giường rất to.
Trên một cái giường rất to có một người đàn ông rất nhỏ.
Trên người đàn ông rất nhỏ có một cái quần rất to.
Trong cái quần rất to có một cái gì nho nhỏ.
Cái nho nhỏ đó là cái... bật lửa.
Váy và quần
Theo sử sách, miền Bắc vẫn mặc áo ngắn và váy. Theo cuộc di dân vào miền Trung, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1774) hợp thức hoá “mặc áo ngắn kiểu Khách và mặc quần có ống”.
Vua Minh Mạng (1828) trở về với tiên tổ là chúa Nguyễn Phúc Khoát theo cách ăn mặc Tàu nên ra lệnh cấm mặc váy.
Nên dân gian có câu truyền khẩu:
Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
(Lê văn Lân)
Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực
Trăng thì mười sáu mới tròn
Còn em mười sáu bụng tròn hơn trăng
Cua cáy phiếm lược
Cua
Hết chuyện cua ta, ta vắt qua chuyện Tây học với cua đá. Cua "đá" ở xứ Cờ Hoa lớn hơn cua xanh, vỏ dầy hơn. Cua đá sống ở hốc đá ven biển thường có màu nâu nhạt khác với cua đồng có mai màu xanh xám và mai bóng như… đá.
Cũng vẫn theo truyền thuyết bên đất ấm tình nồng Cali mà tầm khảo tôi nghe được, vì càng cua đá cứng như… đá nên quý và hiếm.
càng cua đá
Vì vậy “danh ca” ta bắt được cua đá, chỉ được bẻ một càng về bán hay cho bạn bè nhậu. Con cua còn lại cái càng được thả trở lại xuống biển khơi, năm dày chày tháng, ít lâu sau cái càng “thương phế binh” sẽ mọc lại như thạch sùng đứt đuôi vậy.
Ngược đường “cua sử” với cua xanh: Chúng hung dữ và giết đồng loại (như làm tình xong, chị cua cái rước anh tình nhân về sơi tái anh chồng). Và sẽ tiêu diệt bất kỳ loài nào chúng ở chung một không gian, như cá, ốc, trai, hàu. Đầu bếp Ali Waks Adams nói nếu chúng có kích thước như con người, loài duy nhất trên hành tinh trên trái đất sẽ là cua xanh. Chúng là loài xâm lấn giống loài ốc tai chuột, tảo biển (một loài hàu) đến vịnh Maine như loài cua xanh khi xưa đã làm.
(xem tiếp kỳ tới: Cua cáy phiếm lược – cua 4 )
Góp nhặt cát đá
Mộng
Rồi đây ta cũng bỏ ta
Có không không có cũng là phù du.
Bánh cuốn Thanh Trì - 1
Bánh cuốn Thanh Trì được làm rất công phu. Để làm được món bánh cuốn ngon, khâu chọn gạo rất quan trọng, phải chọn loại gạo ngon, xay gạo mịn mới tạo ra được thau nước bánh ngon.
Trước khi ăn, người thợ sẽ múc từng muôi bột nước tráng trên khuôn vải căng được bịt kín trên miệng nồi nước sôi. Bột bánh được chín nhờ hơi nước, từng lớp lá bánh cuốn được chín đều, cho lá bánh ra quét thêm chút mỡ lợn, hành mỡ phi, rồi xếp chồng từng lớp từng lớp lên nhau. Khi ăn sẽ gỡ từng lớp lá bánh đặt vào đĩa, cắt đoạn trông cực ngon và bắt mắt.
Bánh cuốn chấm cùng nước chấm mắm tỏi ớt, ăn kèm với chả quế, thịt nướng, ruốc tôm thì ngon tuyệt cú mèo
(Hằng Nga)
Bốn ngàn năm văn hiến
Vấn đề dân tộc ta có “bốn ngàn năm văn hiến” như các nhà văn hóa tuyên bố khiến giới học giả thắc mắc và nghi ngờ, không biết hai chữ “văn hiến” có ý nghĩa gì, và căn cứ vào đâu.
Nguyễn Trãi, khi giúp Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh, dựng nền độc lập, tự trị của nước nhà cũng chỉ tuyên cáo với quốc dân:
“Dụng ngã Việt chí quốc,
Thực vi văn hiến chi bang.
Nghĩa là:
“Thử xét nước nhà Đại việt.
Vốn thật một nước văn hiến.
Đấy là Nguyễn Trãi, muốn cổ võ cho tinh thần quốc gia dân tộc mà cũng chỉ dám kể từ nhà Triệu, tự xưng là Nam Việt Vương đóng đô ở Phiên Ngung ngày nay là Quảng Châu tỉnh Quảng Đông vào năm 237 trước T.C.
Tính đến ngày nay 1973 thì mới được…1980 năm.
Như vậy thì lấy đâu ra 4.000 năm văn hiến? Nói đến văn hiến là ngụ ý có văn chương bút ký và ngưới hiền tài, có công trình xây dựng cho nước. Nói “Bốn ngàn năm văn hiến” của Vịệt Nam chẳng hoá ra ngoa ngôn cuồng tín hay sao?
(Nguyễn Đăng Thục – Bốn ngàn năm văn hiến)
Chữ nghĩa làng văn
Từ nguyên mẫu đến nhân vật truyện của Nam Cao
Chí Phèo không phải là người cùng thời với Nam Cao. Đó là một nhân vật truyền thuyết của làng. Ngày xưa có một anh Chí Phèo, làm nghề mổ lợn, giỏi bắt phèo nên người ta gọi là Chí Phèo. Anh ta thường uống rượu say, đi trên đường làng, chửi trời chửi đất lung tung.
Vậy là nhân vật Chí Phèo hư cấu.
Còn Thị Nở có người nói có, có người nói không.
Cô Hồng, con Nam Cao, thì nói dứt khoát: “Ông ấy bịa”.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Góp nhặt cát đá
Mộng
Bài vô thường dễ nhớ lại hay
Trong cơn mộng ai biết mình đang mộng.
Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách
- Nghĩa là tiên sinh bắt đầu làm việc xã hội và làm văn từ khi còn là một học sinh trên trường Bưởi ?
- Vâng, hồi đó chúng tôi rất hăng hái, sốt sắng về công việc xã hội: nhất là đối với bạn nghèo, những người thất học hoặc những người phải chịu mọi nỗi bất công. Chúng tôi có những cái ngưỡng vọng viễn vông, ngây thơ mà cảm động của tuổi thanh niên. Có lẽ chúng tôi được cái ảnh hưởng xinh đẹp của trường Bưởi bên cạnh hồ Tây nên việc làm của chúng tôi được nhiều người để ý.
Bìa cuốn Phỏng vấn
các nhà văn của Lê Thanh
Lại thêm mấy bài văn đăng báo, mấy cuộc thi thơ, v.v... nên nhiều người biết đến. Những anh “tai mắt” mỗi anh có một tên hiệu. Anh em cứ thường gọi tôi là Song An, ít khi gọi đến tên chính.
Hồi này là buổi thiếu thời để lại cho tôi rất nhiều tình cảm, rất nhiều di tích êm đềm đối với thầy, với bạn. Có nhẽ nó hơn hết cả những lúc khác ra đời, nên khi xa trường, có dịp nhớ đến cảnh cũ người xưa là tôi nhắc lại.
(Lê Thanh)
Chữ không dịch được là… thơ
Trong câu thứ ba bài Đôi Bờ, thơ Quang Dũng có câu: “em đi áo mỏng buông hờn tủi”, chữ buông là thả ra, không giữ lại được.
Nhưng tại sao phải tìm cho ra nghĩa của chữ buông. Cứ đọc nghe thích chưa đủ sao? Robert Frost, một nhà thơ Mỹ viết rằng những gì không dịch đước là… thơ.
(Chữ nghĩa chúng ta – Bùi Bảo Trúc)
Nhân chuyện câu “Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ”
được gán cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương
Trên Văn Việt ngày 16 tháng 2 vừa qua, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (University of New South Wales, Sydney, Úc) cho biết một số độc giả trên mạng đã hiểu một cách sai lầm rằng câu “Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ” là thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
Từ chuyện ngộ nhận ấy, nhiều vị viết lời bình luận rằng Vũ Hoàng Chương là một người sắt máu, chẳng khác gì Tố Hữu ngoài Bắc. Cũng qua câu trên, có người cho rằng thơ văn miền Nam thời Việt Nam Cộng Hoà cũng “máu me” lắm chứ chẳng nhân bản, nhân văn gì. Theo Giáo sư Tuấn, “Sự thật có lẽ không phải vậy, mà chỉ là một sự bịa đặt trong một cuốn tiểu thuyết, cuốn Ván Bài Lật Ngửa của tác giả Nguyễn Trương Thiên Lý” (tức nhà văn, nhà biên khảo, Ủy viên Tuyên huấn Trung ương Trần Bạch Đằng).
Giáo sư Tuấn cho biết là câu ấy không có trong bài “Lửa Từ Bi” của Vũ Hoàng Chương, và chụp lại bài thơ “Từ Đây” trong tập thơ Hoa Đăng của thi nhân họ Vũ (Sài Gòn : Văn Hữu Á Châu, 1959) để chứng minh rằng câu thơ ghê gớm ấy cũng không có trong đó.
Một người bạn yêu thơ, nhà phê bình văn học Trần Mạnh Toàn, lục tìm trong các số nguyệt san Tin Sách còn giữ được, và phát hiện trong Tin Sách số 3, xuất bản tháng 9 năm 1962, có một bài điểm sách của Nguiễn Ngu Í (nhưng chỉ ký là Nguiễn), nhận xét về tập thơ Độc Hành Ca của Lý Quốc Sỉnh.
(Hình: Nguyên Bình)
Theo Nguiễn Ngu Í, trong Độc Hành Ca có câu thơ nói trên. Tin Sách là một nguyệt san do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam xuất bản, nhằm liệt kê và giới thiệu những tác phẩm mới. Số 3, phát hành tháng 9-1962 thuộc “Năm Thứ Ba, Bộ Mới” của nguyệt san này. Trong bài điểm sách, Nguiễn Ngu Í cho biết tập Độc Hành Ca của Lý Quốc Sỉnh tác giả tự xuất bản tại Sài Gòn năm 1962.
(Trần Huy Bích)
Ơ hờ
Câu đầu của bài Đôi Bờ, thơ Quang Dũng:
Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai
Làm sao dịch được chữ…ơ hờ?
Ơ hờ là trạng từ của thương, của nhớ
Hay chỉ là tiếng láy của chữ nhớ?
(Bảo Lâm)
Nhớ Văn Cao
Tôi đến thăm Văn Cao lúc 1 giờ trưa ngày 5/5/1995 và hoàn toàn không thể ngờ rằng chỉ hai tháng sau – chính xác là 2 tháng 5 ngày – thì ông ra đi
Tôi đến thăm Văn Cao vào khoảng một giờ trưa một ngày mùa hè Hà Nội. Khi lên hết những bậc cầu thang xây lộ thiên – vì ông ở trên lầu – của căn nhà số 108 đường Yết Kiêu. Vì biết Văn Cao rất thích uống rượu, nên trước khi đến, tôi có ghé chợ Hàng Da mua một chai Whisky “Black Label” để biếu anh.
Với vóc dáng quá khiêm nhường, tôi đoán anh không thể nặng hơn 35kg. Hình như Văn Cao ít khi rời khỏi chiếc bàn nơi anh tiếp khách. Điều dễ nhận thấy là anh sống rất đạm bạc. Giang sơn gồm một phòng lớn được ngăn làm đôi bằng bức bình phong. Nửa ngoài coi như phòng khách, ngoài chiếc bàn kích thước khiêm nhường cùng mấy cái ghế , chỉ có một cây đàn Piano nằm phía gần cửa sổ.
Trên tường treo hai ba bức họa do chính Văn Cao là tác giả. Nhưng dù đồ đạc thiếu trống như vậy, mà dưới gầm bàn lại … thừa thãi rượu. Có khoảng một chục chai rượu đủ loại, từ rượu đế đến rượu ngoại quốc dưới gậm bàn, vừa tầm tay với của chủ nhân hầu như suốt ngày rất ít khi rời khỏi chiếc ghế cố hữu.
(Vĩnh Phúc)
Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn
Nhạc TCS không được xếp vào loại “nhạc vàng”, không phải ngẫu nhiên mà một số trang âm nhạc ưu ái để hẳn một thể loại nhạc riêng, đó là thể loại nhạc Trịnh. Nhắc đến nhạc TCS, có lẽ người ta sẽ nghĩ đến những triết lý, sự mông lung bí hiểm trong nhiều tầng lớp ý nghĩa của ca từ bài hát. Ngay cả những người sâu sắc và từng trải nhất cũng không dám khẳng định là mình hiểu hết ý nghĩa nhạc Trịnh. Bài viết này không có tham vọng giải thích cặn kẽ, chi tiết những ca từ nhạc Trịnh, chỉ viết lại những hiểu biết gom nhặt được trong quá trình tìm hiểu. Hy vọng khi đọc qua bài viết này, người yêu nhạc Trịnh sẽ có cảm giác: à, thì ra là thế…
1. Cát Bụi
Trong bài Cát Bụi, nhạc sĩ họ Trịnh có cái câu này, chắc hẳn nhiều người nghe cho qua chứ không hiểu lắm ý nghĩa: “Ôi cát bụi phận này/ Vết mực nào xóa bỏ không haỵ” Bà Đặng Tuyết Mai (vợ ông Nguyễn Cao Kỳ) trong một dịp gặp gỡ văn nghệ đã được TCS giải thích và mô tả sự khai sinh và khai tử (như được ghi lại trong bài hát “Cát Bụi”) ở trong các làng xã xa xôi ở miền quê VN là: “Khi một đứa bé được sinh ra thì bố mẹ đứa trẻ báo cho làng xã biết.
Người ta ghi tên đứa bé vào một cuốn sổ bằng viết mực…, thế rồi khi đứa bé lớn lên sau lũy tre xanh, trưởng thành, già… nếu chết đi thì người nhà cũng báo cho làng xã biết; người ta cũng lấy cái bút gạch tên người chết trong cuốn sổ đinh này là xong một đời người”. Chính vì vậy mà sau khi một cuộc đời được chấm dứt câu “Vết mực nào xóa bỏ không hay” là thật chứ không phải là chuyện “mông lung” như chúng ta vẫn nghĩ.
(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)
Bát canh dưa chiều Đông
Dưa cải sen muối mùa Hè, hay dưa cải bẹ Đông Dư mùa Đông mà chín ngấu, thì đem xào hay nấu đều ngon. Chứ dưa cải củ, nhà không nấu bao giờ, do mẹ tôi chê nó cứng quèo quèo.
(canh dưa nấu cá trê)
Nhà hầu như tuần nào cũng có dưa mới rồi dưa chua. Nên tuần nào cũng có bữa canh dưa nấu. Hoặc là với lạc giã, hoặc là với sườn lợn hay gân bò. Đơn giản hơn là nấu tóp mỡ cùng cà chua.
Nhưng tôi thích nhất là món canh dưa nấu cá tép vụn, thích có khi hơn cả canh dưa nấu cá trê nữa ý .
Thi thoảng dì tôi hay ru các em bé:
Chồng chê thì mặc chồng chê
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ
Tuy nhiên, nhà tôi không mấy khi chịu cảnh dưa khú, cà thâm bao giờ. Bởi cả hai bà cùng với dì và mẹ đều rất khéo tay. Dân gian truyền rằng, những người đàn bà muối dưa cà khéo phần nhiều hay vất vả. Có lẽ cũng đúng vậy chăng?
(Vũ Thị Tuyết Nhung)
Vĩnh biệt Đào Mộng Nam
Tóc thường cột sau gáy, trang phục thường xuề xòa, cử chỉ dịu dàng, tính trầm mặc, ưa lặng lẽ, khi lên tiếng thì lời vi diệu, đầy ẩn mật, cho thấy những suy nghĩ lạ lẫm nhưng cổ kính, ngôn ngữ trau chuốt nhưng thơ mộng… và cũng bất ngờ khi anh chợt đến, khi anh chợt đi.
Đó là hình ảnh của giáo sư, và cũng là nhà thơ, Đào Mộng Nam.
Nhà văn Nguyễn Tiến Văn ghi nhận trên mạng Talswas.org hôm 1-9-2006, qua bài "Đào Mộng Nam, VỀ…" với những dòng chữ mở đầu như sau:
"Đào Mộng Nam vừa qua đời tại California, hoàn toàn đơn độc tại trai phòng chỉ có bồ đoàn, máy vi tính, ấm trà, những bản thảo dịch thơ Cao Bá Quát và những tập bản thảo sưu tập các giai thoại về Bùi Giáng…"
(Phan Tấn Hải)
Đào Mộng Nam sinh năm 1940 tại Nam Định, di cư vào Sài Gòn năm 1954. Sau khi lên Đại học Văn Khoa, ông đã bỏ ngang để khởi thảo biên soạn bộ sách “Chữ Nho tự học”. Năm 1975 Đào Mộng Nam định cư ở California, Hoa Kỳ. Ông từng về Việt Nam nhiều lần để sưu tầm thơ văn chữ Hán Cao Bá Quát cho công trình ông dịch toàn bộ thơ Cao Bá Quát, khoảng 2.000 bài, nhưng ông đang dịch được vài trăm bài. Tháng 8-2006, ông qua đời hoàn toàn đơn độc tại nhà riêng ở California.
***
Phụ đính
Hải Phòng lừng hương đượm vị - 1
Bánh đa cua
Món bánh đa cua chính hiệu Hải Phòng hiện đã được phổ biến đến nhiều tỉnh thành trên toàn quốc, thậm chí một số nơi ở nước ngoài, thông qua quán xá chế biến và cả loại đóng gói vào bao bì theo dạng ăn liền. Tại Hà Nội và Sài Gòn hiện nay, rất nhiều quán bánh đa cua sẵn sàng phục vụ thực khách từ sớm tinh mơ đến khuya lơ khuya lắc, có những nơi khéo léo thể hiện bát bánh đa cua xinh xắn và đáo khẩu. Vậy mà ghé thành phố cảng, trực tiếp xơi bát bánh đa cua, tôi vẫn thấy món ăn ngay "chính gốc" luôn lừng lẫy sắc màu và đậm đà hương vị khó quên.
Tên gọi bánh đa cua chưa diễn tả đầy đủ thành phần cấu tạo món đặc sản của đô thị hoa phượng đỏ. Bởi bên cạnh bánh đa đỏ Dư Hàng Kênh - một loại bánh tráng không vừng / mè được thái sợi to bản - và cua đồng cái béo ngậy, bánh đa cua còn chả lá lốt, chả chiên rán, giò tai, lại bổ sung rau nhút, rau cần, và nhất là rau muống chần tái. Nồi nước dùng được nấu bằng xương ống lợn / heo, tôm nõn, sá sùng, tỏi, hành, me, cà chua, nấm hương, tóp mỡ, mắm tôm, bột nêm, v.v.. Thêm đĩa thân cây chuối xắt mỏng, cùng thẩu ớt chưng và thẩu ớt dầm dấm.
Bánh đa đỏ cùng rau muống và các thứ rau khác được nhúng qua nước sôi rồi thả vào bát lớn / tô, gắp mấy miếng chả và giò được chế tác từ thịt lợn, rải hành lá xắt nhỏ, múc thịt cua và gạch cua đặt lên bề mặt, rắc hành khô thái mỏng, chan ngập nước dùng. Vắt múi chanh hoặc rưới nước me chua vào bát bánh đa cua nóng hừng hực, có thể thêm ít nhiều ớt và mắm tôm tuỳ khẩu vị, rồi xơi, chao ơi quá khoái khẩu.
Tuyệt vời hải sản
Khắp nước Việt Nam, hầu hết mọi người thảy đều biết con ngao / nghêu, ai đã đến phố cảng còn biết con ngán. Ngán chính là đặc sản của vịnh Hạ Long, mạn nhiều sú vẹt ở cửa sông Bạch Đằng - dòng sông lịch sử luôn cuồn cuộn sóng giữa huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) và huyện Thuỷ Nguyên (Hải Phòng). Theo ngành phân loại học động vật, ngao thuộc họ Verenidae, ngán thuộc họ Lucinidae.
(Phanxipăng)
Tác giả: Phanxipăng có họ tên Trần Ngọc Tĩnh
Chào đời năm Canh Tý 1960 ở thành phố Huế
Cựu sinh viên khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Hiện cư trú ở Sài Gòn.
Tác phẩm: Vàng Máu (Tiểu thuyết) - Sài Gòn Nay (Tập phóng sự) - Huế Chừ (Tập phóng sự)
Hải Phòng lừng hương đượm vị - 2
Ngao ngán, tuy tên gọi vậy nhưng đôi loài động vật thân mềm để con người tạo nên những món ăn ngon, mát, bổ dưỡng: hấp, nướng, gỏi, tẩm bột chiên dòn, nấu cháo, nấu canh với rau đay hoặc rau mồng tơi, xào với mì cùng rau lang hoặc đọt bí.
Nhiều ẩm giả vui vẻ tự tay pha chế rượu ngán. Dùng dây chuối khô hoặc cao su buộc chặt miệng ngán, đoạn thả vào rổ bé và nhúng vào nước lã đang sôi sùng sục chừng 30 giây, sau đó tháo dây, bật vỏ ngán, lấy thịt cho vào ca cốc, đoạn trộn dầm với rượu trắng. Rượu ngán màu hồng tươi, thơm phức, vị hơi mằn mặn, đạt giá trị tăng lực. Yến tiệc đón chào năm mới, có rượu ngán để gia đình, bà con, bằng hữu đưa cay thân ái ắt vô cùng thú vị.
Một loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ quá xứng danh "siêu hải sản" của vịnh Hạ Long - Bái Tử Long mà nơi tập trung đạt mật độ cao là hai huyện đảo Cát Hải (Hạ Long) và Vân Đồn (Quảng Ninh): tu hài, còn gọi ốc vòi voi. Loài động vật này có tên khoa học Lutraria rhynchaena Jonas thuộc họ Tridacnidae hao hao trai ngậm ngọc, thịt đầy đặc hơn hẳn sò huyết, ăn mát ngọt tương tự bào ngư. Tu hài được nấu nướng thành lắm món mệnh danh gà biển: nướng mỡ hành, xào húng, sốt hải sản, hấp, v.v..
Huyện đảo Cát Bà ở Hải Phòng cung cấp bề bề - loài động vật giáp xác có nhiều chân mà người miền Trung và miền Nam gọi tôm tít hoặc bọ ngựa biển. Bề bề rang muối, rang me, hấp, áp chảo là những món rất "bắt mồi".
(Phanxipăng)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét