Những Chiếc Nón Cối
Tôi vù về Bắc thăm bà chị cùng cha khác mẹ trước, vì hai chị em chưa bao giờ gặp nhau. Năm 54, chị từ quê ra Hà Nội, em đu tàu há mồm vào Nam. Năm 75, em lại đeo máy bay qua đất tạm dung. Một ngày, bà chị tống cho cái thư: “Cậu cố thu xếp về thăm mồ mả gia tiên”. Sẵn cái mạch quê hương bản quán vạn kiếp tha hương, cùng giấc hương quan luống lẫn mơ canh dài. Ừ thì về.
Về đến phi trường Nội Bài, từ quầy hải quan, va vào mắt mấy cái nón cát-két băng đỏ lật từng trang sổ thông hành. Ngứa miệng, bèn nhỏ to với ông đứng sau lưng: Năm hay mười “đô” đây ông? Khỉ gió cắn răng gì đâu chả biết nữa, có cái nón cát-két ghé vào tai tôi: Năm hay mười cũng… thoải mái thôi. Nghe thủng rồi tôi sợ vãi đái ra quần. Để rồi nước non ngàn dậm ra đi, ngày như lá, tháng như mây, tôi quên béng những giao động của những giây phút ban đầu. Khi trở về lại đất quê này nọ...
Trên xe con về khách sạn, bà chị mắn chuyện:
- Cậu nghĩ thế nào chuyện ấy để chị tính?
Đêm về, tôi vu vơ chuyện bà chị muốn mai mối cho cậu em đang gà trống nuôi con. Tôi thì dị ứng với chuyện gặp nhau hai tuần, một tháng tìm hiểu kiểu dấm dớ bờ bụi rồi lấy nhau có ngày vỡ mặt. Nhưng bà chị vì con heo phải đèo khúc chuối với thằng em, thôi thì cũng đành chiều bà chị một lần cho biết… cái thú đau thương.
Đang để hồn đi hoang với cái thú chết người, tôi chòang tỉnh dậy vì có tiếng gà gáy te te, mặt mày thộn ra chả biết mình đang ở đâu. Ngẫm nguội một nhát chợt nhớ đang ở Hà Nội nhưng sao lại có… gà. Sáng tỏ mặt người, châm điếu thuốc, ra ban-công khách sạn nhìn xuống đường. Đập chát vào mặt trong ngày đầu là bức tranh vân cẩu với cuộc đổi đời, giữa lòng Hà Nội có một ông bộ đội còng lưng đạp xích lô, đầu đội… nón cối. Tôi lõ mắt ngắm cho kỹ… In hịt hồi nào ở xạ trường Thủ Đức, giữa gió lộng bao la của đất trời, tôi nheo mắt từ lỗ chiếu môn qua đỉnh đầu ruồi khẩu M16, ngắm thẳng băng ngay chóc… cái nón cối. Bấm cò… một cái tách.
9 giờ sáng, bà chị đưa tôi tới gã em họ “bộ đội”. Chị tôi bơ bải gã là trưởng phòng gì đấy, ngày mai gã lấy xe của cơ quan đưa chị em tôi về Thái Bình thăm mồ mả gia tiên. Vừa lúc gã đi ra chào tôi và hỏi han về chuyến đi đường dài. Gã, với giọng nhà quê đặc, tôi biết ngay gã là dân Hà Nội… “ngụ cư”. Tôi bật ra ý nghĩ gọi gã là… ”thằng nón cối”. Sáng trưa chiều tối, thằng nón cối tận tình lái xe đưa chị em tôi đi khắp nơi. Miếng ngon Hà Nội từ phở Thìn ở phố Lò Đúc, bún chả, bún ốc ở chợ Đồng Xuân, v…v... Trên xe, gã như chầy giã gạo với một mảng chữ Việt trong sáng hôm nay như xe này “cực độc”, xe kia chạy “láng lụa”. Đến “kinh qua” tôi lại nghe ra là… kinh quá. Cuối cùng tôi… “ùn tắc”, vì mấy chầu ăn trên đường đi, gã chi hết. Tôi vốn Bắc kỳ kỹ nên hay lo xa: Sao lại tử tế với nhau thế này nhỉ như người làm nhạc họ Trịnh? Vì vậy tôi thủ kín như bưng.
Hôm sau về Thái Bình, lại vẫn mửng cũ, gã kinh qua với tôi: Bác có biết quốc hội là gì không? Không để tôi trả lời. Gã hòm hõm: Quốc hội là hội những con cuốc kêu... ‘’quốc quốc’’. Mặc dù chưa nghe cuốc kêu bao giờ, tôi cũng đành nhăn răng đờ đẫn cười. Tuy nhiên nhờ vậy, tôi và gã chuyện trò không như chó hóc xương như buổi đầu nữa. Đến bến phà Tân Đệ, gã nón cối cho xe tạt vào quán ăn trưa. Bên kia đường có cái đài tử sĩ với ngôi sao đỏ bự sự chọc vào mắt. Tôi… giao lưu văn hóa:
- Ông thấy đẹp không?
Gã nón cối quại ngay một câu:
- Báo cáo anh… ”hơi bị đẹp”.
Tôi ngọng trông thấy, vì ấy là năm 1999, chữ Việt trong sáng tôi còn lớ quớ. Nhè cái tuổi bất chi lão tương chi đi xa hay mắc tè, bèn thả bộ xuống bến bãi ở phà Tân Đệ, vén quần… vũ qua Bắc hải. Bỗng có thằng nhóc xuất hiện đòi tiền… mãi lộ. Bèn ớ ra mình bị… bắt địa. Tôi còn bị bắt địa dài dài, nhưng ấy là chuyện sau.
Nghĩa địa làng tôi kia, mồ mả gia tộc tôi nằm ở đấy. Bước vào thửa ruộng sũng nước để gặp lại các cụ, qua mộ bia nghiêng ngả. Gió nồm rồi lại gió hanh, bể dâu thì đành bể dâu, tôi miên man, người nằm xuống, người đi, người ở lại. Như chị tôi đây, đang thẫn thờ như con gà rù giữa buổi đồng vắng, gió thổi lau lách những bụi cỏ dại. Tôi mang mang đến một hình bóng khác, và chẳng hiểu sao lại… hoài đồng vọng về “cô ấy” giữa nghĩa địa hoang vắng này. Vì tôi hình dung người trong mộng của tôi, bình dị như đất quê đang ở đâu đó. Cô rời lũy tre xanh, bờ đê, mảnh vườn để tìm một nơi chốn đất lành chim đậu. Ở một nơi chốn có hai mùa mưa nắng. Ừ thì ngày mai, một chuyến đò nên duyên, tôi xuôi Nam gặp cô em kết nghĩa của bà chị tôi mai mối.
Về Hà Nội, gã nón cối lái xe về nhà đón vợ rồi đến cửa Nam ăn cơm niêu. Tôi nhận lời vì cũng mượn dịp này để trả món nợ đời với gã. Ăn khan nằm khàn thì tôi cứ ngỡ là “cơm niêu, nước lọ” của một thời xa xưa, đồ ăn thức uống bày trên một cái mẹt. Còn quán cơm niêu ở cửa Nam đây, người phục vụ mang cái niêu tới bàn, tung cái niêu lên, lấy đũa cả đập cái niêu một cái bốp. Cơm như cơm nắm rơi xuống, người phục vụ dùng đĩa hớt cơm nguyên con bày cho khách. Cơm niêu bây giờ chỉ là cơm gạo thơm thường, khi ăn thì rắc thêm muối vừng vào. Và chỉ có vậy. Quán cơm niêu trên lầu hai, chật hẹp nhưng lạ lẫm. Lạ vì có đàn gà con từ ngòai sân thượng nhởn nha đi vào “chíp chíp” mổ đồ ăn dư thừa. Chợt nhớ ra sáng hôm nào giữa Hà Nội có tiếng gà gáy là đây. Thấy đàn gà con hay hay, thế là tôi vác máy ảnh chui xuống gầm bàn nháy đàn gà con lia lịa. Vui chuyện, tôi kể cho vợ chồng gã ngòai chụp ảnh... ”nghệ thuật”, tôi còn thú chơi đồ cổ. Cầm cái niêu, tôi hươu với gã về nghề gốm làng Chu Đậu. Tôi đắng đãi là người di tản buồn ở đất tạm dung, được cái niêu còn mới này, học theo Trà kinh của Vũ Thế Ngọc chỉ vẽ làm đồ giả, chôn xuống đất dăm năm hóa thành đồ cổ với qúy hồ tinh bất qúy hồ đa. Gã chăm chú nghe và hình như có gì suy nghĩ lung lắm. Đến lúc tôi ra trả tiền thì mới hỡi ơi vợ gã đã… nhanh nhẩu đoảng thanh tóan rồi. Thế mới đau.
Đau hơn nữa trưa hôm sau sửa sọan để khăn gói gió đưa. Ỏ cái tuổi nói tiếng đất, quên tiếng trời, tôi nghệt mặt ra vì quên bu cái máy Canon trên xe gã. Số là tôi mới tậu cái Canon xịn để về quê nhà nhấp nháy cho óach, bây giờ làm sao đây vì đã đến giờ ra sân bay. Bước xuống cửa khách sạn, vừa lúc xe vợ chồng gã trờ tới. Gã cầm cái máy ảnh, vợ gã ôm hai món quà để tặng tôi. Tôi ngỡ ngàng vì bất ngờ, từ chối cũng không xong vì vợ gã cứ khu khi khú khí với của ít lòng nhiều để lấy thảo với “anh giai”. Cho đến khi xe chạy, tôi ngóai cổ lại nhìn, hai vợ chồng gã vẫn còn ngóng theo. Ngồi dai quai nát, tôi bóc một mảng ra xem, gói thứ nhất là cái áo ngắn tay. Gói thứ hai gói vội bằng giấy báo, vừa hé nhìn thấy tôi buột miệng: Sư thằng nón cối.
Đó là cái niêu làng gốm Chu Đậu men nâu ửng đỏ như trái mận còn mới tinh.
(Cái áo, cái niêu… ”đồ cổ”, tôi vẫn còn giữ tại nhà để đánh dấu một chuyến đi.)
Suốt chuyến bay từ Bắc vào Nam, tôi cứ ân hận với những ân tình nho nhỏ của gã. Thêm chuyện chuyện vơ năm gắp mười, tôi cứ lẫn đẫn với trong trận chiến giữa “ta” và “địch” vừa qua, tôi “thua” gã ở cái “tình người”. Và rồi đẩy đưa tôi có những suy nghĩ vụn vặt, chẳng thể chối bỏ: Tôi và gã, trong cuộc chiến chẳng có gì để chọn lựa, không đứng bên này cũng ở bên kia, đành chịu trận giữa hai lằn đạn. Nói dối phải tội, sau này truyện viết gửi lên mạng lưới, sau đó tôi bị chụp mũ nguyên con… cái nón cối. Ngắn gọn, tôi không có duyên với cái nón thổ tả này. Nhưng chạy trời không khỏi nắng, nó vẫn theo tôi khi vào đến miền Nam sáng nắng chiều mưa. Đau chân há miệng chẳng qua không ngoài bán anh em xa mua láng giềng gần như thể thế này đây.
Chuyện là vào đến Sài Gòn, tôi gặp tòan chuyện khỉ ho cò gáy gì đâu…
Sáng trưa mưa tối, nhẩm tính sổ nợ đời rơi rớt lại thằng anh họ kẹt lại năm 54. Với vật đổi sao rời, tôi rửa óc nghĩ không ra mồ mả dòng họ tôi tống táng ở huyệt hàm rồng nào: Nó vượt Trường Sơn leo núi vượt đèo, đào khoai móc sắn quơ được cái quân hàm thượng tá. Vì vậy tôi hơi có chút ngại ngùng nhưng không gặp không xong, bèn ới nó đi bia bọt. Bởi qua báo chợ, báo chùa tôi học được câu thành ngữ hôm nay của họ: Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia rượu vẫn còn trơ trơ. Đến đón tôi bằng xe Honda, nó mặc quần jean, áo bỏ ngoài quần, đầu chơi nguyên con… cái nón cối. Tôi đùa dai: Thủ trưởng làm gì mà “xịn” quá thể vậy! Nó cười, nụ cười văng ra khỏi miệng: Hôm nay kỷ niệm ngày “Tây Nguyên ta giải phóng”. Khỉ thật! Khi không rủ nó đi… “liên hoan” đúng vào cái ngày của nợ của nó. May chỉ có tôi với nó…
Nhưng chẳng may gì, vì vừa bước vào quán, đã có hai thằng bạn của nó ngồi phục kích sẵn từ hồi nào. Tôi chột dạ, thôi rồi, bị bề hội đồng là cái cẳng. Cái trò gài độ trong quán nhậu với tôi xưa như trái đất, nhưng cứ để xem chúng quậy ra sao đã. Tôi tỉnh queo như sáo tắm bước tới và sẵn sàng chấp nhận cuộc chơi. Thằng anh họ tung tẩy giới thiệu đó là hai sĩ phu Bắc Hà của đất nghìn năm văn vật. Một tên trong hội nhà văn, tên họ nghe choang choang như chum kêu chậu vỡ. Còn tên kia là giáo sư phó tiến sĩ ngồi ở viện cóc nhái gì ấy. Chung sự tòan là quan chức, cây đa cây đề, tôi nghĩ chuyến đi này về, tha hồ mà nở mày nở mặt với bằng hữu. Hai anh em tôi ngồi xuống.
Bố khỉ, còn hai cái ghế trống hóac đợi ai đây?!
Tự nhiên như người Hà Nội, thằng nhà văn búng tay kêu một thùng Tiger. Bia mang ra, nó rót tồ tồ vào ly cối rồi đưa lên hướng về phía tôi, giọng Bắc kỳ đểu: Mừng quan bác… khúc ruột ngàn dặm nối dài. Rồi đưa về phía thằng “anh hùng quân đội nhân dân” kiêm anh họ tôi: Mừng quan anh… Chiến thắng Buôn Mê Thuột. Tôi nhũn não: Rồi chiến trường được tụi Bắc quân điều nghiên, chọn sẵn là Ban Mê Thuột. Tụi nó khai hỏa, mới chỉ thấy pháo Tiger bắn dọ dẫm. Tôi lụng bụng, chuyện nhỏ, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, tôi cầm chai bia dốc ngược tu cái một. Thằng nhà văn củ cải chộp liền khẩu sơn pháo không giật DK 82 ly cũ xì của Liên Xô nã tức thì:
- Bác đừng nốc bia kiểu ấy, ở đây nó chửi cho thối đầu đấy. Bác phải ề à nâng lên hạ xuống, súc miệng vài câu chửi thề rồi mới khà một tiếng…
Nó trấn áp và giáo điều thêm:
- Bố phải phải nói năng léo lắt, bụi bụi một chút. Bố ăn uống phải ngồi đầu gối quá mang tai, phải xụp xọap như heo xục cám, nhai xương phải nhai rau ráu như chó gặm.
Thằng nhà văn tạm thời ngưng chiến da beo, nó rót bia cho tôi. Chó dại có mùa, người dại quanh năm, tôi dại dột buông hai chữ: Cảm ơn.
Thế là nó vác B-40 nã ầm ầm:
- Thượng đế ơi, Ngài chỉ được cái lịch sự nhảm, nghe thối bỏ mẹ. Thượng đế “chiêu đãi” tụi này thì… cảm cúm chó gì nữa!
Xong, nó cười cùng cục như con gà trống. Bá ngọ thằng bán cái này chứ. Chứ tôi chiêu đãi… chiêu mộ nó hồi nào đâu? Nó rải đạn như đĩ để tôi là thằng chi tiền. Mà cái thằng dân Hà Nội vỉa hè, nó réo tôi từ “bác” qua “bố”, bây giờ khơi khơi phong vương tôi là “Thượng đế” mới cha đời. Chán mớ đời hơn nữa với thùng bia Tiger, với tôi như muỗi đốt gỗ vì bia con cọp tôi ngỡ là bia “nội địa”, tuy nhiên một thùng bằng một con cua bể chứ đâu có bỡn. Mà con cua bể cũng đang sửa sọan… bò ra ngay đây.
Mặt trận Ban Mê Thuột… giờ H-1
Vừa lúc có hai tên mặc quần áo dân sự, khi được giới thiệu hóa ra cá mè một lứa. Cũng anh hùng Tây Nguyên khỉ gió gì đấy. Chẳng cần biết lon lá, tôi cứ gọi bừa hai tên này là “thủ trưởng” cho êm. Tạm gọi Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh nhờ có mặt của hai tên thủ trưởng mới nhập trận này, nhưng tôi vẫn phập phồng lo ngại…
Vì rằng tụi Bắc quân vẫn chưa lộ diện, sư đòan 310 còn đang ở bên kia biên giới, sư đòan 968 và 320A đang lẩn quất đâu đây ở phía đông. Nhưng không khí chết chóc bao trùm thị trấn nặng nề, ngộp thở đến đáng ngại. Chờ đợi, đợi chờ…
Hết ly bia, một tên thủ trưởng khai pháo trước, thuộc tạng quân ta bắn quân mình: Từ ngày cách mạng mùa thu, thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy. Gã viện sĩ phó tiến sĩ đủng đỉnh như chĩnh trôi sông: Thằng này thiếu văn hóa, ngu như nợn. Ngu lâu đần dai cách mấy, tôi bòn mót chúng hục hặc nhau vì phe dân sự vào thời buổi “nhất phe nhì cánh” nên ăn trên ngồi chốc. Còn phe đánh đấm hộc máu mồm dồn máu mũi mấy bố bị treo niêu về hưu non ngồi chơi xơi nước, nên… “phản kháng” cho sướng miệng thế thôi. Thế nên với… ”sự cố” này thằng anh họ tôi phải hòa đồng hòa giải dân tộc, không nên dân chủ đa mang… đa thê quá, chỉ làm lợi cho địch.
Không biết nó có chơi chữ với tôi không vì nó đâu biết rằng, thằng địch Ngụy tôi đang ngồi chồm hổm trên đống lửa, đang sợ thọt dái lên cổ. Tụi nó rượu vào lời ra, đổ nợ không biết chừng. Vì tụi “bò vàng” ngồi đâu đây, bị chúng nhúm thì thằng “Việt kiều yêu nước” tôi, lạng quạng dính trấu có ngày. Nên hãi quá thể.
Vừa lúc hai thằng thủ trưởng gọi thêm đồ ăn thức uống. Lại nữa, cũng chẳng may gì. Vì chúng nó kêu… đại cho mỗi thằng một con cua bể Thái Bình, con nào con nấy to bằng cái đĩa Tây và một thùng Heineken ướp lạnh. Thế là từ phía đông thị xã, tiền pháo hậu xung, trung đoàn đặc công 968 thọc ngang hông, cắt đôi lực lượng Nam quân làm hai. Hỏa tiễn Heineken 122 ly, tụi nó quất ngập đường ngập phố dọn đường cho tank cua bể T-54. Sư đòan 320A tập hậu, bọc vòng ngòai vừa để công đồn đả viện, vừa làm nút chặn với dàn 12 ly 8 và 14 ly 5, chúng bắn như sương sa hạt lựu, đạn phòng không đan như lưới. Mẹ, con ruồi cũng chui không lọt huống chi thằng tôi…
Tứ bề thọ địch, tôi vừa lo tránh pháo vừa ước tính thiệt hại quân số…
Hỏa tiễn và phòng không tôi coi như pha, ê càng nhất là cua bể T-54. Trong quần sẵn có bảy trăm ngàn dằn túi, sáng nay mới đổi 100 đô, vị chi có hơn hai triệu. Một trăm ngàn một con cua bể, sáu con quá lắm chỉ là tiền đi đường cho một canh phé còm. Sau một giờ đụng trận vẫn còn… tử thủ được, đạn dược súng ống dư xăng. Mặc dù cú này tụi nó chơi tôi hơi nặng. Cầm chai bia cụng với hai thằng thủ trưởng cái cốp, nhưng trong bụng lẩm bẩm chửi đổng hai thằng sư trưởng của sư đòan 968 và 320A: Sư hai anh nón cối. Hai anh chơi thế này thì chơi với ai.
Mặt trận Ban Mê Thuột… giờ H-2
Hồi hộp quá mạng vì chưa thấy tăm hơi sư đòan 316 đâu? Bỗng thấy thằng anh họ xì xầm với anh phục vụ. Anh này đưa tay ra ý… “thủ tục đầu tiên”, thằng anh họ lại chỉ qua… tôi. Mà xầm xì khỉ gì mà lâu quá thể vậy hả giời, và nghĩ dại: Sư chúng nó chứ! Chứ điệu này tụi nó chơi trò xa luân chiến thì bỏ mạng sa truờng, không có đất mà chôn. Y như rằng, anh phục vụ biến mất. Một lúc lâu sau. Lâu lắm. Tôi lặng người khi thấy anh bê về chai rượu Cordon Bleu to đùng. Tôi biết chai rượu này không phải là rượu… “đểu” tức rượu giả mà là rượu… “cầm”, tức rượu cầm tay từ duty free. Chuối sau cau trước tôi biết rượu đểu, và rượu cầm tay vì ở duty free phi trường Tân Sơn Nhất, nhờ tôi mua rượu biếu ông bác. Thảo nào anh phục vụ đi quá lâu là vậy.
Rồi, vậy là sư đòan 310 tân lập hay F10 đã lộ diện qua chai Cordon Bleu AT3, lọai hỏa tiễn hiện đại nhất, nằm chềnh ềnh trên Molotova mười bánh. Vì chúng vừa vượt biên giới, từ bên Lào qua. Ba mũi giáp công cùng hai sư đòan 968, 320A với biển người trong tiếng hò hét vang dội, lẫn tiếng xích sắt ầm ầm của tùng thiết. Quận Phụng Dực bị tràn ngập, đường huyết mạch dẫn vào thành phố bị bỏ ngỏ. Ban Mê Thuột như sợi chỉ treo chuông với sức ép của ba sư đòan Bắc quân. Đó là chưa kể sư đòan 316 đang tiến vào để tăng viện từ Nghệ An. Ngay lúc ấy, tôi thầm nghĩ: Tiêu rồi. Coi như xong, tôi đã đi hết láng vào canh bạc chót này. Đúng là thằng Tàu Mao Trạch Đông đã dậy “bất kiến quan tài bất hạ lệ“, nôm là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, vì tôi tự biết rằng. Thằng tôi vừa mất béng một trăm đô la tiền tươi cho chai rượu ngoại… ngoại khổ kia.
Mặt trận Ban Mê Thuột… giờ H-3
Bắc quân tràn ngập thị xã Ban Mê Thuột. Trong khi chúng gom bi quân cán chính vào một chỗ, lập ra ủy ban quân quản. Tôi chấp chới như quạ đậu chuồng lợn lẳng lặng chui vào… cầu tiêu. Tôi bụng dạ xậm xọet khi không cầm cu cho chó đái nên nực cò thấy rõ. Bởi tụi này chơi ép quá mạng, lấy thịt đè người, sức người có hạn và tụi nó đã đi quá đà. Mẹ! Chắc phải… nói chuyện phải quấy với tụi nó quá. Nghĩ vậy nhưng củ cải cái đầu tôi “chậm tiêu” nên bí rị. Bèn tự than thầm, từ Bắc vào Nam, không lẽ chết dí ở cái lỗ chân trâu này sao hở giời. Cuối cùng thì các cụ ta xưa dậy cấm sai bao giờ, đó là cùng tắc biến, biến tắc thông…Khi không tôi nhẩy nhổm lên quên cả… cài cúc quần.
Ấy là trong giây phút tối dạ, bụng dạ tôi bật ra nỗi niềm: Tụi Bắc quân vừa phạm phải một sai lầm của Napoleon là mang quân quá sâu vào đất Nga, để sa lầy vì không có… ”tiếp liệu”. Tôi đi ra diễn xuất màn khổ nhục kế của Hàn Tín, tôi vò đầu cho tóc rối tung, cấm giả lịnh giả thị, ai cấm người mang bị nói khoác, tôi… khoác lên người áo quần xốc xếch, như một hàng binh ngày 30-4 năm 1975. Tôi bước thất thểu, mặt mày thảm não, như chưa bao giờ thảm thiết đến thế. Thế là tôi đi về phía tụi nó thật chậm, đọan đường chiến binh thật dài. Tụi nó ngỡ tôi say xỉn, thằng này ngó thằng kia. Ôm bụng nhăn nhó như bị Tào Tháo đuổi, tôi ngay đơ như bùi giời với thằng anh họ:
- Báo cáo anh! Em bị… lụt.
Tôi muốn ba điều bốn chuyện với tụi Bắc quân: Chúng tôi là kẻ bại trận, nên không thể như Đặng Tiểu Bình để dậy các anh một Bài học lịch sử. Các anh đánh đâu thắng đó, từ Điện Biên Phủ đến Ban Mê Thuột. Nhưng rất tiếc, di tản chiến thuật là nghề của chúng tôi, vì chúng tôi là… là bậc thầy.
Tôi thẳng người, ngạo nghễ đi ra cửa. Như tráng sĩ sang Tần, một đi không trở lại:
Kinh Kha quán lạnh, sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ gươm cùn… Ta đi đây
***
Giầy cỏ gươm cùn ta đi đây…Ừ thì ngày ấy cũng đến.
Qua Thủ Đức, tôi bồi hồi về một nơi chốn xưa cũ, con đường tình ta đi là suối Lồ Ồ. Ngày ấy, tôi não tình với cô Bắc kỳ nho nhỏ mắt như trời bao dung… hãy nhìn sâu chút nữa, em có biết anh không. Nay xa xa là nhà của người “em có biết anh không”. Tôi để hồn thả rong qua một hình bóng ẩn khuất đâu đó tức cô em kết nghĩa của bà chị tôi. Tới trước cửa. Giời ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem, “mắt như trời bao dung” đang đứng đợi tôi thật. Chân mang dép râu. Tay cầm cái cuốc. Đầu đội… chiếc nón cối.
Trúc gia trang
Tân Mão 2011
Ngộ Không Phi Ngọc Hùng
(bổ sung 2025)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét