Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

Chữ Nghĩa Làng Văn - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

           Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.


***


Chữ Việt cổ

Quê vấc: quê quán, xứ sở

Quê vậc: quê quán

(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


image004Vịnh cái giếng


Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng
Cầu trăng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai cũng biết
Đố ai dám thả nạ dòng dòng


Mộng

Bài vô thường dễ nhớ lại hay
Trong cơn mộng ai biết mình đang mộng.


Thục quốc danh tướng, Việt Nam lục bát thi sĩ và Bùi Giáng 


Bui Giang - Lao Tu Hai that vong(Từ Hải – tranh Bùi Giáng)


Nếu Bùi Giáng (chỉ) là thơ, thì thơ Bùi Giáng (chỉ) là lục bát.
Tôi sẽ ví các danh tướng nhà Thục thời Tam Quốc với các thi sĩ lục bát tài danh Việt Nam! Một cách tương đối: Về ngôi thứ uy quyền, nếu coi Lưu Bị là Nguyễn Du, thì tiếp theo ai là ai? Quan Vũ, ấy là Nguyễn Bính; Trương Phi là Bùi Giáng. Vậy là xong nhà Lưu-Quan-Trương. Tiếp: Triệu Tử Long: Hồ Dzếnh. Rồi những Hoàng Trung, Ngụy Diên, v.v... là những, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đức Sơn, v.v... Còn hạng xoàng xoàng... thì kể không kể xiết. "Lục bát là nơi thử thách bút lực của các thi sĩ" (Trần Đăng Khoa). Tôi đoán chắc không sai là ai đã làm thơ tiếng Việt thế nào cũng kinh qua một tá bài lục bát? Với rất nhiều người thơ, lục bát là mối tình đầu.

Bùi Giáng quí cưng Hồ Dzếnh lắm, quí hơn Nguyễn Bính bội phần. Trong hai cuốn Đi Vào Cõi Thơ nói trên, Dzếnh được bình những 7 lần (lại còn được yêu đến mức cải tên thành Hồ Xuân Dzếnh!); Bính được nhõn có 1 lần! Bất chấp, trong khi chưa hiểu hết Hồ Dzếnh, tôi vẫn coi Nguyễn Bính và Bùi Giáng là hai vị tả hữu quanh ông vua lục bát Việt – Nguyễn Du, Hồ Dzếnh ở sau. Và còn khoảng cách rất xa nữa mới tới các vị sau đó.
Rất nhiều câu thần ở lục bát hai ông thơ này. Thần thơ Nguyễn Bính là thần dân, thần đất. Ta ngẩn ngơ và ngẫm một hồi, không lâu. Ta hiểu, cảm được. Phần nào.
Quê nhà xa lắc xa lơ đó 
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
(Hành Phương Nam)
 

(Đỗ Quyên)


Đừng Tưởng

Đừng tưởng cứ khóc là sầu 

Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

(Bùi Giáng)


Lều chõng của sĩ tử Việt hàng trăm năm trước

Ngày xưa, khi tham gia các kỳ thi Hương, thị Hội, thi Đình... thí sinh lại phải mang theo lều, chõng, thức ăn... lặn lội xa xôi lên các trường thi ở kinh thành hoặc các đô thị lớn. Vậy lều chõng trông như thế nào?


 

Người ta hay ví von chuyện thi cử thời nay với cảnh lều chõng của sĩ tử xưa. Nhưng không phải ai cũng biết “lều chõng” là thế nào. Trong một lần trưng bày “Lều chõng của thí sinh trong kỳ thi Đình” tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội, câu hỏi này được giải đáp bằng hiện vật trực quan.

Theo đó, ngày xưa, khi tham gia các kỳ thi Hương, thị Hội, thi Đình... thí sinh lại phải mang theo lều, chõng, thức ăn... lặn lội xa xôi lên các trường thi ở kinh thành hoặc đô thị lớn.

Tại đây, lều chõng chính là nơi cư ngụ, đồng thời là nơi làm bài của thí sinh trong những ngày thi cử. Trong đó, lều làm bằng cót được cố định bằng khung tre, trở thành mái nhà che nắng mưa.

(Quốc Lê)



 Khái Hưng

“…Khái Hưng đã chết như thế nào? Từ lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái Hưng, tôi (Dương Nghiễm Mậu) lại nghĩ đến điều đó, cùng lúc tôi muốn biết Khái Hưng, Tự Lực Văn Đoàn, cũng như tất cả những người ở thế hệ Khái Hưng họ đã nghĩ gì, làm gì. Họ đã hoạt động trong giai đoạn kháng chiến ra sao? Tại sao Cộng sản thủ tiêu Khái Hưng? Tôi nhớ câu thơ ấy của Thanh Tâm Tuyền. Khái Hưng đã bị thủ tiêu, điều ấy đã chắc.

  Trong thời gian làm tờ Văn Nghệ tại nhà in ở đường Cô Bắc, tình cờ tôi được nghe chuyện về Khái Hưng, người nói chuyện giới thiệu là một người cháu về đằng bà Khái Hưng, người này nói chính ông đã gặp Khái Hưng lần cuối vào buổi chiều cán bộ V.M. bắt Khái Hưng dẫn đi, bọn cán bộ này là một thứ du kích tự vệ xã. Khái Hưng mặc quần áo thường. Người kể chuyện gặp Khái Hưng ở đầu làng, Khái Hưng có nét mặt rầu rầu buồn bã mỉm cười và giơ tay chào. Sau đó, người nói chuyện bảo dù rất kín, mấy tên du kích đã lộ ra rằng họ bỏ Khái Hưng vào bao bố đâm chết rồi quăng xuống sông.

Không hiểu ngoài những điều mơ hồ, không có gì làm bằng chứng kia, còn có những điều nào khác được kể về cái chết của Khái Hưng? Có điều Khái Hưng đã chết. Khái Hưng đã chết thực và tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng - theo như ghi chép - để lại cho chúng ta là tác phẩm Băn khoăn…”


Và một nguồn ở trong nước:

“…Một số tài liệu cho rằng Khái Hưng bị Việt Minh bắt giam tại Liên Khu 3 (Lạc Quần, Trực Ninh) rồi đem xử tử hình ở bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định…”. 

Theo con nuôi Khái Hưng, thì Khái Hưng mất tích sau Tết Ðinh Hợi (22/1/1947).


Thêm nguồn khác: 

“…Hồi còn dạy học ở thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 1973, tôi đã nghe chính miệng những du kích Thái Bình, những kẻ thừa hành bản án kể rằng họ được lệnh bỏ rọ trắm xuống sông nhà văn Khái Hưng trong Tự Lực Văn Đoàn. Kẻ hành quyết kể lại thái độ của Khái Hưng rất bình thản, ung dung chui vào rọ nứa cho họ trần buộc dây, gài đá, vần xuống sông…”.

Khái Hưng chết chỉ vì ông là đảng viên đảng Đại Việt.


Vòng tử sinh trong văn học

Cụ đầu xứ Tố

Cũng như ở tiết mục Nam Cao, Kim Lân. Nhà văn Kim Lân thổ lộ: 

- Đúng thế! (…) Tôi chỉ muốn nói: Tôi bị oan.

Ông đồ Ngô Tất Tố cũng vậy: 

“Đừng đánh tôi. Tôi bị oan…Đừng đánh tôi. Tôi bị oan…”


***

Ngô Tất Tố được thụ hưởng một nền giáo dục Nho học. Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán ở quê, sau đó theo học ở nhiều làng quê trong vùng. 

Năm 1912, cụ dự các kỳ thi truyền thống lúc bấy giờ vẫn còn được triều đình nhà Nguyễn tổ chức. Cụ đỗ kỳ sát hạch, nhưng thi Hương bị hỏng ở kỳ đệ nhất. 

Đến năm 1915, cu đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh, nên được gọi là đầu xứ Tố, rồi thi Hương lần thứ hai, khoa Ất Mão, cũng là khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Ky, cụ qua được kỳ đệ nhất, nhưng bị hỏng ở kỳ đệ nhị. Cụ đầu xứ Tố là một nhà văn, nhà báo, nhà Nho học và nghiên cứu có ảnh hưởng ở nước ta giai đoạn trước 1954. Cụ đầu xứ Tố là đại diện tiêu biểu cho những thay đổi của một lớp người trí thức trong giai đoạn giao thời, sự dung hòa tương thích giữa nền văn hóa mới và cũ.


Về cái chêt của cụ, trong tiểu sử văn học chỉ ghi vắn tắt:
Ngô Tất Tố sinh năm 1893 mất năm 1954 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh.


Và theo tác giả Thái Doãn Hiếu: 

“…Gần ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội Văn Nghệ họp trên đồi Nhã Nam. Cuộc đấu tố của văn nghệ sĩ diễn ra gay gắt căng thẳng. Người ta đã vu cáo những chuyện tày trời, dồn Ngô Tất Tố vào tận chân tường. Tác giả Lều Chõng và Việc Làng đã phạm tội phục cổ nhằm mục đích gì? Và, Ngô Tất Tố đã qua đời vào đêm 20 tháng 4 năm 1954 bằng thắt cổ tại nhà riêng ở Yên Thế, Bắc Giang. Cái sự chết của nhà văn khắc nghiệt đến mức nghĩa trang liệt sĩ xã ở địa phương từ chối không cho chôn….”


Thiền

Núi là núi, sông là sông
Thiền là một tách trà nồng trên tay


Gặp nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ

Nhà văn Thụy Vũ trở thành một trong những nhà văn viết feuilleton ăn khách nhất miền Nam trước 1975; có lúc, theo lời bà kể, bà phải ngồi viết ngay trong tòa soạn, có người chầu chực bên cạnh chờ bà viết được hai, ba dòng là lập tức cắt ngay mang ra chỗ sắp chữ in, bận rộn thậm chí cho đến trước lúc bà lâm bồn. Rồi bà xuất bản và đoạt giải thưởng văn học 1970. Viết lách bỗng chốc trở thành một guồng máy, Deus ex machina.


Nếu không có sự gợi ý của người em trai, (Hồ Trường An) nếu không có con mắt xanh của Võ Phiến, chúng ta sẽ không có một nhà văn Thụy Vũ. Điều đó cũng đã xảy ra với hơn một người. 


Với Dương Nghiễm Mậu, chẳng hạn. Nếu không có một Mai Thảo tình cờ moi trong đống bản thảo đã vứt vào sọt rác thì người ta có thể sẽ không có cơ hội để đọc những Ngày Đốn Cây Vú Sữa hay Gia Tài Người Mẹ sau này.


(Vũ Thành Sơn)


Thiền

So với cái mênh mông của vũ trụ
Thì nỗi buồn của hạt bụi có ra chi


Thương nhớ thầy Nguyễn Đăng Mạnh

Tuy nhiên tất cả những lời thóa mạ, vu cáo cũng như những lo lắng của gia đình, học trò, bạn bè đã khiến thầy bất an. Trong một cuộc gặp mặt giữa Hội đồng biên tập và cộng tác viên của tạp chí Văn Học và Tuổi Trẻ, tôi thấy thầy rộc rạc hẳn đi. Lúc liên hoan, thầy ngồi ăn một cách lủi thủi vì rất ít người đến “cụng li”, chúc tụng thầy như thường lệ. Tôi xót xa vô cùng. Ít lâu sau, theo lời khuyên của anh Đỗ Ngọc Thống, thầy “tạm lánh” vào Sài Gòn ở với con trai một thời gian.


Chuyện Hồi Ký rồi cũng lắng dần xuống. Tuy nhiên, năm 2010, để in được cuốn sách về thầy nhân dịp thầy 80 tuổi cũng còn hết sức khó khăn trong việc xin giấy phép xuất bản. Anh Chu Văn Sơn là người rất giỏi định danh (đặt tên) các hiện tượng trong văn chương, đã lấy tên sách là “Nguyễn Đăng Mạnh – Từ Bục Giảng Đến Văn Đàn”, thế nhưng không xin được giấy phép xuất bản. Cuối cùng phải lấy một cái tên rất mơ hồ và gần như chẳng dính dáng gì đến thầy Mạnh: “Người và Nghề” (Người nào? Nghề gì?) và tiêu đề phụ “tiểu luận chân dung” (Chân dung ai?). Chữ “tiểu luận chân dung” bé tí, như là cơ quan xuất bản cố ý làm giảm sự chú ý, sợ người ta lại mò ra là chân dung Nguyễn Đăng Mạnh! 


Đến nỗi một bài viết trong đó của nhà văn Thụy Khuê (Việt kiều tại Pháp, cũng là tác giả “có vấn đề”) cũng phải bịa ra một cái tên là Yên Cơ. Sau này tôi biết đấy là cái mẹo nghề của một biên tập viên nhà xuất bản, để qua mắt kiểm duyệt. Nhưng thôi, đó là cái đáng xấu hổ của ai đó chứ đâu phải thầy Mạnh và các học trò của thầy cũng như nhà xuất bản. Hậu thế sẽ biết rõ điều này và sẽ phán xét. Trong bối cảnh ấy, in được sách là tốt rồi. Thầy (và cô) và các học trò, bè bạn, vì vậy, rất vui. 

Lễ mừng thọ thầy 80 tuổi là một cuộc sinh hoạt học thuật và gặp gỡ, giao lưu thật chân tình, ấm cúng. Thầy tạm thời vượt qua một “tai nạn nghề nghiệp”, như tươi trẻ lại.

(Đào Tiến Thi)


Thiền

Khói trần bén giấc mơ tiên
Bâng khuâng trăng trải qua miềm quạnh hiu.


Chế Lan Viên

Năm 1976 Đại Hội Đảng tiến hành trong không khí vui mừng chiến thắng. Có tin đồn giới văn nghệ sẽ  được một suất Trung Ương Ủy Viên, người ấy là  Chế Lan Viên. Đó là niềm mơ ước không chỉ  của riêng ai. Có người không tin nói nếu văn nghệ được một suất thì đó phải là ông Nguyễn Đình Thi, người hoạt động trong chính trường rất sớm, đương kim Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn, lại nữa vợ ông là Phó Giám Đốc Bệnh Viện Việt-Xô nơi chữa trị cho các cán bộ cấp cao. Giàu vì bạn sang vì vợ là lẽ thường. Nhưng có người nói ông Thi bị cái “phốt” Con nai đen. Điều này tôi đã cảnh báo trong chân dung về ông “Bay chi mặt trận trên cao ấy/Quên chú nai đen vẫn đứng chờ”. Một hôm chị Lê Minh con nhà văn Nguyễn Công Hoan đến gặp tôi kể có nghe tin đó và chạy đến hỏi ông Lê Văn Lương chú ruột chị (Ông Lương lúc đó là trưởng ban tổ chức Trung Ương Đảng):

- Có phải lần này ông Chế Lan Viên vào Trung Ương không chú?

- Cháu tưởng vào Trung Ương dễ thế sao?


Rồi  ông ấy đọc bài thơ của anh viết về ông Chế. Ủy Viên Bộ Chính Trị cũng thuộc thơ anh rồi đấy.

- Như  thế là phúc hay họa hở chị

- Anh yên tâm, ông Lương được lắm đấy.

Tôi cũng tình cờ gặp ông Lương, lần đó anh Thanh Tịnh bảo tôi cụ Hoan (Nguyễn Công Hoan) muốn gặp Sách. Tôi đến nhà  cụ.

- Tôi  đã được nghe bài thơ anh viết về tôi, để tôi đọc xem có có đúng không.


Ông đọc xong rồi cười rất sảng khoái.

- Thưa bác, bác đọc đúng. Bác có trách mắng gì không ạ?

- Tôi cũng ưa châm biếm, anh viết thế là hơi nhẹ, nhưng tôi cũng bị trời phạt đó. 

Lúc  đó ông Lê Văn Lương tới, dáng cao gầy mặt khắc khổ. Ông  chắp tay :

- Thưa anh nghe tin chị mệt em đến thăm, xin phép anh cho em vào thăm chị.

Cụ Hoan nói :

- Chú  vào đi.

Tôi có  thiện cảm với ông Lương. Đại thần mà còn giữ  được nề nếp gia phong như vậy là hiếm. Rốt cuộc  ông Chế bị trượt, tất nhiên không phải tại bài thơ của tôi. 

(Xuân Sách)


20 năm văn học hải ngoại 

Viên Linh: Nhờ biến cố 1975, các nhà văn miền Bắc mới được thở không khí của thế giới tự do, qua cửa ngõ Sài gòn, và luồng không khí này thổi một sinh khí hồi sinh cho những người cầm bút miền Bắc. Mỗi tháng trước 1975, miền Nam in khoảng 2000 tựa sách mới, kể cả sáng tác dịch thuật đủ loại. Hai mươi năm ở miền Nam, bao nhiêu cuốn sách ra đời! Những cuốn sách ấy mở cửa thế giới cho những người vào từ trên vĩ tuyến 17. Sau 20 năm, những công trình sáng tác dịch thuật của miền Nam là một Đại Thư Viện Văn Học (không kể các ngành khác) cho các "tân sinh viên" miền Bắc. Ở đây, họ đọc được tất cả các danh phẩm quốc tế, không phải chỉ có sách của Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc. Lần đầu họ thấy được tâm hồn và đất nước người, cũng như tâm hồn và đất nước miền Nam. Lần đầu họ thấy sản phẩm của nền văn học tự do. Từ sự mở mang này mà có Những Thiên Đường Mù, có Dương Thu Hương và các thứ. Nền móng của văn học phản kháng chính là Văn Học Miền Nam.

(Viên Linh)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 

Ngày sau nếu không là tôi nữa
Sỏi đá vô tri chắc cũng buồn

(Đăng Học)


Hành lạc từ

Thời cụ Nguyễn Du thế kỷ 18 và 19, về thịt chó cụ viết trong bài Hành lạc từ trong đó có câu “hữu khuyển khả tu sát” với nghĩa là “có chó cứ làm thịt… tội gì ngàn năm lo” và kết thúc bằng câu “Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ”  là xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ còn trơ lại một nấm đất và “Lân cẩu yếm cao lương”  tức chó nhà bên cạnh cũng đã chán thức ăn ngon, thế nên:

Có chó cứ làm thịt

Có rượu cứ nghiêng bầu

Được thua trên đời chưa dễ biết

(bản dịch của cụ Lê Thước)


Quán Văn - 1


nhom_quan_van_1

Quán Văn lúc mới thành lập năm 1967.
Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang, Trần Đại Lộc và Hoàng Xuân Sơn 

(Hình chụp bởi Đỗ Tăng Bí)

Tất cả đều là thành viên Quán Văn


Quán Văn trong nỗi tình cờ

Không phải cuộc sống lúc nào cũng suôn sẻ. Những ngày thơ mộng rong chơi êm ả rồi cũng dần qua. Tất cả bọn tôi đều ở vào lứa tuổi động viên. Phương chi còn phải chúi đầu vào việc học cố kiếm lấy mảnh bằng để kéo dài cuộc sống dân sự. Chiến tranh rồi cũng lan dần về thành phố. Ngồi quán hôm nay trong nỗi thấp thỏm âu lo. Đại bác đêm đêm dội về thành phố – Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe … Cộng thêm những hình ảnh kinh hoàng của sự chết chóc phân ly dần ngự trị trong tâm khảm khiến những chàng thanh niên trong độ tuổi yêu đời phải mang bộ mặt thảm sầu như đá đeo. Những người lính trận áo còn bạc phếch màu chiến trường hối hả vui chơi hàng quán vài ba ngày phép ngắn ngủi. Thời chiến đọc mới thấy thấm những vần thơ bi tráng của Nguyễn Bắc Sơn Mai ta đụng trận ta còn sống – Về ghé sông Mao phá phách chơi – Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm – Đốt tiền mua vội một ngày vui …

Và rồi những trận pháo kích của Bắc quân cũng đã rót đều vào đô thị. Lính Mỹ, kẽm gai và đồn bót. Chết chóc và tang thương. Thành đô trưng bày diện mạo căng thẳng nơm nớp đợi chờ? Chúng tôi sống hôm nay và lo âu cho ngày mai. Có những người bạn trong quân ngũ ghé thăm hôm trước, hôm sau đã nghe tin ngã gục nơi chiến trường. 

Bầu không khí ngột ngạt, trầm uất. Đỗ Tăng Bí nghĩ tới chuyện in sách, làm công tác văn hóa. Bọn tôi lại thay hình đổi dạng, quy tụ thành một nhóm nhỏ khác: Nhóm Sinh Viên Văn Hóa (NSVVH). 

Nhóm gồm những tay có trình độ học vấn và kiến thức ngang ngang nhau. Nhóm khởi đầu có Đỗ Tăng Bí (nguyên chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21 ở quận Cam/Cali), Đinh Bá Ái (dược sĩ, còn ở quê nhà ?), Trần Viết Anh (sinh viên Dược khoa, em Trần Viết Ngạc hiện đang dạy học, chuyên viên nghiên cứu Sử ở Việt Nam), Phan Huy Đạt (luật sư, hành nghề ở Cali – gần đây nhất làm chủ nhiệm tờ báo Người Việt), Lưu Trọng Đạt (quân nhân, tử trận), Nguyễn Thạc (Tây Ban Cầm thủ cổ điển, con trai GS Nguyễn Đăng Thục, nguyên khoa trưởng đại học Văn Khoa Sàigòn), Ngô Vương Toại, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Xuân Sơn 

Công trình thực hiện đầu tiên của NSVVH là thành lập nhà xuất bản Quảng Hóa, sách ấn hành đầu tiên là cuốn Quân Vương – nguyên tác: The Prince của Machiavelli – chuyên về học thuật quyền lực chính trị. Sau đó còn in thêm một số nhạc tập, ca khúc của Trầm Ca, Du Ca, Nguyễn Đức Quang và thi tập Đêm Việt Nam của Đỗ Quý Toàn. 

(Hoàng Xuân Sơn)



Chữ nghĩa làng văn

Có nhiều nguồn cho rằng cụ Nguyễn Du đi sứ sang Tàu hai lần. Tuy nhiên theo sử bang giao giữa nhà Nguyễn với nhà Thanh:

Nhâm tuất (1802), cụ Nguyễn Du chỉ là tòng nhân đi với phái bộ của chánh sứ Trịnh Hòai Đức sang Bắc Kinh xin phong vương cho Gia Long. Sứ bộ về nước vào tháng chạp năm Gia Long thứ 2 (tháng 1/1804).

Năm Quý dậu (1813), sứ bộ do Nguyễn Du làm chánh sứ, đi tuế cống định kỳ nhưng chưa lên đường thì Nguyễn Du mất, Ngô (Thì) Vị được cử thay thế.


Quán Văn - 2

Trong ý nghĩ tình cờ nào đó của một ai đề xướng, NSVVH đứng ra thành lập Quán Văn (ông Đỗ Tăng Bí xác nhận qua điện thư ý kiến cho ra đời Quán Văn là của ông). Quán Văn, cái tên trở thành rất thân thuộc về sau là một trong những tụ điểm sinh hoạt văn nghệ tiên phong của thanh niên sinh viên học sinh rất có khí thế, có sức lôi cuốn mãnh liệt và tạo được nhiều tiếng vang trong những năm dài biến động. Có thể nói không ngoa: Chính Quán Văn đã đưa tên tuổi nhiều nghệ sĩ sáng tác, trình diễn đi sâu vào lòng thưởng ngoạn của giới trẻ và người mộ điệu. Từ Thanh Lan/ Từ Công Phụng đến Khánh Ly/Trịnh Công Sơn v.v. và nhiều ca nhạc sĩ, thi sĩ khác nữa. Quán Văn là tiền thân của Thằng Bờm, Hầm Gió, Hội Quán Cây Tre … Tưởng cũng nên nhắc lại, bọn tôi dù có tham gia các bang, nhóm riêng nhưng vẫn luôn luôn là thành viên của CPS. Cơ quan này đã hỗ trợ đắc lực cho các sinh hoạt mang tính chất văn học nghệ thuật.

Cuối năm 1966, đầu 67, anh em CPS tham gia công tác cứu trợ nạn nhân chiến tranh vùng giới tuyến Gio Linh/Cam lộ/Đông Hà. Chiến dịch được mang tên Công Trường Thanh Niên Vùng Giới Tuyến gồm nhiều anh chị nhiệt tình hăng hái không nề súng đạn hiểm nguy mang vật liệu, phẩm vật đổ xô ra miền địa đầu dựng lại người dựng lại nhà cho đồng bào cật ruột. Một ngôi nhà mẫu bằng vật liệu thật nhẹ trong tinh thần cứu trợ khẩn cấp được tạm dựng trên khu đất trống trước thềm tam cấp, nơi Khám Lớn cũ hồi xưa đặt cỗ máy chém hành xử tội nhân, thoai thoải bước xuống sân cỏ rộng phía bên dưới. 


Nhận thấy ngôi nhà tuy có vẻ sơ sài nhưng tọa lạc ở một địa điểm khá thơ mộng, anh em bàn thảo và nảy ra ý kiến dựng một quán cà phê văn nghệ làm nơi tụ họp thường xuyên cho giới trẻ, với vật liệu đơn sơ thô thiển, tự chế lấy bàn ghế, quày hàng v.v.

Thế là phe ta hăng hái bắt tay vào việc. 

(Hoàng Xuân Sơn)


Thói hư tật xấu của người Việt

Chuỗi bài "Thói Hư Tật Xấu Của Người Việt" đứng tên nhà phê bình Vương Trí Nhàn, đăng hàng tuần trên báo Thể Thao & Văn Hóa xuất hiện bắt đầu bằng việc dẫn lời, trích lục các đoạn viết của các danh nhân xưa. Đến nay, ông đổi mục này sang "phiên bản" mới với việc tạo thành bài phân tích, bình luận, tổng hợp trực tiếp của mình. Việc làm này rõ ràng là khó khăn hơn, phải chăng là do đến lúc này ông mới sẵn sàng đối mặt với "thách thức"?

“Tôi kể ra đây con đường đưa tôi đến việc này. Đây là quá trình nghiên cứu cụ thể chứ không phải ý định bộc phát. Năm nay tôi đã 64 tuổi, và tôi sẽ còn theo đuổi đề tài này đến cuối đời”.

  Tôi vốn là người nghiên cứu về văn học. Trong giới, tôi bị đồng nghiệp chê nhiều lắm. Trần Đăng Khoa gắt tôi: Cái ông này chỉ giỏi nhìn tật xấu của mọi người thôi! Nói nôm na, là tôi "không chơi được". Nói vui, nếu tôi chưa có vợ thì có lẽ chẳng thể lấy vợ được. Ai lại thích người chỉ giỏi khơi thói xấu của người khác! 

  Tôi thấy cuộc sống bây giờ nhiều người nuông chiều nhau quá, dễ dãi với nhau quá. Khi gặp một người, ta chỉ muốn nói cho người đó vui, người đó sướng còn thực chất ta không đối xử tử tế với nhau như thế. Chúng ta gặp nhau chỉ để tán phét, tạo cho người ta vui vẻ, thậm chí nịnh, rồi sau lại cười người ta. Tôi thấy điều đó hoàn toàn không tốt.

Thời gian đầu, tôi viết về thói xấu của văn nghệ sĩ với quan niệm mình không giống mọi người, không phải thước đo người này mét mốt, người kia là mét ba. Chỉ đơn giản là mình nói về họ với điều mình nghĩ, mình thấy được. Từ viết về thói xấu của văn nghệ sĩ, tôi mở rộng chung ra thói xấu của người Việt Nam.

 

(Bùi Dũng - Xuân Anh phỏng vấn Vương Trí Nhàn) (1)


(1) Vài năm nay, nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn tiến hành công việc khá đặc biệt là sưu tầm, tuyển chọn và thể hiện những bài viết về "Thói Hư Tật Xấu Của Người Việt".  Đây là ý định đã có người theo đuổi nhưng sớm phải từ bỏ, đứt gánh giữa đường hoặc có người khác đang "ẩn mình" thực hiện.

Những gì nhà phê bình Vương Trí Nhàn đang làm và công bố rộng rãi gây nên nhiều ý kiến trái chiều: người đồng tình ủng hộ, kẻ phản đối gay gắt. Cuộc trao đổi thẳng thắn của với ông Vương Trí Nhàn sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về công việc này, từ đó đưa ra nhận định của riêng mình.


(xem tiếp kỳ sau)


Rau sắng Chùa Hương

Tên gọi là rau, nhưng cây sắng không phải là cây rau như rau cải, rau muống, rau răm, rau diếp... mà thuộc loài mộc. Thân nó to, cao. Muốn hái lá non của nó có khi phải trèo lên cây mà hái. Lá non của nó trông óng ả, mỡ màng. Hoa nó thường gọi là rồng rồng, lấm tấm như hoa ngâu, nấu canh ăn còn ngọt hơn lá non. Quả nó tròn dài hình bầu dục, màu vàng lửa, ăn ngọt, hơi rát lưỡi. Tháng năm, quả chín từng chùm như chùm sung. Lá nó, hái hết lớp này lại ra lớp khác. Mùa Đông cây sắng rụng hết lá, mùa Xuân lại nẩy lộc. Cứ nẩy lộc là ra rồng rồng. Người ta hái lá sắng mỗi tháng một lần, hái đến tháng sáu thì thôi.

Cây rau sắng sinh ra và lớn lên trên núi đá vôi và chỉ ở núi đá vôi nó mới sống được. Đưa đi nơi khác, dù là núi đất ở đâu, dù là vườn ruộng ngay trong vùng Hương Sơn, nó cũng không hợp thủy thổ. Mọc trên núi đá vôi mà tỷ lệ chất đạm trong lá nó rất cao, cao gấp đôi tỷ lệ chất đạm trong các lá cây khác. Đạm là bột ngọt. Vì thế rau sắng nấu canh không cần chất mỡ, chất thịt, cũng không cần cho thêm bột ngọt, chỉ nấu suông với chút mắm muối gia vị là đủ ngọt lắm rồi. Gỗ rau sắng màu vàng như ngà, thường dùng làm đũa cả, thước kẻ. Cây to, lâu năm, có thể dùng để tiện, đóng những đồ gỗ nhỏ nhẹ như cái khay, cái mâm...


Còn Chùa Hương là danh lam thắng tích lâu đời ở miền Bắc nước ta. Vị trí thuộc thôn Yến Vĩ, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông. Thắng cảnh này gồm các ngọn núi Tuyết Sơn, núi Hương Tích, và núi Hình Bồng. Trên núi Tuyết Sơn có tượng Phật bằng đá, có những dãy thông cổ thụ đưa tán lên tận mây xanh. Riêng núi Hương Tích có động lớn, như tiên thánh tạc ra, với nhiều hình tượng kỳ lạ như: đụn gạo, đụn tiền, cây vàng, cây bạc, nong tằm, nong kén, ao sen, ao bèo v.v...

(Thái Văn Kiểm)


Thế nào là một bát phở Hà Nội

Có lần tôi vào một tiệm phở ở Paris, ngoài đề rõ Phở Hà Nội, nhưng người ta bưng ra một tô phở to như cái chậu nhỏ! Đấy không phải là phở Hà Nội. Đành rằng người Châu Âu ăn khỏe hơn ta, nhưng nếu đã đề ngoài cửa là phở Hà Nội thì tô phở phải nhỏ! Cần thì gọi thêm một tô nữa! Văn hóa ẩm thực Việt là như thế!

Không biết những người gốc Huế, khi vào một tiệm ngoài đề là Bún Bò Huế, người Huế chính cống có nhận xét gì không? Nhưng vào một tiệm phở, ngay cả ở Hà Nội bây giờ (2018) đề rõ bên ngoài là Phở Hà Nội, mà không thấy bó hành củ to đùng treo trước mặt ông bán phở là tôi biết không phải phở Hà Nội rồi.


“Phong cách” của người bán phở cũng khác! Thường ông bán phở hay đội một cái mũ phớt đã nhàu, có khi còn đội ngược đằng sau ra đằng trước, vậy mới là bán phở! Có ông lại hói đầu, nhưng phở của ông ta rất ngon nên thiên hạ đặt danh cho là “Phở Hói. Có ông mà thiên hạ mới đặt tên cho ông là “Phở Tàu Bay” vì gánh phở của ông ta luôn đỗ ở gần sân bay Bạch Mai – Hà Nội.

(Lê Phú Khải)


Mắm Thái Châu Đốc

Mắm thái Châu Đốc là một món ăn ngon của vùng đất biên giới Campuchia. Đi Châu Đốc, thế nào khách cũng đi dạo chợ Châu Đốc và mua món đặc sản mắm thái Châu Đốc về làm quà hoặc dùng để ăn. 

Cá làm mắm thái, thường là cá lóc hoặc cá bông con lớn, đập đầu, cạo vi đem ngâm với muối trong khạp độ 15 ngày, rồi dùng gạo lứt rang cho thật vàng, xay nhuyễn làm thính. Thắng đường thốt nốt cho có chỉ, chao vô mắm. Độ mười lăm ngày cho thấm, mắm vừa ăn, vớt cá đem ra chặt đầu, lóc xương, lột da, lấy thịt cá thái nhỏ cỡ chiếc đũa, rồi ướp đường, trộn đu đủ mỏ vịt xắt nhuyễn từng sợi, vắt bỏ mũ phơi một ngày cho đu đủ dẻo, xong cho mắm vào khạp, rải thính đều hết, ém vô. Mắm thái nhận vô khạp, vô hũ độ một tuần lễ là ăn được.

Mắm Thái Châu Đốc còn tên gọi khác là mắm Châu Đốc – Long Xuyên. Một nhà văn gốc Tiền Giang ghi lại món mắm quê ông: “… miền Nam, ai mà không biết ăn mắm. Từ những các nơi hẻo lánh xa xôi, bất cứ chợ lớn chợ nhỏ nào cũng đều có bán mắm. Mắm nổi tiếng khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh là mắm Châu Đốc – Long Xuyên đã thấy dậy lên trong tiềm thức. Đồng thời cũng hiện ra theo bao nhiêu hình ảnh kỷ niệm khiến lòng mình rưng rưng xao xuyến, lởn vởn hiện ra chung quanh món ăn thuần phác đậm đà, mang đặc tính tiêu biểu của mùi vị quê hương miền Nam.

  Trước hết phải có rau sống, khế chua, chuối chát, gừng lát, lá gừng, thịt ba rọi luộc xắt miếng hoặc dưa đầu heo. Khi ăn cắn dậm thêm trái ớt, tép tỏi mới thấy “phê’’.


Phụ bản

Xứ mắm Châu Đốc

Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang. Châu Đốc, sau này cũng thuộc tỉnh An Giang, thế mà màu sắc của mắm và hương vị mắm hai nơi này khác nhau rất xa.  Mắm thái Long Xuyên có nhiều màu đỏ, ngọt hơn, trộn nhiều đu đủ hơn.  Mắm ở Châu Đốc có độ ngọt ít hơn, đậm đà hơn, màu không quá đỏ và trộn đu đủ ít hơn.


Ẩm thực miền Trung

Đối với vùng Bắc Trung Bộ, đây là vùng có địa hình trải dài từ Nam Ninh Bình đến phía Bắc đèo Hải Vân, là nơi cư trú của hơn 25 dân tộc khác nhau và có khí hậu khác biệt hoàn toàn với vùng Nam Trung Bộ. Ẩm thực của vùng Bắc Trung Bộ có nhiều món ăn chua hơn miền Bắc, món ăn cũng cay và đậm vị hơn, màu sắc món ăn cũng rất phong phú, rực rỡ, sắc đỏ và đỏ sẫm là màu sắc thường gặp nhất trong các món ăn. Nổi bật nhất trong vùng duyên hải Bắc Trung Bộ là thức ăn xứ Nghệ, xứ Thanh và xứ Huế.

(người miền Trung rất thích các gia vị cay nồng khi chế biến thức ăn)


Trải dài từ Bắc vào Nam đồng bằng duyên hải miền Trung, khí hậu, địa hình lại dần dần khác biệt, vì vậy cách chế biến, cách thưởng thức và các nguyên liệu, cũng như đặc sản mỗi vùng lại khác nhau. Không có vùng nào trùng với vùng nào, cũng chỉ có thể tìm thấy những hương vị này ở những vị trí địa lý khác, điều đó cũng vô tình tạo nên sự đa dạng của ẩm thực miền Trung.

(Khuyết danh)



Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm

Tiếng thở dài

Năm 1954, miền Bắc hòa bình, Thanh Tịnh là Đại tá QĐND, làm Chủ Nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Ông cũng là hội viên sáng lập Hội Nhà Văn Việt Nam, và Ủy viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Việt Nam khóa I, II. Phụ trách tờ Văn Nghệ Quân Đội, ông gắn bó với mảnh đất Thủ Đô đến cuối đời. Những bạn văn sống cùng thời, đều hiểu hoàn cảnh của ông, quê hương ở Huế, nhưng cả đời hầu như sống trên đất Bắc. Huế trong ông gắn liền với những hoài niệm buồn thương day dứt.

Tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Thanh Tịnh (1911-2011), Đại Tá nhà văn Ngô Vĩnh Bình – Tổng Biên Tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, bùi ngùi thông báo: Trước đó một tuần, đã điện cho con trai Thanh Tịnh để mời ra dự lễ kỷ niệm, nhưng vì một lý do đặc biệt ông ấy không thể có mặt tại Hà Nội. Lý do là mẹ ông – người vợ “duy nhất” của nhà thơ Thanh Tịnh – vừa mất. 

Đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, bà ra đi đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thanh Tịnh.

Còn rất nhiều câu chuyện, rất nhiều giai thoại mà anh em văn nghệ sĩ Hà Nội vẫn lưu truyền về nhà thơ Thanh Tịnh, trong đó có một kỷ niệm đến giờ nhớ lại nhiều người rơi nước mắt. Thời bao cấp khó khăn, các nhà văn, nhà thơ ở Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, nơi Thanh Tịnh nhiều năm gắn bó, phải làm thêm “kế hoạch 3” là dán bìa các tông thành các hộp giấy. Cuối năm ấy cơ quan được phân mỗi người một cân thịt lợn. Tất cả ngồi rán phần của mình thành mỡ để mang về nhà ăn Tết, đến lượt một nhà thơ trẻ, do đãng trí nên khi rán xong đã đổ ngay mỡ đang nóng vào chiếc can nhựa, lúc quay lại thì thấy chiếc can đã nhũn ra, mỡ chảy hết! Thanh Tịnh nhìn thấy liền mang suất của mình tặng cho nhà thơ trẻ. Rất nhiều năm sau, nhà thơ ấy vẫn ân hận mãi “không hiểu sao lúc ấy tôi lại cầm suất thịt của bác, Thanh Tịnh, tại sao tôi không nghĩ ra là tiêu chuẩn Tết thì ai cũng cần…”.

Cũng là chuyện về ngày tết xa quê hương của Thanh Tịnh, các đồng nghiệp của ông ở Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội vẫn kể với nhau: Thanh Tịnh không chơi hoa đào, thủy tiên, hoàng mai như Xuân Diều, Huy Cận… ông chỉ thích…hoa giấy! Không hiểu, một số người lại nghĩ ông chơi Tết “tằn tiện”. Mãi về sau có người hỏi chuyện, ông bảo mình chơi hoa giấy để nhớ về quê mẹ -Huế, nơi ấy ngày Tết bao giờ cũng phải có hoa giấy làng Thanh Tiên…

Có thể nói về Thanh Tịnh trong nỗi nhớ, nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã “ký họa” chân dung ông rất tài tình: “Muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào, phải nhìn lúc ông đi bộ. Ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn. Không trù tính định liệu, không ham muốn, ông nhìn thẳng về phía trước mà hoá ra chẳng nhìn gì cả. Đến cả bước chân của ông cũng không ai nghe tiếng nữa. Chỉ có tiếng thở dài của ông là có thật”.

(Nguyễn Thanh Huệ)


Ca dao

Trai Nhâm Đinh Quý thì tài,
Gái Nhâm Đinh Quý phải hai lần đò


“Cheo Leo”, quán cà phê ‘xưa’ nhất Sài Gòn

Thuở đó tuy pha cà phê bằng phin chưa phổ biến, nhưng ở khu vực Bàn Cờ đã có những quán pha cà phê bằng phin, nổi tiếng như các quán cà phê Phong, cà phê Năm Dưỡng (sic)…

Sau biến cố 30 tháng 4 1975, không còn thấy bóng dáng cà phê Phong nữa. Cà phê Năm Dưỡng còn tiếp tục, nhưng cách đây mấy năm đã trở thành nhà nghỉ khách sạn. Hầu hết quán cà phê nổi tiếng của Sài Gòn mà chúng tôi biết từ thuở học trò, đã biến mất cả rồi. Duy nhất quán Cheo Leo vẫn ngày ngày mở cửa, với cà phê vợt của một truyền thống gần như tuyệt tích. Vừa qua, gặp bạn xa Sài Gòn đã nhiều năm, muốn tìm lại hình bóng cũ hương vị xưa của Sài Gòn. Chúng tôi tới quán Cheo Leo, thưởng thức ly cà phê pha bằng vợt.

(Nguyễn Đạt)


Tiểu sử
Nguyễn Đạt sinh năm 1945 tại Vĩnh Tường, Vĩnh Yên, Bắc Việt. Hiện ở Đơn Dương, Đà Lạt. 

Ông là cháu nhà văn Nguyễn Mạnh Côn
Tác phẩm

Hiện viết truyện ngắn cho riêng báo mạng Tiền Vệ và Khởi Hành.


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ

Nỗi buồn gác trọ chờ mong ngày về

Ngăn cách, Mấy dặm sơn khê 

Đường xưa lối cũ trăng thề còn đây

Tình yêu Chiếc lá thu phai 

(Sưu tầm từ VMQH)


Hui nhị tỳ

Nơi đây là nơi mà các học sinh thi sĩ của trường Pétrus Ký thời tiền chiến thường lui tới để tìm yên sĩ.

Ngày nay thơ ở đây vẫn còn, nhưng không phải là thơ tươi đẹp nữa, mà là những vần tuyệt vọng khóc cảnh điêu tàn.

Tôi đi vòng quanh đó để tìm ngôi mộ của cô V.T.L. chết năm 18 tuổi. Hồi còn là nội trú trường P. Ký tôi đã nghịch về ngôi mả nầy khiến một số học sinh kinh hoảng và khiến cô bạn đang duy vật bỗng ngã qua duy thần [2].


[2] Câu chuyện đã kể rõ trong bài “Ma Đề Thơ” in thành sách trong quyển “Tân liêu trai”.


Tấm mộ bia vẫn còn tươi nét vàng nhưng nhiều tảng xi-măng của ngôi mộ đã long ra, nằm lăn lóc trước đó.

Vô số là chó hoang chơi giỡn trước mộ của cô gái nửa chừng xuân gãy cành thiên hương ấy, còn ngôi mộ của ông phi công vị Pháp quốc vong xu là nơi trẻ quanh xóm xé rào vào đánh đáo.

Ai ôi, có lập nghĩa địa thì nên đoán trước sức bành trướng của thành phố trong vòng một trăm năm để khỏi đào hào đắp lũy mà vẫn bị xâm lăng như thường.

(Bình Nguyên Lộc)


Sài Gòn: Hành trình ẩm thực 

Người ta thường nói ”ăn quận Năm, nằm quận Ba, xa hoa quận Nhất”. Thật ra vấn đề ăn uống ở quận Năm trong câu này chủ ý nhấn mạnh vào những món sơn hào, hải vị, tại những tiệm ăn Tầu lớn – các cụ ta thường gọi là cao lâu – hoặc những món đặc biệt Ba Tầu qui tụ tại những khu ăn uống về đêm cho thích hợp với câu được các “khứa lão” truyền tụng trước kia:”ăn cơm Tầu, ở nhà Tây, ngủ giường Hồng Kông, lấy vợ Nhật”. Câu này hiện đã trở thành lỗi thời. Nền ăn uống tại Sài Gòn phát triển khủng khiếp, qua mặt hẳn Chợ Lớn với vô số kể hàng quán, tiệm ăn lớn bé có thể lên tới hàng chục ngàn, chưa kể những gánh, xe đẩy vv…

Câu “nằm quận Ba” thì không sai. Nhiều nhà cửa thuộc quận Ba hiện nay do những ông to, bà lớn làm sở hữu chủ. Nhà nào nhà nấy to lớn, đồ sộ, kín cổng cao tường và được bảo vệ một cách kỹ càng. Nằm ở quận Ba hẳn nhiên là sướng cái mớ đời. 

Còn quận Nhất xa hoa là phải, khi qui tụ  những khách sạn lớn, những chốn ăn chơi như vũ trường, bar rượu, massage cùng nhiều mục lỉnh kỉnh khác.

(bút ký Trường Kỳ 2)


Chữ nghĩa làng văn

Vĩnh biệt người đội mũ Dương Nghiễm Mậu

Người Ngồi Đội Mũ là nhân vật của một truyện ngắn cùng nhan đề như vậy trong Cũng Đành, tập truyện ngắn đầu tay của Dương Nghiễm Mậu. Từ lúc quen biết Dương Nghiễm Mậu tới nay đã trên nửa thế kỷ, tôi chưa thấy ông đội mũ bao giờ. 


Nhớ Dương Nghiễm MậuNhà văn Dương Nghiễm Mậu đã từ trần lúc 21 giờ 35 phút ngày 2 tháng 8 năm 2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phi Ích Nghiễm, sinh ngày 19-11-1936, ở quê nội làng Mậu Hòa, huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Ðông. Bút hiệu là tên thật của ông ghép với hai chữ đầu quê nội và quê ngoại.


Thật ngỡ ngàng nghe tin ông mất, dù tuổi thọ của ông cũng không là mỏng. Có lòng tham yêu mến tôi cũng chẳng ngại, để được thấy nhà văn Dương Nghiễm Mậu còn ở trên đời, nên ông mất đi tôi rất tiếc thương. 

Cầu mong linh hồn ông an vui chốn vĩnh hằng.

(Nguyễn Đạt)


Sài Gòn xưa trước cửa trường Taberd 

Nhớ về góc phố ẩm thực Bưu điện Sài Gòn
Ngày trước khu ăn uống trước Bưu Điện Sài Gòn không một ông học sinh Taberd (*) nào không biết. Bởi đơn giản là trường Taberd nằm trên đường Nguyễn Du bên hông Bưu Điện, chỉ vài bước chân là đã tới khu vực ăn uống nằm trên vỉa hè rộng ở hai bên lối vào Bưu Điện.


***

Quầy bánh Hương Lan tại Bưu điện trước năm 1975.


Taberd là một trường Tây tư thục nổi tiếng, học sinh đa số là con nhà giàu, trong túi lúc nào cũng rủng rỉnh tiền ăn hàng. Mấy ông chỉ thích ăn sáng ở ngoài khu Bưu Điện nhiều món ăn lạ hơn.

Trước cửa Bưu Điện hai bên có hai quầy bán bánh mì mà tụi tôi hay gọi là bánh mì bưu điện, quầy nằm bên trái là tiệm Hương Lan (Nguyễn Văn Ngãi). Quầy bánh Hương Lan bán đủ loại bánh ngọt, bánh kem nhỏ. Bánh pâté chaud ở đây rất ngon với cái vỏ bánh giòn tan và mềm mại bên trong. Nhưng quầy Hương Lan nổi tiếng nhất với bánh mì gà hoặc jambon xúc xích. Ổ bánh mì nhỏ thôi mà tụi tôi còn gọi là bánh mì cóc, với nước sốt beurre béo ngậy và thịt gà chiên xé nhỏ kèm thêm miếng jambon mặn, đồ chua và cái cọng hành lá ló cái đuôi xanh xanh ra ngoà, cắn vào một phát thì lên mây ngay, ăn một ổ cũng đủ ngán.

Quầy bán bánh mì và bánh ngọt bên tay phải không bề thế bằng quầy Hương Lan, nhưng mấy ông anh lớn lại khoái cái quầy này vào bởi bên cạnh quầy có trổ một cánh cửa ra vào, kê vài cái ghế đẩu là chỗ để các ông ngồi nhâm nhi cà phê sáng và phì phèo đốt thuốc cho đã đời trước khi vào trường.

(Vũ Văn Chính)


Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

Câu này không phải của Tố Hữu mà là của Hoàng Trung Thông.


Đệ nhị khoái : đầu cá

Trong câu nói bình dân của các đấng có tâm hồn ăn uống thì "Nhất phao câu, nhì đầu cá ” cho thấy đầu cá là loại thức ăn rất quý báu mà ông bà của chúng ta đã áp dụng lâu rồi mà mãi đến hôm nay, các nhà dinh dưỡng học phương tây mới mổ xẻ vấn đề. Bài viết này xin miễn bàn về cái đệ nhất "phao câu " kia.
Ngày còn nhỏ tôi và ông anh ruột thường tranh giành nhau hai thứ ở con cá trong mâm cơm của gia đình, đó là ruột cá và đầu cá. Thông thường gia đình tôi thường ăn cá lóc và cá bông lau. Ruột cá thì rất quý vì nó giòn và khoái khẩu. Còn đầu cá thì khỏi chê khi anh em chúng tôi mê mẫn hút các chất tủy, tinh túy từ đầu cá vào cổ họng. Ôi, tôi cảm thấy mùi béo ngậy của đầu cá đang tràn vào mồm làm lâng lâng tâm hồn. Do đó hôm nào mẹ tôi hay chị Út, người làm nhà tôi nấu canh chua khóm cá lóc hay canh chua bạc hà cá bông lau là anh em tôi đặt trước phần mình. Quay về lại dĩ vãng thuở niên thiếu, tôi nhìn thòm thèm tô canh chua khóm có trứng cá lóc nổi lều bều và chiếc đầu cá nhô lên giữa tô như một hải đảo mời gọi sự đói bụng vô biên. Ở ta, khi bán cá người ta bán nguyên con; Khác Mỹ, đầu cá, thân và phần sau đuôi cá thường đựơc bán riêng tại các chợ Việt Nam. Đầu cá nhiều xương lớn nên rẻ hơn. Điều này cho thấy người ta không giành nhau phần đầu cá như anh em tôi ngày xưa nữa. Đầu cá không đựơc ưa chuộng, lựơng giá đúng mức của nó. Ngày ấy tôi thường nghe chị Út bình phẩm về tụi tôi là: " Sao lại không ăn thịt cá mà lại ăn đầu, chỉ có xương xẩu không thôi. Dại thế”. Vâng, chính chị Út cũng đánh sai về tầm quan trọng của đầu cá.
(Trần Việt Hải)


Trần Việt Hải, bút hiệu: Việt Hải, Vương Thư Sinh. 

Sinh năm 1953 tại Tây Ninh. Trước 1975, theo học 

đại học kinh tế thương mại tại đại học Minh Đức 

và đại học Luật Khoa Sài Gòn. Hiện cư ngụ tại Los Angeles.

Sáng tác nhiều thể loại văn, thơ, biên khảo, truyện ngắn, tùy bút.


***


Phụ đính I


Vào hè nói dóc chuyện La ve (La de)

Vậy mà có người khen chê cho La De Trái thơm là ngon nhứt, xong đến La De Con Cọp, và hạng chót là La De Quân Tiếp Vụ. QTV dở nhứt vì là cho Quân đội uống. Chẳng qua là cái mã ở ngoài cả. Thế mới biết ở đời chỉ trọng cái bề ngoài. Quý vị nghĩ coi nấu 2 loại Bia đã tóe phở, học xì dầu hơi đâu, BGI đâu có quởn nấu ba bốn loại còn vô chai vô cộ, đổi kíp đổi người. Phức tạp lắm. Nội cách đổi vỏ chai cho hạp với rượu cũng đủ hao tiền. Nhưng cắt nghĩa hổng ai tin. Ông Cụ Bà Cụ tui, hể tui khi đến nhà chơi, chẳng may lấy La De Quân Tiếp Vụ uống, vì Ổng có hàng QTV do mấy chú em tui đem về, thì Bà bảo. « Nhà hết La De để Mẹ đưa tiền Chú Thanh, chú Thanh là anh tài xế phục vụ Ông Cụ đi mua La De về cho con uống chứ uống chi đồ QTV dở lắm, để các em của con lính tráng nó uống, nó quen rồi. ». Tôi có trả lời cắt nghĩa cho Bà hiểu là chỉ có một thứ Bả không tin. Thiệt « Bụt nhà hổng thiêng » !  .


***

Sau đây là câu chuyện của La De Trái Thơm. Lúc ấy là năm 1973, tôi làm chánh sở Tiếp Thị (Chef du Service Marketing), coi luôn phần Quảng cáo. Để hà tiện tiền làm nhãn ở Pháp, tôi sử dụng Văn phòng quảng cáo của Hãng, tôi nghĩ anh họa sĩ văn phòng quảng cáo (chuyên vẽ những fond cho các xe của hãng rồi các anh thợ sơn đồ chép lại) đủ tài nghệ chép lại cái nhãn đặt ở Pháp. Và tôi nhờ anh họa sĩ vẽ lại cái nhãn. Trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai tràng hoa houblons, là loại hoa dùng để thêm cái vị nhẩn đắng vào bia. Nấu bia ngon dở là do cái tài thêm ít hoa houblon, cũng như gia vị ngũ vị hương trong nghề bếp núc Việt Nam ta vậy.

(Phan Văn Song)


***


Phụ đính II


Chữ nghĩa làng văn

Ngọc Thứ Lang

Theo nhà văn Hoàng Hải Thủy thì ông đã gặp Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, công tử Bắc Kỳ vào năm 1951 tại Sài Gòn. Đó là năm mà cả hai ông đều mới ở tuổi đôi mươi. Thế nhưng ở vào tuổi đó anh Tú đã là người chơi trội hơn Hoàng Hải Thủy nhiều: Đánh roulette ở sòng bạc Kim Chung và hút thuốc phiện. Năm 1955, mới chừng 25 tuổi, Nguyễn Ngọc Tú đã kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển Tại sao tôi di cư  cho Bộ Thông Tin chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời bộ trưởng Phạm Xuân Thái. Năm đó Nguyễn Ngọc Tú đã có trong tay cả trăm ngàn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ. 

Anh ăn diện như một tay chơi thứ thiệt: áo sơ mi hàng nhập từ Paris chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, máy chữ, hút thuốc lá Phillip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát... 


Hữu Loan, Bùi Giáng lần gặp mặt – 1

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào vào thăm Sài Gòn khá muộn màng, có thể do điều kiện quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Quán cà phê vườn khá rộng. Khi Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng và mấy anh em văn nghệ.
Bùi Giáng ngạo nghễ. Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng. Sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Bắt tay nhau, tôi chạm phải một bàn tay thô tháp. Những ngón to, cứng. Gân nổi trên lưng bàn tay. Sau này biết, đôi bàn tay ấy từng đẽo đá, từng đẩy xe cút kít, xe thồ, ròng rã mấy mươi năm, để sống qua ngày, nuôi vợ con trong tình thế một nhà thơ bị vây khổn, bị khủng bố, cái giá treo cổ là không vô hình. Tất cả là bóng tối, thất nghiệp cả nhà, đói khát, cơ cực. Là cả hoạn nạn thời thế, cách ly, nghiệt ngã.
(Cung Tích Biền)


Hữu Loan, Bùi Giáng lần gặp mặt – 2


Bui Giang 12

Ông được đón tiếp nồng hậu. Bùi Giáng khinh bạt nhưng yêu mến những tài năng, từng rất mê đắm Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà. Lúc này, Bùi Giáng nhìn Hữu Loan một cái nhìn trôi nổi, một ánh mắt có thể gọi là thơ dại, trong ngần như ánh trăng. Thường khi ngồi uống rượu hay cà phê cùng anh em, Bùi Giáng chỉ ngồi một lúc rồi đứng dậy đi nghêu ngao, Ra đường chặn xe cộ, đùa chơi. Có khi biến mất luôn chẳng chào ai. Hôm nay, Sáu Giáng ngồi rất lâu. Bùi Trung Niên Thy Sỹ một thời trẻ chăn dê nơi núi đồi Quảng Nam, là rất đắm đuối với “Lá Hoa Cồn”, cùng “Đồi Sim Trái Chin”. 


Huu Loan - 21

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người của văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi. Gặp ông, ngoài những chia nhau nỗi oan giữa đời, còn là một điều khá thú vị, vì chúng tôi có một cái thói, rất “thoái trào” trong thời đại “cơm áo gạo tiền”, là lúc chung trà chén rượu cùng nhau, chỉ rặt bàn luận văn chương, triết học, âm nhạc nghệ thuật.
(Cung Tích Biền)

















Không có nhận xét nào: