Góc Đường Thi :
Năm mươi bài THẤT NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1) (tiếp theo) Phần A
THẤT NGÔN TỨ TUYỆT 七 言 四 絕 còn được gọi là "Thất ngôn Tuyệt cú 七 言 絕 句" và gọi cho gọn lại là THẤT TUYỆT 七 絕; là một thể tài, một loại hình thi ca đặc sắc của Trung Hoa, thuộc phạm trù của lối thơ cận thể; Có xuất xứ sâu xa từ đời Tây Tấn, Nhạc phủ của Nam Triều và Dân ca của Bắc Triều trong thời Nam Bắc Triều, diễn tiến và phát triển đến đời Đường thì hoàn chỉnh và toàn thịnh.
THẤT NGÔN TỨ TUYỆT mỗi bài gồm có bốn(4) câu. Mỗi câu gồm có bảy(7) chữ. Mỗi bài gồm có hai mươi tám chữ(28), có Niêm, Luật nghiêm cẩn, Đối thì không bắt buộc; Được gieo ít nhất là hai(2) Vần : Ở cuối câu 2 và câu 4; Thường thì được gieo ba(3) Vần ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4; Như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều du Thanh Minh và tảo mộ Đạm Tiên vậy. Thúy Kiều đã :
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.
Chỉ BỐN CÂU BA VẦN nên lời lẽ rất xúc tích, chắt lọc, tinh luyện để diễn hết ý muốn nói, thường hàm xúc gợi tình với ý tại ngôn ngoại... Dễ ngâm vịnh để biểu ý biểu tình, hay ca ngâm để diễn tình diễn ý... Từ đời Đường đến nay có rất nhiều giai tác với đủ cả các đề tài, như Hoài cổ, Vịnh sử, Tình Bạn, Tình yêu, Hoài bão, Du sơn, Ngoạn thủy... Bây giờ là mùa THU, ta sẽ bắt đầu với các bài "TUYỆT CÚ" có liên quan đến mùa thu nhé !
1. THU TỪ 秋 詞 của Lưu Vũ Tích 劉 禹 錫 :
LƯU VŨ TÍCH 劉 禹 錫(772-842)tự là Mộng Đắc 夢 得, người đất Lạc Dương, là thi nhân và là một triết gia đời Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Trinh nguyên thứ 9, lại trúng tuyển vào Bác Học Hoằng Từ Khoa. Năm Trinh nguyên thứ 11 lại được tuyển vào Sĩ Khoa Lại Bộ, quan phong đến chức Thái Tử Hiệu Thư. Năm Vĩnh Trinh nguyên niên (805) Bị vua Đường Thuận Tông biếm khỏi Trường An đày làm Lang Châu Tư Mã. Tuy quan trường thất ý, chìm nổi trong nghịch cảnh ở dân gian, Lưu vẫn giữ cho mình một tâm lý lạc quan và làm những bài thơ tràn đầy thi ý của một thi nhân. Sau đây là bài Thất ngôn Tuyệt cú THU TỪ của ông làm trong khoảng thời gian đi đày nầy :
秋 詞 THU TỪ
自 古 逢 秋 悲 寂 寥, Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
我 言 秋 日 勝 春 朝。 Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
晴 空 一 鶴 排 雲 上, Tình không nhất hạc bài vân thượng,
便 引 詩 情 到 碧 霄。 Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu !
* Chú thích :
- THU TỪ 秋 詞 : là "Bài TỪ về mùa THU". TỪ 詞 là tên của một thể loại THƠ, nhưng có thể có câu dài ngắn khác nhau, có thể gieo cả Vần Bằng và Vần Trắc; dễ ngâm vịnh và dễ phổ nhạc, thường thấy trong Nhạc Phủ với các thể loại khác như : Dẫn 引, Khúc 曲, Hành 行...
- 寂 寥 Tịch Liêu : TỊCH MỊCH 寂 寞 Vắng vẻ và LIÊU LẠC 寥 落 Lưa thưa. BI TỊCH LIÊU 悲 寂 寥 : Buồn vì cảnh thu vắng vẻ và cây lá lưa thưa.
- Xuân Triêu 春 朝 : là Sáng xuân; Ở đây chỉ chung "Những ngày mùa xuân".
- Tình Không 晴 空 : TÌNH 晴 là Nắng ráo; KHÔNG 空 là Bầu trời. TÌNH KHÔNG 晴 空 là Bầu trời nắng ráo, chỉ "Trời quang mây tạnh" chỉ "Bầu trời thu xanh ngắt".
- Nhất Hạc Bài Vân Thượng 一 鶴 排 雲 上 : là "Một con hạc rẻ mây bay vút lên".
- Thi Tình 詩 情 : là Tình thơ; Ta nói là "Hồn thơ", "Tâm hồn thơ thẩn".
- Bích Tiêu 碧 霄 : BÍCH 碧 là Xanh biếc; TIÊU 霄 là Bầu trời. BÍCH TIÊU 碧 霄 là "Bầu trời thu xanh biếc". TIÊU còn có ý chỉ CỬU TIÊU 九 霄 là Chín tầng trời.
* Nghĩa bài thơ :
Bài Từ Mùa Thu
Từ xưa hễ đến mùa thu là mọi người sẽ buồn vì cảnh hắt hiu lơ thơ vắng vẻ.
Riêng ta thì bảo rằng "Những ngày mùa Thu hơn hẵn những ngày mùa Xuân".
(Chỉ cần có) Một con hạc rẻ mây vút lên trên bầu trời xanh nắng ráo" Sẽ...
Khiến cho hồn thơ cũng sẽ bay bổng lên tận chín tầng mây xanh biếc !
Với thân phận của một kẻ đi đày, lại nhằm lúc vào thu lạnh lùng với heo may hiu hắt, mà hồn thơ lại lai láng như thế nầy, thì cũng quả thật là hiếm thấy !
*Diễn Nôm :
THU TỪ
Ngàn xưa THU đến gợi buồn tanh,
Ta bảo THU hơn xuân thắm xanh.
Cánh hạc vút trời mây bát ngát...
Hồn thơ cũng vút tận mây xanh !
Lục bát :
Ngàn xưa THU gợi niềm sầu,
Riêng ta THU vẫn hơn màu xuân sang.
Trời xanh cánh hạc ngút ngàn,
Hồn thơ cũng ngút tận ngàn mây xanh
2.THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五 夜 望 月 寄 杜 郎 中 của Vương Kiến 王 建:
VƯƠNG KIẾN (768—835)tự Trọng Sơ 仲 初, người đất Dĩnh Xuyên (tỉnh Hà Nam hiện nay). Xuất thân hàn vi, cả đời bất đắc chí, từng đầu quân một thời gian; Mãi đến 46 tuổi mới xuất sĩ làm Huyện Thừa, sau thăng lên chức Thiểm Châu Tư Mã, nên người đời thường gọi là Vương Tư Mã. Năm Đường Đại Hòa thứ 5 mới thăng lên chức Thứ Sử Quang Châu. Ông và Trương Tịch rất thân nhau và cùng nổi tiếng về thơ Nhạc Phủ. Được người đời xưng tụng là "Trương Vương Nhạc Phủ 張 王 樂 府". Thơ ông thường phản ảnh đời sống cơ cực của dân nghèo, lưu lại hậu thế với "Vương Tư Mã Tập 王 司 馬 集". Sau đây là một bài Tứ Tuyệt tả một đêm thu rất nên thơ và tràn đầy thi vị của ông :
十 五 夜 望 月 寄 杜 郎 中 THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG
中 庭 地 白 樹 棲 鴉, Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷 露 無 聲 濕 桂 花. Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今 夜 月 明 人 盡 望, Kim dạ nguyệt minh nhân tẫn vọng,
不 知 秋 思 落 誰 家? Bất tri thu tứ lạc thuỳ gia ?
* Chú thích :
- THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五 夜 望 月 寄 杜 郎 中 : Đêm rằm ngắm trăng gởi ông Lang Trung họ Đỗ. ĐỖ LANG TRUNG là Đỗ Nguyên Dĩnh 杜 元 颖, bạn của Vương Kiến, Lang Trung chỉ là chức quan mà thôi.
- Địa Bạch 地 白 : là Đất trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng soi.
- Vô Thanh 無 聲 : là "Không có tiếng động"; Trong câu có nghĩa là "Âm thầm, lặng lẽ".
- Tận Vọng 盡 望 : có nghĩa là "Đều ngắm. đều thấy".
- Thu Tứ 秋 思 : là Tứ Thu, là Ý thu, là Cảm nhận về mùa thu.
- Lạc 落 : là Rơi, là Rụng, là Rớt vào...
* Nghĩa bài thơ :
ĐÊM RẰM NGẮM TRĂNG GỞI ÔNG LANG TRUNG HỌ ĐỖ
Đất trong sân nhà trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng rằm soi rọi, có những con qụa đậu trên cây trong sân nhà.
Sương lạnh âm thầm tạo nên những hạt móc làm ướt những cành hoa quế.
Đêm nay trăng sáng chắc mọi người mọi nhà đều trông thấy và ngắm nhìn.
Không biết là "ý thu" đêm nay sẽ rơi vào nhà của ai đây ?!
THU TỨ là tình thu, là ý thu, là tâm tình của những người đồng điệu cùng nghĩ và cùng nhớ đến nhau trong đêm thu trăng sáng. Chữ LẠC đã rất mơ hồ và nên thơ : Có được bao nhiều người cùng cảm nhận được cái đẹp, của đêm thu như tôi và bạn trong đêm nay ? Thật vô cùng nên thơ và ý vị !
* Diễn Nôm :
THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG
Trong sân sáng trắng qụa nương cây,
Lặng lẽ sương sa hoa quế lay.
Trăng sáng đêm nay ai chẳng ngắm,
"Ý thu" ai biết... lạc nhà ai ?!
Lục bát :
Sân sáng trắng, quạ nương cây,
Quế hoa thấm ướt sương đầy trời cao.
Đêm nay cùng ngắm trăng sao,
Ý thu... ai biết lạc vào nhà ai ?!
3. THU OÁN 秋 怨 của La Nghiệp 羅 鄴 :
LA NGHIỆP 羅 鄴 (825-900?) người đất Dư Hàng (thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ông là thi nhân ở cuối đời Đường, có tiếng là THI HỔ 詩 虎 (Con Cọp trong thơ), xuất thân trong một gia đình Viêm Thiết Lại 鹽 鐵 吏 (quan trông coi về muối), cùng với La Ẩn, La Cầu 羅 隱、羅 虬 trong họ tộc, được người đời xưng tụng là "Giang Đông Tam La 江 東 三 羅". Ông lúc trẻ số phần lận đận, thi mãi mà không đậu được Tiến sĩ. Những năm từ Hàm thông đến Càn phù ông nổi tiếng về thơ thất ngôn luật thi và tứ tuyệt. Cuối đời sống lưu lạc ngoài vùng biên tái, làm Mạc phủ lại cho Thiền Vu Đô hộ Phủ, được nhà thơ Vi Trang là Lại Bộ Thị Lang lúc bấy giờ tấu trình lên nhà vua và được vua ban hàm Tiến Sĩ Cập Đệ. Còn để lại một "La Nghiệp Thi Tập 羅 鄴 詩 集" nổi tiếng với các câu như :
年 年 点 檢 人 間 事, Niên niên điểm kiểm nhân gian sự,
唯 有 春 風 不 世 情。 Duy hữu xuân phong bất thế tình.
Có nghĩa :
Năm năm kiểm điểm chuyện đời,
Chỉ gió xuân chẳng khiến người bâng khuâng !
Thật cảm khái ! Mỗi năm kiểm điểm lại chuyện của người đời, thì chỉ có gió xuân là vô tư nhất, thoải mái nhất, mang ấm áp dễ chịu đến với tất cả mọi người không phân biệt sang hèn qúy tiện gì cả ! Nhân còn trong mùa thu, mời đọc thêm một bài thất ngôn tứ tuyệt THU OÁN 秋 怨 cũng rất nổi tiếng của ông sau đây:
秋 怨 THU OÁN
夢 斷 南 窗 啼 曉 烏 , Mộng đọan nam song đề hiểu ô,
新 霜 昨 夜 下 庭 梧。 Tân sương tạc dạ há đình ngô.
不 知 簾 外 如 珪 月, Bất tri liêm ngoại như khuê nguyệt,
還 照 邊 城 到 曉 無。 Hoàn chiếu biên thành đáo hiểu vô ?!
* Chú thích :
- ĐOẠN 斷 : là Đứt, Dứt, Gãy; nên Mộng Đoạn 夢 斷 là Mơ nửa chừng bị dứt ngang, là Giật mình tỉnh mộng.
- HIỂU 曉 : là Buổi sáng sớm; Hiểu Phong 曉 風 là Gió sớm; Hiểu Ô 曉 烏 là Tiếng quạ kêu buổi sáng khi sương xuống.
- ĐÌNH NGÔ 庭 梧 : là Cây ngô đồng trồng trong sân nhà.
- KHUÊ 珪 : là một loại ngọc, đá qúy; Ta thường gọi là Cẩm Thạch, có màu xanh có màu trắng. Khuê Nguyệt 珪 月 chỉ Vầng trăng sáng như ngọc Khuê màu trắng.
- ĐÁO HIỂU 到 曉 là Tới Sáng. HOÀN...ĐÁO HIỂU VÔ 還...到 曉 無? Là câu Nghi vấn có nghĩa : "Còn... tới sáng không ?"
* Nghĩa bài thơ :
Nỗi Oán Hờn Trong Mùa Thu
Giật mình tỉnh mộng vì nghe tiếng quạ ban sáng đang kêu oang oác bên song cửa sổ phía nam; Nhìn ra thấy sương thu mới của đêm qua còn phủ đầy trên cây ngô đồng trong sân nhà. Không biết rằng ở ngoài bức rèm châu cái vầng trăng tròn vành vạnh như miếng ngọc Khuê kia, cũng soi rọi thâu đêm suốt sáng ở tận mãi xứ biên thành xa xôi đó hay chăng ?!
Trong cảnh nệm ấm chăn êm, chỉ giật mình tỉnh mộng khi nghe tiếng qụa kêu, rồi thấy sương thu mới đang rơi đây trên cây ngô đồng mà xúc cảnh sinh tình rồi ưu tư lo lắng cho người ở tận biên thành xa xôi, không biết cái vầng trăng tròn tỏa ánh sáng ấm áp kia cũng đem cái ánh sáng ấm áp đó mà soi rọi suốt đêm cho người lính thú đang trực canh gác giặc ở tiền đồn hiu hắt đó hay không ?! Khéo là lo lắng ngẩn ngơ, vầng trăng cũng như là gió xuân vậy đến với tất cả mọi người chớ chẳng vị riêng ai cả ! Nhưng đây cũng là tấm lòng của người cô phụ vọng phu, luôn luôn khắc khoải nhớ mong đến kẻ chinh phu ở ngoài biên ải xa xăm vạn dặm.
* Diễn Nôm :
THU OÁN
Tỉnh mộng quạ kêu ngóng cửa song,
Đêm qua sương mới ướt ngô đồng.
Ngoài rèm trăng tỏ như khuê ngọc,
Có chiếu biên thành suốt sáng không ?!
Lục bát :
Qua kêu chợt tỉnh giấc nồng,
Ngoài sân sương phủ ngô đồng đêm qua.
bên rèm lặng ngắm bóng nga,
Suốt đêm có chiếu người xa biên thành ?!
KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !
(Mời xem tiếp Phần B)












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét