Thiên tình sử của Hồ Xuân Hương & Nguyễn Du (Tiếp theo):
Bài số 6:
Giang Nam Phụ Níp Kiêm Lưu Biệt Hữu Nhân
Hồ Xuân Hương
Bài Giang Nam Phụ Níp Kiêm Lưu Biệt Hữu Nhân, (Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam), Hồ Xuân Hương viết năm 1793 để tiễn Nguyễn Du về Hồng Lĩnh. Cuộc tiễn đưa nơi trường đình phía Nam sông Hồng, khúc sông đó là sông Vị Hoàng, Nam Định ngày nay. Nguyễn Du, Nguyễn Ức mang một số tiền khá lớn, có lẽ là tiền thưởng của Nguyễn Nể sau khi đi sứ về. Mang tiền bạc đi xa, đi thuyền kín đáo, an toàn hơn đi đường bộ. Ngày xưa chưa có va-li, người Việt xưa dùng một tấm khăn vải lớn, bọc hết đồ đạc, hai chéo khăn được cột chặt để giữ hành lý, hai chéo khăn còn lại cột dài để mang trên vai. Khăn gói bây giờ chia tay nhau vạn dặm, vạn dặm đây chỉ là một cách nó xa cách muôn trùng. (Từ Vị Hoàng về đến Hồng Lĩnh, cách nhau chỉ vài trăm dặm).
Nhất Uyên dịch nghĩa:
Nơi trường đình rót chén rượu đặt trên khay mời cạn chén ly bôi.
Cánh buồm sẽ căng lên đôi cánh vì chở sầu làm thuyền nghiêng nặng.
Chàng đi vì trọng trách gia đình, tổ tiên; sầu dâng muốn lấp lòng sông cho nước triều không chảy nữa, cố nén lòng như nước sông sâu, để nước mắt chẳng trào.
Nhìn lại cây cỏ cũ, mùi hương chửa mất.
Xa quê, vời trông núi non Hồng Lĩnh cao ngất, xa mờ.
Xa nhau rồi mong sẽ có ngày chúng ta gặp lại nhau.
Nếu lỗi lời thề non hẹn biển, thì thà chết đi trên ngọn sóng đào.
*
Lưu Biệt Bạn Khăn Gói Sang Sông Nam
Khăn gói bây giờ vạn dặm nao,
Trường đình rượu tiễn chén mời trao.
Buồm căng đôi cánh sầu nghiêng nặng,
Sầu nén sông sâu nước chẳng trào.
Cỏ cũ lặng nhìn hương chửa mất.
Xa quê quay ngóng núi quê cao.
Xa nhau còn có ngày gặp lại,
Thề biển thà cho ngọn sóng đào.
Nhất Uyên dịch
Giang Nam Phụ Níp Kiêm Lưu Biệt Hữu Nhân
Phụ níp tòng kim vạn lý dao,
Trường đình tửu tiễn thượng thù giao.
Muộn đôi phàm sí thuyền thiên trọng,
Sầu áp giang tâm thuỷ bất trào.
Cựu thảo ngưng mâu hương vị tán,
Tha hương hồi thủ vọng cô cao.
Tuy nhiên thượng hữu tương phùng nhật,
Thệ hải ninh dung nhất lãng đào.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,
Nhất Uyên dịch thơ và phiên âm.
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
3, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tinh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh.
*
Bản Hán-Nôm, Ngân Triều soạn:
江南負笈兼留別故人
負 笈 從 今 萬 里 遙
長 亭 酒 餞 尚 酬 醪
悶 堆 帆 翅 船 偏 重
愁 壓 江 心 水 不 潮
舊 草 凝 眸 香 未 散
他 鄉 回 首 夢 孤 高
雖 然 尚 有 相 逢 日
誓 海 寧 容 一 浪 濤
*
Khăn gói sang sông Nam, nhân gửi bạn
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Khăn gói khởi hành vạn dặm nao,
Trường Đình rượu tiễn chén mời trao.
Buồn dâng buồm vút thuyền nghiêng nặng,
Sầu nén sông sâu nước chẳng dào.
Cỏ cũ nhìn lâu hương chửa tán,
Làng ai quay lại núi quê cao.
Rồi ra còn có phen cùng gặp,
Thề biển thà cho đợt sóng đào.
*
Chú thích:
Giang Nam: 江 南, Dữu Tín người đời Nam Bắc Triều, làm quan xa nhà lâu ngày không về, có làm bài Ai Giang Nam Phú tỏ lòng nhớ thương quê hương, từ đó chữ Giang Nam còn có nghĩa là lòng nhớ thương quê hương…
Dẫu rằng có hẹn ngày tương ngộ,
Bội bạc vùi thây lớp sóng dồi. Ngân Triều
*
Ảnh Con tàu được đặt tên là Sông Saigon, sau được đổi tên lại thành La boudeuse, được đóng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Con tàu này đã có một khoảng thời gian dài tung hoành bên Châu Âu trước khi bị chìm ở Địa Trung Hải,/La Boudeuse: Nàng quạo quọ, khó tính/ ảnh Google,
*
Ngân Triều cảm đề:
Khăn gói xa nhau vạn dặm rồi!
Trường đình rượu tiễn rót đưa mời.
Buồm xuôi tê tái buồm chao đảo,
Nước ép sông sầu nước chẳng trôi.
Trong mắt cỏ xưa hương vẫn đọng,
Lòng quê vời ngóng núi xa khơi.
Dẫu rằng ước hẹn ngày tương ngộ,
Bội bạc vùi thây lớp sóng dồi.
***
Ảnh minh họa có hỗ trợ của AI:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét