Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

Tạp Ghi và Phiếm Luận : Quẻ Xăm thứ 105 (Đỗ Chiêu Đức)

 Tạp Ghi và Phiếm Luận : 

                          Quẻ Xăm thứ 105

                                         
       Đây là Quẻ Xăm thứ 105 của Địa Tạng Chiêm Sát Nghiệp Báo Pháp Xăm
-----地 藏 占 察 業 報 法 籤 文  第 105 籤-----

二 八 佳 人 刺 繡 遲,   Nhị bát giai nhân thích tú trì,
紫 荊 花 下 囀 黃 鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.
可 憐 無 限 傷 春 意,   Khả lân vô hạn thương xuân ý,
盡 在 停 針 不 語 時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !

            
                      


             此 籤 典 故 出 自 於---
       中 天 竺 中 仁 禪 師 的 開 示 法 語
       Quẻ xăm nầy là điển cố, có xuất xứ từ ... Pháp ngữ khai thị của Trung Thiên Trúc Trung Nhân Thiền Sư.
       臨 安 府 中 天 竺 中 仁 禪 師,
       圓 悟 克 勤 禪 師 之 法 嗣, 洛 陽 人。
       中 仁 禪 師 少 年 時 投 東 京 奉 先 院 出 家,
      北 宋 徽 宗 宣 和 初 年 (1119) 落 發 得 度,
      受 具 足 戒 後,
     一 度 往 來 於 三 藏 譯 經 場 所,
     專 攻 經 論。
     但 是, 他 對 於 禪 宗 之 事,
    卻 未 曾 信 人。
    當 時, 圓 悟 克 勤 禪 師 居 於 天 寧 寺 接 眾。

        Lâm An Phủ Trung Thiên Trúc Trung Nhân Thiền Sư, là người pháp tự của Viên Ngộ Khắc Cần Thiền Sư, người đất Lạc Dương. Khi còn trẻ người xuất gia tại Phuụg Tiên Viện ở Đông Kinh ( Khai Phong Phủ ), được độ cho thế phát vào năm đầu Tuyên Hòa Tống Huy Tông đời Bắc Tống ( 1119). Sau khi đã thụ giới  đầy đủ, một dạo thường tới lui nơi dịch kinh Tam Tạng, chuyên về kinh luận. Thế nhưng, đối với Thiền tông, lại chưa từng tin vào ai cả. Lúc bấy giờ, Viên Ngộ Khăc Cần Thiền Sư đang ở Thiên Ninh Tự để tiếp xúc với chúng tăng.

        一 天 凌 晨,中 仁 禪 師 入 天 寧 寺 禮 謁 圓 悟 禪 師,正 好 趕 上 圓 悟 禪 師 為 眾 入 室 請 益。中 仁 禪 師 一 見 圓 悟 禪 師 的 威 德,便 生 敬 服 之 心,便 大 膽 地 走 到 圓 悟 禪 師 的 跟 前 禮 問。圓 悟 禪 師 道:「 依 經 解 義,三 世 佛 冤。離 經 一 字,即 同 魔 說。速 道!!! 速 道!!!.  中 仁 禪 師 正 要 開 口 論 對,圓 悟 禪 師 照 著 他 的 嘴 一 拳 打 過 來,頓 時 一 顆 牙 齒 被 打 掉 了,落 在 地 上。中 仁 禪 師 當 即 豁 然 大 悟。

        Một buổi sáng sớm, Trung Nhân thiền sư vào Thiên Ninh Tự để ra mắt Viên Ngộ thiền sư, cũng vừa đúng lúc Viên Ngô thiền sư đang mở cửa cho mọi người vào thỉnh ý. Trung Nhân thiền sư vừa trông thấy vẻ uy nghiêm của Viên Ngộ thiền sư bèn sinh lòng kính trọng, mới bạo gan bước đến để chào hỏi. Viên Ngộ thiền sư bèn nói rằng: "Y kinh giải nghĩa, tam thế phật oan. Ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết. Tốc đạo!!! Tốc đạo!!!". Trung Nhân thiền sư vừa mới muốn mở miệng luận đối, Viên Ngộ thiền sư bèn một quyền đánh tới trúng ngay miệng rớt ngay một cái răng xuống đất. Trung Nhân thiền sư bỗng nhiên giác ngộ.

        中 仁 禪 師 悟 道 後,繼 續 留 在 天 寧,向 圓 悟 禪 師 請 益,從 此 師 資 道 合,請 問 無 間。後 開 法 於 大 覺 寺,不 久 遷 住 中 天 竺,末 後 又 移 住 靈 峰。
        Sau khi ngộ đạo, Trung Nhân thiền sư vẫn tiếp tục ở lại chùa Thiên Ninh, học hỏi thêm ở Viên Ngộ thiền sư. Từ đó về sau, hai người chí đồng đạo hợp, không ngừng trao đổi. Sau khai pháp ở Đại Giác Tự, ít lâu sau vời về Trung Thiên Trúc, cuối cùng lại dời về Linh Phong Tự.

        南 宋 孝 宗 淳 熙 甲 午 年 (1174) 四 月 初 八 釋 迦 牟 尼 佛 聖 誕 日,中 仁 禪 師 奉 詔 入 禁 中 升 座 說 法。孝 宗 皇 帝 舉「 不 與 萬 法 為 侶」(註 一) 之 公 案,請 中 仁 禪 師 拈 提 (對 古 人 現 成 公 案,進 行 評 點 發 揮,以 啟 發 學 人)。中 仁 禪 師 拈 提 罷,作 偈 頌 云:
        Năm Giáp Ngọ Thuần Hi đời vua Hiếu Tông thời Nam Tống ( 1174 ), nhân ngày Phật Đản mùng 8 tháng tư, Trung Nhân thiền sư phụng chiếu vào cung cấm, đăng đàn thuyết pháp. Hiếu Tông Hoàng Đế đưa ra Công Án "Bất dữ vạn pháp vi lữ ": là "Không cùng làm bạn song hành với vạn pháp.(1)  Mời Trung Nhân thiền sư thuyết giảng triển khai (Từ những Công Án có sẵn của cổ nhân, tiến hành phê phán điểm hóa phát huy, để gợi mở cho người học đạo). Sau khi thuyết giảng xong, Tung Nhân thiền sư bèn đọc bài kệ như sau:

          秤 鎚 握 出 油,     Xứng chùy ốc xuất du,
             閒 言 長 語 休。     Nhàn ngôn trường ngữ hưu.
       腰 纏 十 萬 貫,     Yêu triền thập vạn quán,
             騎 鶴 上 揚 州。     Kỵ hạc thướng Dương Châu!
Có nghĩa :
               Qủa cân bằng sắt bóp ra dầu,
               Nói dong nói dài chẳng nói đâu.
               Mười vạn quan tiền lưng lận sẵn,
               Một lèo cởi hạc tới Dương Châu !

                               

  
       中 仁 禪 師 接 眾 時,比 較 灑 脫 自 由,常 以 閨 閣 中 事,以 逗 學 人 之 機。
       Khi Trung Nhân thiền sư tiếp xúc với mọi người, thường với phong cách tự do thoải mái, lại hay lấy chuyện trong khuê các để làm cái cơ duyên gợi mở cho người học đạo. Xem bài kệ sau:
 
九 十 春 光 已 過 半,   Cửu thập xuân quang dĩ qúa bán,
養 花 天 氣 正 融 和。   Dưỡng hoa thiên khí chính dung hòa.
海 棠 枝 上 鶯 聲 好,   Hải đường chi thượng oanh thanh                                                hảo,
道 與 時 流 見 得 麼?       Đạo dữ thời lưu kiến đắc ma?!
Có nghĩa :
        Chín mươi ngày nắng xuân đã qua qúa nửa rồi.
        Đúng lúc dung hòa giữa khí trời và việc trồng hoa.
        Trên cành hải đường tiếng oanh đang hót rất vui tai.
        Đạo và trào lưu thời đại có thấy được sao?
Diễn Nôm :
                    Chín chục thiều quang qúa nửa rồi,
                    Trồng hoa dung hợp với khí trời.
                    Hải đường oanh hót sao vui vẻ,
                    Đạo với trào lưu khó tách rời !

       然 雖 如 是,且 透 聲 透 色 一 句 作 麼 生 道?
       Tuy rằng như thế, lại chỉ một câu cho thấu thanh thấu sắc mà sanh ra cái đạo được sao?
       金 勒 馬 嘶 芳 草 地,    Kim lặc mã tê phương thảo địa,
       玉 樓 人 醉 杏 花 天。    Ngọc lâu nhân túy hạnh hoa                                                         thiên.
Có nghĩa :
         Dây cương vàng, tiếng ngựa hí trên đồng cỏ xanh tươi.
         Trong lầu ngọc, người say trong mùa hoa hạnh nở.
                     


        又 一 次 上 堂,舉 狗 子 無 佛 性 話 (註 二),乃 曰:
        Lại một lần trên giảng đường, đang nói về "Cẩu tử vô phật tính" (2), sư bèn đọc nài kệ:

  二 八 佳 人 刺 繡 遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,
  紫 荊 花 下 囀 黃 鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.
  可 憐 無 限 傷 春 意,   Kha lân vô hạn thương xuân ý,
  盡 在 停 針 不 語 時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !

Nghĩa Bài Kệ :
         Giai nhân tuổi vừa đôi tám ngồi thêu một cách lơ đểnh.
         Dưới hoa tử kinh chim hoàng oanh đang hót líu lo.
         Thương thay cái ý thương xót cho mùa xuân vô hạn của nàng, đều ở trong một lúc ngừng kim thêu mà không nói một lời nào!
Chú Thích :
       THÍCH 刺 là Đâm. TÚ 繡 là Thêu. THÍCH TÚ 刺 繡: là từ kép chỉ THÊU THÙA.
       Câu đầu của bài kệ này hay bị hiểu nhầm chữ TRÌ 遲. TRÌ là TRÌ TRỆ 遲 滯, TRÌ HOÃN 遲 緩, có nghĩa là: Lôi Thôi, Lơ Đểnh. Chớ TRÌ ở đây không phải là CHẬM. Câu nầy thường được dịch là: "Người đẹp đôi tám ngồi thêu một cách chậm raĩ". Dịch như thế không sát NGHĨA chữ mà cũng không ăn với Ý của bài Kệ nữa! Tại sao?! Vì Nàng ngồi dưới khóm hoa Tử Kinh nghe chim Oanh hót là để thương cảm cho mùa Xuân chớ không phải thật tình muốn ngồi để thêu thùa gì cả. Thêu chỉ là cái cớ, cái làm đẹp bên ngoài cho có vẻ, để che giấu đi nỗi lòng thương cảm của nàng đối với mùa Xuân sắp qua đi mà thôi! Xem 2 câu tiếp thì sẽ rõ!

 
                                       

  
 Diễn Nôm :
                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,
                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.
                Thương thay xuân sắc dạt dào,
                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình!

         修 行 最 關 鍵 的,就 是 要 能 夠 透 聲 透 色,不 為 聲 色 所 迷。避 開 聲 色,潛 入 山 林,作 為 修 行 的 一 個 階 段,固 然 不 可 缺 少,但 是,最 終 還 是 要 回 到 聲 色 中 來 淬 火,以 顯 示 其 金 剛 之 性。「 金 勒 馬 嘶 芳 草 地,玉 樓 人 醉 杏 花 天」,於 此 極 盡 歡 樂 之 地,能 否 透 得 過??? 若 透 不 過,說 一 千 道 一 萬,也 只 是 知 見。
         Cái then chốt nhất của việc tu hành là có thể thấu Thanh thấu Sắc, không bị mê hoặc bởi THANH SẮC. Tránh xa Thanh Sắc, ẩn thân vào rừng núi để tu luyện, giai đoạn đó cố nhiên không thể thiếu. Nhưng sau cùng, cũng phải trở về với Thanh Sắc để chiụ thử thách, và để tỏ rõ cái tính Kim Cang bất chuyển vững chắc của mình. Giữa cảnh cực kỳ hoan lạc như: "Kim lặc mã tê phương thảo địa, Ngọc lâu nhân túy hạnh hoa thiên" mà có thể dửng dưng được, nếu bị lay chuyển, thì có thuyết giảng một ngàn một vạn lần cũng chỉ là hiểu biết suông mà thôi!

註 一: 
 不 與 萬 法 為 侶 者 的 公 案 如 是-----
龐 居 士 於 唐 貞 元 年 初,謁 石 頭 和 尚,
乃 問 不 與 萬 法 為 侶 者 是 什 麼 人?
石 頭 和 尚 以 手 掩 其 口,而 豁 然 有 省。
後 參 馬 祖,問 曰:
「不 與 萬 法 為 侶 者,是 甚 麼 人?」
祖 回 答:「待 汝 一 口 吸 盡 西 江 水,即 向 汝 道。」
遂 於 言 下,頓 悟 玄 旨。
CHÚ THÍCH 1.
        Công án "Bất dữ vạn pháp vi lữ" là...
        Đầu năm Trinh Nguyên đời Đường, Bàng Cư Sĩ yết kiến Thạch Đầu Hoà Thượng, có hỏỉ: Người mà "Bất dữ vạn pháp vi lữ" là người như thế nào? Thạch Đầu Hòa Thượng lấy tay che miệng lại, mà bỗng nhiên có chút giác ngộ.
         Sau tham kiến Mã Tổ, lại hỏi rằng: Người mà "Bất dữ vạn pháp vi lữ" là người như thế nào? Tổ trả lời rằng:
       - Khi nào ngươi có thể một hơi uống hết nước của sông Tây Giang, thì ta sẽ nói cho ngươi biết!
         Sau lời nói đó, bỗng nhiên đốn ngộ huyền vi.
                  
 註 二: 
 狗 子 佛 性 的 公 案 如 是-----
  禪 宗 公 案 名。又 作 趙 州 狗 子、趙 州 佛 性、趙 州 有 無、趙 州 無 字。
「狗 子 有 無 佛 性?」自 古 為 禪 宗 破 除 執 著 於 有、無 之 公 案。
僧 問 趙 州 從 諗 禪 師:『狗 子 還 有 佛 性 也 無?』
趙 州 從 諗 禪 師 云:『有。』
僧 云:『既 有,為 甚 麼 卻 撞 入 這 箇 皮 袋?』
趙 州 從 諗 禪 師 云:『為 他 知 而 故 犯。』
又 有 僧 問:『狗 子 還 有 佛 性 也 無?』
趙 州 從 諗 禪 師 曰:『無。』
僧 云:『一 切 眾 生 皆 有 佛 性,狗 子 為 什 麼 卻 無?』
趙 州 從 諗 禪 師 云:『為 伊 有 業 識 在。』

CHÚ THÍCH 2 :
               Công án : Phật tính của chó.
Còn gọi là: Chó Triệu Châu, Triệu Châu Phật Tính, Triệu Châu hữu vô, Triệu Châu Vô tự.
      "Chó có Phật tính hay không?" là Công Án của Thiền Tông từ xưa đến nay còn đang tháo gở giữa CÓ và KHÔNG.
        Có tăng nhân hỏi Triệu Châu Tòng Niệm Thiền Sư rằng: "Chó còn có Phật tính không?" Sư đáp:  "Có". Tăng nói rằng: "Đã có Phật tính, sao còn chui vào cái lớp vỏ bọc nầy?" Sư đáp: "Vì nó biết mà vẫn cứ phạm". 
         Lại có một tăng nhân hỏi: "Chó còn có Phật tính không?". Sư đáp: "Không". Tăng nói: "Nhất thiết chúng sinh đều có Phật tính, tại sao chó lại không có Phật tính?" Triệu Châu Tòng Niệm Thiền Sư đáp: "Vì nó đang mang cái nghiệp trên mình!"

       "Sắc tức thị không, Không tức thị sắc!" Theo bạn, Chó có "Phật tính" hay không !

                                                                  杜 紹 德
                                                              Đỗ Chiêu Đức











Không có nhận xét nào: