BIỆN ĐẠO
(BÀI 8)
NHÂN NGHĨA
KHÔNG THỂ BAO TRÙM HẾT ĐẠO KHỔNG
Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
***
BÀI 8
Chủ trương nhân nghĩa có thể tổng quát hết
cả đạo Khổng là do hiểu sai của hậu Nho
Nhiều người cho rằng con người có nhân nghĩa giống như trời có âm dương (1). Để rồi họ cho rằng nhân nghĩa là bao trùm hết cả đạo. Đó là nội dung giảng giải đạo tiên vương tức đạo Khổng của các Nho gia đời sau. Vào thời đại của các tiên vương và thời đại của Khổng tử nhất quyết không có việc đòi hỏi việc dùng 1 lời mà nói hết được tất cả nội dung của đạo (tiên vương). Xét cho cùng thì việc muốn dùng 1 lời nói mà có thể diễn tả hết được nội dung của đạo là muốn được người đời chú ý và phân biệt đạo tiên vương khác với các học thuyết khác. Vào thời đại của các tiên vương và thời đại của Khổng tử không thể nào có việc như vậy.
Mạnh
tử là người đầu tiên nói nhân nghĩa
đi đôi để đả phá học thuyết của Dương Chu và của Mặc Địch
Ở cổ đại (thời xưa) người ta chỉ nói lễ nghĩa đi chung để đối chiếu với nhau (đối ngôn ) (2). Nhân là đức lớn của bậc thánh nhân. Chắc chắn không có việc lễ nghĩa đi ngang hàng với nhân. Bởi vì nội dung giáo dục của Khổng môn đặt nhân trên hết. Cho đến thời Mạnh tử, Mạnh tử mới nói nhân, nghĩa đi đôi với nhau để làm rõ chỗ sai của 2 học thuyết của họ Dương và họ Mặc. Việc nói nhân nghĩa đi đôi để làm rõ chỗ sai trong học thuyết của Dương và Mặc thì được nhưng lấy cách nói này để giảng dạy đạo tiên vương thì không nên làm. Tương tự như trường hợp của cách nói nhân, nghĩa, lễ, trí đi chung với nhau đã không có ở thời đại của Khổng tử. Mạnh tử là người đầu tiên dùng cách nói này (3). Mục đích của Mạnh tử dùng cách nói này chỉ là để làm rõ việc trong 2 học thuyết của họ Dương và của họ Mặc đều không có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí trong khi đạo Khổng thì có đủ cả 4 thứ này. Trong thực tế, lễ nghĩa là 1 khía cạnh trọng đại của con người (đại đoan) (4), nhưng nhân thì to lớn hơn. Đối với trí, con người thì vui thích tự cao khi có được tài trí, đó là tình cảm tự nhiên của con người. Do đó, thánh nhân chưa bao giờ dạy trí. Trường hợp nói trí giả hoặc nhân giả là tên gọi khi đã có được đức (thành đức) (5), bởi vì kết quả thành tựu tùy theo bản tính bẩm sinh trời cho của mỗi người. Chưa hề nghe nói người nào có được cả nhân, nghĩa, lễ, trí.
Tuân Tử phê phán việc Tử Tư và Mạnh Tử đặt ra thuyết ngũ hành
Nho gia đời Hán (6) lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín ghép với ngũ hành, lấy trí tương ứng với thổ, tín tương ứng với thủy hoặc lấy trí tương ứng với hỏa hoặc thủy, không có học thuyết nhất định. Điều này cho thấy chủ trương này không phải nội dung của đạo tiên vương. Sách Luận Ngữ thường dùng từ hảo nhân (yêu thích nhân), hảo nghĩa, hảo lễ, hảo đức, hảo thiện, hảo học, hảo cổ chứ chưa có lần nào dạy hảo trí hoặc hảo tín. Do đó việc xem trọng trí hoặc xem trọng tín không phải là chủ trương của Khổng môn lúc xưa. Tuân tử phê phán việc Tử Tư và Mạnh tử đặt ra thuyết ngũ hành không thể nói là lời nói xấu không có căn cứ.
Tóm tắt ý quan trọng
- Chủ trương nhân nghĩa có thể tổng quát hết cả đạo Khổng là do hiểu sai của hậu Nho.
- Mạnh Tử là người đầu tiên nói nhân
nghĩa đi đôi để đả phá học thuyết của Dương Chu và của Mặc Địch.
- Tuân Tử phê phán việc Tử Tư và Mạnh tử đặt ra thuyết ngũ hành.
Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 26/7/2026
Xem
lại và bổ sung ngày 17~18/8/2026
Nhận
xét tổng thể
(I) Theo người dịch
điểm độc đáo của Sorai là giúp cho chúng ta thấy được những nội dung giải thích
sai lầm về đạo Khổng của các học giả khác, ngay cả Mạnh tử, người được xem là á
thánh của đạo Khổng! Do đó chúng ta không nên quá vội tin vào các giải thích của
người khác mà nên cố gắng suy nghĩ và đối chiếu với kinh nghiệm của bản thân và
các sự kiện lịch sử và đọc nhiều tài liệu để có nhiều thông tin; việc này không
phải là việc dễ làm.
Nguyên nhân gây ra việc hiểu sai có nhiều nguyên nhân:
1) Ý nghĩa chữ Hán thời Khổng Tử khác nhiều với hiện nay,
2) Các sách cổ điển chứa cả những nội dung không phải của Khổng Tử mà do người đời sau thêm vào và mượn danh của ông,
3) Chữ Hán có nhiều nghĩa và có nhiều trường hợp ý nghĩa của cùng 1 chữ có 2 ý nghĩa trái ngược với nhau,
4) Hán văn rất cô động ngắn gọn làm khó
hiểu đúng ý muốn truyền đạt của tác giả.
(II) Đúng là trong việc học, sau khi tìm hiểu, xem xét sâu
và rộng nên tóm tắt tổng kết lại để dễ nhớ. Số lượng các điểm hoặc hạng mục hoặc
nội dung tổng kết lại càng ít càng dễ nhớ. Nhưng chớ nên có thói quen mà nghĩ rằng
điều tổng kết tóm tắt được bao trùm được hết nội dung đã xem xét, tìm hiểu được.
Nói cụ thể cho dễ hiểu, thí dụ nhân nghĩa là 2 điều căn bản và rất
quan trọng của đạo Khổng nhưng thể nói nhân và nghĩa bao trùm hết đạo Khổng.
Tương tự như vậy đối với từ trung thứ 忠恕của Tăng tử.
(III) Giải thích về nhân, nghĩa, lễ,
trí
Sorai thường nói: nhân và trí là đức,
lễ
và nghĩa là đạo. Kinh Thư và kinh Thi là kho chứa
nghĩa. Lễ là
chế độ an dân của các tiên vương. Học lễ, tức học đạo tiên vương để thành
tựu được đức.
Trong bài này Sorai cho rằng nhân= an dân là đức lớn nhất nên không nên đặt nghĩa
ngang hàng với nhân. Tuy nhiên trong Luận Ngữ Trưng khi giảng giải ý nghĩa
chương 1 thiên 2 Vi Chính sách Luận Ngữ Sorai dẫn chứng lời của Khổng tử nói trí
là biết người hiền (người có tài và đức) và cho rằng trí luôn đứng trên nhân
bởi vì nếu không biết người tài đức để dùng quản trị dân thì không thể an dân.
Giải thích này của Sorai cũng không vô lý. Có lẽ chúng ta không nên hiểu ý
nghĩa từ “cao nhất”, “to lớn nhất” là tuyệt đối mà chỉ có tính tương đối, “nhất”
của Sorai chỉ để nhấn mạnh ý quan trọng mà ông muốn truyền đạt mà thôi.
(IV) Như chúng ta biết trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử chỉ nói nhân, nghĩa, lễ, trí nghĩa là tứ đoan không có đề cập đến tín. Ngày nay, người ta cho rằng Khổng Dĩnh Đạt (TCN 176 ~ TCN 104, đời tiền Hán) là người thêm tín vào, dựa theo thuyết ngũ hành (theo Nhật Bản Đại Bách Khoa Toàn Thư, nhà xuất bản Shogakukan, 2004). Ngoài ra, trong thiên 6 Phi Thập Nhị Tử sách Tuân Tử, Tuân tử phê phán việc Tử Tư lập ra thuyết ngũ hành và Mạnh tử hòa đồng theo. Tuy nhiên, trong các tác phẩm hoặc ngôn lục của Tử Tư không xác nhận được việc này.
Ghi
chú
(1) Trong đoạn sau,
phần bắt đầu chương 1 thiên 1 Lương Huệ Vương thượng sách Mạnh Tử:
孟子見梁惠王,王曰:叟!不遠千里而來,亦將有 以利吾國乎?孟子對曰:王何必曰利?亦有仁義而已矣。
Mạnh Tử kiến Lương Huệ
Vương. Vương viết: “Tẩu, bất viễn thiên lý nhi lai, diệc tương hữu dĩ lợi ngô
quốc hồ?” Mạnh Tử đối viết: “Vương hà tất viết lợi? Diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ
hỹ.
Tạm
dịch
Mạnh tử gặp Huệ vương nước Lương. Vua nói: “ Tiên sinh đến từ ngàn dậm rất
xa xôi, chắc có lẽ tiên sinh chỉ dẫn cho nước ta điều lợi ích gì”. Mạnh tử trả lời: “Vua cần gì phải nói đến lợi
ích? Vua cũng như các thánh hiền ngày xưa, chỉ có thực hành điều nhân nghĩa. Chỉ
cần suy nghĩ điều nhân nghĩa”.
Trong
sách Mạnh Tử Tập Chú Đại Toàn chú giải như sau:
問人所以為性者五。獨舉仁義何也。曰。天地所以生物。不過隂陽五行。而五行實一隂陽也。人性雖有五。然曰。仁義。則大端已舉矣。
“Xin được phép hỏi. Tại sao đối với 5 đặc tính của con người (nhân, nghĩa, lễ, trí và tín) mà
chỉ nêu lên 2 đặc tính: nhân và nghĩa? Trả lời: trời đất
sinh ra không ngoài âm dương và ngũ hành, mà ngũ hành thật ra thể hiện cụ thể của
âm dương. Mặc dù đặc tính có 5 nhưng nêu ra nhân và nghĩa
là nêu ra 2 đầu mối to lớn của 5 đặc tính.”
Trong Điều thứ 5 mục Nhân Nghĩa Lễ Trí sách Ngữ Mạnh Cổ
Nghĩa của Itô Jinsai viết như sau:
仁義二者。実道徳之大端。万善之総脳。智礼二者。皆從此而出。猶天道之有陰陽。地道之有剛柔。
Nhân nghĩa nhị giả. Thật đạo
đức chi đại đoan. Vạn thiện chi tổng não. Trí lễ nhị giả. Giai tùng thư nhi xuất.
Do thiên đạo chi hữu âm dương. Địa đạo chi hữu cương nhu.
Tạm
dịch
Nhân và nghĩa thật sự là 2 đầu mối to lớn của
đạo đức, quan trọng lớn nhất của mọi điều thiện. Trí và lễ đều
có từ nhân và nghĩa. Cũng như đạo trời có âm và
dương, đạo đất có cương và nhu.
Trong Điều thứ 6 Jinsai viết:
仁与義。猶陰陽之相済。而不可相勝。
Nhân dự nghĩa. Do âm dương
chi tương tế. Nhi bất khả tương thắng.
Tạm
dịch
Nhân và nghĩ giống như âm và dương trợ giúp lẫn nhau mà không có cái nào thắng
cái nào.
Chúng ta có thể thấy cả 2 giải thích của Tống Nho và Jinsai đều trừu tượng không thực tế!
(2) Thí dụ trong chương
13 thiên 1 Học Nhi sách Luận Ngữ viết:
有子曰:信近於義,言可復也;恭近於禮,遠恥辱 也。因不失其親,亦可宗也。
Hữu Tử viết: “Tín cận ư nghĩa,
ngôn khả phục dã; cung cận ư lễ, viễn
sỉ nhục dã. Nhân bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã.”
Dịch (Nguyễn Hiến Lê)
Hữu tử nói: “Lời ước hẹn phải hợp nghĩa thì mới giữ được. Cung kính
phải hợp lễ thì mới tránh được nhục. Thân cận với người đáng cho mình
thân cận (tức người có đức nhân) thì người đó mình có thể tôn kính được (hoặc nương
nhờ người đáng cho mình thân cận – người có đức nhân – thì người đó có thể làm
chủ mình được).
Trong chương 17 thiên 15 Vệ Linh
Công sách Luận Ngữ viết:
子曰:君子義以為質,禮以行之,孫以出之,信以 成之,君子哉!
Tử viết: “Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi. Quân tử tai!”
Dịch (Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Người quân tử lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc, như vậy thật là người quân tử.”
(3) Trong chương 6
thiên 11 Cáo Tử thượng sách Mạnh Tử viết:
仁義禮智,非由外鑠我也,我固有之也,弗思耳矣。故曰:求則得之,舍則失之。或相倍蓰而無算者,不能盡其才者也。詩曰:“天生蒸民,有物有則。民之秉彝,好是懿 德。”孔子曰:“為此詩者,其知道乎!故有物必有則,民之秉彝也,故好是懿德。”
Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi
do ngoại thước ngã dã; ngã cố hữu chi dã. Phất tư nhĩ hỹ. Cố viết: “Cầu, tắc đắc
chi; xả, tắc thất chi.” Hoặc tương bội, tỷ, nhi vô
toán giả; bất năng tận kỳ tài giả dã. “Thi
viết: ‘Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc; dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức.’
Khổng Tử viết: ‘Vi thử thi giả, kỳ tri đạo hồ!’ Cố hữu vật, tất hữu tắc. Dân
chi bỉnh di dã. Cố hiếu thị ý đức.”
Tạm
dịch
Nhân nghĩa lễ trí không phải là vật lấy từ
bên ngoài rồi nung nóng tô mạ lên, mà vốn
đã có sẵn từ trước trong con người của chúng ta, chỉ tại chúng ta không nghĩ đến
chúng mà thôi. Nếu tìm đến chúng thì chúng ta có được chúng còn nếu như không
tìm đến chúng thì chúng ta sẽ mất chúng. Ai cũng đều có sẵn chúng trong người
nhưng do có quan tâm để ý đến và nỗ lực tập luyện hay không mà trình độ nhân nghĩa lễ trí khác biệt đến 2, 5 lần hoặc đến mức độ không thể tính
ra được. Kinh Thi nói “Trời sinh ra con người, mỗi thứ đều có quy luật, quy
tắc, người tuân theo quy tắc làm người (di 彝: quy tắc làm người, đạo thường) thì yêu thích đức tốt đẹp (ý đức).” Khổng tử cũng nói “Người làm
bài thi ca này thật hiểu rõ đạo! Bởi vì mỗi thứ (vật) đều có quy luật, quy tắc.
Người tuân theo quy tắc làm người thì yêu thích đức tốt đẹp.”
(4) Trong thiên Lễ
Vận của sách Lễ Ký viết:
夫禮必本於天,動而之地,列而之事,變而從時,協於分藝,其居人也曰養,其行之以貨力、辭讓、飲食、冠昏、喪祭、射御、朝聘。
故禮義也者,人之大端也,所以講信脩睦而固人之肌膚之會、筋骸之束也。所以養生送死、事鬼神之大端也。所以達天道、順人情之大竇也。
Phu lễ tất bản ư thiên, động
nhi chi địa, liệt nhi chi sự, biến nhi tùng thời, hiệp ư phận nghệ, ký cư nhân
dã viết dưỡng kỳ hành chi dĩ hóa lực, từ nhượng, ẩm thực, tang tế, xạ ngự, triều
sính. Cố lễ nghĩa dã giả, nhân chi đại đoan dã, sở dĩ giảng tín tu mục nhi cố
nhân chi cơ phu chi hội, cân hài chi thúc dã.
Tạm
dịch
Lễ lấy quy luật của trời làm cơ sở, dựa theo đạo nuôi dưỡng của đất để vận hành cụ thể, xem xét đến thứ tự sắp đặt của
sự vật, thay đổi của thời tiết, khác biệt của thân phận và tài nghệ khi thực hiện
để giúp con người sinh hoạt an lành nên gọi là dưỡng. Lễ được thực hiện theo khả
năng tài chánh, thông qua lời nói nhún nhường, trong ăn uống, trong lúc mừng con
người trưởng thành, cưới hỏi, chôn cất người mất, thờ cúng tổ tiên, thần thánh,
bắn cung, lái xe, làm việc trong triều đình và ngoại giao.
Do đó, lễ nghĩa là rường mối quan trọng của con người, là cơ sở để thực hiện
sự tin cậy, thân mật với người khác trong đời sống, giống như sự kết nối chặt
chẽ da thịt và xương cốt của con người
(Takeuchi Terao không dịch sát nguyên văn nên người dịch tham khảo nội dung dịch của ông và cố gắng dịch sát hơn nhưng chưa đủ tự tín. Xin quý độc giả chỉ tham khảo để xem xét thêm.)
(5) Thí dụ, chương
2 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:
子曰:不仁者,不可以久處約,不可以長處樂。仁者安仁;知者利仁。
Tử viết: “Bất nhân giả bất khả dĩ cửu xử ước, bất khả dĩ trường
xử lạc. Nhân giả an nhân, trí giả lợi
nhân.”
Dịch (Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Người không có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốn
cùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh hoan lạc. Người có đức nhân vui lòng làm
điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho
người nên làm điều nhân.”
Chú
thích (Nguyễn Hiến Lê)
Chữ an nhân và chữ lợi nhân ở đây, nghĩa cũng như “an
nhi hành chi, lợi nhi hành chi” trong sách Trung dung.
Chương 21 thiên 6 Ung Dã sách Luận Ngữ viết:
子曰:知者樂水,仁者樂山;知者動,仁者靜;知者樂,仁者壽。
Tử viết:“Trí giả nhạo thủy; nhân giả nhạo sơn; trí giả
động; nhân giả tĩnh; trí giả lạc; nhân giả thọ.”
Dịch (Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Người trí thích nước, người nhân thích núi. Người trí thì hoạt
động, người nhân thì trầm tĩnh, người trí vui sống, người nhân sống lâu.”
Chương 27 thiên 9 Tử Hãn sách Luận Ngữ viết:
子曰:知者不惑,仁者不憂,勇者不懼。
Tử viết: “Trí giả bất hoặc; nhân giả bất ưu; dũng giả bất cụ.”
Dịch (Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Người trí thích nước, người nhân thích núi. Người trí thì hoạt động, người nhân thì trầm tĩnh, người trí vui sống, người nhân sống lâu.”
(6) Trong Thiên Văn Chí của Hán Thư viết:
歲星曰東方春木,於人五常仁也,五事貌也。
熒惑曰南方夏火,禮也,視也。
辰星曰北方冬水,知也,聽也。
填星曰中央季夏土,信也,思心也。
Tuế tinh viết Đông phương xuân
mộc, ư nhân ngũ thường nhân dã, ngũ sự mạo
dã.
Quỳnh hoặc viết Nam phương
hạ hỏa, lễ dã, thị dã.
Thần tinh viết Bắc phương
đông thủy, trí dã, thính dã.
Trấn tinh viết Trung ương
quý hạ thổ, tín dã, tư tâm dã.
Tạm
dịch
Sao Tuế (Mộc tinh)nhằm vào hướng Đông, tương ứng với mùa xuân của 4 mùa, mộc
của ngũ hành, là nhân trong ngũ thường của con người, là mạo
(hình dáng bên ngoài) trong ngũ sự.
Sao Quỳnh (Hỏa tinh) nhằm vào hướng Nam, tương ứng với mùa hạ, hỏa của ngũ hành, là lễ trong ngũ thường, là thị
(nhìn thấy, thị giác) trong ngũ sự.
Sao Thần (Thủy tinh) nhằm vào hướng Bắc, tương
ứng với mùa đông, thủy của ngũ hành, là trí trong ngũ thường, là
thính (nghe thấy, thính giác)
trong ngũ sự.
Sao Trấn (Thổ tinh) nhằm vào trung tâm (chính giữa), tương ứng với cuối hạ, thổ của ngũ hành, là tín trong ngũ thường, là tư và tâm
(suy nghĩ và
tinh thần) trong ngũ sự.
Trong mục Tình Tính của sách Bạch Hổ Thông viết:
五性者何?謂仁、義、禮、智、信也。仁者,不忍也,施生愛人也;義者,宜也,斷決得中也;禮者,履也,履道成文也;智者,知也,獨見前聞,不惑於事,見微者也;信者,誠也,專一不移也。
肝所以仁者何?肝,木之精也;仁者,好生。
心所以為禮何?心,火之精也。
腎所以智何?腎者,水之精。
脾所以信何?脾者,土之精也。
Ngũ tính giả ha? Vị nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín dã. Nhân giả, bất nhẫn dã. Thí sinh ái nhân dã; nghĩa giả,
nghi dã, đoán quyết đắc trúng dã; lễ dã, lý dã, lý đạo thành văn dã; trí dã,
tri dã, đọc kiến tiền văn, bất hoặc ư sự, kiến vi giả dã; tín giả, thành dã,
chuyên nhất bất di dã.
Can sở dĩ nhân giả hà? Can,
mộ chi tinh dã; nhân giả, hiếu sinh.
Tâm sở dĩ vi lễ hà? Tâm, hỏa
chi tinh dã.
Thận sở dĩ vi trí hà? Thận,
thủy chi tinh dã.
Tỳ sở dĩ vi tín hà? Tỳ, thổ
chi tinh dã.
Tạm
dịch
Năm đặc tính (bản tính) của
con người là gì? Là nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín. Nhân là không đành lòng để người chết, là thương yêu người. Nghĩa
là thích hợp, quyết đoán đúng. Lễ là việc làm, hành động theo đạo
làm người để cho tốt đẹp. Trí là 1 mình biết trước sự việc,
không bị sự việc thấy trước mắt làm sai lầm, không bỏ qua điều nhỏ nhặt. Tín là
thành (trước sau như một), chuyên nhất không đổi thay.
Tại sao gan tương ứng với nhân?
Bởi vì gan là nội dung tốt nhất của cây; nhân yêu thích sự sống.
Tại sao tâm tương ứng với lễ?
Bởi vì tâm là nội dung tốt nhất của lữa.
Tại sao thận tương ứng với trí?
Bởi vì thận là nội dung tốt nhất của
nước.
Tại sao tỳ tương ứng với tín?
Bởi vì tỳ là nội dung tốt nhất của thổ.
(Nên lưu ý nội dung giải thích nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín tùy theo mỗi người, mỗi học phái không hẳn là ý nghĩa
muốn nói nguyên thủy của đạo Khổng. Thí dụ giải thích của Mạnh tử không giống
như trong Bạch Hổ Thông! Tống Nho cũng khác Hán Nho!
Ngoài ra, việc lập tương ứng giữa ngũ
tạng - ngũ hành - ngũ thường như can-mộc- nhân v.v...không biết có lợi ích gì?
Dịch giả giới thiệu chi tiết ở trên để quý độc giả tham khảo vì ít khi thấy trong tài liệu tiếng Việt.)
Nguyên
văn
多謂人有仁義。猶天有陰陽也。遂以仁義為道之総。是後世之言也。当先王孔子之時。豈求一言以尽乎道焉。求一言以尽乎道者。務標異聖人之道者也。先王孔子之時。豈有是哉。古者礼義対言焉耳矣。仁者聖人之大徳。豈礼儀之倫乎。故孔門之教。仁是為上。至於孟子並言仁義。以是而弁楊墨之非。可也。以教学者。不可也。如仁義礼智。亦孔子時所無。孟子始言之。亦備楊墨所不有者。以見吾道之備。其実礼儀人之大端。而仁於斯為大。知如者。人喜以才智自高。是其情也。故聖人未嘗以知為教矣。如曰知者仁者。成徳之名。各因其性所稟殊焉。若夫仁義礼智就一人之身言之者。未之嘗聞也。漢儒以属五行。或智為土。信為水。或智為火為水。未有定説。可見非古道已。論語屡以好仁好義好礼好徳好善好学好古為言。而未嘗以好知好信為教。故其非孔門之旧也。荀子識子思孟子造五行。豈誣乎哉。
Âm
Hán Việt của nguyên văn
Đa vị nhân hữu nhân nghĩa. Do thiên hữu âm dương dã. Toại dĩ nhân nghĩa vi đạo chi tổng. Thị hậu thế chi ngôn dã. Đương tiên vương Khổng tử chi thời. Khởi cầu nhất ngôn dĩ tận hồ đạo yên. Cầu nhất ngôn dĩ tận hồ đạo dã. Vụ tiêu dị thánh nhân chi đạo giả dã. Tiên vương Khổng tử chi thời. Khởi hữu thị tai. Cổ giả lễ nghĩa đối ngôn yên nhĩ hỹ. Nhân giả thánh nhân chi đại đức. Khởi lễ nghĩa chi luân hồ. Cố Khổng môn chi giáo. Nhân thị vi thượng. Chí tận Mạnh tử tịnh ngôn nhân nghĩa. Dĩ thị nhi biện Dương Mặc chi phi. Khả dã. Dĩ giáo học giả. Bất khả dã. Như nhân nghĩa lễ trí. Diệc Khổng tử thời sở vô. Mạnh tử thủy ngôn chi. Diệc bị Dương Mặc sở bất hữu giả. Dĩ kiến ngô đạo chi bị. Kỳ thật lễ nghĩa nhân chi đại đoan. Nhi nhân ư tư vi đại. Tri như giả. Nhân hỷ dĩ tài trí tự cao. Thị kỳ tình dã. Cố thánh nhân vị thường dĩ trí vi giáo dã. Như viết trí giả nhân giả. Thành đức chi ngôn. Các nhân kỳ tính sở bẩm thù yên. Nhược phù nhân nghĩa lễ trí tựu nhất nhân chi thân ngôn chi giả. Vị chi thường văn dã. Hán Nho dĩ thuộc ngũ hành. Hoặc trí vi thổ. Tín vi thủy. Hoặc trí vi hỏa vi thủy. Vị hữu định thuyết. Khả kiến phi cổ đạo dĩ. Luận Ngữ lũ dĩ hảo nhân hảo nghĩa hảo lễ hảo đức hảo thiện hảo học hảo cổ vi ngôn. Nhi vị thường dĩ hảo trí hảo tín vi giáo. Cố kỳ phi Khổng môn chi cựu dã. Tuân tử thức Tử Tư Mạnh tử tạo ngũ hành. Khởi vu hồ tai.
Tài
liệu tham khảo
(1)
Trách nhiệm biên tập Bitô
Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
(2)
Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật
Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét