Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Tụng Tây Hồ phú, Nguyễn Huy Lượng. (Ngân Triều biên soạn)

Tụng Tây Hồ phú, Nguyễn Huy Lượng.

Mời quý bạn tham khảo một áng văn hay thời Tây Sơn, ca ngợi cảnh đẹp Hồ Tây và áng văn nầy cũng đã mở ra một cuộc bút chiến về mới - cũ đầu tiên trên văn đàn Việt Nam.
TỤNG TÂY HỒ PHÚ
Nguyễn Huy Lượng (? – 1808)
-----------------------------
誦 西 湖 賦
阮 輝 諒; (? - 1808)
Tây Hồ phú hay còn gọi là Tụng Tây Hồ Phú hoặc Tây Hồ cảnh tụng, là một bài phú của Nguyễn Huy Lượng ca ngợi cảnh Hồ Tây, thông qua đó ca ngợi sự nghiệp, công lao của triều đại Tây Sơn.
Hoàn cảnh ra đời
Năm 1801 vua Bảo Hưng nhà Tây Sơn ra thăm Thăng Long. Nhân tiết hạ chí, ông làm lễ tế mùa hè ở đền Phương Trạch tại Hồ Tây, sai Nguyễn Huy Lượng lúc bấy giờ đang là Chương lĩnh hầu, giữ chức quan Phụng nghị bộ Lễ, soạn một bài thơ và một bài phú, đọc trong buổi lễ tế ngày 21 tháng 6 năm Tân Dậu (1801). Bài thơ và bài phú này được nhà vua rất tâm đắc và đã ban thưởng cho Nguyễn Huy Lượng hai quan tiền đồng.[1]

Tên gọi
Sau khi hai bài thơ và phú này ra đời, dân Hà Thành ai cũng muốn có một bản, nếu đã không đi tìm mua lại được họ mua giấy mực về chép lại. Do đó sau này có nhiều dị bản và tên gọi khác nhau. Những tên gọi còn ghi trong văn bản giữ lại được đến ngày nay là: Phong cảnh biệt chí; Tây Hồ phú; Tây Hồ cảnh tụng... Nhưng người dân khi nói đến bài phú này thì người ta thường gọi là Phú ông Lượng

Văn bản
Đây là bài phú chữ Nôm, gồm 86 liên, dùng chỉ một vần "hồ" (độc vận). Do những văn bản của bài phú này đều là những bản chép tay nên chúng không tránh khỏi có nhiều chỗ chép khác nhau. Hiện thư viện Hán Nôm có bốn dị bản khác nhau về bài phú này.
Phong cảnh biệt chí (ký hiệu AB.377)
Tây Hồ phú được Vũ Khắc Tiệp cho đăng trên Vĩnh Long Hưng thư quán, Hà Nội, 1931 (ký hiệu AB.299) [2]
Tây Hồ cảnh tụng (ký hiệu VNv.184) được in trong sách: (Phú Việt Nam cổ và kim, Nxb. Văn hóa, H. 1962.)
Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (TK. XVIII - TK XIX), Nxb. Văn hóa, HN, 1963, Trang 155-162.[3]
Trong đó bản thứ nhất được cho là bản gần với nguyên tác hơn cả. Tạp chí Hán Nôm tháng 2 năm 1988 đã cho đăng những khảo cứu về bài thơ và bài phú này. Trong việc khảo cứu này lấy bản 1 làm bản nền. Các bản còn lại sẽ được dùng để đối chiếu với bản 1. Nơi nào mà bản 1 tối nghĩa thì thay vào bằng chữ có nghĩa ở bản khác. Trong việc chú thích, có chú thích của nguyên bản (chủ yếu là Bản 2 và Bản 3, người chú thích cũng có thể là chính tác giả, mà cũng có thể một ai đó về sau) và chú thích bổ sung của những người khảo cứu.

Đánh giá
Cuốn "Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến" viết: "Có thể nói, trước và sau Nguyễn Huy Lượng, chưa hề có một tác phẩm nào viết về non sông đất nước Thăng Long Hà Nội hay đến thế, đẹp đến thế. Chỉ với một danh tác ấy cũng đủ xếp Nguyễn Huy Lượng vào hàng những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Thăng Long. Áng văn Nôm trác tuyệt tân kỳ, dân Hà thành hồi ấy gọi là "Phú ông Lựợng" trong khi đổ xô đi tìm mua bản chép tay này… Người ta mua giấy mực về chép lại khiến cho giá giấy phường Hàng Giấy, Hàng Gai vọt hẳn lên."[4]
Tụng Tây Hồ phú, một áng văn khiến người đọc say mê, rù rì đọc từng chữ từng câu. Cái dư âm của nó quấn quýt mãi không rời. Những từ láy lần đầu phát ra từ bài văn Nguyễn Huy Lượng và chẳng bao giờ lặp lại nữa. Nghĩ đến văn chương vùng đất Thăng Long, người ta nhớ ngay đến bài văn ấy, tác giả ấy.

Thạc sĩ Phùng Hoài Ngọc nhận xét.
Ngay cả đến Phạm Thái người đã làm bài phú mang tên Chiến tụng Tây Hồ phú để đối lại bài Phú này của Nguyễn Huy Lượng cũng phải công nhận đây là một bài phú rất hay qua chính lời dẫn của ông ta: Ta thấy ban đầu thoạt đọc, ông cũng lấy làm hay, hỏi ngay:
-Ai làm bài ấy mà hay thế?"...
"Bạn rằng:
-Chương Lĩnh hầu Hữu hộ Lượng làm"
thì ông thay đổi thái độ:
"Ta rằng:
-Chao ôi! Hữu hộ Lượng à! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm nguỵ lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt... Nay nhân bỉ kẻ làm bài tụng, ta cũng làm bài Chiến tụng để góp chút trò cười với đời"[5]

Chú thích
[1] ^ Nguyên văn chú thích chữ Hán của văn bản "Tây Hồ Phú" như sau: Hạ chí tiết, hành hạ chi lễ. Hoàng triều Bảo Hưng Tân dậu niên, ngự tế Phương Trạch đàn tại Tây Hồ, nhưng mệnh Lê triều Hương cống Hành Lễ bộ phụng nghị quan. Chương lĩnh hầu soạn thi, phú các nhất thể, phụng ngự ban bao thưởng thanh tiền nhị thập quán 2. Dịch: (Tiết hạ chí, làm lễ tế mùa hè. Năm Tân dậu (1801) triều Bảo Hưng, nhà vua đến tế ở đền Phương Trạch tại Hồ Tây, sai quan Phụng nghị bộ Lễ, đỗ hương cống triều Lê, là Chương lĩnh hầu soạn thơ và phú, mỗi thứ một bài, được vua khen thưởng, ban cho 2 quan tiền đồng).
[2] ^ Cuối bài phú này có ghi "Kiến Phúc Giáp thân chi niêm, Nhị Thuỷ Nhị Cân Hương Đình Băng Mã lão phu bút thảo" (Nhị Thuỷ Nhị Cân Hương Đinh Băng Mã lão phu chép lại vào năm Giáp thân 1884 niên hiệu Kiến Phúc).
[3] ^ Vũ Thanh Hằng, Bài thơ và bài phú ca ngợi cảnh Hồ Tây của Nguyễn Huy Lượng, đăng trong tạp chí Hán Nôm 2-1988
[4] ^ Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, 2009, trang 312
[5] ^ Thăng Long –Hà Nôi ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, tái bản lần 3-2009, trang 342.
Sách tham khảo
• Thăng Long –Hà Nôi ngàn năm văn hiến, Nxb Lao động, tái bản lần 3, năm2009
• Tạp chí Hán Nôm 2-1988
Bài phú độc vận, lấy vần "hồ", nội dung miêu tả và ngợi khen phong cảnh Tây Hồ (Hà Nội) và tán tụng công đức Tây Sơn.
Nguồn: Việt Hán Nôm 2002

***
Tụng Tây Hồ phú
Nguyễn Huy Lượng (阮 輝 諒? - 1808)
Bản Hán Nôm: Ngân Triều phiên âm & chú giải.
Bản Tiếng Việt, Phạm Thái và SKTT, Nguyễn Văn Xung, nxb Lửa Thiêng Saigon 1973 trang 219-239.
---------------------------------
誦 西 湖 賦
(1) Lạ thay cảnh Tây Hồ
Lạ thay cảnh Tây Hồ
1- 邏 処 景 西 湖
邏 処 景 西 湖。
(2) Trộm nhớ thuở đất chia chín cõi; [1]
Nghe rằng đây đá mọc một gò.
2- 謭 仌 挆 坦 勚 佂 憥
牐 浪 低 廏 仺 沒 潄。
(3) Trước Bạch Hồ vào ở đó làm hang, long vương trở nên vùng đại trạch;[2]
Sau Kim Ngưu [3] do vào đây hoá vực, Cao vương [4] đào chặn mạch hoàng đô. [5]
3- 苉 白 猢 侟 於 刬 乄 缊,龍 王 阻 戼 潂 大 澤
畱 金 牛 由 侟 低 化 域,高 王 掏 振 脈 皇 都。
(4) Tiếng nghe gọi Dâm Đàm, Lãng Bạc;
Cảnh ngó in tinh chử, [6] băng hồ.
4- 曢 牐 噲 淫 潭 焔 泊
景 噺 印 星 渚 冰 湖。
(5) Sắc dờn dờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo;
Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc, [7] tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò.
5- 色 寅 寅 染 式 藍 鈎,肦 洞 碧 奛 瑨 匇 丠 丠
形 歰 歰 扝 怶 勾 昰,想 暈 銀 淶 笹 摼 岺 岺。
(6) Dư nghìn mẫu nước trời lẫn sắc;
Trải bốn bên hoa cỏ nhiều mùa.
6-餘 懯 畝 搩 俼 吝 色
钘 夝 边 花 礊 蜫 炞。
(7) Áng đất phơi mỏ phượng còn in, kẻ rằng đài thượng nguyệt;
Vũng nước hút hàm rồng chẳng cạn, người gọi trản trung tô. [8]
7-盎 坦 嘑 惣 鳳 群 印,丗 浪 臺 上 月
蠺 搩 吸 唅 纅 拯 喼,圤 噲 盞 中 酥。
(😎 Toà thạch tháp [9] nọ nơi tiên để báu;
Chốn thổ đôi [10] kia chỗ khách chôn bùa.
8-座 石 塔 怒 厼 仙 底 宝
准 土 堆 箕 謩 客 畕 符。
(9) Đền Mục Lang [11] hương lửa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ;
Quán Chân Võ [12] nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa.
𡊰 穆 郎 香 焒 拯, 拪 䋥 法 群 記 功 扒 虎;
舘 鎭 武 𣌝 湄 芾 轉, 𦧜 劍 誠 群 底 昔 㨔 𧒍.
(10) Kề bến nọ quán Thiên Niên lớp lớp;
Cách ngàn kia ghềnh Vạn Bảo [13] nhấp nhô.
10- 𫑇 𣷷 怒 舘 千 年 𤖹 𤖹;
隔 岸 箕 涼 万 宝 岌 儒.
(11) Toà kim liên [14] sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn; [15]
Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên nhận sẵn thú Nghi Vu.
11- 座 金 蓮 㳥 浮 味 香, 廚 鎮 国 想 印 塳 靜 範;
行 古 樹 𩙍 𢲣 𣈖 綠,場 奉 天 認 產 趣 沂 圩。
(12) Dấu Bố Cái [16] rêu in nền phủ;
Cảnh Bà Đanh [17] hoa khép cửa chùa.
12-𨁪 布 丐 繤 印 𡋂 府,
境 妑 釘 花 抾 𨷯 廚。
(13) Trông mơ màng dường đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích;
Nghe phảng phất ngỡ động đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o.
13-𥉫 𥊚 忙 羕 頂 鷲 坭 箕, 𠄧 組 鵲 𡳳 廊 叫 隻 隻.
𦖑 彷 彿 語 洞 桃 𠃅 怒,某 㗂 鵸 𥪝 寨 𠰁 嗚 嗚。
(14) Lò Thạch Khối [18] khói tuôn nghi ngút;
Ghềnh Nhật Chiêu [19] sóng giật ỳ ồ.
14-炉 石 塊 𤌋 𣻆 艤 𤈡;
涼 日 招 㳥 𪮞 𥑴 𤀙。
(15) Rập rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm;
Thanh lảnh đầu hồ Cổ Ngựa, tháp cao tăng còn hé cửa tò vò.
15- 拉 呈 𡳳 𪤄 𡳪 鱙, 船 商 客 唉 氈 帆 蝶 蝶.
声 領 頭 湖 股 馭,塔 高 僧 群 戲 𨷯 徂 虶。
(16) Chày Yên Thái [20] nện trong sương chểnh choảng;
Lưới Nghi Tàm [21] ngăn ngọn nước quanh co.
16- 杵 安 泰 𢬧 𤁘 霜 整 𢶥;
䋥 宜 蚕 拫 𦰟 渃 觥 𨔌。
(17) Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm;
Sen vũng nọ nảy tiền xanh lác đác, lửa đóm ghen năm xã gây lò.
17- 柳 坡 箕 飛 絲 碧 彿 坯,梭 鶯 嘺 𠄩 坊 𦂾 錦;
蓮 淎 怒 䄧 錢 𩇛 𥋷 得,焒 𧏱 慳 𠄼 社 𨢟 炉。
(18) Cầm ve gảy lầu thư ánh ỏi;
Mõ cuốc khua án kệ rì rù.
18- 琴 蟡 𢭮 樓 書 暎 喂;
㖼 𪅦 摳 案 偈 洟 㾄.
(19) Gò Châu Long [22] khi ngọn gió đưa quanh, hồi thú cổ [23] thẳng kề bên mái trúc;
Non Phục Tượng [24] lúc vầng trăng hé nửa, tiếng hàn châm [25] nghe cách dải sông Tô.
19- 塸 珠 龍 欺 𦰟 𩙍 拸 𨒺,回 戍 鼓 𣦎 𫑇 边 𠃅 竹;
𡽫 伏 象 𣅶 暈 𦝄 戲 𡛤,㗂 寒 砧 𦖑 隔 𢄩 滝 甦。
(20) Người ngoạn cảnh thẩn thơ đòi đoạn;
Khách thâu nhàn lai láng từng khu.
20- 𠊚 玩 景 吲 他 堆 斷;
客 收 閑 來 𣼽 曾 區.
(21) Mảnh áo tơi lớp xớp trong mưa, ca thanh thảo quyến đàn trâu gã Nịnh; [26]
Con thuyền trúc lân la trước gió, khúc thương lang [27] đưa gánh củi chàng Chu. [28]
21- 𤗖 袄 𥵖 泣 泣 𥪝 湄,歌 青 草 睠 彈 𤛠 𪟡 甯;
𡥵 船 竹 瞵 纙 𠓀 𩙍, 曲 滄 良 拸 梗 檜 払 周.
(22) Vầy cuộc ẩn mọi nghề chẳng thiếu;
Mượn thú vui bốn bạn [29] gồm no.
22- 噽 局 隱 每 芸 拯 少
摱 趣 𢝙 𦊚 伴 𪞍 奴。
(23) Cảnh Khán Sơn [30] chưa gác cuộc cờ, lòng thơ đã bồi hồi ban lãnh thố; [31]
Làng Vọng Thị [32] còn đông tiệc rượu, tiếng cầm đà não nuột buổi tà ô.
23- 景 看 山 渚 擱 局 棋, 𢙱 詩 㐌 徘 徊 頒 冷 兔;
廊 望 市 群 冬 席 酒, 㗂 琴 㐌 惱 𣻀 𣇜 斜 烏。
(24) Khách Ngô Sở chợ Tây ngồi san sát;
Người Hy Hoàng [33] song bắc [34] ngáy phi pho.
24- 客 吳 楚 悪 西 憹 珊 察
𠊚 羲 皇 窗 北 𠵨 呸 哺。
(25) Bến giặt tơ người vốc nước còn khuya, gương thiềm đựng trong tay lóng lánh;
Vườn hái nhị kẻ dày sương hãy sớm, túi xạ rơi dưới gót thơm tho.
25- 揼 眫 絲 𠊚卜 渃 群 𣅙,鏡 蟾 𡓂 𥪝 拪 弄 伶;
園 𢲨 蕊 仉 𠫅 霜 唉 𣋽,繓 麝 淶 𤲂 𨃴 𦹳 萩。
(26) Ngang thành thị ghé yên hà một thú;
Dọc phố phường tung phong nguyệt hai kho. [35]
26- 昂 城 市 踦 煙 河 沒 趣
𨂔 浦 坊 蹤 風 月 𠄩 庫。
(27) Gió hiu hiu dòng Nhị Thuỷ đưa lên, lồng hơi mát tới chùm hoa khóm trúc;
Trăng vằng vặc mái Tam Sơn rọi xuống, đớp bóng trong từng lũ cá đàn cò.
27- 𩙍 囂 囂 𣳔 洱 水 拸 𨑗,𢲣 唏 沫 細 𫇳 花 㯲 竹;
𦝄 焩 域 𠃅 三 山 燴 𨑜,㗳 𩃳 𤄯 曾 僂 𩵜 彈 𪂮。
(28) Phong cảnh cũ nhiều nơi thắng lãm;
Triều đại xưa mấy lớp thanh ngu. [36]
28- 風 境 𡳰 𡗉 坭 胜 覧;
朝 代 𠸗 某 垃 清 娱。
(29) Tựa bóng hoa đặt quán Quan Ngư [37] kìa đời Long Khánh; [38]
Đè mặt sóng đem đường dụ tượng [39] nọ thuở Kiền Phù. [40]
29- 似 䏾 花 撻 舘 觀 漁 箕 𠁀 隆 慶;
提 𩈘 㳥 𨑴 塘 諭 象 怒 𣇫 乾 浮。
(30) Trải Trần trước đã nhiều phen xe ngựa;
Tới Lê sau càng lắm độ tán dù.
30- 𣦆 陳 畧 㐌 𡗉 番 車 馭;
細 黎 𢖖 強 夦 度 傘 𢂎。
(31) Trộm nhớ thiên bát vịnh du hồ, [41] trong tỉ hứng cũng ngụ lời quy phúng; [42]
Lại nhớ khúc liên ngâm thưởng nguyệt, [43] lúc tiếu đàm dường thoả ý giao phu. [44]
31- 囕 𢖵 篇 八 詠 遊 湖,𥪝 比 興 拱 喁 喁 唎 歸 諷
吏 𢖵 曲 連 吟 賞 月,𣅶 笑 談 羕 脞 意 交 夫。
(32) Toà đá nọ ghi câu canh hoạ; [45]
Dòng nước kia dường nổi chén tạc thù.
32- 座 廏 怒 綋 句 賡 和
𣳔 渃 箕 羕 浽 盞 酢 酬。
(33) Năm sau từ nổi bụi tiêu tường, [46] ba thước nước khôn cầm màu hiệu khiết; [47]
Buổi ấy cũng góp phần tang hải, sáu thu trời bao xiết nỗi hoang khô. [48]
33- 𢆥 𢖖 自 浽 培 椒 牆,𠀧 𢭑 渃 坤 擒 牟 顥 潔
𣇜 意 拱 給 分 桑 海,𦒹 秋 𡗶 包 掣 𦁀 荒 枯。
(34) Hình cây đá mưa trôi gió giạt;
Sắc hoa chim mây vẩn sương mù.
34- 形 核 𥒥 𩄎 㵢 𩙍 淖;
色 花 𪀄 𩅹 沕 霜 霧。
(35) Chốn trì đàm [49] làm bợn vẻ thanh quang, [50] xuôi ngược những vẫy đuôi khoa đẩu; [51]
Nơi phạm vũ [52] để che màu sảng lãng, dọc ngang trao mắc võng tri thù. [53]
35- 坉 池 潭 爫 𣵲 𡲈 清 光,𣵶 逆 仍 捤 𡳪 蝌 蚪
坭 範 宇 底 曕 牟 爽 浪,唷 昂 掉 𦄿 䋞 蜘 蛛。
(36) Hương cổ miếu đôi chòm lạnh lẽo;
Đèn viễn thôn mấy ngọn tù mù.
36- 香 古 廟 堆 笘 冷𠖭;
畑 遠 村 某 𦰟 囚 眓。
(37) Kênh đâu đâu chảy đến trung sa, lầu túc điểu [54] gió còn sớm quạt;
Sen chốn chốn đã bay về Tây vực, vũng du ngư [55] nguyệt hãy tối mò.
37- 涇 兜 兜 沚 𦤾 中 沙,樓 宿 鳥 𩙍 群 𣌋 搧;
蓮 坉 坉 㐌 飛 衛 西 域, 淎 遊 魚 月 唉 對 暮。
(38) Kêu trị loạn đau lòng con Đỗ Vũ; [56]
Gọi công tư mỏi miệng cái hà mô. [57]
38- 叫 治 乱 忉 𢙱 𡥵 杜 鵡;
噲 公 私 𢵹 𠰘 丐 蝦 蟆。
(39) Lũ cày mây [58] lần tưởng bóng nghê, [59] thơ thất nguyệt [60] thở than cùng mục thụ; [61]
Khách điếu nguyệt [62] biếng tìm tăm cá, chữ tam mô [63] bàn bạc với tiều phu.
39- 僂 𦓿 𩅹 吝 想 𣈖 霓,詩 七 月 呲 嘆 共 牧 豎;
客 弔 月 剨 尋 沁 𩵜,𡦂 三 謩 般 博 貝 樵 夫。
(40) Nghe xóm nọ rù rì ve nhặng; [64]
Ngắm ghềnh kia thấp thoáng trai cò. [65]
40- 𦖑 坫 怒 㾄 掑 蟡 蠅;
𥌹 涼 箕 湿 洸 𧕚 𫛈。
(41) Thú cao lưu [66] chếch mác [67] thế cờ, người nhạo thuỷ [68] ôm cầm khi rạng quế; [69]
Màu yên cảnh bâng khuâng hồn rượu, khách đăng đài gác bút buổi bay ngô. [70]
41- 趣 高 流 隻 鏌 世 棋,𠊚 樂 水 掩 琴 欺 瞆 桂
牟 煙 境 冰 傾 魂 溜,客 登 臺 擱 筆 𣇜 哾 梧。
(42) Chiều phong vị xem dường quạnh quẽ;
Dấu đồ thư ngắm hãy mơ hồ.
42- 朝 風 味 䀡 羕 郡 揆;
𨁪 圖 書 𥌹 唉 𢠩 乎。
(43) Dưới cầu vồng nước chảy mênh mông, đường xưa đua ngựa;
Trên thành trĩ [71] đá xây chớm chởm, bến cũ gọi đò.
43- 𤲂 梂 釯 渃 沚 溟 濛,塘 𠸗 𨅮 馭;
𨕭 城 𩾰 𥒥 磋 𥗽 峅 嶄,渡 𡳰 噲 艔。
(44) Trước cố cung treo nửa mảnh gương loan, vầng trăng he hé;
Sau cổ tự gởi mấy phong da ngựa, đám cỏ lù rù.
44- 𠓀 故 宮 撩 𡛤 𤗖 鏡 鸞, 暈 𦝄 𢬾 戲;
𢖕 古 寺 𢭮 某 封 䏧 馭, 坫 苦 瀘 㾄。
(45) Lớp canh dịch người xưa man mác;
Vẻ tiêu lương [72] cảnh cũ thẹn thò.
45- 笠 更 役 𠊚 𠸗 漫 漠;
𡲈 蕭 涼 境 𡳰 𢢆 𪬔.
(46) Áng phồn hoa vì cảnh muốn phô người, người phải khi vật đổi sao rời, cảnh phải chiều người buổi ấy;
Trời thanh lãng có người còn mến cảnh, cảnh có sẵn nước trong trăng sáng, người nên phụ cảnh này ru.
46- 盎 緐 華 為 境 悶 舖 𠊚,𠊚 沛 欺 物 𢷮 𣋀 移,景 沛 𢢅 𠊚 𣇜意;
𡗶 清 浪 固 𠊚 群 悗 景, 景 固 産 渃 沖 𦝄 𠓇, 𠊚 𢧚 媍 景 尼 𠱋
(47) Vừng trăng nọ buổi tròn buổi khuyết;
Ngọn nước kia nơi hoắm [73] nơi nhô.
47- 暈 𦝄 怒 𣇜 𧷺 𣇜 鈌
𦰟 渃 箕 坭 陷 坭 儒。
(48) Tới Mậu Thân [74] từ rỡ vẻ tường vân, [75] sông núi khắp nhờ công đãng địch; [76]
Qua Canh Tuất [77] lại tưới cơn thời vũ, [78] cỏ cây đều gội đức chiêm nhu. [79]
48- 細 戊 申 自 𠒦 𡲈 祥 雲, 滝 𡶀 泣 洳 功 盪 敵;
戈 庚 戌 吏 𢱓 𩂀 時 雨, 苦 核 調 澮 德 霑 需。
(49) Vũng trì chiểu nước dần dần lặng;
Nơi đình đài hoa phơi phới đua.
49- 淎 池 沼 渃 寅 寅 洛;
坭 庭 台 花 派 派 𢵋。
(50) Chốn bảy cây [80] còn mấy gốc lăng vân, [81] chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão; [82]
Nơi một bến đã đông đoàn hí thuỷ, [83] tới uyên ương [84] đều thoả tính trầm phù. [85]
50- 坉 𦉱 核 群 某 㭲 凌 雲,拯 松 柏 拱 誇 形 蒼 老;
坭 沒 𣷷 㐌 𨒟 團 戲 水,細 鴛 鴦 調 妥 性 沉 浮。
(51) Vẻ hoa thạch [86] châu thêu gấm dệt;
Tiếng trùng cầm [87] ngọc gõ vàng khua.
51- 𡲈 花 石 珠 絩 錦 𦂾;
㗂 虫 禽 玉 𢫈 鐄 摳。
(52) Bãi cỏ non trâu thả ngựa buông, nội Chu [88] đã lắm người ca ngợi;
Làn nước phẳng kình chìm ngạc lặn,[89] ao Hán nào mấy trẻ reo hò.
52- 𣺽 苦 嫩 𤛠 且 馭 𢭾,㘨 周 㐌 夦 𠊚 歌 議;
瀾 渃 滂 鯨 沉 鰐 𠓬, 呦 漢 芾 某 𥘷 嘹 呼
(53) Mặt đất đùn này thóc này rau, rầu lòng Cô Trúc; [90] Mặt nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào Do. [91]
53- 𩈘 坦 吨 尼 裿 尼 蔞, 𠿈 𢙱 姑竹; 𩈘 渃 沚 怒 𣳔 怒 𣷷, 默 志 巢 由.
(54) Cây quán kia còn đứng dậy thần uy, đoàn mán tới dám khoe lời Tây hữu; [92]
Sen chùa nọ lại bay về phật cảnh, lũ Ngô [93] về từng niệm chữ nam mô.
54- 核 舘 箕 群 𥪸 跩 神 威 團 蠻 細 敢 誇 𠳒 西 友;
蓮 廚 怒 吏 飛 𧗱 佛 景,僂 吳 𧗱 曾 念 𡦂 南 無.
(55) Dấu linh dị [94] rành rành vẫn sáng;
Mạch hậu nhân [95] dằng dặc bao rò.
55- 𧿫 靈 異 佲 佲 吻 𠓇;
陌 厚 仁 孕 弋 包 露。
(56) Mặt thành xưa đem lại thế kim thang, [96] đất xây phẳng lặng;
Cánh hàn cũ sửa ra hình chỉ trụ, đá xếp xô bồ.
56- 𩈘 城 𠸗 冘 吏 勢 金 湯,坦 搓 坂 洛;
𦑃 翰 𡳰 𪮈 𦋦 形 趾 柱,𥒥 攝 趨 蒲。
(57) Ghé vùng danh nẻo lợi bấy lâu, cảnh tuy rằng nhỏ;
Song nước trí non nhân [97] mấy chốn, cảnh đã chi thua.
57- 𨄾 塳 名 𡑩 利 閉 𥹰, 景 雖 㖫 𡮈;
双 渃 智 𡽫 仁 某 坉,景 㐌 之 輸。
(58) Trải mấy thu từng dựa bóng tàn xanh, thâu cảnh đã vào trong vũ trụ;
Song ngàn dặm còn xa rời bệ tía, góp cảnh còn gọi chốn biên ngu.[98]
58- 𣦆 某 秋 曾 𢭸 䏾 傘 𩇛,收 景 㐌 𠓨 𥪝 宇 宙;
双 𠦳 𨤮 群 柁 𨖨 陛 紫,𢵰 景 群 噲 坉 边 嵎.
(59) Tuy thú vị đã giải bày ra đó;
Song thanh dung [99] còn trang điểm lại cho.
59- 雖 趣 味 㐌 解 排 𪞷 𪦆;
双 清 容 群 裝 點 吏 朱。
(60)- Nay mừng:
Trời phù chính thống; [100]
Đất mở hoành mô. [101]
60- 𠉞 𢜏 :
𡗶 扶 正 統
坦 𩦓 橫 模
(61) Quyền tạo hoá tóm vào trong động tác;
Khí kiền khôn [102] vận lại trước đô du. [103]
61- 權 造 化 抋 𠓨 𥪝 動 作;
氣 乾 坤 運 吏 𠓀 都 歈。
(62) Nền hoàng thành đặt vững long biên, ngôi Bắc cực muôn phương đều củng hướng;
Nền bắc trạch [104] xây kề ngưu chử, [105] cảnh Tây Hồ trăm thức lại phương phu. [106]
62- 𡋂 皇 城 達 凭 龍 边,嵬 北 極 𨷈 方 調 拱 向
𡋂 北 澤 搓 掑 牛 渚,景 西 湖 𤾓 式 吏 芳 敷。
(63) Chòm hủ thảo [107] chưa qua tuần đom đóm;
Áng tường vân [108] đà cách độ tua rua. [109]
63- 𫇳 朽 草 渚 戈 旬 㶩 𧍈
映 祥 雲 㐌 隔 度 須 𣌌。
(64) Ngắm nguyệt chiêm từ cấn tượng bốn hào, [110] ống âm dương đà quét bụi;
Xem tuế luật [111] đến di tân [112] bảy tấc, lò thiên địa mới bay tro.
64- 𥋴 月 占 自 艮 像 𦊚 毫,蓊 陰 陽 㐌 𢭯 培;
䀡 歳 律 𦥃 彌 新 𦉱 𡬷,爐 天 地 買 飛 𤉓.
(65) Cơ vãng phục [113] lạnh thôi lại ấm;
Lẽ doanh hư [114] bớt đã lại bù.
65- 機 往 復 冷 催 吏 𤋾;
理 嬴 虛 扒 㐌 吏 補。
(66) Dưới lục âm [115] vừa sinh khí nhất dương, vạn phẩm [116] đã nhờ ơn khôn tạo;
Trên cửu đạo [117] lại tề ngôi thất chính, [118] bốn mùa đều theo hướng đẩu khu. [119]
66- 𨑜 陸 陰 𣃣 生 氣 一 陽,萬 品 㐌 𢘾 恩 坤 造;
𨑗 九 道 吏 齊 嵬 七 正,𦊚 務 調 遶 向 斗 枢。
(67) Hương khâm kính [120] xâm miền hạo đãng; [121]
Rượu cung càn [122] thấm cõi linh u. [123]
67- 香 欽 敬 侵 沔 浩 蕩
酒 恭 乾 湛 𡑭 靈 幽。
(68) Áng năm mây bày ngọc bạch [124] đôi hàng, thảo mộc hãy ca công Thang, Vũ; [125]
Vang chín bệ nổi tiêu thiều mấy khúc, điểu thú đều vũ đức Đường, Ngu. [126]
68- 盎 𠄼 𩅹 排 玉 帛 堆 行,草 木 唉 歌 功 湯 禹;
榮 𢒂 陛 浽 簫 韶 某 曲,鳥 獸 調 舞 德 唐 虞。
(69) Vẻ hoa lẫn dấu cờ năm thức;
Mặt nước in bóng giáo ba ngù.
69- 𡲈 花 吝 𨁪 旗 𠄼 式;
𩈘 渃 印 俸 鉸 𠀧 𣮇。
(70) Trước huân phong [127] phảng phất cung đàn, làn thâm thuỷ muốn vái lên ngũ bái; [128]
Dưới ngọ nhật vang lừng tiếng trúc, hình viễn sơn mong rạp xuống tam hô. [129]
70- 𠓀 薰 風 彷 彿 弓 彈,瀾 深 水 悶 𠳿 𨑗 五 拜;
𨑜 午 日 㘇 㖫 㗂 竹,形 遠 山 懞 𫏦 𨑜 三 呼。
(71) Lễ nhạc ấy nghìn thu ít thấy;
Phong cảnh này mấy thuở nào so.
71- 礼 樂 意 𠦳 秋 𠃝 𧡊;
風 景 尼 某 𣇫 芾 搊。
(72) Trên dưới đều rồng mây các nước phải duyên, giọt vũ lộ [130] tưới đôi hàng uyên lộ; [131]
Gần xa cũng cõi bờ non sông một mối, tấm đan thành [132] dung khắp lũ nghêu sò. [133]
72- 𨑗 𨑜 調 蠪 𩅹 閣 渃 沛 緣,湥 雨 露 洅 對 行 鴛 鷺;
近柁共𡎝坡𡽫滝沒䋦,𤗲丹誠容泣僂蟯𧎷。
(73) Hơi yêu mị [134] quét dưới cờ thanh đạo; [135]
Áng tường quang [136] tuôn trước ngọn huyền lô. [137]
73- 唏 妖 魅 抉 𨑜 旗 青 道;
盎 祥 光 𣻆 𠓀 𦰟 玄 蘆。
(74) Rặng đầu ghềnh người mượn chữ vu viên, [138] răn loài hồng nhạn;
Ca cuối vũng kẻ ngâm câu tại chử, nhủ lũ ê phù. [139]
74- 鄧 頭 涼 𠊚 𠼦 𡦂 于 園,呡 類 鴻 雁
歌 𡳳 淎 仉 吟 句 在 渚,啂 僂 鷖 鳧。
(75) Lời ca ngợi tưởng ngồi trong Chu nhã; [140]
Điệu ngâm nga nghe đứng giữa Nghiêu cù. [141]
75- 𠳒 歌 𡃛 想 𡎢 𥪝 周 雅,
調 吟 哦 𦖑 𥪸 𡧲 堯 衢。
(76) Ngẫm nay đà vui thú tạc canh, [142] đành chốn chốn cũng ca đồng vũ tẩu; [143]
Nhớ trước đã thoả loài động thực, [144] hẳn đâu đâu đều bặt quỷ im hồ. [145]
76- 嬐 𠉞 㐌 𢝙 趣 凿 耕,𠷥 坉 坉 拱 歌 僮 舞 叟;
𢖵 畧 㐌 妥 類 動 植,罕 兜 兜 調 匐 鬼 庵 猢。
(77) Nay lệnh tiết [146] đã tin điềm thái lãng; [147]
Xin thánh nhân càng ghín [148] chữ dự du. [149]
77- 𠉞 令 節 㐌 信 兆 太 朖,
嗔 聖 人 强 謹 𡦂 豫 遊。
(78) Ngọn nguồn tuôn dàn rụa mái kia ghềnh, đèn chiếu thuỷ [150] chia dòng Kinh Vị; [151]
Chòm cỏ mọc tần vần bên nọ miếu, trống thôi hoa [152] rẽ khóm huân do. [153]
78- 𦰟 源 𣻆 瀾 墮 𠃅 箕 涼 ,畑 炤 水 𢺹 𣳔 涇 渭;
𫇳 𦹯 𠚐 頻 運 边 怒 廟,𤿰 摧 花 𢬦 莰 薰 蕕。
(79) Nhận giá sắc [154] xét dân phong cần noạ; [155]
Ngắm phong quang soi vật tính thanh ô. [156]
79- 認 稼 穑 𥌀 民 風 勤 惰;
𥋴 風 光 𤐝 物 性 清 溩。
(80) Chốn chiểu đài [157] xem cá nhảy chim bay, thâu sĩ lộ [158] nơi thông nơi trệ [159]
Miền thôn ổ lắng chim kêu gà gáy, lượng nhân gian nơi háo nơi trù.[160]
80- 坉 沼 台 趾 𪀄 飛,揪 士 路 尼 通 尼 滯;
沔 村 塢 𠻴 𪀄 叫 鵸 𠰁,量 人 間 尼 好 尼 惆。
(81) Tình u uẩn khắp bày trong thị thính; [161]
Hiệu trị bình đành sắp dưới tề tu. [162]
81- 情 幽 慍 泣 排 𥪝 視 聽;
効 治 平 忊 拉 𨑜 齐 修。
(82) Nơi mạch [163] kia dân tựa ấy làm trời, hang chuột ẩn [164] há chừa nơi cỏ khuất;
Bờ liễu nọ kẻ xây đà vững đất, lỗ kiến đùn khôn chuyển buổi nguồn xô. [165]
82- 尼 陌 箕 民 似 意 爫 𡗶,﨏 𤝞 隱 呵 除 尼 𦹯 屈;
坡 柳 怒 仉 搓 㐌 凭 坦,魯 蜆 吨 坤 轉 𣇜 源 趨。
(83) Đem phong cảnh lại một bầu chi nhỏ; [166]
Mở thái bình ra bốn bể mới to.
83- 𨑻 風 景 吏 沒 泡 之𡮈;
𩦓 太 平 𦋦 𦊚 波 買 租。
(84) Tôi nay:
Hổ mình thiển lậu; [167]
Dại trí thô sơ.
84- 碎 𠉞:
𠵴 淺 陋;
𢘽 智 粗 初
(85) Dư một kỷ [168] yên bề hu lịch; [169]
Ngoài năm tuần [170] thẹn bóng tang du. [171]
85- 餘 沒 紀 安 皮 樗 櫟;
外 𠄼 旬 𢢆 𣈖 桑 柚。
(86) Trước phượng đàn đứng sánh hàng loan, [172] trông hồ cảnh tiến một chương ly ngữ; [173]
Bên ngự đạo [174] ngửa trông vầng nhật, [175] nổi thanh sơn [176] mừng muôn kỷ dao đồ [177].
86- 畧 鳳 壇 𥪸 逞 行 鸞, 𥉫 鐭 湖 景 荐 沒 章 璃 語;
边 御 道 𠑕 𥉫 暈日,挼 青 山 𢜠 閍 紀 遙 圖
(1801)
(hết Bài Tụng Tây Hồ phú)
Ảnh hoàng hôn trên Hồ Tây, Google.

Chú thích
***
[1] Chín cõi: tức 9 quận là lãnh thổ cũa nước Việt xưa là: [1] Nam Hải, [2] Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay), [3] Thương Ngô, [4] Uất Lâm (Quảng Tây), [5] Chu Nhai, [6] Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam), [7] Giao Chỉ, [8] Cửu Chân (miền Bắc Việt Nam) và [9] Nhật Nam.
Hiện nay lãnh thổ Việt Nam chỉ còn có 3 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam(!!!)
[2] Đại trạch: 大 lớn. Trạch: 泽 cái đầm lớn
[3] Kim ngưu, 金 牛, Tương truyền, ngày xưa, ông Khổng Minh Không đúc 1 cái chuông lớn, khi dánh lên tiếng vang xa đến tận bên Tàu. Khi ấy có 1 con trâu vàng (kim ngưu) nghe tưởng mẹ nó kêu nên liền chạy sang tìm mẹ, chạy qua lại vòng quanh vùng đất xuất phát tiếng chuông, thành Hồ Tây ngày nay.
[4] Cao vương: 高 王, tức Cao Biền, Thái Thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân.
[5] Hoàng đô: 皇 都, kinh đô vua.
[6] Tinh chử: 星 渚, bãi sông nước trong.
[7] Câu bạc: 沟 泊, cái ngòi nước trắng bạc.
[8] Cao vương: 高 王, tức Cao Biền, Thái Thú đời Đường sang cai trị nước ta. Tương truyền ông có tài trấn yểm long mạch để nước ta không thể phát sinh các bậc thánh quân.
[9] Thạch tháp: 石 塔, tháp bằng đá.
[10] Thổ đôi: 土 堆, gò đất.
Xin cho thiển thổ một đôi
Gọi là đấp điếm cho người tử sinh.
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2561-2562
[11] Mục Lang: 穆 郎, Chuyện Mục Thận đời Lý, theo sách Việt Điện U Linh: Một hôm vua Lý Nhân Tông đang ngự thuyền trên Hồ Tây, bỗng có sương mù dày đặc, thoáng có bóng một con hổ lớn, nhe răng muốn vồ nhà vua. Lúc ấy, Mục Thận đang đánh cá trên hồ, liền tung lưới bắt được con hổ. Con hổ đó hóa ra là Thái Sư Lê Văn Thịnh.
[12] Trấn vũ: 鎭 武, là tên gọi tại Việt Nam của thần Chân Vũ, người Việt còn gọi là Trấn Võ, húy danh Chấp Minh (執 明) là một trong những vị thần được thờ phụng phổ biến tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Vị thần này tượng trưng cho sao Bắc cực, và là một vị thần lớn của Đạo giáo thống trị phương Bắc, kiêm quản lý các loài thủy tộc nên cũng được coi là thủy thần hay hải thần. Nguồn Wikipedia.
[13] Ghềnh Vạn bảo: 涼 䃄 宝, ghềnh có vạn của báu.
[14] Kim Liên: 金 蓮, sen vàng.
[15] Tĩnh phạn: 靜 範, cõi Phật.
[16] Bố Cái: 布 丐 Bố Cái Đại Vương 布 丐 大 王, là tên mà nhân dân suy tôn cho Phùng Hưng. Theo một số nguồn dã sử, Phùng Hưng sinh ngày 25/11 /760 (tức 5/1/761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13/9/802), thọ 41 tuổi. Nguồn Soha.vn
[17] Bà Đanh: 妑 釘, Chùa Bà Đanh hay còn gọi “Bảo Sơn Nữ”, tọa lạc trên một vùng đất tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam.
[18] Thạch Khối 石 塊 là 1/16 cửa ô của Thành Thăng Long. Là lò nung vôi. Nay ở đầu dốc Hàng Than, sau đổi thành Nghĩa Lập. Nguồn Wikipedia.
[19] Ghềnh Nhật Chiêu 涼 日 招, là Nhật Tân ngày nay.
[20] Yên Thái 安 泰, là làng chuyên làm giấy rất nổi tiếng, chủ yếu là giấy bạc và giấy moi.
[21] Nghi Tàm 宜 蚕, là tên thôn thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ, bám sát bờ đông hồ Tây, có một doi đất nhô ra. Nghi Tàm là một làng cổ, đời Lý đã có tên là phường Tích Ma tức gai sợi, đời Trần đổi ra Tầm Tang tức dâu tằm, sang đời Lê mới đổi là Nghi Tàm tức hợp với con tằm.
[22]Chùa Châu Long: 珠 龍, chùa toạ lạc trên một gò đất gọi là núi Châu Long ăn ra đến giữa hồ Trúc Bạch, huyện Vĩnh Thuận, nay ở số 44 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa đã có từ lâu đời, có tên chữ là Phúc Lâm tự, tương truyền do vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293) cho dựng để công chúa đi tu.
[23] Thú cổ: 戍 皷, tiếng trống đồn biên ải.
[24] Phục tượng hay dụ tượng, dụ voi. Xưa ở Hồ Tây có một quả núi tên là Phục Tượng sơn, 伏 象 山.
[25] Hàn châm: 寒 砧, chày lạnh, tiếng chày vang lên trong đêm lạnh, để giặt áo, đập ao, giã vật liệu gỗ thô để làm giấy.
[26] Nịnh Thích 甯 戚, người nước Vệ, thời Xuân Thu, vì nhà nghèo phải sang nước Tề ở chăn trâu cho người khác. Một hôm, Nịnh Thích gõ sừng trâu để hát, Tề Hoàn công đi qua, nghe tiếng hát lấy làm cảm động, liền dùng làm thượng khanh.
[27] Thương lang: 滄 浪, con sông nơi Khuất Nguyên tự trầm.
[28] Chu Mãi Thần vì nghèo phải gánh củi đổi gạo sinh nhai nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức Thái Thú, vợ quay lại, ông không chấp nhận.
[29] Bốn bạn: là ngư (đánh cá), tiều (đốn củi), canh (cày ruộng), mục (chăn nuôi).
[30] “Núi Khán Sơn, 看 山, ở phía tây cửa cung vua ngày trước, chu vi hơn 20 trượng, là núi đất hơi cao, trên đỉnh nhọn, đời vua Lê Thánh Tông vẫn lấy núi ấy làm chỗ ngồi ngự để xem điểm binh, cho nên mới gọi là Khán Sơn”.
[31]Lãnh thố: 冷 兔, thỏ lạnh, tức mặt trăng.
[32] Làng Võng Thị, 廊 望 市 xưa kia có một số ít ruộng nằm ven hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ. Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc điểm này (võng là lưới cá), nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại đây đã hình thành một chợ bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.
[33] Hy Hoàng: 羲 皇Vua Phục Hy và Hoàng Đế, thời thượng cổ nước Tàu. Đời Tấn, Đào Tiềm 陶 潛, (? - 427), từ quan về ở Sài Tang, nằm ngủ cạnh cửa sổ, tự xưng là người của vua Hy, vua Hoàng.
[34] Song bắc: 窗 北, bắc Song xử sĩ là biệt hiệu của Đào Tiềm đời Tấn, chỉ người có tài ẩn dật.
[35] Hai kho: 𠄩 庫, gió và trăng.
Đành hay trời đất dành cho
Hai kho phong nguyệt nghìn thu hãy còn.
Vịnh Tiền Xích Bích phú, Nguyễn Công Trứ, lấy ý của Bài Tiền Xích Bích phú 前 赤 壁 賦 của Tô Thức 蘇 軾; ông tự là Tử Chiêm 子 瞻, quen gọi Tô Đông Pha, 蘇 東 坡 (1036-1101).
[36] Thanh ngu: 清 娛, thanh lịch và vui vẻ.
[37] Quan Ngư: 觀 漁, Xem đánh cá. Vua Trần Huệ Tông sai làm quán ở Hồ Tây để xem đánh cá.
[38] Long Khánh: 隆 慶, mừng hưng thịnh, niên hiệu vua Trần Duệ Tông, (1373-1377).
[39] Dụ tượng: 諭 象, dụ voi, xưa ở Hồ Tây có quả núi tên Phục Tượng sơn, tức là núi Voi phục.
[40] Kiền phù: 乾 浮, Kiền Phù hữu đạo, niên hiệu của Lý Thái Tông (1039-1042)
[41] Bát vịnh du hồ: 八 詠 遊 湖, Tám bài vịnh khi đi chơi trên hồ do chúa Trịnh sai các quan làm ra.
[42] Qui phúng: 歸 諷 phép tắc và bóng bẩy; lấy lời bóng bẩy mà khuyên người nên ăn ở cho phù hợp với phép tắc.
[43] Liên ngâm thưởng nguyệt: là bài thơ của bà Liễu Hạnh cùng làm với Phùng Khắc Khoan, ông họ Lý và một ông họ Ngô khi đi chơi trăng ở Hồ Tây.
[44] Giao phu: 交 夫, đồng chí tín cẩn (chữ Kinh Dịch).
[45] Canh họa: 賡 和, họa theo, nối theo bài thơ xướng.
[46] Tiêu tường: 椒 牆, chốn thâm nghiêm; nổi bụi tiêu tường: có loạn.
[47] Hiệu khiết: 顥 潔, trong sạch.
[48] Hoang khô: 荒 枯, hoang vu và khô héo.
[49] Trì đàm: 池 潭, ao đầm.
[50] Thanh quang: 清 光, trong sạch và sáng sủa.
[51] Khoa đẩu: 蝌 蚪, con nòng nọc.
[52] Phạm vũ: 範 宇, nhà chùa.
[53] Tri thù: 蜘 蛛, con nhện.
[54] Túc điểu: 宿 鳥 chim ngủ.
[55] Du ngư: cá vui chơi.
[56] Đỗ Vũ: 杜 鵡, chim cuốc.
[57] Hà mô: 蝦 蟆, con ễnh ương.
[58] Cày mây: cày dưới bóng mây
[59] Nghê: cầu vồng.
[60] Thơ thất nguyệt: tên một bài thơ trong Kinh Thư do Chu Công làm ra nói những nỗi vất vả, gian nan khi xây dựng nhà Chu.
[61] Mục thụ: 牧 豎, trẻ chăn trâu.
[62] Điếu nguyệt: 弔 月, câu cá dưới trăng.
[63] Tam mô: 三 謩 ba thiên trong KinhThư: Vũ mô, Cao dao mô, Ích tắc mô. Chỉ những kế sách trị nước.
[64] Ve nhặng: 蟡 蠅 chỉ bọn tiểu nhân.
[65] Trai cò 琜 𫛈: bọn tranh giành. Lấy ý: bạn duật tương trì, ngư ông đắc lợi. Trai cò kình (chống) nhau, là cái lợi của ngư ông.
[66]Cao lưu 高 流: chỉ người thượng lưu, quí phái.
[67] Chếch mác: 隻 鏌 lầm lẫn, sứt mẻ, không vẹn toàn.
[68] Nhạo thủy: 樂 水 thích nước, chỉ người trí thức: Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn. (Luận ngữ). 智 者 樂 水,仁 者 樂 山. Người trí thức thích nước, người có lòng nhân thích núi.
[69] Rạng quế: 瞆 桂, mặt trăng tỏ rạng, sáng vằng vặc.
[70] Bay ngô: 哾 梧, lá ngô đồng bay, tức mùa thu.
[71] Thành trĩ: thành cao 1 trượng, ngang 3 trượng (1 trượng= 3m33)
[72] Tiêu lương: 蕭 涼, cũng như thê lương, tiêu điều, quạnh quẽ.
[73] Hoắm: 陷, sâu
[74] Năm Mậu Thân: 戊 申, là năm 1788, Quang Trung xưng Hoàng Đế, kéo quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị.
[75] Tường vân: 祥 雲 mây báo điềm lành, chỉ cảnh thái bình.
[76] Đãng địch: 盪 敵, quét sạch giặc Tàu xâm lược là Tôn Sĩ Nghị.
[77] Năm Canh Tuất: 庚 戌, là năm 1790, là năm sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, Vua Quang Trung cầu phong nhà Thanh.
[78] Thời vũ: 時 雨, mưa đúng thời, mưa thuận, trúng mùa, trăm họ yêu vui.
[79] Chiêm nhu hay triêm nhu: 霑 需, thấm nhuần.
[80] Chốn bảy cây: xưa, 坉 𦉱 核, nơi giáp nhau của Hồ Trúc Bạch và Tồ Tây, có 7 cây cổ thụ.
[81] Lăng vân: 凌 雲, cao ngất tận mây, ý nói cao chót vót.
[82] Thương lão: 蒼 老, già cỗi.
[83] Hí thủy: 戲 水, vui đùa trong nước.
[84] Uyên ương: 鴛 鴦, loài ốc, con đực là uyên; con cái là ương, thường ôm nhau không rời.
Uyên ương ngoã lãnh sương hoa trọng
Phỉ thuỷ khâm hàn thuỳ dữ cộng
鴛 鴦 瓦 冷 霜 華 重,
翡 翠 衾 寒 誰 與 共
Trường hận ca, Bạch Cư Dị.
Nghĩa là:
Lớp sương nặng phủ trên mái ngói uyên ương giá ngắt
Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền, chung đắp cùng ai?
[85]Trầm phù: 沉 浮, chìm nổi.
[86] Hoa thạch: 花 石, hoa và đá.
[87] Trùng cầm: 虫 禽, côn trùng và chim chóc.
[88] Nội Chu: 㘨 周, Vua Vũ Vương nhà Chu thả trâu ngựa ra đồng, tỏ ý khong muốn động binh nữa.
[89] Kình ngạc: 鯨 鰐, cá kình và cá sấu, chỉ binh lính.
"Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh."
ĐTTT, Nguyễn Du, câu 2251-2252.
[90] Cô Trúc: 姑 竹, nước của Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc. Hai ông nầy khinh Vũ Vương vô đạo, không thèm ăn thóc nhà Chu, lên núi Thú Dương ăn rau Vi, nhịn đói mà chết.
[91] Sào Do: 巢 由, hai danh sĩ sống thời vua Nghiêu. Hứa Do người hiền được vua Nghiêu mời đến truyền ngôi nhưng ông từ chối và đi xuống sông Dĩnh Thủy rửa tai. Sào Phủ hỏi vì sao, Hứa Do thuật y lời. Sào Phủ bèn dắt trâu lên trên dòng sông, e rằng trâu uống nhằm phải nước rửa tai rất dơ. Sào Phủ còn nói thêm là ông làm sao cho người ta biết là người hiền mà truyền ngôi, phải chăng cái bụng ông vẫn còn ham danh lợi. Huỳnh Tịnh Của có phê: “Nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe”.
[92] Tây hữu: 西 友, Chỉ Phật. Tây phương hữu thần, danh viết Phật, sách Hán sử. 西 方 有 神, 名 曰 佛. Tây phương có thần linh, tên là Phật.
[93] Lũ Ngô 僂 吳 hay Lũ Tàu, chỉ tàn quân Tôn Sĩ Nghị, chạy trốn về Tàu, được tha cho về nước; niệm Nam mô, ý ca ngợi Tây Sơn từ bi như Phật.
[94] Linh dị: 靈 異, linh ứng dị thường.
[95] Hậu nhân: 厚 仁, nguồn nhân hậu, nhân đức.
[96] Kim thang: 金 湯, kim thành, thang trì: Xây thành bằng chất liệu kim khí, hào lũy nước nóng, ý nói thành rất kiên cố.
[97] Nước trí non nhân nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy, Luận ngữ: 知 者 樂 水,仁 者 樂 山. Người nhân thích núi, người trí trích nước.
[98] Biên ngu: 边 嵎 góc núi hiểm trở, chốn biên ải.
[99] Thanh dung: 清 容 dáng vẻ thanh tao.
[100] Chính thống: 正 統, triều đại khai sáng một cách quang minh chính đại. Trái ngược với ngụy triều, là không chính đáng như cướp ngôi, đoạt quyền (như nhà Hồ, nhà Mạc).
[101] Hoành mô: 橫 模, qui mô rộng lớn.
[102] Kiền khôn hay càn khôn: 乾 坤, trời đất.
[103] Đô du: 都 歈 tốt, phải lẽ. Vua – tôi tương đắc, lấy tích cách ứng xử của vua Thuấn- bề tôi.
[104] Bắc trạch: 北 澤, nhà phương Bắc, chỉ hoàng cung.
[105] Ngưu chử: 牛 渚 Bến Kim Ngưu gần Hồ Tây.
[106] Phương phu: 芳 敷, hương thơm phô bày, bay xa.
[107] Hủ thảo: 朽 草 cỏ mục. Người xưa tin rằng cỏ mục hóa thành đom đóm 㶩 𧍈 vào tháng 7; do đó có thơ Thất nguyệt trong kinh Thi, chỉ vương nghiệp bắt đầu.
[108] Tường vân: 祥 雲 mây báo điềm lành.
[109] Tua Rua: 須 𣌌, tên chòm sao xuất hiện vào tháng 6, tức là tiết mang hiện.
[110] Cấn tượng bốn hào: 艮 像 𦊚 毫, Theo kinh Dịch, quẻ cấn, hào thứ tư nói về sự thành công.
[111] Tuế luật: 歳 律 luật trời trong mỗi năm.
[112] Di tân: 彌 新 theo tuế luật, Di tân chỉ tháng giêng, mở ra cho một vận hội mới.
[113] Vãng phục: 往 復 qua rồi, trở lại.
[114] Doanh hư: 嬴 虛, đầy vơi. Chỉ lẽ tuần hoàn.
[115] Lục âm: 陸 陰, dưới đất, khí âm.
[116] Vạn phẩm: 萬 品, vạn vật.
[117] Cửu đạo: 九 道, chín đường đi của mặt trăng theo thiên văn học xưa.
[118] Thất chính: 七 正, bảy thiên thể gồm mặt trời, mặt trăng và 5 thên thể khác như thất tinh.
[119] Đẩu khu: 斗 枢, đẩu xu, then máy ở sao Bắc Đẩu.
[120] Khâm kính: 欽 敬, khâm phục, kính trọng.
[121] Hạo đãng: 浩 蕩, rộng rãi, khoảng khoát.
[122] Cung càn hay cung kiền: 恭 乾 kính cẩn chân thành.
[123] Linh u: 靈 幽, linh thiêng, tối tăm.
[124] Ngọc bạch: 玉 帛, ngọc và lụa.
[125] Thang Vũ: 湯 禹, Thành Thang khai sáng nhà Thương; Vũ Vương khai sáng nhà Hạ, có công trị thủy.
[126] Đường Ngu: 唐 虞, Đời nhà Đường và đời vua Nghiêu Thuấn được coi là thời đại hoàng kim trong cổ sử Trung Hoa.
[127] Huân phong: 薰 風, Gió ấm dịu, mát mẻ. Gió Nam thổi mát, vua Thuấn gảy đàn và hát:” Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề”. 南 風 之 薰 兮,可 以 解 吾 民 之 愠 兮. Gió Nam mát mẻ, có thể giải được sự nóng bức cho dân ta.
[128] Ngũ bái: 五 拜, 5 lạy. Bề tôi phải lãy vua 5 lạy.
[129] Tam hô: 𨑜 三 呼, ba lần hô. Hán Vũ Đế vào núi nghe sơn thần tung hô 3 lần vạn tuế.
[130] Vũ lộ: 雨 露, mưa móc, chỉ ơn vua.
[131] Uyên lộ: 鴛 鷺, chim uyên và cò, thường đứng thành hàng như các quan khi chầu vua.
[132] Đan thành: 丹 誠, lòng trung thành son sắt.
[133] Nghêu sò: 蟯 𧎷, chỉ hạng cùng dân, người hái rau, người cắt cỏ.
[134] Yêu mị: 妖 魅, bọn gian nịnh.
[135] Thanh đạo: 青 道, con đường sạch, chỉ chính sự đã thanh trừng, tảo thanh, khai quang.
[136] Tường quang: 祥 光, ánh sáng báo điềm lành.
[137] Huyền lô: 玄 蘆, cờ lau đen, cờ đen.
[138] Vu viên: 于 園, hồng nhạn vu viên, chim nhạn về làm tổ ở vườn nhà. Ý nói dân chúng chạy loạn, trôi giạt, bây giờ cảm đức của vua, về nhà cũ an cư lạc nghiệp.
[139] Ê phù tại chử: 鷖 鳧 在 渚, cò, vịt trời ở bến nước, Ca ngợi nền thái bình nhà Chu, Kinh Thi.
[140] Chu nhã: 周 雅, thiên Đại Nhã trong kinh thi, ca ngợi thời thái bình thịnh trị nhà Chu.
[141] Nghiêu cù: 堯 衢, đường đi dưới thời vua Nghiêu, chỉ cảnh thái bình phong túc: Đêm ngủ không đóng cửa, đi đường không ai lượm của rơi, vì ai cũng no đủ, không phải trộm cắp.
[142] Tạc canh: 鑿 耕, tạc tỉnh nhi ẩm, 鑿 井 而 飲 canh điền nhi thực: 耕 田 而 食, Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn. Chỉ cảnh sống no đủ dễ dàng.
[143] Ca đồng, vũ tẩu: 歌 僮 舞 叟, trẻ con ca, người già múa, vui cảnh thái bình.
[144] Động thực: 動 植, động vật và thực vật.
[145] Bặt quỷ im hồ: 匐 鬼 庵 猢, vắng bặt ma quỷ, hồ ly tinh đều im lặng.
[146] Lệnh tiết: 令 節, tiết lành.
[147] Thái lãng: 太 朖, thái bình và sáng sủa.
[148] Ghín: 謹 cẩn thận, răn giữ, từ cổ𡦂.
[149] Dự du: 豫 遊, quá vui chơi.
[150] Chiếu thủy: 炤 水, chiếu trong nước. Đèn chiếu thủy là 1 cây đèn thần, chiếu vào nước sẽ thấy toàn bộ các loài quái vật ẩn nấp trong đó.
[151]Kinh vị 涇 渭, là 2 con sông, sông Kinh đục, sông Vị trong.
[152] Thôi hoa: 摧 花, thúc giục hoa nở. Theo sách Nguyên Hòa Dị sử, đời Đường Minh Hoàng, ghi rằng, vua sai Cao lực sĩ đánh 1 hồi trống, khi đó các loài mai ở vườn ngự uyển đều nở hoa.
[153] Huân do: 薰 蕕 là 2 thứ cỏ, huân, cỏ thơm; do, cỏ thối; chỉ kẻ tốt, người xấu.
[154] Giá sắc: 稼 穑, cấy và gặt.
[155]Dân phong cần noạ: 民 風 勤 惰, thói dân siêng năng hoặc lười biếng; cần 勤, siêng năng; nọa 惰, lười biếng.
[156] Vật tính thanh ô: 物 性 清 溩, tính của vạn vật, trong sạch hay dơ bẩn.
[157] Chiểu đài: 沼 台, ao và nhà lầu, chỉ cảnh sống thái bình của Chu Văn Vương.
[158] Sĩ lộ: 士 路 con đường tiến thân của kẻ sĩ, con đường làm quan.
[159] Thông trệ: 通 滯 trôi chảy thông suốt, đình đốn, bế tắc.
[160]Nơi háo nơi trù: 量 人 間 尼 好 尼 惆 nơi dư dật, nơi thiếu thốn.
[161] Thị thính: 視 聽, thấy và nghe.
[162] Tu tề trị bình: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 修 身, 齐 家, 治 国, 平 天 下. Đó là con đường xuất xử của Nho sĩ.
[163] Mạch: 陌, con đường nhỏ, bờ ruộng.
[164] Hang chuột ẩn, 﨏 𤝞 隱 lỗ kiến đùn: 魯 蜆 吨, chỉ bọn nịnh thần, gian tà, phá hoại.
[165] Nguồn xô: 源 趨, dòng nước chảy.
[166] Chi nhỏ: 之 𡮈, rất nhỏ.
[167] Thiển lậu: 淺 陋, cạn cợt, quê mùa.
[168] Kỷ: 紀, 1 kỷ có 12 năm.
[169] Hu lịch: 樗 櫟, loài gỗ xấu, chỉ kẻ bất tài.
[170] Ngoại năm tuần: 外 𠄼 旬, trên 50 tuổi.
[171] Bóng tang du: 𣈖 桑 柚, do câu nhật tạc tang du, 日 胙 桑 榆, mặt trời ngã bóng trên đám dâu, Phương tây, chỗ mặt trời lặn gần sát đất, chỉ cảnh già.
[172] Phượng 鳳 là chim trống; loan 鸞, là chim mái. Tác giả tự khiêm” trong hàng quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.
[172] Ly ngữ: 璃 語, lời thơ trau chuốt.
[172] Ngự đạo: 御 道, đường đi của vua.
[172] Vầng nhật: 暈 日 mặt trời, chỉ nhà vua.
[172] Thanh sơn: 青 山, núi xanh.
[172] Muôn kỷ dao đồ: 閍 紀 遙 圖,
muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙 圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn. các quan của Tây Sơn, ông chỉ là con chim mái, hay đứng vào hàng thua kém.
[173] Ly ngữ: 璃 語, lời thơ trau chuốt.
[174] Ngự đạo: 御 道, đường đi của vua.
[175] Vầng nhật: 暈 日mặt trời, chỉ nhà vua.
[176] Thanh sơn: 青 山, núi xanh.
[177] Muôn kỷ dao đồ: 閍 紀 遙 圖,
muôn=vạn=10.000, kỷ=12 năm; muôn kỷ=12.000 năm, nói là nói vậy chứ muôn kỷ là thời gian lớn lắm. Dao đồ 遙 圖, là cơ đồ tươi sáng, rạng rỡ như ngọc dao, chỉ đế nghiệp nhà Tây Sơn.

Ảnh minh họa:
a: Ngơ ngẩn vẻ đẹp của Hồ Tây xưa, ảnh Báo Mới.
b: Hoàng hôn trên Hồ Tây, Google.
(Còn tiếp)




Không có nhận xét nào: