Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Góc Việt Thi : Thơ CAO BÁ QUÁT (2) (Dỗ Chiêu Đức biên soạn)

 Góc Việt Thi : 

                      Thơ CAO BÁ QUÁT (2)

                                           
1. BẠC MỘ 薄暮 :
               薄 暮                     BẠC MỘ
壁 峭 軒 空 風 倒 吹,    Bích tiễu hiên không phong đảo xuy
煙 青 霜 勁 漏 如 絲。    Yên thanh sương kính lậu như ty.
丹 良 著 慢 無 藏 曜,    Đan lương trước mạn vô tàng diệu
白 鳥 翻 帷 不 受 饑。    Bạch điểu phiên duy bất thụ ky(cơ).
抱 膝 吟 殘 人 自 遠,    Bão tất ngâm tàn nhân tự viễn, 
倚 樓 心 在 我 應 知。    Ỷ lâu tâm tại ngã ưng tri.
早 梅 晚 菊 縱 疏 放,    Tảo mai vãn cúc tung sơ phóng,
也 看 搖 搖 有 幾 枝.     Dã khán dao dao hữu kỷ chi.
            高 伯 适                             Cao Bá Quát
             
                              


* Chú thích :
    - BẠC MỘ 薄 暮 : BẠC là Nhạt, sát gần, giáp. MỘ 暮 có Bộ NHẬT 日 bên dưới, chỉ lúc mặt trời sắp lặn, nên BẠC MỘ là Lúc gần tối, là Chiều hôm, là Xẩm tối.
    - Bích Tiễu 壁 峭 : là Vách núi dựng đứng, chon von, hiểm trở.
    - Sương Kính 霜 勁 : là Sương nặng hạt, Sương dày đặc. 
    - Đan Lương 丹 良 : ĐAN là màu đỏ, là Chu sa; LƯƠNG là Mồ mả, ruộng đồng, nên ĐAN LƯƠNG là "Ánh sáng chiếu sáng ở ngoài đồng ruộng, nên là tên riêng của con Đom Đóm. Theo sách《Cổ Kim Chú. Ngư Trùng 古 今 注· 魚 蟲》của Thôi Báo 崔 豹 đời Tấn có ghi “Huỳnh hỏa ... nhất danh Đan Lương 螢 火,… 一 名 丹 良” có nghĩa :"Đom Đóm... còn có tên là ĐAN LƯƠNG".
    - Diệu 曜 : là Tinh tú trên trời, kể c mt trời và mặt trăng.
    - Bạch Điểu 白 鳥 : Không phải là con chim trắng, mà là tên riêng để gọi loài Mui. Theo《Đại đới Lễ ký 大 戴 禮 記》:Bạch Điểu dã giả, Vị Văn Nhuế dã「白 鳥 也 者,謂 蚊 蚋 也」Có nghĩa: Cái gọi là BẠCH ĐIỂU, chính là Mui Mòng đó.
    - Bão Tất 抱 膝 : BÃO là Ôm; TẤT là Đầu gối. BÃO TẤT là Ôm gối, là Bó gối.
    - Ngâm Tàn 吟 殘 : Ngâm đến tàn đêm là Ngâm nga suốt đêm.
    - Ỷ Lâu 倚 樓: Ỷ là dựa vào, Tựa vào; LÂU là Lầu. Ỷ LÂU là (Ngồi hay đứng) Tựa vào lầu.

* Nghĩa bài thơ :
                          CHIỀU TÀN
       Đứng trước mái hiên trống không, nhìn vách núi dựng đứng cheo leo trong khi gió đang thổi ngược chiều. Sương xuống dày đặc như những sợi tơ trong sương khói xanh xanh. Những con đom đóm lập lòe không che nổi ánh sáng trăng, và những con muỗi bay lọt vào màn thì không lo bị đói nữa. Suốt đêm ngồi bó gối ngâm nga nhưng người xa thì cũng đã xa rồi; Đứng tựa vào lầu mà lòng ở đâu đâu, ta cũng biết cho điều ấy. Trong cái buổi cúc nở muộn còn mai thì nở sớm nầy, dù cho có cố gắng nở, thì cũng chỉ phất phơ loe hoe có mấy cành mà thôi.
           

  
* Diễn Nôm :
                              BẠC MỘ
                  Hiên vắng cheo leo gió ngược trời,
                  Khói xanh sương đậm tợ tơ rơi.
                  Ngoài trời đom đóm khôn che sáng,
                  Trong trướng muỗi mòng chẳng đói tơi.
                  Bó gối ngâm tràn người vẫn vắng,
                  Tựa lầu lòng nhớ mỗ luôn hay.
                  Cúc tàn mai sớm tuy đua nở,
                  Cũng chỉ loe hoe phát mấy chồi !
       Lục bát :
                     
          
                  Hiên không ngược gió cheo leo,
                  Khói mờ sương nặng hạt gieo tơ mành.
                  Lặp lòe đóm lượn trăng thanh,
                  Vào màn muỗi cũng chẳng đành đói nha.
                  Tàn đêm bó gối người xa...
                  Tựa lầu ngơ ngẩn lòng ta hay cùng.
                  Cúc muộn mai sớm nở bung,
                  Chỉ lơ thơ cũng mấy cành mà thôi !

2. BẠC MỘ TƯ GIA 薄 暮 思 家 :    
           薄 暮 思 家               BẠC MỘ TƯ GIA
 城 上 凍 雲 千 里 陰,    Thành thượng đống vân thiên lý âm,
 梁 園 花 柳 瞙 沉 沉。    Lương viên hoa liễu mạc trầm trầm.
 高 堂 兩 處 思 兒 淚,    Cao đường lưỡng xứ tư nhi lệ,
薄 宦 三 春 感 舊 心。    Bạc hoạn tam xuân cảm cựu tâm.
對 榻 貧 妻 烹 北 茗,    Đối tháp bần thê phanh bắc mính,
敲 門 小 女 弄 南 音。    Xao môn tiểu nữ lộng nam âm.
邦 家 有 道 知 何 用?    Bang gia hữu đạo tri hà dụng?
一 病 蹉 跎 歲 自 深。    Nhất bệnh tha đà tuế tự thâm.
              高 伯 适                             Cao Bá Quát
             
                       
* Chú thích :
    - BẠC MỘ TƯ GIA 薄 暮 思 家 : là "Chiều Hôm Nhớ Nhà".
    - Lương Viên 梁 園 : là Vườn Lương, còn được gọi là LƯƠNG UYỂN 梁 苑 hay THỐ VIÊN 兔 園 do Lương Hiếu Vương đời Tây Hán xây dựng nên, là một lâm viên của hoàng gia tiếp đãi và nuôi ăn rất nhiều thực khách; nhưng đối với người có hoài bão lớn như Tư Mã Tương Như thì ông cho rằng:「Lương Viên tuy hảo, phi cữu luyến chi gia 梁 園 雖 好,非 久 戀 之 家」Có nghĩa: "Lương Viên tuy tốt, nhưng không phải là nhà để ta lưu luyến". 

                
               

    - Cao Đường 高 堂 : chỉ Xuân 椿 (Thung) 堂 Đường và Huyên Đường 萱 堂, chỉ chung Cha và Mẹ thì gọi là CAO ĐƯỜNG.
    - Bạc Hoạn 薄 宦 : là Chức quan mỏng manh, nhỏ nhoi.
    -Tam Xuân 三 春 : là Ba tháng của mùa Xuân (làm cho cỏ đã khô chết trong mùa Đông sống lại) lấy ý trong 2 câu thơ cuối trong bài Du Tử Ngâm của Mạnh Giao đời Đường là: "Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, Báo đắc TAM XUÂN huy 誰 言 寸 草 心,報 得 三 春 晖 ?" Có nghĩa : "Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ, Báo đền được nắng BA XUÂN?" mà khi bán mình chuộc tội cho cha Thúy Kiều đã quyết rằng "Liều đem tấc cỏ quyết đền BA XUÂN !"
    - Bắc Mính 北 茗 : Còn đọc là "BẮC MINH" là Trà (Chè) của phương Bắc.
    - Nam Âm 南 音 : là Âm Nhạc của phương Nam.
    - Bang Gia Hữu Đạo 邦 家 有 道 : Có xuất xứ từ sách 《論 語· 衛 靈 公 Luận Ngữ, Vệ Linh Công》Tử viết: Bang hữu đạo, tắc sĩ; Bang vô đạo, tắc khả quyển nhi hoài chi 子 曰:邦 有 道,則 仕;邦 無 道,則 可 卷 而 懷 之。có nghĩa: "Khổng Tử nói rằng: Nhà nước có đạo nghĩa thì ra làm quan; còn nhà nước vô đạo nghĩa thì co cụm lại mà giữ mình"
    - Tha Đà 蹉 跎 : còn đọc là Sa Đà, là Dây dưa, kéo dài, là lần lữa.

* Nghĩa bài thơ :
                         CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
       Trên thành cao mây đen vần vũ nên bầu trời âm u kéo dài cả ngàn dặm. Nơi Lương Viên phồn hoa nầy cỏ hoa tơ liễu cũng mờ mịt nhạt nhòa. Cha mẹ ở hai nơi nên không tránh khỏi những giọt lệ nhớ thương con cái; Chức quan nhỏ nhoi luôn mang lòng hoài cảm của ba xuân (chưa báo đáp). Trước giường nhỏ bà vợ nghèo khổ đang nung trà phương bắc; Đứa con gái nhỏ thì đang gỏ vào cửa theo âm điệu của phương Nam. Nước nhà đang rất có đạo nghĩa, nhưng ta biết dùng tài năng của mình ra sao đây? Vì hễ bnh nm xuống là cứ dây dưa đến hết năm mới thôi!

* Diễn Nôm :
                      BẠC MỘ TƯ GIA
                        
                  
                Mây thành ngàn dặm trời u ám,
                Hoa cỏ vườn Lương cũng nhạt dần.
                Cha mẹ lệ rơi con lưỡng xứ,
                Quan hèn lòng luống nghĩa ba xuân.
                Trước giường vợ dại nung trà Bắc,
                Gỏ cửa con thơ nhịp giọng Nam.
                Hữu đạo nước nhà, sao dụng võ ?
                Thân mang bệnh tật đã gần năm !
      Lục bát :
                Mây thành ngàn dặm âm u,
                Vườn Lương tơ liễu mịt mù cỏ hoa.
                Mẹ cha nhỏ lệ con xa,
                Quan hèn lòng vẫn nhớ ba xuân tình.
                Trước giường trà Bắc vợ ninh,
                Cửa ngoài con nhỏ rập rình nhịp Nam.
                Nước nhà cần đến, sao cam ?
                Sa đà bệnh tật suốt năm quấy rầy !

3. BẠC VÃN TÚY QUY 薄 晚 醉 歸 :
             薄 晚 醉 歸                  BẠC VÃN TÚY QUY  
酩 酊 歸 來 不 用 扶,    Mính đính quy lai bất dụng phù,
一 江 煙 竹 正 模 糊。    Nhất giang yên trúc chính mô hồ.
喃 喃 自 與 蓮 花 說,    Nam nam tự dữ liên hoa thuyết,
可 得 紅 如 酒 面 無。    Khả đắc hồng như tửu diện vô ?   
               高 伯 适                                   Cao Bá Quát
             
             

* Chú thích :
    - BẠC VÃN TÚY QUY 薄 晚 醉 歸 :  Chập tối uống say về.
    - Mính Đính 酩 酊 : Say Túy Lúy.
    - Bất Dụng 不 用 : là "Không cần...; Không cần phải..."
    - Mô Hồ 模 糊 : Ta nói trại thành MƠ HỒ, không rõ ràng.
    - Nam Nam 喃 喃 : (Nói) Thì thầm, Láp dáp.
    - Khả Đắc... Vô ? 可 得... 無 ?: Có được... không ?

* Nghĩa bài thơ :
                     CHẠNG VẠNG TỐI UỐNG SAY ĐI VỀ
      Say tuý lúy đi về nhưng không cần phải có ai đỡ cả!
      Đầy một sông khói sóng và rừng tre như chập chờn mơ hồ trước mắt.
      Miệng thì láp dáp tự nói với hoa sen rằng:
      Hoa có đỏ được như là cái mặt say rượu của ta không vậy?!

* Diễn Nôm :
                      BẠC VÃN TÚY QUY

             
                   
                 Túy lúy về chẳng phải đỡ đần,
                 Mơ hồ rừng trúc khói đầy sông.
                 Thì thầm khẻ hỏi hoa sen đỏ,
                 Có đỏ được như "mặt xỉn" không ?
       Luc bát :
                 Ngã nghiêng về chẳng cần dìu,
                 Đầy sông khói sóng trúc liêu xiêu mờ.
                 Hỏi rằng sen ở trong hồ...
                 Có đỏ như mặt "tửu đồ" nầy không ?

       Thánh Quát cũng có lúc say sưa phóng túng như thế đấy 
  


       Hẹn bài dịch tới !
                                                              杜 紹 德
                                                          Đỗ Chiêu Đức







Không có nhận xét nào: