Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

Góc Việt Thi : Tùng Thiện Vương và các thi nhân đời Đường (Biên khảo Đỗ Chiêu Đức)

 Góc Việt Thi :  

 Tùng Thiện Vương và các thi nhân đời Đường 

                          

                   VƯƠNG DUY       TÙNG THIỆN VƯƠNG       LÝ BẠCH

      Tùng Thiện Vương là con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 11 tháng 12 năm 1819) tại cung Thanh Hòa trong cấm thành Huế. Mẹ ông là Thục Tần Nguyễn Thị Bửu 阮 氏 寶, người Bình Chương, Gia Định, con gái của Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu 阮 克 紹, rất giỏi chữ nghĩa.
      Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Hiện 晛. Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm 阮 福 绵 审.
      Ông nội ông là vua Gia Long rất vui mừng, thưởng liền 10 lạng vàng. Khi còn nhỏ, tính hay khóc, Thục Tần rất lo mà không biết thế nào. Bỗng có đạo sĩ đến nói rằng: "Đây là sao Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh, làm lễ tiễn thì khỏi." Sau làm lễ, quả nhiên khỏi hẳn.
      Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc công 從 國 公, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế. 
      Năm 1854, ông được gia phong Tùng Thiện công 從 善 公. Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường.
      Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày Vôi. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội.
     Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: "Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng lộc trong tám năm". Suốt những năm bị trừ bổng lộc ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày.
     Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi, Thụy là Văn Nhã 文 雅. Năm 1878, ông được Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương 從 善 郡 王.
     Năm 1936, Bảo Đại mới truy phong ông là Tùng Thiện vương 從 善 王, tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.
     Tùng Thiện Vương là bạn thơ chí tình chí thân của Cao Bá Quát.
               (Nguồn gốc: Wikipedia VN)

       Vua Tự Đức, ông vua rất có văn tài đã từng khen :
   文 如 超 适 無 前 漢,   Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,         
   詩 到 從 绥 失 盛 唐。   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường.     
      Sau đây ta hãy thử so sánh thơ của Tùng Thiện Vương với các nhà thơ lớn của các đời Đường, để thấy được cái hay của mỗi bên và để thấm thía hơn với lời bình phẩm nhận xét của ông vua tài hoa văn nghệ :"Thi đáo Tùng,Tuy thất thịnh Đường!".


1. 
        柳                             LIỄU
去 歲 春 殘 黃 鳥 歸,      Khứ tuế xuân tàn hoàng điểu quy,
秋 容 憔 悴 月 明 知.      Thu dung tiều tụy nguyệt minh tri.
東 風 昨 夜 吹 何 處,      Đông phong tạc dạ xuy hà xứ ?
更 惹 新 愁 上 曉 眉.      Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu my.
                從 善 王                                Tùng Thiện Vương 

CHÚ THÍCH :
  * Khứ Tuế : là Năm Ngoái, năm trước, giống như chữ Khứ Niên vậy.
  * Hoàng Điểu : là Con chim vàng, chỉ chim Hoàng Oanh.
  * Nhạ : là Vây đến, Đụng đến, Ghẹo đến... cũng có nghĩa là Nhuốm lấy, Rước lấy...
  * Hiểu My : là Chân mày buổi sáng (chưa kịp vẽ)

Diễn Nôm :
                         LIỄU
         Năm ngoái xuân tàn oanh vội bay,
         Dáng thu tiều tụy mảnh trăng soi.
         Đêm qua gió cuốn về đâu nhỉ ?
         Lại rước thêm sầu liễu sáng nay !
Lục bát :
         Xuân tàn oanh vội bay về,
         Nét thu tiều tụy não nề trăng soi.
         Đêm qua gió thổi nhà ai,
         Sáng nay sầu đượm nét ngài ủ ê !
                          Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

    * Sau đây là bài "Mộ Xuân Quy Cố Sơn Thảo Đường 暮 春 歸 故 山 草 堂" của Tiền Khởi 錢 起 đời Đường :

  暮 春 歸 故 山 草 堂        Mộ xuân quy cố sơn thảo đường
  谷 口 春 殘 黃 鳥 稀,     Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi,
  辛 夷 花 盡 杏 花 飛。     Tân di hoa tận hạnh hoa phi.
  始 憐 幽 竹 山 窗 下,     Thủy lân u trúc sơn song hạ,
  不 改 清 陰 待 我 歸。     Bất cải thanh âm đãi ngã quy.
                          錢 起                                  Tiền Khởi

CHÚ THÍCH :
  * Cốc : là Sơn Cốc, là Thung lủng núi. Cốc Khẩu là Đường đi vào thung lủng núi.
  * Hoàng Điểu : chỉ Chim Hoàng oanh.
  * Tân Di Hoa : là Hoa của cây Mộc lan, còn gọi là Vọng Xuân Hoa 望 春 花, nở trước hoa Hạnh.
  * Lân : ở đây không có nghĩa là Tội nghiệp, mà là Thương, là Thích.
  * Thanh Âm : là Hình dung từ, chỉ Cây cối xanh tươi mát mẻ.

DIỄN NÔM :
         Cửa núi xuân tàn oanh biếng ca,
         Tân Di hoa rụng hạnh la đà.
         Thương thay song cửa rừng tre trúc,
         Mát mẻ như xưa đợi đón ta.
Lục Bát :
         Xuân tàn núi vắng oanh ca,
         Mộc lan rụng hết hạnh hoa bay đầy.
         Trước song rừng trúc phủ dày,
         Thanh u mát mẻ đợi ngày đón ta !
                                          Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

     Cũng là chim hoàng oanh, nhưng khi xuân tàn chim hoàng oanh của Tùng Thiện Vương bay về tổ chỉ còn lại nét thu tiều tụy dưới bóng trăng soi, lại không biết gió xuân tối đêm qua thổi về đâu, nên sáng nay lại rước thêm nỗi sầu bâng quơ lên mi mắt ! Còn Tiền Khởi đời Đường thì khi xuân tàn đã vắng tiếng chim hoàng oanh thì ông quay về bên song cửa sổ giữa rừng tre trúc mát mẻ luôn luôn sẵn sàng chào đón ông về khi ngoài trời hoa Mộc Lan đã tàn và hoa hạnh đang la đà bay theo gió !

          Mỗi người mỗi vẻ đều nên thơ và có nét thi vị riêng của mình.
            
                    

2. 
     淥 水                              LỤC THỦY
淥 水 青 山 常 在,     Lục thủy thanh sơn thường tại,
孤 雲 野 鶴 同 飛。     Cô vân dã hạc đồng phi.
短 艇 柳 邊 客 釣,     Đoản đĩnh liễu biên khách điếu,
小 橋 月 下 僧 歸。     Tiểu kiều nguyệt hạ tăng quy.
             從 善 王                          Tùng Thiện Vương 

CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy : là Dòng nước trong. Chữ LỤC 淥 có 3 chấm thủy 氵, có nghĩa là Trong trẻo. Chữ LỤC 綠 có bộ Mịch 糸 là sợi tơ mới có nghĩa là Màu Xanh. 
 * Đoản Đĩnh : là chiếc xuồng con.

DIỄN NÔM :
                 Nước biếc núi xanh còn đó,
                 Mây đơn hạc lẻ cùng bay.
                 Xuồng con thả câu bờ liễu,
                 Sư về cầu nhỏ trăng lay !
Lục Bát :
             Núi xanh nước biếc còn đây,
             Hạc đơn mây lẻ cùng bay ven trời.
             Xuồng con bờ liễu câu hời,
             Dưới trăng cầu nhỏ sư hồi thiền môn.
                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm   
           
        Thi Tiên Lý Bạch đời Đường cũng có một bài LỤC THỦY KHÚC 淥 水 曲, nhưng mượt mà ướt át hơn của Tùng Thiện Vương nhiều. Mời xem bên dưới:   
      
*  Sau đây là bài LỤC THỦY KHÚC của Lý Bạch đời Đường : 

              淥 水 曲                   Lục Thủy Khúc

           淥 水 明 秋 月,     Lục Thủy minh thu nguyệt
           南 湖 採 白 蘋。     Nam hồ thái bạch tần.
           荷 花 嬌 欲 語,     Hà hoa kiều dục ngữ,
           愁 殺 盪 舟 人。     Sầu sát đãng chu nhân.
                       李 白                             Lý Bạch

CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy Khúc: Là Tên của một khúc hát xưa, có nghĩa là Khúc hát về Dòng Nước Trong.
 * Nam Hồ : là Phía nam của Động Đình Hồ.
 * Bạch Tần : Một loại rau nổi trên mặt nước có hoa màu trắng như rau muống, rau ngổ vậy.
 * Hà Hoa : là Hoa Sen, tức là Liên Hoa 蓮 花 .
 * Sầu Sát : chữ SÁT 殺 đứng sau Động từ là Trạng từ chỉ Mức độ, có nghĩa như Rất, Rất là, nên Sầu Sát có nghĩa là Rất buồn, là Buồn muốn chết !
 * Đãng Chu Nhân : là Người chèo thuyền, người bơi xuồng.

NGHĨA BÀI THƠ :
          Dòng nước trong trẻo làm cho trăng thu như sáng hơn lên, ta thả thuyền ở phía nam Hồ Động Đình để hái rau bạch tần. Nhìn thấy bông sen nở trên hồ thật đẹp thật sống động như muốn nói chuyện cùng ta, làm cho ta cảm thấy buồn muốn chết đi được vì ta không thể nào đối thoại được với hoa.

                                  

DIỄN NÔM :
                     LỤC THỦY KHÚC
                Nước trong sáng trăng thu,
                Bạch tần hồ nam hái,
                Sen đẹp như muốn nói,
                Sầu chết người đãng chu !
Lục bát :
               Nước trong làm sáng trăng thu,
               Rau tần tìm hái bên hồ phía nam.
               Lá xanh bông trắng nhị vàng,
              Tựa như muốn nói sầu sang người chèo !
                                          Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

           Nhưng bài thơ của Tùng Thiện Vương là bài thơ 6 chữ, lại làm cho ta nhớ đến bài "Quy Sơn Tác 歸 山 作" của Cố Huống 顧 況 đời Đường :

      心 事 數 莖 白 髮,    Tâm sự sổ kinh bạch phát,
      生 涯 一 片 青 山。    Sanh nhai nhất phiến thanh sơn 
      空 林 有 雪 相 待,    Không lâm hữu tuyết tương đãi,
      古 道 無 人 獨 還。    Cổ đạo vô nhân độc hoàn.

CHÚ THÍCH :
  * Quy Sơn : là Về núi, ý nói đi ở ẩn.
  * Kinh : là Sợi. Sổ Kinh : là Mấy sợi.
  * Sanh Nhai : là Mưu sinh để sinh sống.  

DIỄN NÔM :
                  Tâm sự, lơ thơ tóc bạc,
                  Sinh nhai, một dãy núi xanh.
                  Bầu bạn, núi không tuyết trắng,
                  Đường về, một bóng vắng tanh.
                                     Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

     Âm điệu của thơ 6 chữ vừa dứt khoát vừa khẳng định một cách mạnh mẽ, chính xác, cứng rắn nhưng cũng không kém phần thi vị. 

                             

             
3.
   金 井 怨                  KIM TỈNH OÁN
美 人 照 金 井,   Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
井 底 華 顏 冷。   Tỉnh để hoa nhan lãnh..
空 房 夜 不 歸,   Không phòng dạ bất quy,
月 轉 梧 桐 影。   Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.
         從 善 王                       Tùng Thiện Vương 

CHÚ THÍCH :
 * Kim Tỉnh : Giếng vàng, là giếng của các nhà quyền qúy, trên mặt miệng giếng có dát vàng. Trong Kiều khi chuyển mùa Nguyễn Du cũng đã viết :
                     Thú quê thuần hức bén mùi,
                 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.
 * Hoa Nhan : là dung nhan của tuổi hoa niên, chỉ nét mặt son trẻ.

DIỄN NÔM :
                    Người đẹp soi giếng vàng,
                    Dưới giếng dung nhan lạnh.
                    Phòng không cũng chẳng màng,
                    Trăng soi ngô đồng ảnh.
 Lục Bát :
                Săm soi người đẹp giếng vàng,
                Lạnh lùng nhan sắc ngỡ ngàng tái tê.
                Phòng không đêm chẳng buồn về,
                Ánh trăng lay động đã xê ngô đồng ! 
                                    Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm   

   * Sau đây là bài KIM TỈNH OÁN 金 井 怨 của Tào Nghiệp 曹 鄴 đời Đường :

               西 風 吹 急 景,    Tây phong xuy cấp cảnh,
               美 人 照 金 井。    Mỹ nhân chiếu kim tỉnh.
               不 見 面 上 花,    Bất kiến diện thượng hoa,
               卻 恨 井 中 影。    Khước hận tỉnh trung ảnh !

DIỄN NÔM :
                  Gió tây thổi bàng hoàng,
                  Người đẹp soi giếng vàng.
                  Chẳng thấy hoa trên mặt,
                  Chỉ hận ảnh ngỡ ngàng !
Lục Bát :
                  Gió tây vi vút lạnh tràn,
                  Bâng khuâng người đẹp giếng vàng săm soi.
                  Nét hoa đâu chẳng thấy cười,
                  Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia !
                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

           Một người đẹp soi bóng xuống giếng nước xong, thấy dung nhan mình lạnh lẽo buồn bã nên không muốn về phòng, thơ thẩn để nhìn bóng ngô đồng đang lay chuyển như tâm sự của mình đang lay chuyển vậy; còn một người đẹp soi xuống giếng xong lại hận cho dung nhan của mình đã tàn phai đã già nua theo năm tháng trong lúc gió tây đang dục vù thổi mạnh.
          Mỗi bài đều nêu lên một trạng thái tâm lý độc đáo và rất nhân bản thực tế của phái đẹp.
         

                          Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia      
4.
       南 溪                          NAM  KHÊ

亂 山 深 處 一 溪 橫,     Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành, 
十 二 年 前 駐 馬 情。     Thập nhị niên tiền trú mã tình 
流 水 自 知 人 事 異,     Lưu thủy tự tri nhân sự dị, 
潺 湲 不 作 昔 來 聲。     Sàn viên bất tác tích lai thinh
               從 善 王                            Tùng Thiện Vương 

CHÚ THÍCH :
 * Khê : Ta nói là Khe, là dòng nước từ trong núi chảy ra, là con sông nhỏ được hình thành bởi các dòng suối, mà ta quen gọi là SƠN KHÊ 山 溪.
 * TRÚ : là Trú đóng, là dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, cắm trại... khác với Đình Mã 停 馬 là chỉ dừng chân một chút rồi đi.  
 * Sàn Viên : từ Tượng Thanh, chỉ tiếng Róc ra róc rách của nước chảy.

 DIỄN NÔM :
                          Khe Suối Nam
                 Ngổn ngang ngàn núi dòng khe cũ,
                 Dừng ngựa mười năm tình ấp ủ.
                 Nước chảy như tình người đổi thay,
                 Róc ra róc rách không như cũ !
Lục Bát :
               Vắt ngang trong suối dòng khe,
               Mười hai năm trước ấp e hàm tình.
               Nước trôi nhân sự điêu linh,
               Chẳng còn róc rách hàm tình như xưa !
                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

* Sau đây là bài Di Gia Biệt Hồ Thượng Đình 移 家 别 湖 上 亭 của Nhung Dục 戎 昱 đời Đường :
  好 是 春 風 湖 上 亭,     Hảo thị xuân phong hồ thượng đình,
  柳 條 藤 蔓 系 離 情。     Liễu điều đằng mạn hệ ly tình.
  黃 鶯 久 住 渾 相 識,     Hòang oanh trú cửu hồn tương thức,
  欲 別 頻 啼 四 五 聲。     Dục biệt tần đề tứ ngũ thinh.
                           戎 昱                                Nhung Dục

CHÚ THÍCH :
     DI GIA : là Dời nhà, dọn nhà, đổi chỗ ở.
     BIỆT HỒ THƯỢNG ĐÌNH : Chia tay với cái đình ở trên hồ.
     ĐẰNG MẠN : là dây leo, dây chùm gởi.
     HỆ : là Trói, buộc, ràng buộc.
     HỒN 浑 : HỒN có 3 chấm Thủy, nghĩa gốc là NƯỚC ĐỤC. Nghĩa bóng là ĐẦN ĐỘN. Ở đây HỒN là TRẠNG TỪ nên có nghĩa là : Rất, cả thảy. 
     HỒN TƯƠNG THỨC : Rất là quen biết nhau.
     TẦN 频 : là Thường, là Liên Tục.
     TẦN ĐỀ : Hót liên tục.



DIỄN NÔM :
              Gió xuân hây hẩy trước hồ đình,
              Cành liễu dây leo buộc lấy tình.
              Oanh vàng quen biết nên ly biệt,
              Hót liền mấy tiếng đoạn làm thinh !
   Lục bát :          
              Gió Xuân mát mẻ hồ đình,
              Dây leo nhành liễu buộc tình biệt ly !
              Oanh vàng quen biết từ khi...
              Chia tay hót tặng người đi mấy hồi !
                                    Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

      Cả hai bài thơ, cuối câu 2 và cuối câu 4 đều cùng gieo vần TÌNH 情 và THINH 聲 giống nhau, cùng sử dụng thủ pháp Nhân Cách Hoá sự vật giống nhau, cùng tả tình như nhau, nhưng mỗi bài lại nêu lên một tình huống trái ngược lẫn nhau; Tùng Thiện Vương cho là nước biết được nhân sự thay đổi cho nên cũng thay đổi tiếng róc rách khi chảy, còn Nhung Dục thì bảo là con chim oanh vì ở lâu nên như là rất thân thiết, cho nên khi sắp chia tay lại hót liên hồi như để tiễn biệt.

                                  
    
                
5.
   聞 蟬                      Văn Thiền 
送 君 曾 此 地,    Tống quân tằng thử địa, 
一 別 忽 經 年。   Nhất biệt hốt kinh niên. 
愁 殺 長 亭 柳,   Sầu sát trường đình liễu, 
秋 風 起 暮 蟬。   Thu phong khởi mộ thiền.
          從 善 王                     Tùng Thiện Vương 

CHÚ THÍCH :
 * Văn Thiền : Nghe tiếng Ve kêu.
 * Tằng : Từng, đã từng.
 * Sầu Sát : là Buồn thúi ruột, buồn muốn chết.
 * Mộ Thiền : Tiếng ve kêu trong buổi chiều tà.

 DIỄN NÔM :
                     Nghe Tiếng Ve Kêu

                   Nơi nầy từng đưa bạn,
                   Bỗng chốc đã tròn năm.
                   Buồn sao bờ dương liễu,
                   Ve sầu gió thu căm !
Lục Bát :
                   Tiễn người đi ở nơi đây,
            Biệt ly thoáng chốc đã đầy một năm.
                   Gió thu nổi lạnh căm căm,
            Trường đình vẳng tiếng ve ngâm chiều tà !
                                       Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

     Bài Văn Thiền của Tùng Thiện Vương lại làm cho ta nhớ đến bài Ỷ Hồ của Thi Phật Vương Duy...

  * Sau đây là bài "Ỷ Hồ 欹 湖" của Thi Phật Vương Duy 王 維 đời Đường :

              吹 簫 凌 極 浦,    Xuy tiêu lăng cực phố,
              日 暮 送 夫 君。    Nhựt mộ tống phu quân. 
              湖 上 一 回 首,    Hồ thượng nhất hồi thủ,
              山 青 卷 白 雲。    Thanh sơn quyển bạch vân.
                         王 維                               Vương Duy

CHÚ THÍCH :
 * Lăng : là Lướt, là Vượt lên trên.
 * Cực Phố : Ở cuối bờ, cuối bãi.

DIỄN NÔM :
                     Thổi tiêu cuối tận bờ,
                     Tiễn chàng chiều ngẩn ngơ.
                     Bên hồ quay nhìn lại,
                     Núi xanh mây trắng mờ !
Lục Bát :
                Thổi tiêu vẳng tận bến bờ,
                Trời chiều lòng thiếp ngẩn ngơ tiễn chồng.
                Quay đầu lòng những bâng khuâng,
                Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng !
                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
   
                          


         " Ôi, cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !" Cả 2 bài thơ đều tả cảnh ly biệt của người vợ tiễn chồng. Một nàng đến nơi tiễn chồng hồi năm trước để chỉ còn thấy những cành liễu buồn nơi trường đình năm cũ và tiếng ve cuối mùa đang rít tàn hơi trong gió thu hiu hắt; còn một nàng thì thổi tiêu ra tận bờ hồ để tiễn chàng đi, nhưng khi người đà khuất bóng vẫn còn lưu luyến nhìn theo để chỉ còn thấy " Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng " mà thôi !
        
6.
       夜 泊 月 瓢                   Dạ bạc Nguyệt Biều 
     竹 陰 涼 處 夜 停 船,   Trúc âm lương xứ dạ đình thuyền, 
     水 月 江 風 未 忍 眠。   Thuỷ nguyệt, giang phong, vị nhẫn                                                     miên, 
     隔 岸 鐘 樓 天 姥 寺,   Cách ngạn chung lâu Thiên Mụ tự, 
     聲 聲 捎 破 遠 汀 煙。   Thanh thanh sao phá viễn đinh yên.
              從 善 王                          Tùng Thiện Vương 

CHÚ THÍCH :
 * Nguyệt Biều : là một làng cổ thuộc phường Thuỷ Biều, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố Huế, cách trung tâm thành phố Huế 7km. Phường Thuỷ Biều có ba mặt giáp sông Hương. Làng Nguyệt Biều xưa nổi tiếng về thi ca khoa bảng.

NGHĨA BÀI THƠ : 
                        Đêm Đậu Thuyền Ở Bến NGUYỆT BIỀU
       Dưới bóng tre yên lặng, ở nơi mát mẻ, chiếc thuyền đậu lúc ban đêm, Trăng dưới nước, gió trên sông, chưa đành ngủ, Bờ bên kia, có lầu chuông Thiên Mụ, Dội vang từng tiếng, phá tan làn khói ngoài xa, trên mặt sông.

DIỄN NÔM :
           Dưới bóng mát tre đêm đậu thuyền,
           Gió trăng sông nước ngủ nào yên.
           Cách bờ Thiên Mụ lầu chuông vọng,
           Văng vẳng xua tan khói sóng thuyền !
Lục Bát :
          Dưới bóng tre, đêm đậu thuyền,  
          Trăng soi sông nước ngủ yên được nào.
          Cách bờ Thiên Mụ chuông cao,
          Ngân nga khói sóng tan vào hư không.
                                Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
           
            
 Cách bờ Thiên Mụ chuông cao       
   
* Bài thơ nầy của Tùng Thiện Vương lại làm ta nhớ đến bài "Phong Kiều Dạ Bạc" 楓 橋 夜 泊 của Trương Kế 張 繼 đời Đường :

  月 落 烏 啼 霜 滿 天,   Nguyệt lạc Ô đề sương mãn thiên
  江 楓 漁 火 對 愁 眠。   Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
  姑 蘇 城 外 寒 山 寺,   Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,
  夜 半 鐘 聲 到 客 船。   Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

DIỄN NÔM :
                     Trăng lặn qụa kêu sương khắp trời,
                     Bờ phong leo lét lửa chài phơi.
                     Cô Tô chùa lạnh Hàn San ấy,
                     Chuông vẳng nửa đêm não dạ người.
       Thơ Tám chữ :
                     Trăng tà lạnh, tiếng quạ kêu sương xuống
                     Giấc sầu miên, sông vắng, đối lửa chài
                     Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy
                     Nửa đêm buồn, chuông vẳng đến thuyền ai !
                                                     Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
       Lục Bát :                      
                         Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
                     Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
                         Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
                     Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
                                                                        Tản Đà

      Một người vì thuyền đậu dưới bóng tre, có trăng thanh gió mát mà không đành lòng ngủ trước cảnh trí hữu tình. Thức để ngắm nhìn và để đắm mình vào cảnh đẹp khi thêm vào đó là tiếng chuông của chùa Thiên Mụ bên kia sông ngân nga vang động làm lung linh và tan biến những làn khói sóng trên sông Hương thơ mộng... Còn một người vì ưu thời mẫn thế, nằm nhìn cây bến lửa chài mà sầu không chợp mắt để rồi lại chìm đắm vào tiếng chuông văng vẳng vọng từ chùa Hàn San ở ngoại thành Cô Tô mà viết nên một bài thơ tuyệt tác...
      Cả 2 bài thơ đều đề cập đến tiếng chuông một cách mầu nhiệm nên thơ, đã điểm xuyết chấm phá cho một bức tranh đêm  êm ả tuyệt đẹp trên bến sông với những làn khói sóng tan biến theo tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Còn tiếng chuông kia vẳng đến lúc nửa đêm như vuốt ve như khuyên lơn an ủi giữa cảnh lửa chài hiu hắt, lúc trăng lặn qụa kêu sương xuống đầy trời dưới hàng phong lặng lẽ, xoa dịu thêm lòng người lữ thứ dưới một đêm dài không sao chợp mắt....

                                     
      
                   Nguyệt lạc Ô đề sương mãn thiên
 
Lời Kết :
          Qua các so sánh nêu trên, ta thấy thi tài của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm qủa không thua sút với các thi nhân nổi tiếng như Lý Bạch, Vương Duy, Trương Kế... dưới đời nhà Đường, chả trách vua Tự Đức đã dám cả quyết mà phê rằng:

文 如 超 适 無 前 漢,   Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,          
詩 到 從 绥 失 盛 唐。   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường.     

       Xin được nghiêng mình trước các bậc tiền nhân lỗi lạc trong đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Thiết nghĩ, nếu biết phát huy hết sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc thì Việt Nam sẽ không thua một đất nước nào trên thế giới nầy cả !

                                                    杜 紹 德
                                                  Đỗ Chiêu Đức








Đăng Cao - Đỗ Phủ & Bài dịch của Vu Sơn

    登高  
風急天高猿嘯哀
渚清沙白鳥飛回
無邊落葉蕭蕭下
不盡長江滾滾來
萬里悲秋常作客
百年多病獨登臺
艱難苦恨繁霜鬢
潦倒新停濁酒杯
杜甫

 

     Đăng Cao
Phong cấp thiên cao viên khiếu ai 
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc diệp tiêu tiêu há
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thương tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn 
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi
        Đỗ Phủ


    Lên Cao
    (dịch thoát)  
Gío lộng trời xa vượn hú gào
Giòng trong cát trắng én vờn chao
Thênh thang lá úa tàng tàng rụng
Hún hút sông dài cuộn cuộn lao
Vạn dặm thương thu gây khách não
Một đời ôm bệnh dạo đài cao
Cơ cầu khổ cực phai mầu tóc 
Rượu đục tân đình chén cạn sao?

Vu Sơn























Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

NGẬM NGÙI TỜ LỊCH - Thơ Mailoc và Thơ Họa

                               

NGẬM  NGÙI  TỜ  LỊCH

Lịch còn mấy lá bám trên tường

Lả tả từng ngày bỗng cảm thương.

Như khóc như than buồn số kiếp

Phù sinh chua xót khóc vô thường !


Vài tờ mong mỏng cứ lay lay

Thoi thóp đìu hiu chỉ mấy ngày.

Cảm khái chùng tay không nở gở

Năm tàn lịch mới sắp vào thay.


Vô tri, lịch hỡi! Có hồn không?

Xao xuyến trong ta tận cõi lòng

Mỗi sáng nhìn ta, mi nhắc nhở

Bạc đầu có biết tuổi vào đông.

Mailoc

 

Thơ Họa:

   BÙI NGÙI NĂM TẬN

Mấy tờ lịch cuối phất phơ tường

Như níu tháng ngày những luyến thương

Buồn bã ngậm ngùi cho số phận

Viễn xa mãi  mãi chốn đời thường.


Vài lá còn lại gió phất lay

Thời gian nhiều lắm chỉ dăm ngày

Ngại ngần nhìn ngắm chùn tay gỡ

Chờ đợi âm thầm lịch mới thay


Vô giác lịch này có hiểu không?

Riêng ta năm tận xuyến xao lòng

Mỗi ngày gỡ lịch như thầm đếm

Xuân sắc qua dần chớm buổi đông.

CAO BỒI GIÀ

  30-12-2025

 

LỊCH CŨ VÀ LỊCH MỚI

Tờ lịch cuối năm lặng níu tường

Sâu lòng nén giữ lệ ngùi thương

Làm sao tránh được giao thừa đến

Tống cựu nghinh tân, chuyện đã thường


Nao cảnh sống mòn, phận lắt lay

Mãi theo nhân thế đón đưa ngày

Càn khôn nhật nguyệt, vòng xoay chuyển

Lịch cũ niên tàn, lịch mới thay


Lịch mới thương sầu lịch cũ không

Hay vui đắc thế đắm say lòng

Rồi mai mốt lại nhìn sương tuyết

Lạnh lẽo riêng mình khóc với đông

Lý Đức Quỳnh

   30/12/2025 


   VÔ KHỨ VÔ LAI

Lâu rồi không có lịch treo tường

Ngày tháng chẳng còn gợi nhớ thương

Sáng dậy thiền hành theo nhịp bước

Đêm về quán niệm… thở bình thường


Có lúc lỏng buông nhìn gió lay

Thời gian như bóng nắng trong ngày

Như hoàng hôn muộn như mây tím

Trăng khuyết rồi tròn… cứ thế thay


Ta đang hiện hữu! Có hay không?

Nghĩ đến phân ly? Có nhói lòng?!

“Sống ở thác về” sao lại sợ

Xuân vui chớ ngại tuyết vào đông

Kiểu Mộng Hà

 Dec.30.2025

 

XÚC CẢM GỠ TỜ LỊCH MỚI

      ( trường thiên tứ tuyệt)

Vừa treo lịch mới gắn trên tường

Xinh xắn vô cùng ngắm mến thương

Xé nhẹ tờ đầu lòng cảm kích

Cầu mong sức khoẻ được bình thường


Một xấp tờ dầy khó động lay

Niềm vui hy vọng đếm từng ngày

Khi bàn tay chạm vào toan xé

Và ước cuộc đời sẽ đổi thay


Tờ lịch mới nầy… có biết không?

Hồn ta nặng trĩu đến nao lòng !

Khi nhìn đất Mẹ còn xa vợi

Mà tuổi đời mình đã lạnh đông !

Songquang

 20251231

 

NÓI CHUYỆN VỚI LỊCH NĂM TÀN

Lép kẹp tấm lịch treo trên tường,

Chẳng còn đầy đặn thật thảm thương!

Sắp trọn chu kỳ xong một kiếp,

Sang vận hội mới lẽ vô thường!

***

Tháng tận năm cùng sống lắt lay,

Thoi thóp tàn hơi được vài ngày.

Tiếc nuối hay sao mà chửa gỡ?

Hay chờ lịch mới si đến đổi thay?

***

Bĩ cực  thái lai lịch biết không?

Tống cựu nghĩnh tân hãy mở lòng!

Biến dịch tuần hoàn vẫn nhắc nhở:

Hy vọng dẹp tan nỗi sầu đông!

Đỗ Quang Vinh

   30-12-2025

 

MỘT TỜ LỊCH CUỐI

Ngẫm suy lịch cũ ở bờ tường

Y tựa như ta, nghĩ cũng thương

Lặng lẽ vơi dần, ngày đến tháng

Âm thầm tàn lụi, chuyện đời thường.


Bồi hồi miệng nhẩm dạ lung lay

Lịch chỉ còn trơ lại một ngày

ẤT TỴ qua rồi, chào BÍNH NGỌ

Tân niên, lịch mới,gắn xinh thay!


Ôi! Cuốn lịch mới đẹp ghê không!

Khiến lão cũng vui cả tấc lòng

CUNG CHÚC TÂN XUÂN, thêm tuổi nữa

Nào màng, tuổi hạc đã về đông.

     LAN

(30/12/2025)


          TỜ LỊCH CUỐI 
Còn trơ bảng lịch “một” treo tường 
Tờ cuối sẽ rơi hết thảm thương 
Thế giới không vui buồn cảnh cũ 
Bỡi vì ám ảnh chuyện là thường 

Một tờ còn lại phất phơ lay
Số phận mỏng manh chỉ nửa ngày 
Đầy nhẫy qua rồi năm thảm khốc 
Ngày nay dứt bỏ dạ mừng thay

Lịch tạo bao lâu có biết không 
Thịnh hưng trần thế chứng làm lòng 
Ước sao hiểu được âm thầm giúp 
Suốt tháng qua năm hạ tới đông !..
                        Yên Hà 
                      31/12/2025

NGẬM NGÙI TỜ LỊCH CUỐI CÙNG

Một tờ lịch chót phất phơ tường 
Níu kéo thời gian thật thảm thương 
Cực khổ ngậm ngùi cho số phận 
Phù du mệnh bạc giữa phi thường 

Duy tờ trơ trọi gió heo lay  
Sống sót mình ên chỉ nửa ngày 
Hiu quạnh cô đơn không muốn gở
Ngày mai lốc lịch sẽ đem thay

Lịch này mới cứng hiểu cho không 
Tây Tết count down cảm động lòng 
“Hăm Sáu” lịch này nay bóc… đếm  
Minh Xuân tuổi lão chớm sầu đông…
MAI XUÂN THANH  
silicone Valley December 31, 2025


   CẢM THƯƠNG TỜ LỊCH 

Lép kẹp tấm lịch treo trên tường,

Chẳng còn đầy đặn thật thảm thương!

Sắp trọn chu kỳ xong một kiếp,

Sang vận hội mới lẽ vô thường!

***

Tháng tận năm cùng sống lắt lay,

Thoi thóp tàn hơi được vài ngày.

Tiếc nuối hay sao mà chửa gỡ?

Hay chờ lịch mới đến đổi thay?

***

Bĩ cực  thái lai lịch biết không?

Tống cựu nghĩnh tân hãy mở lòng!

Biến dịch tuần hoàn vẫn nhắc nhở:

Hy vọng dẹp tan nỗi sầu đông!

Đỗ Quang Vinh 

30-12-2025


 BÊN LỊCH CŨ MỚI 
                      m
Bây giờ ngày Một vẽ ngang tường
Có nghĩa gì chuyên chở xót thương
Sáu chục cộng năm con số ngã 
Thắng, thua thời khắc cũng vô thường
                     m
Nhật , nguyệt nhìn lên lịch lắt lay
Rồi đây chiu chắt được bao ngày
Đến như thành quách còn nghiêng đổ
Thì có gì hơn năm tháng thay
                     m
Nước cũng trôi theo cảnh sắc không
Hóa thân thành lịch chút xao lòng
Đỉnh cao núi đứng chờ  xuân đấy
Khắc khoải thời gian tạ vãn đông … 
                     m
Rancho Palos Verdes   31 - 12 - 2025

              CAO MỴ NHÂN 

 

SẦU TÀN ĐÔNG


Ngẩn ngơ nhìn tấm lịch treo tường 

Còn lại vài tờ cảm thấy thương 

 Nhớ lúc hôm nao đầy cứng chắc 

Như thân trai tráng sức phi thường 

——

Tiếp tục thời gian gió nhẹ lay

Héo hon năm tháng tính từng ngày 

Thân già ví lịch treo vừa hết 

Chuẩn bị tinh thần niên mới thay

——

Lịch vẫn vô tình có biết không?

Ta nghe hụt hẫng tái tê lòng 

Thấy người vứt bỏ tâm đồng cảm 

Một chút se buồn buổi cuối đông


Hưng Quốc 

Texas 1-1-2026


NGẬM NGÙI THÁNG NĂM

Lịch cũ lấy đi trống vách tường

Thay vào quyển mới thấy lòng thương

Một năm cứ tưởng dài đăng đẳng

Lại lướt qua nhanh quả khác thường !

 

Nhiều bữa hững hờ chẳng xé lay

Để quên ngày tháng đến vài ngày

Vô tình một lúc chợt nhìn lại

Cuốn lịch cạn rồi , chuẩn bị thay…

 

Người bạn lặng thầm ai biết không ?

Nhắc ta luôn nhớ thuộc nằm lòng

Vó câu vùn vụt qua khung cửa

Tuổi hạc càng cao lạnh gió đông !

THIÊN LÝ


            CẢM ĐỀ
Mảnh lịch tận năm rớt khỏi tường
Rớt vào tâm tưởng... chạnh niềm thương!
Đầu phai sương trắng tàn xuân sắc
Tết đến ,xuân nghinh chẳng dị thường?

Tuổi chiều héo hắt lá vàng lay!
Năm tháng trôi theo nắng xuống ngày
Bóng xế, tay khôn cầm lệ ứa
Mắt sầu nhìn lịch mới treo thay?!

Biết là mọi lẽ sẽ về không
Lịch xé - mùa trôi - chợt nhói lòng!?
Bấm đốt tính chi ngày tháng lụn
Khi đời đã thấm lạnh hàn đông?! 
              Nguyễn Huy Khôi
                  31-12-2025







 


 

 






Hoang Tưởng - Vu Sơn

 

                              

  Hoang Tưởng

Dưới cội hoa vàng đắm đuối hôn
Làn mây mắc cỡ... nép bên hồn
Trăng ngàn lớ ngớ quên thảo tự
Trúc gío âm thầm giải ngữ ngôn
Suối tóc bồng bềnh thơ hải đảo
Hoa môi rực rỡ ánh huyền môn
Tình si mọc cánh thềm hoang vỡ
Bọt nắng tràn lan... liếp sóng cồn 

Vu Sơn